Ảnh hưởng của đô thị hóa đến hướng sử dụng đất trong các hộ nông dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
Trang 11 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nước ta mà còn
đối với tất cả các nước trên thế giới, nhất là các nước ở châu á Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Đất nước ta đang phát triển trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công nghiệp hóa và đô thị hóa là hai quá trình phát triển song song ở nước ta hiện nay Đô thị hóa là hệ quả của sức mạnh công nghiệp và trở thành mục tiêu của mọi nền văn minh trên thế giới, nó góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhân dân Trong xu thế quốc tế hóa, sản xuất ngày càng gia tăng, cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới diễn ra như vũ bão thì việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trở thành vấn đề cấp bách để đưa đất nước chuyển sang một thời kỳ phát triển với mục tiêu lâu dài là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, mức sống vật chất
và tinh thần cao, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Một trong những chủ trương quan trọng trong phát triển công nghiệp của Đảng ta là ra sức phát triển đô thị cùng với việc công nghiệp hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn; quan tâm đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ
và kết cấu hạ tầng, giải quyết việc làm, tăng nhanh sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để các đô thị làm hạt nhân thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong vùng và trên cả nước
Quá trình đô thị hóa ở nước ta đã bước đầu đem lại những thành quả, chẳng những làm cho bộ mặt và cuộc sống đô thị thay đổi khá hơn trước mà còn tác động tích cực đến sự đổi mới bộ mặt và cuộc sống nông thôn Sự phát
1
Trang 2triển đô thị và sự biến đổi của nông thôn trong quá trình đô thị hóa là hệ quả của sự tác động có tính chất nhân-quả Những thành quả của đô thị hóa tác
động đến nông thôn, làm cho cuộc sống của nông dân trở nên khá giả hơn, nông nghiệp phát triển hơn Ngược lại, sự phát triển của nông thôn và nông nghiệp lại tạo điều kiện, tiền đề cho sự phát triển công nghiệp và đô thị Sự kết hợp hài hòa giữa đô thị hóa với phát triển nông nghiệp, nông thôn là lý thuyết
mà hiện nay được nhiều nước đang phát triển áp dụng với những phương thức sáng tạo phù hợp với đặc điểm của mỗi nước Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như vấn đề sử dụng đất đai, lao động và việc làm của người nông dân, cách thức
đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, dãn dân… Như vậy, đứng trước tác động của đô thị hóa, chúng ta phải làm gì để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực và chủ động phát huy tính tích cực của quá trình đô thị hóa, bảo đảm cho kinh tế nông thôn mà trong đó trọng tâm là kinh tế nông hộ phát triển hiệu quả và bền vững
Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới của đất nước, huyện Yên
Mỹ, tỉnh Hưng Yên đã và đang hình thành các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, bước đầu tạo tiền đề cho sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong vùng Hiện nay, huyện đang là điểm dừng chân của nhiều công ty, xí nghiệp, là nơi
có nhiều thay đổi về mục đích sử dụng đất đai Trong bối cảnh đó, người dân thay đổi hướng sử dụng đất đai của họ cụ thể như thế nào? Có đúng với định hướng sử dụng đất đai của địa phương không? Sự thay đổi này có ảnh hưởng
đến thu nhập và đời sống của họ không? Cách giải quyết các vấn đề này ra sao? Để góp phần trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: "ảnh hưởng của đô thị hóa đến hướng sử dụng đất trong các hộ nông dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên"
2
Trang 31.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến hướng sử dụng đất trong các hộ nông dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên nhằm bảo đảm cho kinh tế nông hộ phát triển hiệu quả, đúng hướng và bền vững
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hóa
- Đánh giá quá trình đô thị hóa ở Yên Mỹ-Hưng Yên
- Phân tích ảnh hưởng của đô thị hóa đến hướng sử dụng đất đai của các
hộ nông dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm tối ưu hoá ảnh hưởng của đô thị hóa đến hướng sử dụng đất trong các hộ nông dân huyện Yên Mỹ, bảo đảm kinh tế nông hộ phát triển bền vững
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc sử dụng đất đai của các hộ nông dân huyện Yên Mỹ
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến hướng sử dụng đất thổ cư và đất nông nghiệp trong các hộ nông dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
- Phạm vi không gian: Huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn
2000-2004 Số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2002 và năm 2004 để so sánh sự thay đổi về hướng sử dụng đất trong hộ nông dân
3
Trang 42 cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hóa
Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau:
Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy
sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện
Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; kết cấu hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị; quy mô dân số ít nhất là 4.000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2.000 người/km2 [7] Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao
động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong huyện, trong tỉnh
- Những đô thị là trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò và chức năng nhiều mặt về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội…
4
Trang 5- Những đô thị là trung tâm chuyên ngành khi chúng có vai trò chức năng chủ yếu về một mặt nào đó như công nghiệp cảng, du lịch, nghỉ ngơi,
đầu mối giao thông…
Trong thực tế, một đô thị là trung tâm tổng hợp của một hệ thống đô thị vùng tỉnh nhưng cũng có thể chỉ là trung tâm chuyên ngành của một hệ thống
đô thị một vùng liên tỉnh hoặc của cả nước
Việc xác định trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trí của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định Vùng lãnh thổ của
đô thị bao gồm nội thành hay nội thị (gọi chung là nội thị) và ngoại ô hay ngoại thị Các đơn vị hành chính của của nội thị bao gồm quận và phường, còn các đơn vị hành chính ngoại ô bao gồm huyện và xã
Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nước phụ thuộc vào cấp quản lý của đô thị và phạm vi ảnh hưởng của đô thị như đô thị-trung tâm quốc gia; đô thị-trung tâm cấp vùng (liên tỉnh); đô thị-trung tâm cấp tỉnh; đô thị-trung tâm cấp huyện và đô thị-trung tâm cấp tiểu vùng (trong huyện) [6]
a/ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động
Lao động phi nông nghiệp của một đô thị là lao động trong khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn thuộc các ngành kinh tế quốc dân như công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư, dịch vụ công cộng… không thuộc ngành sản xuất nông, lâm, thủy sản [2] b/ Kết cấu hạ tầng đô thị
Kết cấu hạ tầng đô thị được đánh giá là không đồng bộ khi tất cả các loại công trình kết cấu hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị đều được xây dựng, nhưng mỗi loại phải đạt được tiêu chuẩn tối thiểu từ 70% trở lên so với quy
định của Quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị [3]
5
Trang 6c/ Quy mô dân số đô thị
Quy mô dân số đô thị bao gồm số dân thường trú và số dân tạm trú trên
6 tháng tại khu vực nội thành phố, nội thị xã và thị trấn [18]
Đối với thành phố trực thuộc Trung ương, dân số đô thị bao gồm dân số khu vực nội thành, dân số của nội thị xã trực thuộc (nếu có) và dân số thị trấn d/ Mật độ dân số
Mật độ dân số là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của đô thị
được xác định trên cơ sở quy mô dân số đô thị và diện tích đất đô thị
2.1.1.2 Phân loại đô thị
ở nước ta, theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm
2001 của Chính phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị, đô thị được chia thành các loại sau [6]:
a/ Đô thị loại đặc biệt
Là thủ đô hoặc đô thị rất lớn với chức năng là trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hoá, khoa học-kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 90%
6
Trang 7trở lên; Có cơ sở hạ tầng xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh; Quy mô dân số từ 1,5 triệu người trở lên; Mật độ dân số bình quân từ 15.000 người/km2 trở lên [6]
b/ Đô thị loại I
Là đô thị rất lớn, là trung tâm trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học-kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nước
Dân số đô thị có trên 50 vạn người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 85% tổng số lao động của thành phố Mật độ dân cư bình quân từ 12.000 người/km2 trở lên Loại đô thị này có tỷ suất hàng hóa cao, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh [6]
c/ Đô thị loại II
Là đô thị lớn, là trung tâm trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học-kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu vùng trong tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước
Dân số đô thị có từ 25 vạn đến dưới 1 triệu người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 80% tổng số lao động, mật độ dân cư bình quân từ 10.000 người/km2 trở lên, sản xuất hàng hóa phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối
Trang 8tỉnh, là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung, dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực
đối với vùng liên tỉnh
Dân số có từ 10 người trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 75% trong tổng số lao động, mật độ dân cư trung bình từ 8.000 người/km2 trở lên Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh [6]
e/ Đô thị loại IV
Là đô thị trung bình nhỏ, là trung tâm tổng hợp chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một tỉnh hay một vùng trong tỉnh
Dân cư có từ 5 vạn người trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 70% trong tổng số lao động Mật độ dân cư từ 6.000 người/km2 trở lên Các đô thị này đã và đang đầu tư xây dựng đồng bộ và hoàn chỉnh từng mặt hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng [6]
g/ Đô thị loại V
Là những đô thị loại nhỏ, là trung tâm tổng hợp về chính trị, kinh tế, văn hoá và dịch vụ hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp… có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một huyện hoặc một cụm xã
Dân số có từ 4.000 người trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 65% trong tổng số lao động Mật độ dân số bình quân 2.000 người/km2 trở lên, đang bắt đầu xây dựng một số công trình công cộng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật [6]
Việc xác định quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô
8
Trang 9thị chỉ tiến hành trong phạm vi địa giới nội thị Riêng miền núi, quy mô dân
số đô thị loại III có thể quy định tối thiểu từ 8 vạn người, đô thị loại IV từ 2 vạn người và đô thị loại V là 2.000 người [4]
2.1.1.3 Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội
Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hóa của một quốc gia, là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và văn hóa
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, có khả năng tiếp nhận các thành tựu khoa học kỹ thuật của khu vực và trên thế giới
2.1.2 Đô thị hóa
2.1.2.1 Khái niệm về đô thị hóa
Một trong những vấn đề nổi bật của sự phát triển thế giới ngày nay là sự gia tăng nhanh chóng số lượng và quy mô các đô thị, trong đó tập trung các hoạt động chủ yếu của con người, nơi diễn ra cuộc sống vật chất, văn hóa và tình thần của một bộ phận dân số Các đô thị chiếm vị trí ngày càng to lớn trong quá trình phát triển xã hội
Đô thị hóa được hiểu khái quát là quá trình hình thành và phát triển của các thành phố Nhiều thành phố mới xuất hiện và không ít thành phố có lịch
sử hàng nghìn năm đang tồn tại và phát triển Sự gia tăng số lượng và quy mô các thành phố về diện tích cũng như dân số Và do đó làm thay đổi tương quan dân số thành thị và nông thôn; vai trò chính trị-kinh tế-văn hóa của thành phố; môi trường sống… là những vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm [12]
Trên quan điểm một vùng, đô thị hóa là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị [18]
Trên quan điểm kinh tế quốc dân, đô thị hóa là một quá trình biến đổi
9
Trang 10về phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu [18]
Trên quan điểm xã hội học đô thị, đô thị hóa là quá trình kinh tế-xã hội diễn ra trong mối quan hệ qua lại mật thiết với cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật, làm sản sinh ra nhiều vấn đề phức tạp của đời sống kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa của xã hội, đặc biệt đưa đến những hậu quả xã hội to lớn khác nhau trong một hệ thống xã hội thế giới cũng như mỗi nước [20]
Đô thị hóa là quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống đô thị của các nhóm dân cư Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác
động đến đô thị hóa cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong các điều kiện mới mà biểu hiện tập trung là sự thay đổi cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động
Đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật, là quá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn (cách sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt…) Thực chất đó là tăng trưởng
đô thị theo hướng bền vững
Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế-xã hội của đô thị
và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ… Do vậy, đô thị hóa gắn liền với sự phát triển kinh tế-xã hội
Tóm lại, đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số
Khi đánh giá về đô thị hoá người ta thường sử dụng 2 tiêu chí, đó là mức độ đô thị hoá và tốc độ đô thị hoá [9]:
Mức độ đô thị hoá = Dân số đô thị/Tổng dân số (%)
10
Trang 11Tốc độ đô thị hoá = (Dân số đô thị cuối kỳ - Dân số đô thị đầu kỳ)/(NxDân số đô thị đầu kỳ) (%/năm)
Trong đó: N là số năm giữa 2 thời kỳ
2.1.2.2 Đặc trưng của đô thị hóa
Đô thị hóa là hiện tượng mang tính toàn cầu và có những đặc trưng chủ yếu sau đây [12], [14]:
Một là, số lượng các thành phố, kể cả các thành phố lớn tăng nhanh, đặc biệt là thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai
Hai là, quy mô dân số tập trung trong mỗi thành phố ngày càng lớn, số lượng thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều
Ba là, việc hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địa
lý, liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các vùng đô thị Thông thường vùng đô thị bao gồm một vài thành phố lớn và xung quanh chúng là các thành phố nhỏ vệ tinh
Bốn là, dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh do quá trình di dân nông thôn-thành thị, đang làm thay đổi tương quan dân số thành thị và nông thôn, nâng cao tỷ trọng dân thành thị trong tổng dân số
Năm là, mức độ đô thị hóa biểu thị trình độ phát triển xã hội nói chung, song có đặc thù riêng cho mỗi nước Đối với các nước phát triển, đô thị hóa diễn ra chủ yếu theo chiều sâu, chất lượng cuộc sống ở các thành phố ngày càng hoàn thiện Trong các nước đang phát triển, tốc độ đô thị hóa rất cao, đặc biệt trong các thập kỷ gần đây, quá trình đô thị hóa diễn ra theo chiều rộng
đang đặt ra nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết như vấn đề đất đai, thất nghiệp, nghèo đói, ô nhiễm môi trường và tệ nạn xã hội
11
Trang 122.1.2.3 Vai trò của đô thị hóa
- Đô thị hóa làm thay đổi cơ cấu lao động trong các khu vực kinh tế Cơ cấu lao động trong xã hội thường được phân theo 3 khu vực:
Khu vực I, khu vực kinh tế nông, lâm, thủy sản thuộc địa bàn nông thôn Trong quá trình đô thị hóa khu vực này giảm dần
Khu vực II, khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Trong quá trình đô thị hoá, khu vực này phát triển không ngừng về số lượng và chất lượng Sự phát triển của nó mang tính quyết định trong quá trình đô thị hóa
Khu vực III, khu vực dịch vụ, quản lý và nghiên cứu khoa học Khu vực này phát triển cùng với sự phát triển của đô thị, nó góp phần nâng cao chất lượng trình độ đô thị hóa
Ba khu vực lao động trên biến đổi theo hướng giảm khu vực I, phát triển
về số lượng và chất lượng ở khu vực II, III nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống ngày càng cao của cộng đồng
- Đô thị hóa làm số dân sống trong đô thị ngày càng tăng Đây là yếu tố
đặc trưng nhất của quá trình đô thị hóa Dân cư sống trong khu vực nông thôn
sẽ chuyển thành dân cư sống trong đô thị, lao động chuyển từ hình thức lao
động khu vực I sang khu vực II, III, cơ cấu lao động chuyển từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, dịch vụ
- Đô thị hóa gắn liền với việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp, làm thay đổi cục diện sản xuất, phương thức sản xuất Do công nghiệp phát triển đã đưa đến những thay đổi và phát triển sau:
Làm tăng nhanh thu nhập quốc dân, đối với các nước phát triển tỷ trọng công nghiệp trong thu nhập quốc dân thường chiểm tỷ lệ từ 60-70% trở lên Các nước phát triển ở trình độ càng cao thì tỷ trọng công nghiệp càng lớn
12
Trang 13Làm tăng hoạt động khoa học-kỹ thuật và công nghệ Do hoạt động sản xuất công nghiệp gắn liền với khoa học-kỹ thuật, công nghệ cho nên trình độ khoa học-kỹ thuật ở mỗi quốc gia là thước đo sự phát triển của đất nước
- Đô thị hóa tạo ra hệ thống không gian đô thị Cùng với sự phát triển các trung tâm đô thị, các khu dân cư với nhiều loại quy mô đã tạo thành các vành đai đô thị, các chùm đô thị và các vành đai, các chùm đô thị này đều phát triển
- Đô thị hóa góp phần phát triển trình độ văn minh của quốc gia nói chung và văn minh đô thị nói riêng Đô thị hóa phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các cơ sở văn hóa, giáo dục, phát triển sự giao lưu trong nước và nước ngoài Đô thị là điều kiện để tiếp nhận nền văn minh thì từ bên ngoài và phát triển nền văn minh trong nước
2.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa
Yếu tố tự nhiên: Trong thời kỳ kinh tế chưa phát triển mạnh mẽ thì đô thị hóa phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Những vùng có khí hậu, thời tiết tốt, có nhiều khoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợi thế khác
sẽ thu hút dân cư mạnh hơn và do đó sẽ được đô thị hóa sớm hơn, quy mô lớn hơn Ngược lại, những vùng khác sẽ đô thị hóa chậm hơn, quy mô nhỏ hơn Từ
đó dẫn đến sự phát triển không đồng đều hệ thống đô thị giữa các vùng
Yếu tố xã hội: Mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thị tương ứng và do đó quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó Kinh tế thị trường đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh Sự phát triển của lực lượng sản xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và là tiền đề cho đô thị hóa Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong khu vực nông, lâm, thủy sản của nền kinh tế sẽ tạo ra quá trình đô thị hóa nông thôn và các vùng ven biển
13
Trang 14Yếu tố văn hóa dân tộc: Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng của mình và nền văn hóa đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và hình thái đô thị nói riêng
Yếu tố kinh tế: Kinh tế là yếu tố có tính quyết định trong quá trình đô thị hóa Bởi vì nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài chính Để xây dựng, nâng cấp hay cải tạo đô thị đòi hỏi nguồn tài chính lớn Nguồn đó có thể từ trong nước hay từ nước ngoài Trình độ phát triển kinh tế thể hiện nhiều phương diện như quy mô, tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu ngành của nền kinh tế, sự phát triển các thành phần kinh tế, luật pháp kinh tế, trình độ hoàn thiện của kết cấu hạ tầng, trình độ văn hóa giáo dục của dân cư, mức sống dân cư
Yếu tố chính trị: Sự ổn định chính trị là động lực thúc đẩy quá trình đô thị hoá, chính trị càng ổn định thì đô thị càng phát triển ở Việt Nam từ sau năm 1975, tốc độ đô thị hóa ngày càng cao, các khu đô thị mới mọc lên nhanh chóng… Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, với các chính sách mở cửa nền kinh
tế, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thì đô thị hóa đã tạo ra sự phát triển kinh tế vượt bậc
2.1.2.5 Hình thái biểu hiện của đô thị hóa
Mở rộng quy mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sở hình thành các khu đô thị mới, các quận, phường mới là hình thức phổ biến với các đô thị của Việt Nam trong điều kiện còn nhiều hạn chế Việc hình thành các khu đô thị mới, các quận, phường mới được xem là hình thức đô thị hóa theo chiều rộng
và là sự mở đường của quan hệ sản xuất cho lực lượng sản xuất phát triển Với hình thức này dân số và diện tích đô thị tăng nhanh chóng Sự hình thành các
đô thị mới để phát triển đồng đều các khu vực, các đô thị mới được xây dựng trên cơ sở xây dựng các khu công nghiệp và các trung tâm kinh tế là xu hướng tất yếu của sự phát triển
14
Trang 15Hiện đại hóa và nâng cao trình độ các đô thị hiện có là quá trình thường xuyên và tất yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển Các nhà quản lý đô thị và các thành phần kinh tế trên địa bàn đô thị thường xuyên vận động nhằm làm giàu thêm cho đô thị của mình Quá trình đó đòi hỏi họ phải biết điều tiết, tận dụng tối đa những tiềm năng sẵn có và hoạt động có hiệu quả cao trên cơ
sở hiện đại hóa trong mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội ở đô thị
2.1.2.6 Sự phát triển của đô thị hoá
Quá trình đô thị hoá diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế-xã hội Trình độ đô thị hoá phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hoá và phương thức tổ chức cuộc sống xã hội
Quá trình đô thị hoá cũng là một quá trình phát triển về kinh tế-xã hội, văn hoá và không gian kiến trúc Nó gắn liền với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của các ngành nghề mới Quá trình đô thị hoá có thể
được chia thành 3 thời kỳ [2]:
a/ Thời kỳ tiền công nghiệp (trước thế kỷ XVIII)
Đô thị hoá phát triển mang đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp Các đô thị phân tán, quy mô nhỏ phát triển theo dạng tập trung, cơ cấu đơn giản Tính chất đô thị lúc đó chủ yếu là hành chính, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
b/ Thời kỳ công nghiệp (từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX)
Các đô thị phát triển mạnh, song song với quá trình công nghiệp hoá Cuộc cách mạng công nghiệp đã làm cho nền văn minh đô thị phát triển nhanh chóng, sự tập trung sản xuất và dân cư đã tạo nên những đô thị lớn và cực lớn Cơ cấu đô thị phức tạp hơn, đặc biệt là các thành phố mang nhiều chức năng khác nhau (nửa sau thế kỷ XX) như thủ đô, thành phố cảng Đặc trưng của thời kỳ này là sự phát triển thiếu kiểm soát của các thành phố
15
Trang 16c/ Thời kỳ hậu công nghiệp
Sự phát triển của công nghệ tin học đã làm thay đổi cơ cấu sản xuất và phương thức sinh hoạt ở các đô thị Không gian đô thị có cơ cấu tổ chức phức tạp, quy mô lớn Hệ thống tổ chức dân cư đô thị phát triển theo kiểu cụm, chùm và chuỗi
2.1.2.7 Xu hướng đô thị hóa ở Việt Nam
a/ Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ trong các đô thị lớn
Sự hình thành các trung tâm có tính chất chuyên ngành trong những đô thị lớn là xu thế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đô thị, là biểu hiện của tính chuyên môn hóa cao trong sản xuất Tất cả các hoạt động sản xuất có cùng
đặc điểm, tính chất được tập trung vào một khu vực tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu tốt hơn, sản xuất với năng suất và hiệu quả cao hơn và tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm của đô thị, thị trường lao động phong phú hơn
b/ Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở vùng ngoại ô
Sự hình thành các trung tâm của mỗi vùng có tính khách quan nhằm đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và đời sống ngày càng tăng của chính vùng đó
Đây là biểu hiện của tính tập trung hóa trong sản xuất Tuy nhiên, quy mô sản xuất và hoạt động thương mại, dịch vụ sẽ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội, quy mô dân số của vùng để bảo đảm tính hoạt động có hiệu quả Đồng thời các trung tâm này còn là điểm nối hay sự chuyển tiếp giữa các đô thị lớn làm cho tính hiệu quả của hệ thống đô thị được nâng cao Trong quá trình đô thị hóa, các trung tâm này sẽ trở thành những đô thị vệ tinh của các đô thị lớn
c/ Mở rộng các đô thị hiện có
Việc mở rộngcác đô thị hiện có theo mô hình làn sóng là xu thế tất yếu khi nhu cầu về đất xây dựng đô thị tăng và khả năng mở có thể thực hiện
16
Trang 17tương đối dễ Xu hướng này tạo sự ổn định tương đối và giải quyết các vấn đề quá tải cho đô thị hiện có
d/ Chuyển một số vùng nông thôn thành đô thị
Đây là xu hướng hiện đại được thực hiện trong điều kiện có sự đầu tư lớn của Nhà nước Vấn đề cơ bản là tạo nguồn tài chính để cải tạo đất, xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại
2.1.2.8 Sự hình thành các khu đô thị mới
Khu đô thị mới là khu đô thị đang được phát triển tập trung theo dự án
đầu tư xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ các công trình kết cấu hạ tầng, các công trình sản xuất, công trình phúc lợi và nhà ở
Trong khu đô thị mới có ba thành phần chính: kết cấu hạ tầng, công trình sản xuất, công trình phúc lợi và nhà ở
Quy mô một khu đô thị mới có thể từ 5-10 ha trở lên được sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc không kinh doanh [18]
Các khu đô thị mới thường được gắn với một đô thị hiện có hoặc với một đô thị mới đang hình thành
Trên phương diện pháp lý, khu đô thị mới phải có một ranh giới và chức năng xác định, phù hợp với quy hoạch xây dựng đô thị được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt
Xây dựng các khu đô thị mới thực chất là quá trình đô thị hóa và “từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị cả nước, có cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và kỹ thuật hiện đại, môi trường pháp lý đô thị trong sạch, được phân bố và phát triển hợp lý trên địa bàn cả nước, đảm bảo cho mỗi đô thị, theo vị trí và chức năng của mình phát huy được đầy đủ các thế mạnh góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc” [5]
17
Trang 18Xây dựng các khu đô thị mới là kết quả của việc thực hiện chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xuất phát từ yêu cầu thực tế cải tạo, chỉnh trang những thành phố quá chật trội, quá tải về dân số, được xây dựng thiếu quy hoạch trong những năm trước đây Việc xây dựng các đô thị mới kiểu hiện đại chỉ có thể thực hiện trong điều kiện kinh tế cho phép và đặc biệt với sự đầu tư hợp tác của nước ngoài [9]
2.1.2.9 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đô thị hóa
Đứng trước thách thức mới với những tồn đọng của quá trình đô thị hóa,
Đảng đưa ra chủ trương: “Làm cho các đô thị trở thành hạt nhân của sự phát triển công nghiệp, phát triển đất nước phù hợp với xu thế phát triển của thế giới” [13]
Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu phát triển đô thị trong thời kỳ mới, đường lối phát triển đô thị của Đảng ta được xác định: “Phát triển mạng lưới đô thị phân bố hợp lý trên các vùng Hiện đại hoá dần các thành phố lớn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn Không tập trung quá nhiều cơ sở công nghiệp và dân cư vào các đô thị lớn Khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường Tăng cường công tác quy hoạch và quản lý đô thị, nâng cao thẩm mỹ kiến trúc” [11]
Đảng và Nhà nước định hướng phát triển khu vực đô thị trong giai đoạn tới là “phát huy vai trò của các trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá trên từng vùng và địa phương, đi nhanh trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, đi đầu trong việc phát triển kinh
tế tri thức Tạo vành đai nông nghiệp hiện đại ở các thành phố lớn” [11]
18
Trang 192.1.3 Những vấn đề có tính quy luật thường phát sinh trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
2.1.3.1 Mở rộng diện tích đất đô thị và thu hẹp diện tích đất nông nghiệp
Cả hai hình thức đô thị hóa đều dẫn đến sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng
đất Hình thức phát triển theo chiều rộng đưa đến tình trạng thu hẹp đất canh tác nông nghiệp nhanh chóng vì một phần đất do Nhà nước thu hồi để xây dựng các công trình, một phần đất dân cư bán cho những người nơi khác đến
ở, hoặc kinh doanh Trong quá trình đô thị hóa Nhà nước nắm thế chủ động chuyển đổi mục đích sử dụng đất tạo đà mạnh mẽ cho sự phát triển đô thị
Trong điều kiện kinh tế nước ta, đô thị hóa dẫn đến tình trạng thu hẹp
đất canh tác nông nghiệp Thực chất quá trình đó là thay đổi mục đích sử dụng
đất: từ đất nông nghiệp chuyển sang sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch
vụ, đất ở… Quá trình này góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng đất nói chung nhưng cũng gây ra không ít các vấn đề xã hội
2.1.3.2 Vấn đề dân số, lao động và việc làm đối với nông dân trong quá trình
đô thị hóa
Dân số và lao động ở đô thị gia tăng với tốc độ nhanh do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự dôi dư về lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa là một nguyên nhân cần quan tâm giải quyết
Trong quá trình đô thị hóa nói chung và đô thị hóa theo chiều rộng nói riêng, cơ cấu dân cư theo tuổi, giới, theo tầng lớp xã hội, theo nghề nghiệp biến đổi nhanh chóng Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét Thu nhập của dân cư nói chung tăng lên nhưng tốc độ tăng của mỗi nhóm xã hội, mỗi
nghề nghiệp rất khác nhau
2.1.3.3 Vấn đề môi trường
a/ Môi trường khu vực đô thị mới
19
Trang 20Tốc độ tăng dân số, lao động ở các đô thị Việt Nam nhanh hơn ở một số nước khác Nguyên nhân chính là do nước ta là nước nông nghiệp, kinh tế chưa phát triển, tài nguyên không dồi dào, diện tích đất canh tác bình quân
đầu người quá thấp Các nguyên nhân này làm cho lao động dư thừa từ các vùng nông thôn đổ về các đô thị để tìm việc làm Cùng với người lao động là cả những người trong gia đình họ cũng theo về đô thị, kéo theo cả phong tục, tập quán, lối sống của người nông dân sản xuất nhỏ từ các vùng quê về đô thị Lối sống tùy tiện trong sinh hoạt hàng ngày đã làm tăng thêm sự phức tạp về xã hội và môi trường sinh thái Các hiện tượng lấn chiếm vỉa hè, hình thành các xóm liều, ô nhiễm môi trường cũng gia tăng
b/ Môi trường ở khu vực giáp ranh đô thị
Thực tế môi trường đô thị đang ngày càng xấu đi do quy mô dân số, quy mô sản xuất và cung cấp các dịch vụ của đô thị Để giải quyết các vấn đề
đó, các chính quyền đô thị sẽ có chính sách di chuyển những nhà máy, khu công nghiệp ra vùng ngoại thành xa trung tâm Các doanh nghiệp sẽ chọn địa
điểm có giá đất thấp và vẫn được hưởng các dịch vụ của đô thị, thuận tiện về giao thông, đó chính là khu vực giáp ranh đô thị và nông thôn ở khu vực này vấn đề quản lý môi trường tương đối lỏng lẻo hơn Chính vì vậy môi trường bị
đe dọa nếu không có những chính sách kịp thời
2.1.3.4 Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a/ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn vùng
Cùng với việc tăng dân số đô thị là sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế Trên góc độ dân số và lao động, đô thị hóa là quá trình chuyển đổi cơ cấu dân số từ khu vực I sang khu vực II và khu vực III của nền kinh tế Những người nông dân trước đây gắn bó với ruộng vườn, sau khi trở thành dân cư đô thị, họ bị mất phần lớn ruộng đất canh tác Với số tiền được Nhà nước đền bù, họ dùng để tạo nghề mới, xây dựng nơi cư trú mới… và nhiều vấn đề khác cũng thay đổi
20
Trang 21Trong quá trình đô thị hóa, cơ cấu ngành kinh tế trong vùng và cả nền kinh tế cũng thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng trong khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II và III Khi đô thị mở rộng ra vùng ngoại vi nhằm giải quyết vấn đề quá tải dân số, hình thành các khu dân cư đô thị ở các vùng ngoại vi thì các hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng khu vực III Ngoại thành là nơi có sự thay đổi mạnh mẽ về các hoạt động thương mại, dịch vụ
b/ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực đô thị mới
Trong quá trình đô thị hóa, kinh tế ở các khu đô thị mới tăng trưởng nhanh chóng nhờ có sự tập trung lực lượng sản xuất, tạo ra năng suất lao động cao, cách tổ chức lao động hiện đại
Thực chất quá trình tăng trưởng kinh tế là quá trình tăng việc làm ở đô thị Quá trình đó vừa làm tăng tổng việc làm vừa làm chuyển đổi cơ cấu kinh
tế trong kinh tế đô thị Ngược lại, việc chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế đô thị làm tăng trưởng kinh tế đô thị theo chiều sâu, tăng năng suất lao động xã hội, tăng GDP bình quân đầu người ở đô thị
c/ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực giáp ranh
Khu vực giáp ranh giữa đô thị và nông thôn luôn chịu ảnh hưởng của cả những ngoại ứng tích cực và tiêu cực Mật độ dân cư ở khu vực này sẽ tăng dần, đất đai thay đổi nhanh về mục đích sử dụng Một phần những người dân nội thành mua làm nhà nghỉ, một phần sẽ trở thành nơi cung cấp dịch vụ giải trí cho dân cư nội thành Cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tích cực là khu vực I giảm dần và thay vào đó là khu vực III
2.1.3.5 Vấn đề phát triển hạ tầng kỹ thuật
a/ Hình thành nhanh chóng kết cấu hạ tầng
21
Trang 22Quá trình đô thị hóa là quá trình hình thành nhanh chóng kết cấu hạ tầng kỹ thuật như cấp điện, cấp thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện, hệ thống chợ, khu ở của dân cư, hệ thống đường giao thông…
Đây là những yếu tố thường xuyên không phát triển kết hợp với nhu cầu thực
tế ở các đô thị
b/ Mật độ giao thông đô thị tăng nhanh
Do tăng dân số, lao động và tăng trưởng kinh tế khá nhanh cùng với nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa tăng nhanh làm cho mật độ giao thông phát triển mạnh Hiện nay, việc tập trung quá cao về xe máy, xe đạp ở các thành phố đang là vấn đề lớn đối với các đô thị, tình trạng tắc nghẽn giao thông trong giờ cao điểm thường xảy ra ở các thành phố lớn
2.1.3.6 Vấn đề văn hóa xã hội
Đô thị hóa góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, hình thành lối sống công nghiệp, xây dựng xã hội mới, tuy nhiên khi tăng quy mô thành phố bằng các giải pháp mở rộng không gian, hình thành các quận mới, phường mới sẽ dẫn đến tình trạng gia tăng thất nghiệp Số tiền Nhà nước đền bù đất để tạo công ăn việc làm mới không được người dân sử dụng
đúng mục đích sẽ làm cho tỷ lệ thất nghiệp và các vấn đề xã hội khác gia tăng nhanh chóng
Sự thay đổi tập quán lối sống và sự phân hóa giàu nghèo diễn ra nhanh chóng, nhu cầu giáo dục, y tế tăng, tệ nạn xã hội trở thành vấn đề lớn; vấn đề nghèo đói, thất nghiệp được đặt ra
Thay đổi tập quán sinh hoạt, lối sống, phương thức kiếm sống là kết quả tất yếu của quá trình đô thị hóa Người dân của đô thị sẽ nhanh chóng làm biến đổi tập quán của những người mới đến thông qua các hoạt động xã hội, quan hệ, sinh hoạt, làm việc hàng ngày Những người mới đến, về mặt tâm lý
họ cần phải nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng mới Nhu cầu của họ tăng
22
Trang 23nhanh và họ cũng muốn được mọi người tôn trọng Những tục lệ ma chay, cưới xin sẽ theo kiểu đô thị để kết hợp với xã hội đô thị Tập quán sinh hoạt hoàn toàn thay đổi, mục tiêu nâng cao đời sống và học hành cho con cái được
đặt lên hàng đầu
2.1.3.7 Thay đổi hình thái kiến trúc
Hình thái kiến trúc đô thị được biểu hiện tập trung ở các kiểu nhà ở Kiểu nhà ở phản ánh trình độ văn hóa, mức sống, đặc điểm xã hội mỗi thời kỳ Tại các thành phố chúng ta có thể phân biệt những tòa nhà cổ, những tòa nhà xây dựng thời bao cấp, những tòa nhà xây dựng thời kỳ đổi mới Tại các vùng nông thôn, các ngôi nhà kiểu thành thị đang dần thay thế cho nhà mái ngói
2.1.3.8 Những vấn đề quản lý hành chính
Đô thị hóa theo chiều rộng bằng việc mở rộng quy mô đô thị dưới hình thức xây dựng các phường, quận mới dẫn đến biến động ranh giới các đơn vị hành chính cũng như diện tích và dân số của đô thị và của các quận, các phường
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của đô thị không còn phù hợp khi quy mô đô thị tăng Đồng thời với sự tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý nhà nước về địa giới hành chính, quá trình đô thị hóa làm xuất hiện mâu thuẫn giữa cơ cấu kinh tế-xã hội hiện thực với thể chế quản lý hành chính nhà nước Quá trình đô thị hóa dẫn đến sự cần thiết tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước trên địa bàn Về nguyên tắc, đô thị hóa đến đâu cần tổ chức lại bộ máy quản
23
Trang 242.2.1.1 Seoul
Hình thành từ 600 năm trước đây, gần đây Seoul đã thành một trong những siêu đô thị tầm cỡ thế giới với tốc độ chóng mặt Từ chỗ chỉ có trên 10 triệu dân năm 1990 (chiếm 25% dân số cả nước), đến năm 1995 đã có trên 45% dân số cả nước sống và làm việc tại vùng thủ đô, gồm Seoul và tỉnh Kyonggi Đô thị hoá đi liền với công nghiệp hoá đã trở thành động lực phát triển đô thị tập trung gần 24,4 triệu người [15] Tuy nhiên, quá trình đô thị hoá
đã để lại nhiều hậu quả như sự chênh lệch việc làm, sự quá tải về đất đai và hạ tầng, sự bất lợi về an ninh của một đô thị đầu não
2.2.1.2 Tokyo
Sau chiến tranh, quy hoạch tái thiết Tokyo được lập năm 1946 với hệ thống đường vòng rộng 100 m và các đường tia, các vệ tinh và không gian xung quanh rộng 190 km2 Từ năm 1960, kinh tế Tokyo thịnh vượng và đô thị phát triển chóng mặt, chứa hơn nửa tổng các hoạt động kinh tế-xã hội của Nhật Bản Cùng với dân số tăng nhanh, Tokyo nhanh chóng thành vùng đô thị rộng lớn Tokyo có cấp hành chính tương đương cấp tỉnh, rộng 2.187 km2, dân
số 12 triệu người Cấu trúc Tokyo gồm đô thị với các chức năng hành chính kinh tế trung tâm, vùng Tama với chức năng nhà ở và phục vụ công cộng (27 thành phố, 3 thị trấn và 7 làng) và 2 đảo Lzu và Ogasawara Vùng siêu đô thị Tokyo gồm 3 tỉnh liền kề trong bán kính 50 km có tổng dân số 32,58 triệu người, mật độ dân số là 10.440 người/km2 Tuy có ranh giới hành chính riêng nhưng thực chất hàng ngày có 3,16 triệu người ở 3 tỉnh đến làm việc trong bán kính lên đến 70 km [15]
Tokyo và 7 tỉnh xung quanh (Saitama, Kanagawa, Chiba, Gumma, Tochigi, Ibaraki và Yamanashi) được quy hoạch thành thủ đô quốc gia nhằm giảm bớt áp lực dân số và chức năng tập trung theo hướng đa cực, lập vành đai xanh hạn chế phát triển Tokyo Ngoài ưu việt tập trung cao, giao thông phát
24
Trang 25triển (ít phương tiện cá nhân giảm ô nhiễm), Tokyo tập trung cao dẫn đến mất cân đối các vùng, nhà đất khan hiếm và chất lượng thấp, tiện nghi thời gian sống thiếu, sự lệ thuộc cơ giới, sự thiếu quy hoạch đầu tư và gánh nặng hạ tầng cao ốc
2.2.1.3 Bangkok
Do vị trí địa lý cửa ngõ thuận lợi cho kinh tế và thương mại nên thành phố này đã nhanh chóng được Hoàng gia Thái Lan chọn đóng đô hơn hai thế kỷ trước Sự phát triển ồ ạt nhanh chóng của nó phải kể đến khi Thái Lan tiến hành công nghiệp hoá trong những năm 70-80 Thập niên cuối thế kỷ XX chứng kiến
sự phát triển vượt bậc của nó trở thành đô thị cực lớn duy nhất của nước này Vùng đô thành Bangkok có dân số lên đến gần 7 triệu người (hơn một nửa dân
số đô thị cả nước), với ranh giới trên 2.400 km2, đã trở thành trung tâm lan toả theo các trục giao thông đi các tỉnh xung quanh [15] Vùng đô thành Bangkok
đi đầu và chi phối toàn bộ hoạt động kinh tế-xã hội của một nước vốn 30 năm trước đây chỉ dựa vào nông nghiệp Đồng thời với đô thị hoá tập trung cao độ, các vấn đề thiếu đất phát triển, ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông, nhà ổ chuột… cũng đã trở thành vấn đề vô cùng nan giải
2.2.1.4 Bắc Kinh
Sau năm 1978 với chính sách mở cửa, cải cách và công nghiệp hoá, kinh tế Trung Quốc bước vào thời kỳ cao trào, quá trình đô thị hoá cũng tiến vào giai đoạn mới Tỷ trọng dân số đô thị nhanh chóng tăng cao, năm 1977 là 17,6% đến năm 1995 tăng lên 29,04% [15]
Vùng đô thị Bắc Kinh có diện tích khoảng 17.000 km2, bao gồm thành phố trung tâm (7 triệu người) được bao bọc bởi vành đai xanh và 12 thành phố
vệ tinh cách đều 40 km và các thị trấn xóm Kiến trúc phát triển ồ ạt từ khi đổi mới, song trật tự hình phễu cao dần ra ngoài, dễ thấy so với khuynh hướng tự
do phương tây ở Thượng Hải và Thâm Quyến Tuy đã đạt ở mức trung bình
25
Trang 26của các nước đang phát triển, các khu đô thị nhỏ chất lượng thấp những năm 60-70 đã dần được bổ sung bởi các nhà mới xây theo thị trường Các thành phố vệ tinh có hạ tầng tốt đang trở nên sống động với 10-50 vạn người [15] Tuy nhiên, truyền thống Bắc Kinh cũng đang phải đối mặt với sức ép dân số, cây xanh, đất nông nghiệp, cấu trúc khu phố dọc theo vành đai mới Thành phố vệ tinh, khu ven đô trở thành nơi dày đặc các hoạt động đường cao tốc, xây dựng khu công nghiệp xen lẫn làng xóm, cây cối
Nhìn chung, quá trình đô thị hoá ở châu á diễn ra khá mạnh mẽ Trong những thập kỷ qua, tốc độ đô thị hoá ở khu vực này nhanh hơn nhiều so với các khu vực khác trên thế giới, đặc biệt là ở vùng ngoại vi Quá trình đô thị hoá ở khu vực ngoại vi sẽ làm tăng số lượng dân cư đô thị và đóng góp vào quá trình đô thị hoá chung của khu vực trung tâm Dự báo trong vòng 20 năm tới các khu vực ngoại vi của Đông á sẽ làm tăng thêm 200 triệu dân cư đô thị,
đóng góp vào 40% mức tăng dân cư đô thị của khu vực trung tâm [10]
đối với toàn xã hội, nó bị chi phối bởi nền kinh tế tiểu nông tự nhiên và tự cung tự cấp, những nhân tố thúc đẩy sản xuất hàng hóa và giao lưu buôn bán còn rất thấp Điều này có ảnh hưởng quyết định tới sự phát triển đô thị
26
Trang 27Khi Pháp xâm lược nước ta, để phục vụ cho mục đích khai thác, chúng
đã xây dựng lên những điểm giao thông quan trọng, mở mang và củng cố các
đô thị cũ, xây dựng thành phố mới Các đô thị Việt Nam giai đoạn này chủ yếu giữ vai trò là các trung tâm hành chính, nơi đồn trú của bộ máy chính quyền thực dân phong kiến Công nghiệp đã phát triển nhưng còn yếu ở các đô thị Do vậy, nó đã không thể làm thay đổi tính chất sản xuất nông nghiệp truyền thống của Việt Nam Chính sự đầu tư cơ sở hạ tầng đã dẫn đến nhiều thành phố được mở rộng Năm 1872, Hải Phòng là một làng chài, đến năm
1933 đã trở thành một thành phố cảng sầm uất Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh có mức tăng đột ngột về dân số kể từ năm 1943 Tính đến năm 1955 dân
số đô thị chiếm 11%, tạo ra sự khởi đầu cho quá trình đô thị hóa ở nước ta [8]
2.2.2.2 Thời kỳ 1954-1975
Hệ thống đô thị của Việt Nam đã hình thành, tốc độ phát triển tuy chưa cao song đã đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế-xã hội
Miền Bắc, sau 10 năm đầu của giai đoạn khôi phục kinh tế, quá trình
đô thị hóa được tăng cường, mạng lưới các thành phố được hình thành đã ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển của xã hội Trong giai đoạn 1965-1975, chiến tranh diễn ra cả ở hai miền, miền Bắc phải tạm thời chuyển các công trình công nghiệp quan trọng và một phần dân cư về khu vực nông thôn để tránh sự tàn phá của chiến tranh
Miền Nam, do chính sách đàn áp khủng bố đặc biệt của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở nông thôn nên đã có tình trạng di dời dân cư từ nông thôn ra thành thị, làm cho dân số thành thị tăng vọt Năm 1960, dân số đô thị
ở miền Nam là 15% thì chỉ sau 10 năm đã tăng lên 26%, đặc biệt ở Sài Gòn, dân số đô thị tăng gấp 10 lần Việc di dời dân cư trong chiến tranh ở miền Nam có tác động mạnh đến quá trình đô thị hóa [8]
27
Trang 28là các thị trấn (cụ thể có 4 đô thị loại I, 10 đô thị loại II, 13 đô thị loại III, 60
đô thị loại IV và 569 đô thị loại V) Dân số đô thị Việt Nam năm 1986 là 11,87 triệu người (chiếm 19,3%), năm 1990 đã tăng lên khoảng 13 triệu người (chiếm tỷ lệ 20%), năm 1995 tỷ lệ dân số đô thị chiếm 20,75%, năm 2000 chiếm 25%, năm 2002 chiếm trên 25,3%, dự báo đến năm 2010 tỷ lệ dân số
đô thị ở Việt Nam chiếm 33%, năm 2020 chiếm 45% Đất đô thị cũng tăng từ 0,2% tổng đất tự nhiên quốc gia năm 1999 lên tới gần 1% năm 2003 Năm
1991 mới có 1 khu công nghiệp mới, đến cuối năm 2003 toàn quốc đã thành lập 82 khu công nghiệp [1] Đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh đã gây áp lực lớn đối với khai thác tài nguyên đất và các dạng tài nguyên khác Nhiều diện tích đất nông nghiệp chuyển thành đất đô thị, đất công nghiệp, đất giao thông,
ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người nông dân và an toàn lương thực quốc gia Sự phát triển các đô thị cùng với việc gia tăng tỷ lệ dân số đô thị đồng thời
sự phát triển mạnh ngành công nghiệp đã có ảnh hưởng rất lớn đến hướng sử dụng đất đai của các hộ nông dân
Dự tính đến năm 2010, hệ thống đô thị Việt Nam có hai thành phố lớn nhất là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; 10 thành phố trực thuộc Trung
ương có dân số trung bình 70-80 vạn dân; 10 thành phố trung bình có số dân
là 30-40 vạn dân; 40-45 tụ điểm đô thị loại trung bình nhỏ, chủ yếu thuộc các
28
Trang 29tỉnh, thị xã với dân số bình quân tối thiểu là 10 vạn dân; 600-700 tụ điểm đô thị nhỏ thuộc các huyện với quy mô dân số trung bình là 5-10 nghìn dân [19]
Tóm lại, nước ta có mạng lưới đô thị rải tương đối đều khắp cả nước Mạng lưới đô thị này được kết lại bằng hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc, đang góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội của các vùng lãnh thổ, là các trung tâm phát triển của các huyện, tỉnh, vùng và cả nước Tuy nhiên, nước ta đang ở trình độ đô thị hoá thấp so với khu vực, quá trình đô thị hoá diễn ra khá phức tạp và không đồng đều giữa các vùng lãnh thổ đồng thời nó cũng để lại nhiều hậu quả xấu về mặt kinh tế-xã hội và môi trường Vì vậy, đô thị hoá phải thúc đẩy mạnh sự phát triển của vùng nông thôn, giảm bớt sự cách biệt thành thị và nông thôn Sự gia tăng dân số và lao
động ở các thành phố, đặc biệt là ở các thành phố lớn, cần phải cân đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đô thị, với sự phát triển kết cấu hạ tầng đô thị Các đô thị cần được quy hoạch cẩn thận, tạo ra môi trường đô thị lành mạnh
ở nhiều đô thị của nước ta hiện nay việc chống ô nhiễm môi trường, cải thiện
điều kiện sống, giải quyết việc làm, đất đai và nhà ở cho nhân dân đang là những vấn đề cấp bách
2.2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu đến vấn đề đô thị hóa
và ảnh hưởng của đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế-xã hội Công trình nghiên cứu của tập thể tác giả mà chủ biên là GS.TSKH Lê Du Phong về “ảnh hưởng của đô thị hóa đến nông nghiệp, nông thôn ngoại thành Hà Nội”; “Đô thị hóa và quản lý văn hóa đô thị” của Lê Như Hoa; “Định hướng sử dụng đất
đến năm 2010 khu vực phía Bắc huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội dưới tác
động của quá trình đô thị hoá” của Phạm Anh Tuấn; “ảnh hưởng của đô thị hoá đến phát triển sản xuất nông nghiệp ở các xã trên địa bàn huyện Kiến Thuỵ”;… đã đề cập, phân tích về đô thị hóa hay ảnh hưởng của đô thị hóa đến
29
Trang 30các vấn đề kinh tế-xã hội Song chưa có công trình nào nghiên cứu về ảnh hưởng của đô thị hoá đến hướng sử dụng đất trong các hộ nông dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên Vì vậy, ngoài việc kế thừa những kiến thức về đô thị hóa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của đô thị hoá đến hướng sử dụng đất trong các hộ nông dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
30
Trang 313 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm địa bàn huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Yên Mỹ là huyện nằm ở trung điểm phía bắc của tỉnh Hưng Yên, có ranh giới với 5 trong số 10 huyện thị của tỉnh
Phía bắc giáp huyện Văn Lâm,
Phía tây bắc giáp huyện Văn Giang,
Phía tây nam giáp huyện Khoái Châu,
Phía đông bắc giáp huyện Mỹ Hào,
Phía đông năm giáp huyện Ân Thi
Vị trí địa lý của huyện Yên Mỹ tạo cơ hội thuận lợi để liên doanh, liên kết với các tỉnh và huyện bạn trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời tạo cơ hội để các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư ở Yên Mỹ nhưng vẫn có cơ hội tốt sử dụng các nguồn tài nguyên của các huyện bạn
Gần các trung tâm đô thị lớn thuộc địa bàn kinh tế trọng điểm phía bắc như Hà Nội, Hải Phòng,… là điều kiện để Yên Mỹ hoà nhập với quá trình phát triển năng động của địa bàn và dễ tiếp nhận thông tin kinh tế thị trường cũng như chuyển giao nhanh các công nghệ và thiết bị mới
Đây là những yếu tố phát triển quan trọng và là một trong những tiềm lực
to lớn cần được phát huy một cách triệt để, nhằm phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và thúc đẩy quá trình đô thị hoá của huyện
31
Trang 323.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Yên Mỹ là huyện đồng bằng nằm ở phía bắc tỉnh Hưng Yên, không có đồi núi, độ cao trung bình từ 3-4 m thoải dần từ tây bắc xuống đông nam, theo hướng chung của tỉnh Hưng Yên Nhìn chung, địa hình của huyện không gây cản trở
đến quá trình phát triển đô thị
3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu thủy văn
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có bốn mùa rõ rệt Mùa hạ nhiệt độ trung bình 24-270C, mùa đông nhiệt độ trung bình từ 18-
240C Điều kiện khí hậu ở huyện thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp
đa dạng, có điều kiện phát triển các sản phẩm nông nghiệp phục vụ đời sống dân cư trong huyện, các khu vực dân cư đô thị trong và ngoài tỉnh Nhìn chung, huyện Yên Mỹ có điều kiện khí hậu đồng đều trong toàn huyện và không khác biệt nhiều so với các huyện, tỉnh đồng bằng lân cận nên xác định các tiêu chí phát triển đô thị có liên quan đến khí hậu dễ thống nhất cho tất cả các loại đô thị trong vùng; việc xác định tiêu chuẩn quy phạm xây dựng đô thị
có thể dựa vào quy định chung cho các đô thị vùng đồng bằng bắc bộ
3.1.2 Điều kiện kinh tế-x∙ hội
3.1.2.1 Tình hình nhân khẩu, lao động
Tính đến 1/4/2004, huyện Yên Mỹ có tổng dân số là 127.101 người và
có sự thay đổi khá rõ trong cơ cấu (bảng 3.1) Năm 2002, dân số nông thôn là 111.720 người, chiếm 89,91% dân số toàn huyện; dân số thành thị là 12.537 người, chiếm 10,09% Đến năm 2004, dân số nông thôn tăng lên là 114.142 người, chiếm 89,8% tổng dân số; dân số thành thị là 12.959 người, chiếm 10,2% Bình quân ba năm 2002-2004 dân số tăng 1,14%, trong đó dân số thành thị tăng 1,67%; dân số nông thôn tăng 1,08% Nguyên nhân cơ bản của
sự thay đổi đó là do quá trình đô thị hoá ngày càng nhanh ở Yên Mỹ
32
Trang 3333
Trang 34Lao động cũng có thay đổi đáng kể, năm 2002, lao động nông nghiệp là 43.886 lao động, chiếm 76,13% tổng số lao động, lao động phi nông nghiệp là 13.757 lao động, chiếm 23,87% Đến năm 2004, lao động nông nghiệp tăng lên là 44.014 lao động, chiếm 73,55% tổng số lao động, lao động phi nông nghiệp tăng lên là 15.826 lao động, chiếm 26,45% Bình quân ba năm 2002-
2004 lao động của huyện tăng 1,89%; trong đó lao động phi nông nghiệp tăng 7,26% và lao động nông nghiệp tăng 0,15% (bảng 3.1) Nguyên nhân của sự thay đổi trên là vì trong những năm gần đây, có một bộ phận lao động nông nghiệp chuyển sang làm ngành nghề, dịch vụ hoặc các hoạt động khác khiến cho số lao động phi nông nghiệp của huyện tăng nhanh, bình quân mỗi năm lao động phi nông nghiệp tăng 7,26% Đây là một xu hướng chuyển biến tốt
đối với các địa phương có đất nông nghiệp bị chuyển đổi sang xây dựng khu công nghiệp và phát triển đô thị
3.1.2.2 Tình hình đất đai
Huyện Yên Mỹ có tổng diện tích đất tự nhiên là 9.097,95 ha, trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp (chiếm 68,44%)
Trong những năm qua, diện tích các loại đất của huyện có sự thay đổi
đáng kể (bảng 3.2) Bình quân 3 năm (2002-2004) diện tích đất nông nghiệp giảm 2,92% so với tổng diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp giảm trong giai đoạn này chủ yếu là do chuyển sang đất xây dựng khu công nghiệp và một phần dành cho xây dựng đường giao thông và đất ở Đất nông nghiệp giảm kéo theo đất nông nghiệp bình quân/hộ và bình quân/khẩu cũng giảm,
điều đó gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân nông thôn có thu nhập gần như 100% từ nông nghiệp
Diện tích đất phi nông nghiệp tăng mạnh Năm 2002, diện tích đất phi nông nghiệp là 2.007,22 ha, chiếm 22,06% tổng diện tích đất tự nhiên, đến năm 2004 tăng lên 2.409,82 ha, chiếm 26,49% Bình quân ba năm diện tích
34
Trang 3535
Trang 36đất phi nông nghiệp tăng 9,57% Đất xây dựng tăng 48,69%/năm, đất giao thông tăng 12,93%/năm, đất ở đô thị tăng 3,94%/năm Nguyên nhân dẫn đến
sự tăng mạnh của các loại đất trên là do nhu cầu về đường giao thông, hệ thống cơ sở hạ tầng và nhà ở trên toàn huyện tăng nhanh để đáp ứng yêu cầu của quá trình đô thị hoá
Đất chưa sử dụng giảm bình quân mỗi năm 23,61% Đất chưa sử dụng giảm chủ yếu là do sử dụng vào xây dựng khu công nghiệp trên địa bàn huyện
3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
Toàn huyện có 295 km đường bộ, đã trải nhựa được 14,5%, bê tông
được 10%, cấp phối đá 13%, lát gạch 24%, còn lại là đường đất [26]
Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện có 195 km quốc lộ 39 chạy từ
đông sang tây, đã cơ bản hoàn thành nâng cấp; 29 km đường tỉnh uỷ thác; 8
km đường huyện quản lý… Mật độ đường bộ đạt 2,8 km/km2 Các tuyến giao thông trục phân bố tương đối đồng đều trên lãnh thổ Tuyến quốc lộ 39 nối quốc lộ 5 chạy theo hướng đông bắc xuống tây nam là điều kiện thuận lợi để giao tiếp với các cơ sở sản xuất trên địa bàn kinh tế trọng điểm phía bắc Tuyến trục đường 200 chạy theo hướng tây bắc xuống đông nam, tuyến tỉnh lộ
99 nối các xã phía tây với các xã phía đông đảm bảo sự giao lưu thuận tiện giữa các xã trong huyện với các đơn vị bạn
Nhìn chung, mạng lưới giao thông đường bộ trong vài năm gần đây đã
có nhiều chuyển biến về chất lượng, giao thông nông thôn đã được chú ý nâng cấp bề mặt Tuy vậy, chất lượng đường còn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của huyện, đặc biệt là đường huyện và xã
Năm 2004, toàn huyện phát triển mới 1.060 máy điện thoại, nâng tổng
số máy lên 4.764 máy, đạt 3,75 máy/100 dân, tuy nhiên con số này vẫn còn rất thấp so với cả nước (8 máy/100 dân [16])
36
Trang 37B¶ng 3.3 C¬ së h¹ tÇng cña huyÖn Yªn Mü n¨m 2004
1 M¸y mãc, thiÕt bÞ vµ CT TL
M¸y kÐo lín (tõ 12CV trë xuèng) chiÕc 262,00
(Nguån: Phßng thèng kª huyÖn Yªn Mü)
37
Trang 38Huyện Yên Mỹ được cấp điện từ mạng lưới điện quốc gia 35 KV thuộc trạm phố Cao Mạng điện quốc gia đã được kéo về tới 17/17 xã, thị trấn phục
vụ sinh hoạt và sản xuất với 60 trạm biến áp, tổng công suất 16.330 KVA
Tổng số đường dây 35 KVA và 10 KVA là 51,33 km, đường dây hạ áp
là 139 km Điện năng tiêu thụ hàng năm từ 24,85-25 triệu kwh Điện năng tiêu thụ cho sinh hoạt là 77,1%; công nghiệp là 9,8%; nông nghiệp là 12,5% Điện năng tiêu thụ bình quân 1 người dân trong năm là 188 kwh
Các công trình phúc lợi như trường học, nhà trẻ, mẫu giáo, cơ sở y tế
đều được xây dựng kiên cố Huyện có 3 trường phổ thông trung học, 17 trường trung học cơ sở, 21 trường tiểu học và 17/17 xã, thị trấn có nhà trẻ, trường mẫu giáo Huyện đã được công nhận phổ cập trung học cơ sở vào năm
2002 Huyện có 20 cơ sở y tế, 138 giường bệnh (đạt 1,09 giường/1000 dân) trong đó tuyến huyện có 70 giường, tuyến xã có 68 giường; 29,4% số trạm xá
có bác sỹ
Tóm lại, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân của huyện cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu hiện tại Song vẫn cần được đầu tư trang bị thêm để đáp ứng yêu cầu của quá trình đô thị hoá trong vùng nói chung và huyện Yên Mỹ nói riêng
3.1.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh
Tổng giá trị sản xuất của huyện có xu hướng tăng lên rõ rệt (bình quân 3 năm tăng 15,68%), khiến cho giá trị sản xuất bình quân/khẩu tăng từ 4,09 triệu
đồng/người/năm (năm 2002) tăng lên 5,35 triệu đồng/người/năm (năm 2004) Tổng giá trị sản xuất tăng lên trong giai đoạn 2002-2004 là do sự đóng góp của từng ngành, cụ thể:
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng bình quân mỗi năm là 5,41% Trong nông nghiệp, sản xuất trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng mặc dù diện tích đất canh tác giảm dần qua các năm
38
Trang 3939
Trang 40Giá trị sản xuất ngành công nghiệp-xây dựng tăng khá nhanh, bình quân mỗi năm tăng 26,98%
Giá trị sản xuất của ngành thương mại-dịch vụ cũng tăng mạnh, bình quân mỗi năm tăng 18,27%
Sự tăng trưởng của ngành công nghiệp-xây dựng và dịch vụ-thương mại góp phần rất lớn vào sự tăng trưởng kinh tế chung của huyện
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và mẫu nghiên cứu
Là một tỉnh có tốc độ đô thị hóa tương đối nhanh ở phía bắc Việt Nam, Hưng Yên đã và đang hình thành các khu công nghiệp tập trung, đặc biệt với
vị trí nằm sát quốc lộ 5 Các hoạt động này có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu quỹ đất của Hưng Yên trong đó có huyện Yên Mỹ Yên Mỹ là một trong những huyện của tỉnh có quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất diễn ra khá nhanh Vì lý do đó, Yên Mỹ được chọn làm điểm nghiên cứu của đề tài
Ngoài khảo sát chung trên địa bàn toàn huyện, chúng tôi chia ra ba khu vực đại diện để nghiên cứu Trong ba khu vực này chúng tôi tiến hành
điều tra 250 hộ nông dân để thu thập các số liệu và thông tin cần thiết phục
vụ đề tài
3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu
Có hai loại tài liệu:
- Tài liệu thứ cấp: Là tài liệu sẵn có, được thu thập qua sách báo, sổ sách của huyện, xã Đây là số liệu chủ yếu được dùng làm thông tin cho việc phân tích khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hoá, đặc điểm
địa bàn nghiên cứu và thực trạng quá trình đô thị hóa ở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
40