27 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp IN THÁI BÌNH
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU.
“Học đi đôi với hành” từ lâu đã trở thành phương châm đào tạo của
trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân nói chung và khoa kế toán nói riêng
Trên thực tế hiện nay nền kinh tế nước ta đang có nhiều biến động lớn Từ một nền kinh tế kém phát triển mang nặng tính tự cung tự cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường Thắng lợi đó đã khẳng định được sự đúng đắn và sáng suốt của Đảng và nhà nước ta trên con đường đổi mới đất nước Để góp một phần công sức trong công cuộc đổi mới đất nước thì
kế toán là một phần quan trọng, là một công cụ quản lý kinh tế có vai trò tích cực trong việc quản lý điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế Trong những năm gần đây chế độ kế toán đã được đổi mới một cách căn bản, phù hợp với yêu cầu quản trị kinh doanh thuộc mọi lĩnh vực hoạt động, mọi thành phần kinh tế, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước đối với hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng và chi phối đến chất lượng công tác kế toán nói chung, cũng như hiệu quả của công tác quản lý kinh tế, tài chính, tình hình thực hiện chính sách chế độ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp Bởi lẽ việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chính là việc thiết lập một hệ thống thông tin về chi phí và giá thành cho các nhà quản
lý, điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả Tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là cơ sở cho việc xác định kết quả tài chính, cho việc tổ chức thu hồi vốn và xây dựng giá bán sản phẩm
Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò tích cực của hạch toán kế toán nói chung, công tác tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm nói riêng, những năm qua lãnh đạo Xí nghiệp in Thái Bình luôn quan tâm
Trang 2đến công tác kế toán mà trọng tâm là bộ phận kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Do đó công tác kế toán ở Xí nghiệp đến nay đã được thực hiện khá nề nếp, tương đối phù hợp với chế độ kế toán hiện hành, và góp phần tăng cường công tác quản lý, mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Xí nghiệp.
Trong thời gian thực tập tại Xí nghiệp in Thái Bình, qua quá trình tìm hiểu thực tế, được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo Phạm Thành Long hướng dẫn và các cán bộ phòng kế toán tài vụ Xí nghiệp, cùng với sự nỗ
lực của bản thân em đã chọn đề tài: “KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP IN THÁI BÌNH” làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Do thời gian thực tập tại Xí nghiệp còn ít, khả năng nắm bắt thông tin kinh tế, tổng hợp và giải quyết các vấn đề có hạn nên chuyên đề của
em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp của các cán bộ phòng kế toán Xí nghiệp, đặc biệt là sự chỉ bảo của thầy giáo Phạm Thành Long và các thầy cô khoa kế toán trường ĐH KTQD để em
có thể trau dồi thêm kiến thức và làm tốt công tác kế toán của mình trong thực tế
Nội dung chuyên đề gồm có ba phần sau:
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ, BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA XÍ NGHIỆP IN THÁI BÌNH PHẦN II: THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP IN THÁI BÌNH.
PHẦN III: HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP IN THÁI BÌNH.
MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 06 BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG BÀI 08
PHẦN I TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ
TOÁN CỦA XÍ NGHIỆP IN THÁI BÌNH.
I Đặc điểm kinh tế kỹ thuật và tổ chức bộ máy quản lý hoạt
động sản xuất - kinh doanh của Xí nghiệp in Thái Bình Quá trình hình thành và phát triển của xí nghiệp
09
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của xí nghiệp. 09
1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động SXKD của Xí
PHẦN II THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN CPSX VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM TẠI XÍ NHIỆP IN THÁI BÌNH.
2.1 Đặc điểm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp
in Thái Bình
25
2.2 Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 28
2.3.
1
2.3.2 Kế toán tập hợp chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân 48
Trang 42.4.2 Kế toán tập hợp chi phí khấu hao TSCĐ. 55
2.4.3 Kế toán tập hợp chi phí dịch vụ mua ngoài. 59
2.5 Hạch toán tổng hợp chi phí, kiểm kê và đánh giá sản phảm dở
2.6 Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm tại Xí
I Đánh giá khái quát tình hình hạch toán CPSX và tính giá
thành sản phẩm tại Xí nghiệp in Thái Bình.
II Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hạch toán CPSX và tính
giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp in Thái Bình.
82
Trang 5Sơ đồ 1.3.1: KHÁI QUÁT QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ IN.
Sơ đồ 2.2.1: TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN XÍ NGHIỆP.
Bảng biểu:
Bảng 1: Phiếu lĩnh vật tư số 01
Bảng 2: Sổ chi phí sản xuất số 01
Trang 7Bảng 30: Bảng phân bổ chi phí sản xuất chung.
BHXH: bảo hiểm xã hội
BHYT: bảo hiểm y tế
KPCĐ: kinh phí công đoàn
CNV: công nhân viên
NVPX: nhân viên phân xưởng
NVQLDN: nhân viên quản lý doanh nghiệp
Trang 8NVL: nguyên vật liệu.
TTSX: trựctiếp sản xuất
PHẦN I TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ
TOÁN CỦA XÍ NGHIỆP IN THÁI BÌNH.
I Đặc điểm kinh tế-kỹ thuật và tổ chức bộ máy quản lý hoạt động sản xuất - kinh doanh của Xí nghiệp in Thái Bình
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của xí nghiệp.
Xí nghiệp in Thái Bình là một doanh nghiệp nhà nước, được thành lập theo quyết định số 434-QĐUB ngày 14-10-1992 của UBND tỉnh Thái
Trang 9Bình Trụ sở của Xí nghiệp đặt tại số 57 phố Quang Trung - thành phố Thái Bình- tỉnh Thái Bình
Xí nghiệp in Thái Bình được tổ chức theo hình thức doanh nghiệp nhà nước hạch toán kinh tế độc lập Có pháp nhân kinh tế, có tài khoản riêng tại ngân hàng
Xí nghiệp đã được tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 104.809 ngày 03/11/1992, Bộ văn hóa thông tin cấp giấy phép hoạt động ngành in số 11/GPIN ngày 08/04/1993 Theo đó, ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Xí nghiệp là in các loại sách, báo, sách giáo khoa,
sổ sách quản lý kinh tế - xã hội Xí nghiệp vừa có nhiệm vụ phục vụ nhiệm
vụ chính trị của ngành VH-TT, của địa phương, vừa sản xuất kinh doanh các mặt hàng ngành in
Từ khi ra đời cho tới năm 1995, trang thiết bị kỹ thuật của Xí nghiệp còn thô sơ, sản xuất chủ yếu là thủ công và bán tự động, sản phẩm đơn điệu, không phong phú, thực hiện nhiệm vụ sản xuất theo kế hoạch Nhà nước là chính
Năm 1996, lần đầu tiên, Xí nghiệp mạnh dạn đầu tư một dây chuyền công nghệ in OFSET hiện đại, có giá trị lớn để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Đồng thời Xí nghiệp cũng chú trọng việc đổi mới dây chuyền công nghệ sản xuất, với những máy móc hiện đại hơn, phù hợp hơn Đã có tới 90% là máy móc tự động được đưa vào sản xuất, lao động thủ công chỉ còn chiếm 10% Chính vì thế năng lực sản xuất của Xí nghiệp
đã có bước nhảy vọt
Từ năm 1997 - 2001, sản lượng bình quân của Xí nghiệp đạt 200 triệu trang in mỗi năm, tới những năm 2002 trở đi, sản lượng bình quân lên tới 1 tỷ 200 triệu trang in mỗi năm với chất lượng ngày một tốt hơn, đẹp hơn Hiện nay, Xí nghiệp đã mở rộng quy mô sản xuất trên diện tích
Trang 105.225 m2, mở rộng 8 nhà xưởng từ 2.700 m2 lên 3.200 m2 trang bị máy móc thiết bị hiện đại, đồng bộ, làm cho sản phẩm của Xí nghiệp ngày càng
đa dạng, đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, kiểu dáng, mầu sắc, chủng loại sản phẩm của khách hàng ở mọi thành phần kinh tế, tạo được niềm tin và chỗ đứng vững vàng trên thị trường trong và ngoài tỉnh Mạng lưới khách hàng của Xí nghiệp hiện nay ngày càng mở rộng
1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động SXKD của Xí nghiệp in Thái Bình.
Tính đến thời điểm năm 2007, tổng số cán bộ, công nhân viên toàn
Xí nghiệp là 135 người, trong đó có 69 nữ, 15 cán bộ tốt nghiệp đại học,
20 cán bộ tốt nghiệp cao đẳng, 45 cán bộ tốt nghiệp trung cấp Số cán bộ, công nhân trực tiếp sản xuất là 117 người, số làm việc gián tiếp là 18 người Đội ngũ công nhân, thợ kỹ thuật của Xí nghiệp đều qua đào tạo nghề cơ bản, trong đó thợ bậc 6 có 2 người, thợ bậc 5 có 42 người, thợ bậc
4 có 52 người, thợ bậc 3 có 21 người
Ngày 24/6/2007 Xí nghiệp in Thái Bình lãnh đạo Xí nghiệp bầu ra hội đồng quản trị gồm có:
- Chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc điều hành
- Phó chủ tịch HĐQT kiêm phó giám đốc phụ trách sản xuất
- Ủy viên HĐQT kiêm kế toán trưởng
+ Chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc điều hành: là người đại diện cho pháp nhân điều hành toàn Xí nghiệp, đồng thời là người điều hành và chịu trách nhiệm mọi hoạt động của Xí nghiệp theo pháp luật, điều lệ Xí nghiệp và nghị quyết của đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của HĐQT + Phó chủ tịch HĐQT kiêm phó giám đốc phụ trách sản xuất: là người trực tiếp điều hành sản xuất, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về kết quả những việc được phân công quản lý, điều hành
Trang 11+ Ủy viên hội đồng quản trị kiêm kế toán trưởng.
Bộ máy quản lý của Xí nghiệp in Thái Bình được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng, được tổ chức, sắp xếp thành 3 phòng ban nghiệp vụ:
Phòng tổ chức hành chính: tham mưu cho giám đốc về việc sắp xếp điều động cán bộ, công nhân viên trong toàn Xí nghiệp, về chế độ khen thưởng, xử phạt, về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng lịch trình làm việc, tiếp khách, và đảm bảo an toàn cho Xí nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
Phòng kế hoạch sản xuất - vật tư: có chức năng điều hành, giám sát việc tổ chức sản xuất và kinh doanh ở các phân xưởng và trong toàn Xí nghiệp, xây dựng các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cho các loại sản phẩm, xây dựng các kế hoạch sản xuất theo hợp đồng, tổ chức quản lý, phân bổ nguyên vật liệu và thành phẩm trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Phòng kế toán tài vụ: có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh số liệu hiện có và tình hình luân chuyển, sử dụng tài sản vật tư, tiền vốn, hạch toán quá trình SXKD, phản ánh tình hình SXKD và kết quả SXKD trong từng kỳ hạch toán Kiểm tra giám sát chặt chẽ tình hình thực hiện kế hoạch SXKD, kế hoạch thu, chi tài chính Kiểm tra việc xuất, nhập và sử dụng các loại vật tư, tài sản, tiền vốn, phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi tham ô, lãng phí, vi phạm chế độ chính sách quản lý kinh tế
và kỷ luật tài chính của Nhà nước Thường xuyên phản ánh và cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho giám đốc Xí nghiệp để có những quyết định chuẩn xác, kịp thời cho hoạt động SXKD của Xí nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực, đồng thời giúp cho giám đốc nắm được thực trạng tài chính của Xí nghiệp
Tổ chức sản xuất ở Xí nghiệp in Thái Bình.
Trang 12Mô hình tổ chức sản xuất ở Xí nghiệp in Thái Bình được căn cứ vào đặc điểm của quy trình công nghệ in Xí nghiệp có 3 phân xưởng sản xuất là phân xưởng in OFSET, phân xưởng tổng hợp và phân xưởng sách Hai kho nguyên vật liệu và thành phẩm được phòng kế hoạch sản xuất - vật tư trực tiếp quản lý.
Trong từng phân xưởng, việc sản xuất được bố trí theo dây chuyền Các phân xưởng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một dây chuyền sản xuất khép kín để sản xuất hàng loạt các sản phẩm, hoặc sản xuất theo đơn đặt hàng, đáp ứng nhu cầu của thị trường
* Phân xưởng in OFSET: phân xưởng này có nhiệm vụ in ấn các loại
ấn phẩm màu, có hình thức đẹp và hoàn chỉnh Phân xưởng có 4 tổ được
bố trí theo dây chuyền sản xuất: tổ chế bản in điện tử và tổ in OFSET 1, 2,
3 Đây chính là phân xưởng hiện đại nhất của Xí nghiệp, chiếm phần lớn năng lực sản xuất của đơn vị trong nhiều năm qua
* Phân xưởng tổng hợp gồm tổ cơ điện và tổ in TYPO, làm nhiệm vụ sửa chữa máy móc, thiết bị, in ấn các tài liệu ngắn đơn giản theo các hợp đồng nhỏ
* Phân xưởng sách: gồm có 3 tổ sách 1, 2 và 3 có nhiệm vụ hoàn thành sản phẩm Ở đây thực hiện công đoạn cuối của quy trình sản xuất: cắt, khâu và đóng gói sản phẩm trước khi nhập kho thành phẩm
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức sản xuất ở Xí nghiệp in Thái Bình như ở sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 1.2.1: TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT Ở XÍ NGHIỆP IN THÁI BÌNH.
Trang 13Phó chủ tịch H ĐQT Phó giám đốc phụ trách sản xuất
Tổ sách 1
Tổ sách 2
Phòng kế toán tài vụ
Phòng KH sản xuất-vật tư
Kho nguyên vật liệu
Kho thành phẩm
Tổ sách 3
Chủ t ịch H ĐQT Giám đốc điều hành
Điều hành trực tuyến:
Điều hành chức năng:
Quản lý và chỉ đạo trực tiếp :
Trang 14Trong các doanh nghiệp sản xuất, công nghệ sản xuất là nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc tổ chức sản xuất, vì vậy cần phải tìm hiểu đôi nét về quy trình kỹ thuật sản xuất của công nghệ in.
1.3 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Xí nghiệp in Thái Bình.
Quy trình sản xuất của ngành in nói chung bao gồm khâu chuẩn bị khuôn in, giấy và mực, khâu in và gia công ấn phẩm
Quá trình in phụ thuộc vào đặc điểm riêng và tính chất của sản phẩm (là sách, báo, tranh, ảnh…), phụ thuộc vào đặc tính của sản phẩm như kích
cỡ, màu sắc, gồm toàn chữ hay cả chữ, cả ảnh… Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào trang bị kỹ thuật, phương pháp gia công Do vậy, các ấn phẩm khác nhau thì quá trình in ấn khác nhau Sản phẩm chính của Xí nghiệp là các ấn phẩm, chúng có thể được thực hiện trên quy trình in OFSET hoặc in TYPO Nguyên tắc in của những phương pháp này cơ bản là giống nhau, song mỗi phương pháp in có thể bao gồm những bước hay những giai đoạn công nghệ khác nhau
* Hệ in OFSET:
Thành phẩm của phương pháp này phải qua các bước sau:
- Chuẩn bị các yếu tố cần thiết cho in ấn: chuẩn bị giấy, mực…
- Chế bản, bình bản và sửa bản in: đây là khâu quan trọng nhất trong quá trình in ấn Nó tạo ra những bản in mẫu, trong đó thông tin cần in ra được sắp xếp theo một trật tự nhất định để phục vụ cho quá trình in tiếp theo Ở Xí nghiệp in Thái Bình, bộ phận này được trang bị toàn bằng máy
vi tính ( gọi là chế bản điện tử)
- Tiến hành in OFSET: đây là khâu trọng tâm, nó thực hiện kết hợp bản in, giấy và mực để tạo ra những trang in theo yêu cầu kỹ thuật
Trang 15- Hoàn chỉnh sản phẩm: khâu này được thực hiện ở bộ phận sách, tại đây, các trang in của bộ phận in được chuyển tới để hoàn chỉnh sản phẩm bằng các công việc cắt, xén, khâu, đóng gói.
* Hệ TYPO
Quy trình này cơ bản giống in OFSET nhưng có điểm khác biệt chủ yếu về kỹ thuật in ấn, đó là khi in TYPO phải tạo ra khuôn mẫu nổi, thông qua việc sắp chữ nổi sẽ tạo ra những bản in mẫu nổi có nội dung như tài liệu cần in
So với OFSET, in TYPO là in lồi, các phần tử lồi trên khuôn in để bắt mực từ lô mực và in ra giấy Còn in OFSET thì có đặc điểm là dùng hóa chất ăn mòn trên bản kẽm để tạo ra bản in
Sơ đồ 1.3.1: KHÁI QUÁT QUY TRÌNH CÔNG NHGỆ IN.
Từ đặc điểm của ngành in cho thấy quy trình công nghệ in là một quá trình sản xuất liên tục, bao gồm nhiều giai đoạn công nghệ, các giai đoạn
ấy (sắp chữ, chế bản, in) có thể tiến hành độc lập với nhau, chu kỳ sản
Bộ phận chữ
In TYPO
Kho thành phẩm
Kho nguyên vật liệu
Phòng
kế hoạch sản xuất
Bộ phận chế bản
Trang 16xuất tương đối dài Xí nghiệp in Thái Bình thuộc loại hình sản xuất theo đơn đặt hàng hàng loạt, quy mô sản xuất thuộc loại vừa Các sản phẩm của
Xí nghiệp có thể được tạo ra trên cùng một quy trình sản xuất, theo cùng một phương pháp công nghệ, song giữa các loại sản phẩm có những đặc tính khác nhau về thiết kế, kích cỡ, yêu cầu kỹ thuật, thẩm mỹ và cả về mặt kinh tế Những đặc điểm đó có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tổ chức sản xuất và tổ chức bộ máy quản lý của Xí nghiệp
1.4 Tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp in Thái Bình.
Vào thời điểm thành lập ( năm 1992) tổng mức vốn kinh doanh của
Xí nghiệp là 1.178 triệu đồng, trong đó vốn cố định là 595 triệu đồng, vốn lưu động là 583 triệu đồng
Tới năm 2004, tổng mức vốn kinh doanh là 2.853 triệu đồng, trong đó vốn ngân sách cấp là 1.072 triệu đồng, vốn tự bổ sung là 1.781 triệu đồng, chia theo loại vốn thì vốn cố định là 2.403 triệu đồng, vốn lưu động là 450 triệu đồng
Kết quả sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp in Thái Bình những năm vừa qua được thể hiện ở bảng dưới đây:
Đơn vị : 1000đồng Chỉ tiêu
Trang 17Doanh thu năm 2006 tăng so với năm 2005 là 7,56%, doanh thu năm
2007 tăng 10,3% so với năm 2006
Lợi nhuận/doanh thu = 42% năm 2005, lợi nhuận/doanh thu = 44,6% năm 2006, lợi nhuận/doanh thu = 49,5% năm 2007 Lợi nhuận so với doanh thu tăng từ 42% năm 2005 lên tới 44,6% ăm 2006 và tăng tới 49,5% năm 2007
Cùng với kế hoạch tăng doanh thu, Xí nghiệp cũng dự kiến tăng số tiền nộp ngân sách nhà nước từ 2.577,4 triệu đồng năm 2006 lên 3.060 triệu đồng năm 2007 Tuy rằng con số này vẫn chưa cho thấy sự phát triển mạnh của Xí nghiệp nhưng để có thêm 482,6 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước, Xí nghiệp sẽ phải cố gắng rất nhiều nhất là trong tình hình hiện nay
Mặc dù có những biến động lớn trong các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận của Xí nghiệp giữa các năm nhưng Xí nghiệp vẫn quyết giữ mức lương bình quân của cán bộ công nhân viên là 1triệu đồng/tháng Đây là mức lương thuộc loại cao, có thể đảm bảo cuộc sống người lao động đầy đủ cả
về vật chất và tinh thần Chỉ tiêu này cũng thể hiện sự quan tâm chăm sóc của Xí nghiệp đối với nhân viên trong doanh nghiệp
II Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và bộ sổ kế toán tại Xí nghiệp in Thái Bình.
2.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán.
Căn cứ vào quy mô và đặc điểm của công tác tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như yêu cầu của công tác tổ chức quản lý kinh
tế tài chính của đơn vị, bộ máy kế toán của Xí nghiệp được tổ chức theo hình thức kế toán tập trung và bố trí thành phòng kế toán tài vụ, chịu sự chỉ đạo và quản lý trực tiếp của giám đốc Xí nghiệp.Với hình thức tổ chức
Trang 18của phòng kế toán tài vụ như vậy, biên chế gọn, tập trung số liệu nhanh,
dễ phân công công tác
Bộ máy kế toán của Xí nghiệp bao gồm 4 người
* Một kế toán trưởng: là người chịu trách nhiệm trước giám đốc Xí nghiệp
và cơ quan tài chính cấp trên về các vấn đề liên quan đến tình hình tài chính của Xí nghiệp Kế toán trưởng là người tham mưu cho giám đốc Xí nghiệp chỉ đạo việc thực hiện toàn bộ công tác tổ chức kế toán, thống kê, thông tin kinh tế, hạch toán kinh tế theo cơ chế quản lý kinh tế Kế toán trưởng là người tổ chức thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ, quyền hạn theo chức năng, phân công nhiệm vụ cho các bộ phận trong phòng kế toán, điều hành mọi mặt công tác của phòng kế toán
* Một kế toán tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành, theo dõi tiền lương, bảo hiểm và theo dõi tài sản cố định, tổng hợp: có nhiệm vụ tập hợp các chi phí sản xuất theo yếu tố để tính giá thành sản phẩm hoàn thành nhập kho, theo dõi thành phẩm và việc tiêu thụ thành phẩm, tình hình biến động của TSCĐ và khấu hao TSCĐ, tổ chức tổng hợp số liệu của các bộ phận
kế toán để lập báo cáo kế toán cuối kỳ, theo dõi tình hình biến động về cán bộ, công nhân viên, làm căn cứ và kết hợp với bảng chấm công của các bộ phận để tính lương và các khoản bảo hiểm theo đúng chế độ quy định của Nhà nước
* Một kế toán nguyên vật liệu, công cụ và dụng cụ, vốn bằng tiền, giao dịch với ngân hàng và thanh toán: có nhiệm vụ theo dõi chi tiết và tổng hợp việc nhập, xuất, tồn kho nguyên vật liệu Theo dõi chặt chẽ việc mua sắm và xuất dùng dụng cụ và công cụ lao động nhỏ, theo dõi chặt chẽ tình hình tăng, giảm, số hiện có của từng loại vốn bằng tiền, vốn vay, vốn trong thanh toán, giám sát tình hình thanh toán, thu chi tiền phục vụ SXKD của Xí nghiệp một cách kịp thời Theo dõi tình hình trích nộp các
Trang 19khoản phải nộp ngân sách, theo dõi chặt chẽ biến động của số dư TK tại ngân hàng ( cả tiền gửi, tiền vay và ngoại tệ).
* Một thủ quỹ: là người duy nhất có nhiệm vụ bảo quản và thực hiện các công việc thu chi tiền mặt và những chứng từ có giá trị như tiền, theo dõi chặt chẽ dòng tiền mặt thu chi trong Xí nghiệp, lập báo cáo quỹ đầy đủ theo quy định của nhà nước
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán của Xí nghiệp in Thái bình được thể hiện ở sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.2.1: TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN XÍ NGHIỆP.
2.2 Đặc điểm tổ chức HT kế toán.
Xí nghiệp in Thái Bình hiện đang áp dụng chế độ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán theo quyết định số 15/2006/QĐ/BCT ngày 20 tháng 3 năm 2006 của bộ tài chính, Xí nghiệp áp dụng phương pháp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, áp dụng hình thức kế toán CHỨNG TỪ GHI SỔ
Đặc điểm chủ yếu của phương pháp này là mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh phản ánh ở chứng từ gốc đều được phân loại để lập chứng từ ghi sổ
Kế toán trưởng
Kế toán nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, vốn bằng tiền, ngân hàng và thanh toán.
Thủ quỹ
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất, giá thành, tiền lương,TSCĐ
và tổng hợp.
Trang 20trước khi ghi vào sổ kế toán tổng hợp, việc ghi sổ kế toán theo thứ tự thời gian tách rời với việc ghi sổ kế toán theo hệ thống trên hai loại sổ kế toán tổng hợp khác nhau là sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và sổ cái các tài khoản.
* Sổ sách kế toán trong hình thức này bao gồm:
+ Sổ cái: là sổ phân loại ( ghi theo hệ thống) dùng để hạch toán tổng hợp.+ Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ: là sổ ghi theo thời gian, phản ánh toàn bộ chứng từ ghi sổ đã lập trong tháng Mọi chứng từ ghi sổ sau khi lập xong đều phải đăng ký vào sổ này để lấy số hiệu và ngày tháng Số hiệu của chứng từ ghi sổ được đánh liên tục từ đầu tháng đến cuối tháng Ngày tháng trên chứng từ ghi sổ tính theo ngày ghi vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
+ Bảng cân đối TK: dùng để phản ánh tình hình đầu kỳ, phát sinh trong
kỳ, và tình hình cuối kỳ Chứng từ ghi sổ mới được dùng làm căn cứ vào
sổ cái
Trình tự ghi sổ kế toán ở kỳ của các loại tài sản và nguồn vốn.
+ Các sổ và thẻ hạch toán chi tiết: dùng để phản ánh các đối tượng cần hạch toán chi tiết ( vật liệu, dụng cụ, TSCĐ, chi phí sản xuất…)
+ Chứng từ ghi sổ: thực chất là sổ định khoản theo kiểu tờ rời để tập hợp
các chứng từ gốc cùng loại, sau khi vào sổ đăng ký, hình thức chứng từ
ghi sổ như sau:
- Hàng ngày ( hay định kỳ ) căn cứ chứng từ gốc đã kiểm tra hợp lệ để phân loại rồi lập chứng từ ghi sổ Các chứng từ gốc cần ghi sổ chi tiết đồng thời ghi vào sổ kế toán chi tiết
- Các chứng từ thu, chi tiền mặt hàng ngày thủ quỹ ghi vào sổ quỹ, cuối ngày chuyển cho kế toán
- Căn cứ chứng từ ghi sổ đã lập để ghi vào sổ đăng ký chứng từ ghi
sổ, sau đó ghi vào sổ cái các tài khoản
Trang 21- Cuối tháng, căn cứ các sổ (thẻ) kế toán chi tiết lập bảng tổng hợp
số liệu chi tiết, căn cứ vào sổ cái các tài khoản để lập các bảng cân đối số phát sinh các tài khoản
- Cuối tháng kiểm tra đối chiếu giữa sổ cái với bảng tổng hợp số liệu chi tiết, giữa bảng cân đối số phát sinh các TK và bảng tổng hợp số liệu chi tiết để lập báo cáo tài chính
Quan hệ cân đối của phương pháp này là:
sổ cái (hay bảng cân đối TK)
* Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ và tài khoản kế toán.
Có thể khái quát trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức này ở sơ đồ dưới đây:
Chứng từ ghi sổ
Chứng từ gốc ( bảng tổng hợp chứng từ )
gốc)
Sổ thẻ hạch toán chi tiết
Báo cáo kế toán
Bảng tổng hợp chi tiết
Ghi hàng ngày:
Ghi cuối tháng:
Đối chiếu:
Trang 22Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ mà Xí nghiệp áp dụng là dễ ghi chép, dễ kiểm tra đối chiếu, thuận tiện cho việc phân công công tác và áp dụng vi tính trong công tác kế toán Việc mở sổ, ghi sổ kế toán ở Xí nghiệp được thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định, phù hợp với hình thức kế toán
mà Xí nghiệp áp dụng, đáp ứng được những nhu cầu của bộ máy quản lý
Xí nghiệp đặt ra trong công tác hạch toán kế toán hoạt động SXKD
Xí nghiệp sử dụng các TK kế toán sau:
- TK 152: nguyên vật liệu
- TK 621: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- TK 622: chi phí nhân công trực tiếp
Trang 23- TK 627: chi phí sản xuất chung.
- TK 154: chi phí sản xuất kinh doanh dở dang TK này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí ( phân xưởng, sản phẩm)
Ngoài ra, kế toán còn sử dụng các tài khoản có liên quan: TK334, TK338, TK111, TK214, TK155, TK632
Trong kỳ mọi chi phí nguyên vật liệu dùng cho sản xuất sản phẩm được tập hợp vào bên nợ TK621 Chi phí nhân công trực tiếp sản xuất được tập hợp vào bên nợ TK622 Chi phí sản xuất chung được tập hợp vào bên nợ TK627 Cuối kỳ, kết chuyển các TK621, TK622 TK627 vào bên nợ TK 154 để tập hợp chi phí sản xuất trong kỳ
* Tổ chức vận dụng hệ thống báo cáo kế toán
PHẦN II
Trang 24THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN CPSX VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM TẠI XÍ NHIỆP IN THÁI BÌNH.
Cũng như bất kỳ một đơn vị sản xuất nào, Xí nghiệp in Thái Bình sử dụng kế toán như là một công cụ đắc lực để quản lý và phát triển tài sản của mình trong quá trình sản xuất kinh doanh Mặc dù sản phẩm của Xí nghiệp chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu văn hóa, chính trị, xã hội, nhưng trong môi trường sản xuất kinh doanh ở cơ chế thị trường đòi hỏi việc sản xuất phải có hiệu quả Vì vậy, đối với Xí nghiệp việc quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là vấn đề quan trọng Chính vì thế, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Xí nghiệp là khâu trọng yếu của công tác kế toán
2.1.Đặc điểm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp in Thái Bình.
Xí nghiệp in Thái Bình là đơn vị sản xuất theo đơn đặt hàng, quy trình công nghệ không phức tạp Xuất phát từ đặc điểm đó và căn cứ vào yêu cầu quản lý, Xí nghiệp đã xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
là từng phân xưởng và từng đơn đặt hàng cụ thể ( loại sản phẩm) được sản xuất ở các phân xưởng đó Để phục vụ cho công tác tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm, Xí nghiệp áp dụng phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm, bao gồm các khoản mục:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
Trong đó, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đối với nguyên vật liệu trực tiếp là sản phẩm của từng đơn đặt hàng (mỗi đơn vị đặt hàng sản xuất
Trang 25một 1 loại sản phẩm) còn chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tập hợp từng phân xưởng rồi tiến hành phân bổ cho từng sản phẩm.Ngoài ra, để phục vụ cho việc bản thuyết minh báo cáo tài chính - phần chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố - phục vụ cho yêu cầu thông tin và quản trị doanh nghiệp thì chi phí sản xuất kinh doanh ở Xí nghiệp còn được phân loại theo các yếu tố: nguyên vật liệu, lương và các khoản phụ cấp: BHXH, BHYT, KPCĐ, khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền
Xí nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, do vậy cũng áp dụng phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất của các doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên
Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ mà Xí nghiệp áp dụng là dễ ghi chép, dễ kiểm tra đối chiếu, thuận tiện cho việc phân công công tác và áp dụng vi tính trong công tác kế toán Việc mở sổ, ghi sổ kế toán ở Xí nghiệp được thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định, phù hợp với hình thức kế toán mà Xí nghiệp áp dụng, đáp ứng được nhu cầu của bộ máy quản lý Xí nghiệp đặt ra trong công tác hạch toán kế toán hoạt động sản xuất kinh doanh
*Các tài khoản Xí nghiệp sử dụng để hạch toán chi phí sản xuất:
- TK152: nguyên vật liệu
- TK621: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- TK622: chi phí nhân công trực tiếp
- TK627: chi phí sản xuất chung
- TK154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang TK này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí ( phân xưởng, sản phẩm)
Trang 26Ngoài ra, kế toán còn sử dụng các tài khoản có liên quan: TK334, TK338, TK111, TK214, TK155, TK632.
Trong kỳ, mọi chi phí nguyên vật liệu dùng cho sản xuất sản phẩm được tập hợp vào bên nợ TK621 Chi phí nhân công trực tiếp sản xuất được tập hợp vào bên nợ TK622 Chi phí sản xuất chung được tập hợp vào bên nợ TK627 Cuối kỳ kết chuyển các TK621, TK622, TK627 vào bên nợ TK154 để tập hợp chi phí sản xuất trong kỳ
*Hệ thống chứng từ kế toán - sổ kế toán dùng cho kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
Xí nghiệp in Thái bình hiện đang áp dụng hình thức kế toán chứng từ ghi sổ, trình tự luân chuyển chứng từ, ghi sổ kế toán ở Xí nghiệp được miêu tả như sau:
Từ các chứng từ gốc, kế toán phân loại và ghi sổ, thẻ hạch toán chi tiết các khoản mục theo từng đối tượng tập hợp chi phí (phân xưởng, sản phẩm), lập chứng từ ghi sổ, vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, mở sổ chi phí sản xuất chi tiết cho từng phân xưởng, từng sản phẩm theo các khoản mục tính giá Số liệu ghi vào sổ chi phí sản xuất là số liệu ở các chứng từ ghi
sổ đã được lập Tiếp đó ghi sổ cái các TK621, TK622, TK627, và TK154 vào cuối kỳ (kỳ hạch toán của Xí nghiệp là một tháng) Đồng thời tiến hành tổng hợp số liệu đã theo dõi ở sổ chi phí sản xuất theo từng khoản mục cho mỗi loại sản phẩm ở từng phân xưởng Số liệu tổng hợp đó là căn
cứ để tính giá thành sản phẩm sau này
Như vậy, việc tập hợp chi phí sản xuất được thực hiện trên sổ kế toán chi tiết chi phí sản xuất theo từng phân xưởng cho từng loại sản phẩm và
sổ cái TK154 - chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, cùng các TK621, TK622, TK627 Cơ sở để ghi vào sổ chi tiết chi phí sản xuất theo từng phân xưởng là các chứng từ gốc, các bảng phân bổ chi phí và các chứng từ
Trang 27ghi sổ có liên quan, còn để tổng hợp chi phí sản xuất toàn Xí nghiệp thì dựa vào các chứng từ ghi sổ.
2.2 Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Nguyên vật liệu trực tiếp dùng vào sản xuất ở Xí nghiệp có nhiều loại, bao gồm các chủng loại sau:
+ Nguyên vật liệu chính: giấy các loại, mực các loại
+ Nguyên vật liệu phụ: keo gián các loại, chỉ khâu các loại, bản in các loại, gồm các loại…
+ Nhiên liệu: dầu hỏa, dầu nhờn…
Tùy theo từng loại sản phẩm mà tỷ trọng nguyên vật liệu chính trong sản phẩm có sự thay đổi, nhưng nhìn chung chi phí nguyên vật liệu chính chiếm khoảng 80% tổng chi phí sản xuất sản phẩm của Xí nghiệp
Phần lớn nguyên vật liệu của Xí nghiệp là mua ngoài Giá trị nguyên vật liệu mua về nhập kho được xác định theo giá thực tế
+
Các chi phí mua thực
tế ( phí vận chuyển, bốc xếp…)
Khi xuất dùng nguyên vật liệu cho sản xuất, kế toán tính giá trị theo giá thực tế bình quân gia quyền Phương pháp này phù hợp với Xí nghiệp
vì có tần suất nhập xuất nguyên vật liệu lớn
Theo đó, kế toán căn cứ theo giá thực tế vật liệu tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ để xác định giá bình quân một đơn vị vật liệu (đơn giá bình quân)
Đơn giá
Giá thực tế vật liệu tồn đầu kỳ
+ Giá thực tế vật liệu nhập
trong kỳ
Trang 28Số lượng tồn đầu kỳ + Số lượng nhập trong kỳ
Sau đó căn cứ vào lượng vật liệu xuất trong kỳ và giá đơn vị bình quân để xác định giá thực tế của vật liệu xuất trong kỳ
Giá thực tế vật
liệu xuất trong kỳ
= Số lượng vật liệu xuất kho
x Đơn giá bình quân
Kế toán Xí nghiệp sử dụng TK621 - chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
để tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho sản xuất
Khi xuất nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất, kế toán ghi trực tiếp cho từng phân xưởng, từng sản phẩm
Trình tự tập hợp nguyên vật liệu trực tiếp như sau:
Sau khi ký hợp đồng với khách hàng về sản phẩm, phòng kế hoạch sản xuất vật tư tiến hành lên định mức vật liệu xuất cho phân xưởng sản xuất sản phẩm Căn cứ vào phiếu lĩnh vật tư ghi vật liệu được xuất cho sản phẩm nào, phân xưởng nào sản xuất, kế toán căn cứ vào phiếu đó để phân
bổ cho loại sản phẩm tương ứng
Ví dụ: Ngày 7 tháng 10 năm 2007, xuất kho một số nguyên vật liệu
để sản xuất (để in) sách giáo khoa văn lớp 4 (VĂN 4), in nhãn bánh kẹo cho công ty Hà Thành – thành phố Thái Bình Căn cứ vào phiếu lĩnh vật
tư số 07 xuất cho phân xưởng in OFSET (Theo hợp đồng 357 với nhà xuất bản giáo dục và hợp đồng 361 với công ty bánh kẹo Hà Thành
Bảng 1
Xí nghiệp in Thái Bình
Số: 07
PHIẾU LĨNH VẬT TƯ
Trang 29Ngày 7 tháng 10 năm 2007
Đơn vị lĩnh: Phân xưởng OFSET
Lý do lĩnh: Văn 4 - hợp đồng 357
In nhãn bánh kẹo - hợp đồng 361
Lĩnh tại kho: Chị Phương
STT Tên vật liệu ĐVT Số
lượng
Giá đơn vị
Thành tiền(đồng)
( Mười bảy triệu bảy trăm linh hai ngàn bảy trăm sáu mươi lăm đồng)
P.t cung tiêu Thủ kho Người nhận Người lập phiếu
Căn cứ vào chứng từ gốc này ( phiếu lĩnh vật tư) kế toán ghi sổ chi phí sản xuất, phần chi tiết phân xưởng in OFSET, cho loại sản phẩm cụ thể ( văn 4 và nhãn bánh kẹo) ở khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Ví dụ: Kế toán mở sổ của phân xưởng in OFSET, ghi cho “văn 4” như sau:
Bảng 2:
SỔ CHI PHÍ SẢN XUẤT.
Số 01 Tháng 10 năm 2007
Trang 30Phân xưởng : in OFSET
Sản phẩm: Văn 4
TK621: nguyên vật liệu trực tiếp
(Đơn vị: đồng)Ngày
Ngày tháng
09/06 05 09/10 NVL chính “văn
4”, “nhãn bánh kẹo”
152 12.604.765
5.098.000
Cộng phát sinh 17.702.765
Nợ
05 07/10 Xuất nguyên vật liệu 621 152 17.702.765
07 10/10 Xuất nguyên vật liệu 621 152 8.624.785
11 12/10 Xuất nguyên vật liệu
khác
Trang 31Cộng 38.766.177(Kèm theo 03 chứng từ gốc)
Trang 32Số hiệu tài khoản Số tiền (đồng)
Trang 33152 2.095.721.600
Cuối tháng kế toán tập hợp toàn bộ chi phí nguyên vật liệu xuất dùng cho từng phân xưởng sản xuất, từng sản phẩm cụ thể Căn cứ tập hợp là các chứng từ gốc và sổ chi phí sản xuất của từng phân xưởng, cho từng loại sản phẩm mà phân xưởng đó sản xuất Theo số liệu tập hợp được ở sổ chi phí sản xuất của phân xưởng in OFSET trong tháng 10, khoản mục nguyên vật liệu trực tiếp cho sản xuất của sản phẩm sách giáo khoa văn 4 (hợp đồng số 357) là 170.000.000đ, còn của sản phẩm nhãn bánh kẹo (hợp đồng số 361) là 150.000.000đ Đó là số phát sinh trong kỳ của TK621 ở 2 sản phẩm của phân xưởng in OFSET – chúng là căn cứ để tập hợp chi phí sản xuất - khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm sau này
Theo sổ chi phí sản xuất của phân xưởng in OFSET ghi cho sản phẩm văn 4 như sau:
Bảng 7:
SỔ CHI PHÍ SẢN XUẤT
(Số 02)
Tháng 10 năm 2007Phân xưởng in OFSET
Sản phẩm: Văn 4
TK621: khoản mục nguyên vật liệu trực tiếp
Đơn vị: đồngNgày
tháng
đối
Số tiền
Trang 34Số hiệu
Ngày tháng
07/1015/1026/1030/10
Nguyên vật liệuNguyên vật liệuNguyên vật liệuNguyên vật liệu khác
Cộng phát sinh
152152152152
18.972.34572.893.21575.251.3202.883.120170.000.000
SỔ CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU
Tên nguyên vật liệu: giấy Vĩnh Phú 57g (61*84)
Tại kho: đ/c Phương
Tháng 10 năm 2007Đơn vị tính: đồng
kg kg kg
Trang 35Tuy nhiên, cũng còn một số điểm chưa hoàn chỉnh, cần phải được khắc phục trong công tác quản lý và hạch toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ở Xí nghiệp in Thái Bình.
2.3 Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp.
Kế toán chi phí nhân công trực tiếp ở Xí nghiệp in Thái Bình là toàn
bộ những khoản tiền phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm
Đó là các khoản chi phí về tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương (như phụ cấp trách nhiệm), các khoản đóng góp vào quỹ bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành Chi phí nhân công trực tiếp của Xí nghiệp in Thái Bình chiếm trọng lượng khoảng 10% tổng chi phí sản xuất của Xí nghiệp Vì vậy, kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp ở đây được coi trọng
2.3.1 Kế toán tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất.
Trang 36Xí nghiệp thực hiện trả lương cho công nhân trực tiếp sản xuất theo hình thức trả lương theo sản phẩm Những ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, nghỉ do học tập của công nhân thì Xí nghiệp thực hiện hình thức trả lương theo thời gian cho họ.
Khi áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm cho công nhân trực tiếp sản xuất, Xí nghiệp căn cứ vào đơn giá tiền lương sản phẩm theo quy định chung của Bộ văn hóa cho ngành in Kỳ tính lương (là kỳ hạch toán) được tính là một tháng
Sản phẩm của Xí nghiệp rất đa dạng, nhiều chủng loại, nhiều mẫu mã khác nhau, độ phức tạp về kỹ thuật in ấn của từng loại sản phẩm lại có sự khác nhau Do vậy, công nhân trực tiếp sản xuất sẽ phải gặp qua rất nhiều loại sản phẩm từ dễ sản xuất, dễ làm đến những sản phẩm khó sản xuất, phức tạp hơn Khi xác định độ phức tạp của hoạt động sản xuất sản phẩm,
Xí nghiệp chia độ phức tạp thành các cấp bậc là: bậc 1, bậc 2, bậc 3, bậc 4,… theo độ khó và phức tạp tăng dần (hiện tại ở Xí nghiệpcó tới 6 bậc kỹ thuật của các công việc sản xuất sản phẩm)
Để theo dõi chi tiết, chặt chẽ tiền lương sản xuất của công nhân, Xí nghiệp còn căn cứ vào thời gian (tính bằng giờ) sản xuất của công nhân ở từng bậc kỹ thuật của sản phẩm mà họ sản xuất trong tháng. Đơn giá tiền lương của công nhân sản xuất được xây dựng cho một giờ sản xuất của mỗi bậc kỹ thuật như sau:
BẢNG ĐƠN GIÁ GIỜ CÔNG IN
(Đơn vị tính: đồng/giờ)Bậc kỹ thuật của sản phẩm Đơn giá giờ công in 1 giờ
Trang 37Một yếu tố nữa được dùng làm căn cứ để tính lương công nhân trực tiếp sản xuất, đó là 1 giờ công định mức của từng sản phẩm Khi đó kế toán quy đổi ra 1 giờ công định mức của bậc cho từng bậc kỹ thuật của sản phẩm Đơn vị tính của 1 giờ công định mức quy đổi là số sản phẩm hoàn thành quy định.
BẢNG GIỜ CÔNG ĐỊNH MỨC QUY ĐỔI
Đơn vị tính: sản phẩmBậc kỹ thuật của sản phẩm 1 giờ công định mức
(Số sản phẩm hoàn thành)Bậc 3
Bậc 4Bậc 5Bậc 6
250230160140
Theo đó, với sản phẩm có độ phức tạp ở bậc 5 thì cứ sản xuất được
160 sản phẩm, người công nhân được tính là đã lao động 1 giờ, theo quy định thì tiền công được trả là 1194đ Ở Xí nghiệp 1 sản phẩm được tính là
1 trang in tiêu chuẩn (khổ in 13 x 19)
Như vậy, lương công nhân trực tiếp sản xuất được tính như sau:
Số sản phẩm của 1 giờ công
x Đơn giá giờ
công in
= Số giờ sản xuất X Đơn giá giờ công in
Trang 38Khi công nhân sản xuất nghỉ lễ, tết, phép, học tập do Xí nghiệp tổ chức, thì áp dụng hình thức trả lương theo thời gian.
X
Số giờ được hưởng lương thời gian
Xí nghiệp lấy đơn giá giờ công in của bậc sản phẩm bậc 3 làm đơn giá lương thời gian của công nhân sản xuất (1 giờ công = 888.5đ)
Trình tự kế toán lương công nhân sản xuất như sau:
Chứng từ ban đầu được sử dụng làm căn cứ tính lương là phiếu xác nhận sản phẩm của các phân xưởng gửi về phòng kế toán và giao cho kế toán tiền lương tính và tổng hợp Ở Xí nghiệp in Thái Bình phiếu này được các phân xưởng lập cho từng người
Ví dụ: Tháng 10 năm 2007, phân xưởng in OFSET lập phiếu xác nhận sản phẩm cho một công nhân ở nhóm sản xuất sách giáo khoa “văn 4” theo hợp đồng số 357 với nhà xuất bản giáo dục Theo kế hoạch sản xuất của phòng kế hoạch vật tư thì ấn phẩm “văn 4” thuộc bậc kỹ thuật bậc 4 (sản phẩm do phân xưởng OFSET sản xuất)
Bảng 9:
Đơn vị: Xí ngiệp in Thái Bình
Phân xưởng: OFSET
Số lượng Đơn giá Thành
tiền
Ghi chú
Trang 39Tổng số tiền (viết bằng chữ):
Người giao việc Người nhận việc Người kế toán
chất lượng
Người duyệt
(Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
Sau đó, các phiếu xác nhận sản phẩm được chuyển về phòng kế toán Căn cứ vào phiếu xác nhận sản phẩm, kế toán lương tính ra tiền lương phải trả cho từng công nhân, tập hợp tiền lương phải trả cho từng phân xưởng, từng bộ phận và lập bảng thanh toán tiền lương theo phân xưởng, theo các bộ phận trong Xí nghiệp
Bên cạnh đó, kế toán căn cứ vào số người được hưởng BHXH thay lương (nghỉ ốm…) để tính vào bảng lương tháng phải trả cho công nhân, đồng thời tính 5% BHXH phải khấu trừ vào tiền lương của công nhân theo quy định hiện hành
Với số liệu từ phiếu xác nhận sản phẩm số 05, kế toán tính lương cho công nhân An như sau:
- Số trang in “văn 4” được quy đổi ra số giờ công định mức cho 1 sản phẩm bậc 5 là: 94750 : 160 = 513 (giờ)
- Đơn giá một giờ công định mức cho 1 sản phẩm bậc 5 là: 1194đồng Khi đó cônh nhân An được hưởng mức lương: 1.194đ x 513giờ
= 612.522đ
Số tiền 5% BHXH phải khấu trừ vào lương công nhân trực tiếp sản xuất được tính trên bậc lương cơ bản của họ, bậc lương cơ bản của công nhân là bậc thợ kỹ thuật (từ bậc 1 đến bậc 6)
Căn cứ vào các bảng tính lương phải trả cho các phân xưởng, các bộ phận kế toán lập bảng thanh toán lương toàn Xí ngiệp như ở bảng sau đây.Căn cứ vào bảng thanh toán lương toàn Xí nghiệp và các bảng tính lương phải trả cho cán bộ công nhân viên của các phân xưởng và các bộ phận, kế toán tập hợp theo các đối tượng, hạch toán chi tiết như sau:
Trang 40- Tính lương công nhân sản xuất trực tiếp.
- Tính lương nhân viên phân xưởng
- Tính lương nhân viên quản lý Xí nghiệp
Trên cơ sở các bảng tập hợp như vậy kế toán lập bảng phân bổ tiền lương
Ví dụ: Căn cứ về số liệu tiền lương tháng 10 năm 2007, kế toán lập bảng phân bổ tiền lương như sau:
Lương công nhân sản xuất
Lương nhân viên phân xưởng
Lương nhân viên QLDN
Như vậy, toàn bộ chi phí nhân công trực tiếp (khoản lương) đã được tập hợp xong Kế toán tiến hành ghi sổ chi phí sản xuất cho từng sản phẩm của từng phân xưởng