Nói đến sản xuất kinh doanh dưới bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào, không ai có thể quên vấn đề hiệu quả. Năng suất - chất lượng - hiệu quả là mục tiêu phấn đấu của mọi nền sản xuất, là thước đo phát triển về mọi mặt của toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như của từng đơn vị cơ sở.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nói đến sản xuất kinh doanh dưới bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào,
không ai có thể quên vấn đề hiệu quả Năng suất - chất lượng - hiệu quả là
mục tiêu phấn đấu của mọi nền sản xuất, là thước đo phát triển về mọi mặt
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như của từng đơn vị cơ sở
Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế quốc dân, là nơi trực tiếp tạo
ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, tạo tiền đề phấn đấu
đạt mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như tích luỹ cho xã hội
Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, cơ chế kinh tế đã kìm
hãm sự phát triển của doanh nghiệp dẫn tới các doanh nghiệp không chủ động
khai thác hết khả năng sẵn có của mình để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh đạt
hiệu quả cao
Trong vài chục năm trở lại đây, bắt đầu từ khi có quyết định
217/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng bộ trưởng, nền kinh tế đã có nhiều
thay đổi, đặc biệt là sự cởi trói cho các doanh nghiệp quốc doanh Quyết định
này đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khai thác triệt để khả năng sẵn có
của mình, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, đáp ứng yêu cầu
đòi hỏi cấp thiết của nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế mới, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự trang trải
mọi khoản chi phí sản xuất kinh doanh bằng chính doanh thu của mình và
đảm bảo có lãi Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế có hiệu quả nhất, nó kích thích
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại hay
phá sản của doanh nghiệp
Vậy lợi nhuận là gì? Tại sao các doanh nghiệp phải phấn đấu tăng lợi
nhuận trong nền kinh tế hiện nay? Phương hướng và biện pháp chủ yếu để
tăng lợi nhuận như thế nào?
Trang 2Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Kinh Tế
Quốc Dân và sau một thời gian thực tập ở Công ty sản xuất kinh doanh vật
liệu xây dựng Hải Phòng, em chọn đề tài:
Các biện pháp phấn đấu tăng lợi nhuận ở Công Ty Sản Xuất Kinh
Doanh VLXD Hải Phòng
Nội dung đề tài gồm:
Chương I: Tổng quan về công ty sản xuất kinh doanh vật liệu xây
dựng Hải Phòng
Chương II: Thực trạng tình hình thực hiện lợi nhuận ở công ty sản
xuất kinh doanh VLXD Hải Phòng
Chương III: Một số giải pháp nhằm góp phần làm tăng lợi nhuận ở
công ty SX – KD VLXD Hải Phòng
Với thời gian và trình độ có hạn, chắc chắn bài chuyên đề của em
không thể tránh khỏi thiếu xót và sai lầm, em mong cô giáo giúp đỡ em hoàn
thành bài chuyên đề này
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY SẢN XUẤT KINH
DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG HẢI PHÒNG
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
1 Sự ra đời và các giai đoạn phát triển
Công ty sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng Hải Phòng là doanh
nghiệp Nhà nước do uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng thành lập tại quyết
định só 88/TCCQ- UB ngày 15 tháng 01 năm 1993 theo nghị định 388 HĐBT
về sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước Việc thành lập công ty sản xuất kinh
doanh vật liệu xây dựng Hải Phòng được các cơ quan có thẩm quyền xem xét
nghiên cứu kỹ lưỡng những điều kiện về thiên thời địa lợi nhân hoà trước khi
ra quyết định thành lập Vì đây là một doanh nghiệp Nhà nước có quy mô vừa
nên uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng trực tiếp ra quyết định thành lập
- Tên giao dịch bằng tiếng Anh là : HảI Phòng Contrucsion material production and business Company (Comaco)
- Trụ sở giao dịch : Số 02 Đà Nẵng – Ngô Quyền – T.P Hải Phòng
- Điện thoại (031)846434 – 826165 – 836701
- Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng giao cho sở xây dựng kết hợp với các cơ quan hữu quan giúp uỷ ban nhân dân thành
phố Hải Phòng thực hiện chức năng nói trên
- Công ty có nhiệm vụ quy định tại điều 3 “quy chế thành lập giải thể doanh nghiệp Nhà nước” ban hành kèm theo nghị định 388
HĐBT Nhiệm vụ cụ thể quy định tại quyết định số 88 TCCQ ngày 15
tháng 01 năm 1993 của uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng
Công ty đăng ký kinh doanh những ngành nghề và nhóm ngành nghề
chính sau :
+ Sản xuất gạch đất nung và gạch ốp lát các loại
Trang 4+ Xuất nhập khẩu nguyên vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị phục
vụ ngành xây dựng
+ Xây dựng cộng trình dân dụng quy mô vừa
- Thực chất trước khi công ty được thành lập các ngành nghề trên được hạch toán độc lập ở các cơ sở sản xuất kinh doanh khác
nhau: hợp tác xã mua bán, xí nghiệp sản xuất kinh doanh…
- Cùng với xu thế phát triển của ngành trong thời kỳ mới, thêm vào đó là hạn chế về điều kiện sản xuất kinh doanh nên cho tới
nay công ty sản xuất kinh doanh chính là: xí nghiệp gạch Gò Công
2 Những đặc điểm chủ yếu của công ty
2.1 Sản phẩm
Sản phẩm gạch chống nóng của công ty được đánh giá là hàng
Việt Nam chất lượng cao và thường xuyên được đem trưng bày tại triển
lãm Giảng Võ Hà Nội Xét về hình thức sản phẩm thì gạch của công ty có
thể được chia làm các loại: Gạch 2 lỗ, 3, 4, 6, 9 lỗ trong đó gạch 2 lỗ là
mặt hàng được đánh giá là có triển vọng để chiếm lĩnh thị trường trong
một vàI năm tới và được công ty chú trọng sản xuất đại trà với số lượng
lớn
2.2 Công nghệ
Nếu như trước năm 1997 công ty chỉ có một dây truyền sản xuất
và việc sản xuất chủ yếu dựa vào lao động thủ công là chính thì từ năm 97
trở lại đây công ty đã lắp đặt được dây truyền II đồng thời cải tiến dây
truyền I cho đồng bộ với dây truyền II, đây là dây truyền chế biến tạo hình
được nhập từ Tiệp Khắc và Italia với lò nunh sấy tuylen do các chuyên gia
Bungari trực tiếp chuyển giao thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trong 2 năm qua (từ năm 2001) xí nghiệp gạch Gò Công đã lắp
đặt được hệ thống mái che cho nhà phơi đất đã được tạo hình, hệ thống
mái che này có đặc điểm là có thể tận dụng năng lượng mặt trời để xấy
Trang 5khô những viên đất trước khi đưa vào lò nung làm cho thời gian phơi khô
được rút ngắn xuống chỉ còn bằng 1/2 so với bình thường
2.3 Điều kiện lao động của công nhân
Công ty đặc biệt coi trọng tới điều kiện làm việc của người lao
động, quy chế công ty quy định công nhân viên trước khi vào xưởng sản
xuất phải được trang bị thật kỹ lưỡng với đồng phục bảo hộ lao động nếu
vi phạm sẽ bị xử lý theo điều lệ của công ty Chính vì vậy trong những
năm gần đây số lượng trường hợp bị tai nạn trong khi làm việc giảm xuống
đáng kể
II CHIẾN LƯỢC VÀ KẾ HOẠCH KINH DOANH CỦA CÔNG
TY
1 Các căn cứ, thông tin
Công ty chủ động xây dựng và thực hiện kế hoạch dài hạn trung
hạn và ngắn hạn căn cứ vào định hướng của Nhà nước và nhu cầu thị
trường Định hướng của Nhà nước được cụ thể qua các chính sách điều tiết
vĩ mô đối với ngành sản xuất vật liệu xây dựng như áp dụng mức giá trần,
giá sàn và những chính sách liên quan tới việc bảo vệ môi trường Bên
cạnh đó công ty còn căn cứ vào nhu cầu thị trường đ ể những kế hoạch sản
xuất thông qua các đơn đặt hàng và xây dựng triển vọng xây dựng các
công trình lớn trong thành phố cũng như các vùng nông thôn
Phương pháp và quy trình lập kế hoạch dựa theo hướng của sở kế
hoạch đầu tư và UBND thành phố, dựa trên cơ sở này phòng tổ chức
nghiên cứu kỹ lưỡng và đưa ra những kế hoạch sản xuất có tính khả thi
Ngoài phần kế hoạch do Nhà nước định hướng căn cứ vào nhu cầu
thị trường, công ty được quyền tự cân đối những năng lực hiện có để xây
dựng phần kế hoạch vì lợi ích của công ty theo quy định hiện hành của
Nhà nước
Căn cứ vào kế hoạch được đại hội công nhân viên chức thông qua,
giám đốc công ty lựa chọn phương thức phân bổ và giao nhiệm vụ cho các
Trang 6đơn vị trực thuộc một cách thích hợp: Chủ yếu theo phương thức khoán,
trong đó quy định cụ thể việc phân cấp trên các phương tiện pháp nhân, ký
kết thực hiện hợp đồng kinh tế, chế độ hạch toán
Thời gian kế hoạch bắt đầu từ 1/1 và kết thúc 31/12 hàng năm
trong năm kế hoạch giám đốc công ty có trách nhiệm phát huy hết mọi khả
năng của các tổ chức và cá nhân trong công ty để hoàn thành mục tiêu kế
hoach
Trương hợp phải điều chỉnh kế hoạch, giám đốc công ty lập
phương án báo cáo lãnh đạo công ty xem xét điều chỉnh bổ xung kịp thời
2 Các chiến lược và chính sách hội nhập khu vực và quốc tế
Sản phẩm của công hiện đang được tiêu thụ tại các thị trường
trong nước chủ yếu là các công trình xây dựng lớn tại các tỉnh thành phố
lớn trong toàn quốc: Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định… và
một số vùng nông thôn là ngoại ô của các thành phố lớn Tuy nhiên với
chất lượng tốt và mẫu mã đa dạng nhiều chủng loại thì sản phẩm của công
ty hoàn toàn có khả năng vươn ra thị trường của các nước trong khu vực
và trên thế giới Với triển vọng như vậy ban quản lý công ty đã xây dựng
một số chiến lược và chính sách hội nhập khu vực và quốc tế, một mặt
tranh thủ sự đầu tư của các đối tác nước ngoài một mặt tìm kiếm thị trường
đầu ra cho sản phẩm
3 Khả năng cạnh tranh của công ty
Sản phẩm của công ty hiện đang có uy tín lớn trên thị trường đã
tạo được niềm tin ở bạn hàng trong nhiều năm qua Chính vì thế sản phẩm
tạo ra đến đâu là được xuất xưởng tới đó, lượng hàng tồn kho hàng năm ít
(dưới 2 triệu viên mỗi năm) Sản phẩm của công ty được đánh giá là có
sức cạnh tranh lớn trên thị trường hiện tại cũng như thị trường tiềm năng
- Sức cạnh tranh được tạo ra từ chất lượng sản phẩm: Ưu thế nổi trội của sản phẩm gạch Gò Công so với các loại gạch xây dựng
khác là tỷ lệ lượng sét trong đất khá cao (3%) là thứ đất được lấy từ núi
Trang 7Tiên Hội chính vì thế có khả năng giữ nhiệt lớn rất phù hợp cho việc
nhau phù hợp với mọi điều kiện xây dựng của khách hàng
- Sức cạnh tranh tạo ra từ giá cả: Đối với những loại gạch 2
lỗ được bán trên thị trường với 3 mức giá khác nhau (A:320đ/v, B1:
300đ/v, B2: 280đ/v) mức giá này so với các công ty sản xuất vật liệu
xây dựng trong nước là mức giá tương đối thấp rất phù hợp với điều
kiện xây dựng nước ta trong thời gian này
III TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CÔNG TY
1 Giám đốc công ty
Được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thành lập công ty bổ
nhiệm bằng thủ tục hành chính theo quy định bổ nhiệm của Nhà nước và là
người chịu trách nhiệm về mọi hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh
của đơn vị Nhiệm vụ và quyền hạn của giám đốc:
- Xây dựng dự án kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, ngắn hạn và trung hạn hàng năm thông qua đại hội công nhân viên
Trang 8Là người giúp việc giám đốc trong công tác quản lý và điều hành
Được giám đốc lựa chọn đề nghị giám đốc Sở xây dựng bổ nhiệm, miễn
nhiệm, khen thưởng kỷ luật
Phó giám đốc công ty chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty
phần việc được phân công phụ trách
3 Kế toán trưởng
Được bổ nhiệm và hoạt động theo quy định tại pháp lệnh kế toán
thống kê, điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước, và điều lệ kế toán trưởng xí
nghiệp quốc doanh, ban hành kèm theo nghị định 25, 26 ngày 28 tháng 03
năm 1989 của HĐBT và thông tư 64 của LBTC LĐ- XH do giám đốc đề
nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng và kỷ luật
4 Các phòng chức năng giúp việc giám đốc
4.1 Phòng tổ chức hành chính
- Trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, ngắn và dàI hạn phảI
lập kế hoạch về lao động, thực hiện tuyển dụng lao động có thời hạn từ 1
năm trở lên, lao động ngắn hạn và lao động không kỳ hạn
- Quản lý lao động và tiền lương, hồ sơ cán bộ công nhân viên,
quản lý BHXH, thực hiện các chế độ chính sách như hưu trí, mất sức, thôI
việc, khen thưởng , kỷ luật…
- Giúp giám đốc bố trí xắp xếp đội ngũ cán bộ , xây dựng bộ máy
quản lý sản xuất, cơ chế quản lý, điều hành hoạt động của công ty Xây
dựng cơ và thực hiện nội quy kỷ luật lao động, bảo hộ lao động
- Thực hiện công tác văn thư bảo mật, trật tự an toàn cơ quan
- Quản lý tài sản nhà cửa, phương tiện, thiết bị văn phòng
Trang 9- Quản lý kỹ thuật và chất lượng sản phẩm
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh
- Căn cứ vào kế hoạch sản xuất xây dựng kế hoạch tiêu thụ
Tổ chức thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm theo yêu cầu của khách
hàng
- Trực tiếp quản lý chỉ đạo điều hành đội thi công cơ giới, khai thác vận chuyển vật liệu phục vụ cho sản xuất của công ty, đồng
thời tổ chức cung ứng vận chuyển điều phối tiêu thụ sản phẩm
- Quản lý sử dụng tài sản xe máy, thiết bị được giao, chịu trách nhiệm vật chất với các trang thiết bị đó
- Thiết lập quản lý và chỉ đạo hệ thống các cửa hàng đại lý bán lẻ sản phẩm
Trang 10- Chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn được giao, thu nộp tiền bán hàng theo quy định của giám đốc, chăm lo thường xuyên
công tác bảo vệ lao động, an toàn trong sản xuất và giao thông
theo quy định của pháp lệnh kế toán thống kê
- Phân tích hoạt động kinh doanh theo định kỳ, hang quý, hàng năm tìm ra những nguyên nhân dẫn tới lỗ, lãi đề suất các biện
* Đứng đầu các phòng có trưởng phòng do giám đốc bổ nhiệm (trừ
kế toán trưởng kiêm trưởng phòng) thì theo quy định tại mục 3 Các
trưởng phòng có trách nhiệm soạn thảo văn bản chi tiết quy định nhiệm vụ
cụ thể, quyền hạn và trách nhiệm phù hợp với phân cấp hiện hành trong
nội bộ công ty trình giám đốc quyết định
4.6 Các bộ phận sản xuất kinh doanh
Nhà máy gạch Gò Công: là nơi thực hiện hoạt động sản xuất và có
trách nhiệm với các nhiệm vụ sau:
- Tổ chức và thực hiện sản xuất các loại gạch đất nung theo kế
hoạch
Trang 11- Quản lý sử dụng toàn bộ tài sản cố định, vốn lưu động được giao
chịu trách nhiệm vật chất và hành chính về tài sản và tiền vốn
- Căn cứ hợp đồng giao nhận khoán được toàn quyền bố trí sắp xếp
các tổ đội trong dây truyền
- Căn cứ tổng quỹ tiền lương được hưởng theo kết quả công việc,
được quyền phân phối tiền lương trên cơ sở nguyên tắc trả lương theo lao
động và kết quả công việc hoàn thành đảm bảo công bằng hợp lý, trích nộp
bảo hiểm xã hội của người lao động theo quy định hiện hành
- Chăm lo và thực hiện công tác phòng bảo hộ lao động, an toàn trong
sản xuất vệ sinh công nghiệp
- Duy trì bảo dưỡng máy móc thiết bị theo định kỳ, sửa chữa thay thế
thiết bị đảm bảo cho nhà máy hoạt động thường xuyên liên tục
Sơ đồ tổ chức công ty sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng Hải
Phòng:
Trang 12CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THỰC HIỆN LỢI NHUẬN
Ở CÔNG TY SẢN XUẤT KINH DOANH VLXD HẢI PHÒNG
I TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LỢI NHUẬN
Bảng 1: Tổng hợp lợi nhuận của công ty trong 2 năm qua
4 Chi phí quản lý doanh nghiệp 130.430 97.334 -33.096
5 Lãi gộp kinh doanh 1.000.000 1.202.266 102.266
6 Chi phí trả lãi 110.294 127.266 16.972
7 Lợi nhuận trước thuế 889.705 1.075.000 +185.295
8 Thuế TNDN 284.705 344.000 +59.295
9.Lợi nhuận sau thuế 605.000 731.000 +126.000
Qua bảng tổng hợp lợi nhuận của công ty trong hai năm qua ta thấy
rằng lợi nhuận sau thuế của công ty trong năm 2002 là 605.000 (000đ) năm
2003 lợi nhuận sau thuế là 731.000(000đ) tăng 126.000(000đ) so với năm
2003 Cả 2 năm qua lợi nhuận của công ty đều tăng chứng tỏ công ty đang
làm ăn rất hiệu quả, đặc biệt trong năm 2003 lợi nhuận sau thuế của doanh
nghiệp đã đạt được gần 1 tỷ với lượng lợi nhuận khổng lồ này trong năm 2004
sắp tới doanh nghiệp có thể bổ xung vốn mua sắm nhiều thiết bị mới mà trong
năm qua doanh nghiệp chưa kịp thực hiện, đồng thời phần lợi nhuận chưa
Trang 13chia còn lại có thể bổ xung thêm vào quỹ dự phòng tài chính hay quỹ khen
thưởng phúc lợi để có thể tạo ra sự ổn định trong kinh doanh của công ty
trong thời trong tương lai
Với các biện pháp kinh tế tàichính được công ty áp dụng trong năm
vừa qua làm cho lợi nhuận thuần của công ty đạt 731.000(000đ) tăng 15% so
với năm 2002
Tuy nhiên, số tuyệt đối về lợi nhuận chưa cho ta có kết luận chính xác
về khả năng cũng như những hạn chế trong qúa trình sản xuất kinh doanh của
công ty Để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện lợi nhuận năm 2003, ta đI
xem xét các chỉ tiêu lợi nhuận tương đối:
Bảng2: Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận của công ty trong năm qua
2003/2002
1 Doanh thu thuần 17.245.430 17.288.000 +42.570
2 Z toàn bộ 16.015.000 14.884.400 -1.130.600
3 LNhoạt động KD trước thuế 889.706 1.075.000 +185.295
4 Tỷ suất LN – Doanh thu 5,2% 6,2% +1%
5.Tỷ suất LN – Gía thành 5,5% 7,2% +1,7%
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu năm 2002 là 5,2%, điều đó có nghĩa là cứ
100 đồng doanh thu đạt được trong đó sẽ có 5,2 đồng lợi nhuận Trong khi đó
tỷ suất lợi nhuận doanh thu năm 2003 là 6,2% tăng 1% so với năm 2002 Mặc
dù tỷ suất lợi nhuận của công ty đạt được 6,2% là chưa cao so với các công ty
khác nhưng so với bản thân công ty năm 2002 thì đây là một thành tích đáng
biểu dương của tập thể CBCNV công ty, thể hiện tinh thần quyết tâm cao của
công ty trong việc phát triển và mở rộng thị trường của công ty trong tương
lai
Trang 14Tỷ suất lợi nhuận giá thành năm 2002 là 5,5 % điều đó có nghĩa là cứ
100đ chi phí bỏ ra công ty thu được 5,5đ lợi nhuận Năm 2003 tỷ suất lợi
nhuận giá thành tăng cao hơn là +1,7% Đây là kết quả đã đánh giá đúng thực
tế về sự cố gắng của cán bộ CNV của công ty trong năm qua
Để thấy được nguyên nhân của tình hình trên, cần đI sâu phân tích
tình hình thực hiện doanh thu, chi phí và tình hình quản lý sử dụng vốn của
công ty trong các năm qua
II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN DOANH THU
1 Doanh thu tiêu thụ từ hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1 Doanh thu tiêu thụ đối với từng loại sản phẩm
Bảng 3: Tổng hợp doanh thu từng loại sản phẩm trong 2 năm
Đơn vị: nghìn đồng
Tên SP
Số lượng(000v) Đơn giá (đ/v) Doanh thu
So sánh 2003/2002
Trang 15Biểu đồ doanh thu từng loại sản phẩm qua 2 năm
Doanh thu tiêu thụ năm 2003 tăng so với năm 2002 là 42.574 (nghìn
đồng) nguyên nhân là do trong năm 2003 hầu hết các sản phẩm của công ty
đều bán chạy hơn so với năm 2002 cụ thể:
Loại gạch 2 lỗ: năm 2003 là một năm bội thu của loại sản phẩm này,
khối lượng tiêu thụ từ 40.354 (000v) năm 2002 tăng lên 40.432(000v) năm
2003 lm cho doanh thu tiêu thụ sản phẩm này năm 2003 đạt 12.129.000
(nghìn đồng) tăng 224.570 (nghìn đồng)
Loại gạch 3 lỗ: Loại gạch này trước đây không thường xuyên đưa vào
sản xuất nhưng từ năm 99 trở lại đây khi đưa vào sản xuất thì lại là sản phẩm
bán khá chạy Cụ thể năm 2002 tiêu thụ được 2.120(000v) với doanh thu là
742.000 (000đ) đến năm 2003 là 2.000 (000v) doanh thu là 700.000 (000đ)
giảm 42.000 (000đ) so với năm 2002
Loại gạch 4 lỗ: Đây là sản phẩm được coi là mặt hàng bán tương đối
chạy của công ty (chỉ sau gạch 2 lỗ) năm 2002 bán được 7.010(000v) đạt
doanh thu 2.804.000(000đ) năm2003 bán được 6.420(000v) đạt doanh thu là
2.568.000(000đ) giảm 236.000(000đ) so với năm 2002
Loại gạch 6 lỗ và 9 lỗ: Đây là2 loại sản phẩm mới được công ty đưa
vào sản xuất và tiêu thụ cách đây ít năm để đáp ứng đựơc những công trình có
Trang 16kết cấu xây dựng đòi hỏi tính phức tạp cao đây cũng là xu thế phù hợp với các
công trình xây dựng cao tầng Loại gạch này có ưu điểm khối lượng nhẹ
nhưng thể tích lớn phù hợp với việc chống nóng trên những nhà cao tầng
Doanh thu tiêu thụ của 2 loại gạch này tăng với tốc độ vừa phải và được coi là
sản phẩm có tiềm năng trong những năm tới
Gạch lát nền: loại gạch này không phải là một dạng gạch men nên
không được sản xuất đại trà mà chỉ là sản xuất thử để tiêu thụ trên một số
vùng nông thôn quanh thành phố nên số lượng sản xuất và tiêu thụ tương đối
ít so với các loại khác tuy vậy doanh thu tiêu thụ của loại gạch này lại tăng
với tỷ lệ lớn nên doanh nghiệp coi đây là loại sản phẩm tiềm năng trong thời
gian tới, doanh thu tiêu thụ năm 2003 là 75.000 (000đ) tăng 80.000 (000đ) so
với năm 2002 với mức tăng trưởng như vậy sang năm tới doanh nghiệp hoàn
toàn có thể đưa loại sản phẩm này vào sản xuất với khối lượng lớn để tiêu thụ
trên toàn quốc
1 2 Doanh thu tiêu thụ sản phẩm tiêu thụ trên từng loại thị trường
Bảng4: Doanh thu tiêu thụ trên từng thị trường
Trang 17Qua 2 năm 2002 và 2003 thì doanh thu tiêu thụ của công ty chủ yếu
được thực hiện trên thị trường nội địa lượng doanh thu nội địa chiếm tỷ trọng
80% tổng doanh thu điều đó chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp chưa có đủ
những đặc điểm cần thiết để có thể cạnh tranh trên thị trường nước ngoài tuy
xu hướng trong những năm tới có thể sẽ khác so với hiện tại Cụ thể:
Doanh thu tiêu thụ trong nước trong năm 2003 là 14.000.000 (000đ)
giảm 1.630.000 (000đ) so với năm 2002 là 15.630.000 (000đ) tình trạng giảm
doanh thu trên thị trường nội địa không phải là doanh nghiệp đánh mất thị
trường này mà do trong năm 2003 tổng khối lượng sản xuất tăng chậm trong
khi doanh nghiệp lại phải giành khối lượng tương đối lớn cho xuất khẩu nên
làm cho doanh thu tiêu thụ trong nước giảm mạnh Nếu có cái nhìn toàn diện
thì ta sẽ thấy sự sụt giảm doanh thu này không những không đáng lo ngại mà
còn đáng được khuyến khích vì nó chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp đã
bắt đầu có dấu hiệu vươn ra thị trường nước ngoài
Trên thị trường Malaysia: Doanh thu tiêu thụ năm 2003 là 1.000.000
(nghìn 000đ) giảm 183.430 so với năm 2002 là 1.183.430 (000đ) nguyên
nhân là do năm 2002 xuất khẩu theo hướng tự do sang thị trường này tới năm
2003 do cơ chế quản lý thay đổi của nhà nước nên làm cho lượng tiêu thụ trên
Trang 18thị trường này suy giảm nhưng mức độ giảm không đáng kể không ảnh
hưởng lớn tới xu hướng xuất khẩu của sản phẩm trong những năm tới
Thị trường Singapo, Thái Lan, Lào là những thị trường mới được phát
hiện và phát triển trong năm 2003 Năm 2002 trên các thị trường này doanh
nghiệp chưa có ý định coi là thị trường mục tiêu nhưng sang năm 2003 doanh
nghiệp đưa thử một số mẫu hàng sang tiêu thụ thử để thăm dò hầu hết qua các
đơn đặt hàng theo lô nên có sự đảm bảo về nguồn thu tuy nhiên khi đưa sản
phẩm sang các thị trường này thì lượng bán hàng tăng lên nhanh chóng chứng
tỏ sản phẩm của công ty đã đặt được niềm tin và uy tín trên các thị trường này
đây là điều mà các nhà quản lý của nhà máy rất ngạc nhiên tạo cho họ một
hướng đầu tư mới trong thời gian tới
Thị trường Campuchia: năm 2003 doanh thu tiêu thụ 500.000 (000đ)
tăng 68.000(000đ) so với năm 2002 nguyên nhân chính là do thị trường này
có biên giới giáp nước ta nên việc tiêu thụ trở nên dễ dàng, chi phí vận
chuyển thấp hơn nữa ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng của nước
này chưa phát triển đã thúc đẩy nước này không ngừng nhập khẩu loại mặt
hàng này dự báo trong những năm tới thị trường này sẽ tiếp tục được mở rộng
và doanh nghiệp coi đây như là bàn đạp để đưa sản phẩm của mình tung ra
thị trường quốc tế
1 3 Doanh thu tiêu thụ ở những vùng khác nhau
Bảng 5: Doanh thu tiêu thụ trên các miền
Trang 19Tổng 15.630.000 14.000.000 -1.630.000
Biểu đồ doanh thu tiêu thụ trên các miền trong 2 năm
Mien Bac MienTrung Mien Nam
2002 10336000 3201000 2093000
2003 9201000 4701000 98000
0 2000000 4000000 6000000 8000000 10000000 12000000
Mien Bac MienTrung Mien Nam
2002 2003
Qua bảng thống kê trên ta thấy doanh thu tiêu thụ trên thị trường
trong nước năm 2003 là 14.000.000 (000đ) giảm 1.630.000 (000đ) so với năm
2002 cụ thể ở các miền như sau:
Miền Bắc: doanh thu tiêu thụ năm 2003 là 9.201.000 (nghìn
đông)giảm 1.135.000 (000đ)so với năm 2002 nguyên nhân là do trong thời
gian qua doanh nghiệp đang thực hiện chiến lược phát triển sản phẩm trên thị
trường quốc tế nên có phần coi nhẹ trị trường nội địa theo em nghĩ đây thực
sự là một sự bất cập vì chiến lược phát triển thị trường quốc tế tuy quan trọng
nhưng không được xem nhẹ thị trường nội địa vì nhìn vào bảng doanh thu tiêu
thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên các thị trường thì thị trường nội địa vẫn
chiếm tỷ trọng lớn Vẫn biết sản phẩm của doanh nghiệp đang được ưa
chuộng tại một số quốc gia nhưng không thể vì thế mà dần đánh mất thị
trường trong nước và theo em nghĩ doanh nghiệp vẫn nên coi thị trường nội
Trang 20địa là thị trường chủ yếu trong thời gian tới và chỉ nên xem thị trường quốc tế
là thị trường tiềm năng trong tương lai
Miền Nam: Doanh thu tiêu thụ năm 2003 là 4.701.000 (000đ) đối với
tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường nội địa thì
miền nam chiếm tỷ trọng thứ tại miền nam hơn nữa mục tiêu của doanh
nghiệp là chọn miền nam là nơi tiêu thụ những sản phẩm mới
Miền Trung: là thị trường nhỏ nhất trong nước đối với doanh nghiệp
song chưa bao giờ doanh nghiệp lại không coi trọng vấn đề phát triển thị
trường này
1 4 Doanh thu tiêu thụ theo mùa
Bảng 6: Tổng hợp doanh thu theo mùa
Trang 21Xuan Ha Thu Dong
2002 4031430 5102000 3110000 5002000
2003 4040000 5108000 3103000 5010000
0 1000000 2000000 3000000 4000000 5000000 6000000
Xuan Ha Thu Dong
2002 2003
Qua bảng tổng hợp trên ta thấy doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp
thường không ở mức ổn định Mùa đông có doanh thu tiêu thụ lớn nhất
nguyên nhân là do thời tiết mùa đông ít mưa rất phù hợp với việc xây dựng
công trình hơn nữa đây lại là thời điểm cuối năm nên nhiều nhà thầu muốn
hoàn thành công trình trước tết để kịp bàn giao với khách hàng khi đón năm
mới
Mùa hè là mùa có khối lượng tiêu thụ là nhỏ nhất vì vào mùa hè
thường mưa nhiều các nhà thầu sẽ không cho xây những công trình lớn ảnh
hưởng tới chất lượng công trình Cụ thể:
Vào mùa xuân: doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp năm 2002 là
4.031.430(000đ) năm 2003 doanh số này là 4.040.000 (000đ) tăng lên 8.570
(000đ)
Vào mùa hè: doanh thu tiêu thụ sản phẩm của công ty năm 2002 là
5.102.000 (000đ) tới năm 2003 doanh thu tăng lên 5.108.000 (000đ)
Vào mùa thu: doanh thu tiêu thụ năm 2002 là 3.110.000 (000đ) năm
2003 doanh thu là 3.130.000 (000đ)
Vào mùa đông: doanh thu tiêu thụ năm 2002 là 5.002.000 (000đ) năm
2003 tăng lên 5.010.080 (000đ)
Trang 22Qua bảng tổng hợp trên ta thấy tỷ trọng doanh thu theo mùa qua 2
năm 2002 và 2003 không có những thay đổi đột biến Doanh thu tiêu thụ của
các sản phẩm theo mùa đều tăng nhưng tốc độ tăng không lớn, tỷ trọng doanh
thu theo mùa thường ở mức ổn định là: mùa xuân 23%, mùa hạ 30%, mùa
thu 17% mùa đông là 30%
Tuy sản phẩm của công ty là sản phẩm tiêu thụ theo mùa nhưng sự
chênh lệch này không đáng kể nên không ảnh hưởng lớn tới tiến trình sản
xuất của công ty Công ty chỉ cần điều chỉnh số lượng sản phẩm sản xuất
trong mùa thu và mùa xuân một lượng thấp hơn so với mùa hạ và mùa đông là
có thể vẫn đảm bảo tiến hành quá trình sản xuất một cách bình thường
2 Các nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu tiêu thụ của công ty trong các
năm qua
2 1 Chất lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ
Việc sản xuất - kinh doanh phải gắn liền với việc đảm bảo và nâng
cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ, do đó có ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu
Sản phẩm có phẩm cấp cao giá bán sẽ cao hơn, vì vậy, chất lượng chính là giá
trị được tạo thêm Nâng cao chất lượng sản phẩm tạo điều kiện tiêu thụ dễ
dàng, nhanh chóng thu được tiền bán hàng Ngược lại, những sản phẩm chất
lượng kém không đúng yêu cầu trong hợp đồng thì đơn vị mua hàng có thể từ
chối thanh toán và sẽ dẫn tới tình trạng phải bán hàng với giá thấp, làm giảm
doanh thu
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất một
mặt hàng nên sự cạnh tranh chắc chắn là rất khốc liệt Nhiều nước trong khu
vực và trên thế giới có quy định tất cả các hàng hoá nhập khẩu đều phải đạt
ISO 9002 Đây thực sự là hàng rào kỹ thuật ngăn chặn hàng ngoại Nếu muốn
xâm nhập vào thị trường này thì bắt buộc chúng ta phải nâng cao chất lượng
sản phẩm.Nếu chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp cao, khách hàng sẵn
sàng trả gía cao cho những sản phẩm đó đồng thời doanh nghiệp có thể mở
Trang 23rộng thị trường sang các nước trong khu vực và trên thế giới Điều này sẽ làm
tăng khối lượng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, sản phẩm của doanh
nghiệp sẽ có mặt ở nhiều nước trên thế giới, thị phần của doanh nghiệp sẽ
tăng lên và sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Nhưng điều quan trọng là
uy tín của doanh nghiệp sẽ được nâng lên, khách hàng sẽ biết đến sản phẩm
của doanh nghiệp Đây sẽ là tiền đề giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh
doanh Trong những năm gần đây do công ty nhập được một số công nghệ
mới từ Tiệp Khắc và Italy nên chất lượng sản phẩm được nâng lên một cách
rõ rệt song song với việc tăng lên về chất lượng thì công suất của máy móc
cũng tăng lên một cách đáng kể, trong thời điểm hiện nay điều này là hết sức
quan trọng vì nó liên quan đến việc tạo uy tín cho doanh nghiệp đồng thời mở
rộng quy mô thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp trong tương lai Bên cạnh
đó là việc thu hồi lại lượng vốn bỏ ra để mua sắm thiết bị mới trong khi lượng
máy móc thiết bị cũ của công ty đã lạc hậu và cần được thanh lý trong thời
gian tới
*Theo đánh giá của tiêu chuẩn ISO
Qua các kỳ hội chợ triền lãm hàng công nghiệp thì sản phẩm của công
ty sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng Hải Phòng luôn đạt được những đòi
hỏi của các bộ tiêu chuẩn ISO mới nhất nguyên nhân chính là do nguyên vật
liệu mà doanh nghiệp sử dụng chủ yếu là loại đất có hàm lượng sét cao nên
sản phẩm có thể chịu được nhiệt độ cao mà không bị nứt nẻ, khi có nước mưa
sẽ không bị ngấm mà chỉ làm cho màu gạch trở lên tươi hơn So với các loại
gạch khác trên thị trường hiện nay thì gạch của công ty có chất lượng trội hơn
về các đặc tính đó nhưng mẫu mã của sản phẩm do công ty sản xuất chưa độc
đáo và chưa gây được sự chú ý đáng kể từ phía khách hàng do vậy lượng
doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh còn
thấp hơn, nếu trong thời gian tới kết hợp với việc nâng cao chất lượng sản
phẩm doanh nghiệp tiếp tục cải tiến mẫu mã thì chắc chắn sản phẩm của
Trang 24doanh nghiệp sẽ là loại sản phẩm được khách hàng ưa dùng Nhiều người cho
rằng đối với loại sản phẩm là vật liệu xây dựng thì mẫu mã hình thức không
phải là yếu tố quan trọng tạo lên giá trị hàng hoá song đó chỉ là ý kiến của
những người có tư tưởng lạc hậu còn trong thời đại hiện nay mẫu mã sản
phẩm cần được coi là một trong những yếu tố tác động rất lớn tới giá trị sản
phẩm, bởi vì hiện nay các nhà thiết kế xây dựng thường thiết kế công trình
theo xu thế thời đại nếu một công trình tồn tại trong vòng 30 năm trở nên đã
có vẻ như trở thành đồ cổ rồi hơn nữa loại sản phẩm vật liệu xây dựng là loại
sản phẩm không thể dùng lại được (trừ gạch là có thể dùng lại nhưng thường
là chỉ để xây những công trình phụ) do đó việc tạo ra một hình thức mới bắt
mắt là điều cần làm song đây cũng không cần phải coi là ưu tiên số 1
* Chất lượng thực tế với các công trình
Hầu hết các công trình được xây dựng bằng sản phẩm của công ty đưa
vào sử dụng đều đảm bảo yêu cầu của người sử dụng cũng như nhà thầu
(Công trình nhà nghỉ Nam Triều là một ví dụ) các công trình này có tuổi thọ
theo thiết kế đều không dưới 50 năm qua những năm công trình đưa vào sử
dụng dưới dự giám sát của các chuyên gia thì công trình không có biểu hiện
của sự xuống cấp chi phí khấu hao cho công trình là rất thấp chỉ dưới 0.25
tổng giá thành công trình trên một năm
Bảng 7: Danh mục một số công trình lớn xây dựng
bằng sản phẩm của công ty
Đơn vị: nghìn đồng
Tên công trình Doanh thu từ ctr Tuổi thọ thiết kế Tuổi thọ thực tế
Nhà nghỉ NamTriều 1.031.000 60 năm 71 năm
Khách sạn Hoa Mai 911.220 65 năm 75 năm
Nhà nghỉ Đồ Sơn 822.312 45 năm 50 năm
Trang 25Nhà văn hoá T.phố 613.531 70 năm 80 năm
Cung thiếu nhi 613.211 40 năm 56 năm
Biệt thự Lâm Sơn 590.998 80 năm 100 năm
2.2 Giá bán đơn vị sản phẩm
Doanh nghiệp áp dụng mức giá linh hoạt cho sản phẩm của mình giá
bán đơn vị sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào giá thành đơn vị sản phẩm tuy
nhiên mức giá này phải phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng thì sản
phẩm của công ty mới có thể tiêu thụ nhanh chóng được
Trong nhiều trường hợp doanh nghiệp phải áp dụng mức giá bán thấp
hơn giá bình quân trên thị trường đối với những thị trường mà doanh nghiệp
mới tiếp xúc lần đầu nhiều khi phải chịu lỗ để hàng được bán vì nếu không
bán mà vận chuyển lại thì chi phí vận chuyển cao cũng dẫn tới tình trạng lỗ
nhưng lại còn làm tăng lượng hàng tồn kho
Nếu một loại sản phẩm của doanh nghiệp tốt trong một thời gian dàI
thì doanh nghiệp có thể tăng giá loại sản phẩm này lên một chút để tăng lợi
nhuận, bởi vì khi sản phẩm đã tạo được sự tin tưởng của khách hàng thì giá cả
không còn được coi là yếu tố quan trọng nữa
Mức giá doanh nghiệp bán sản phẩm trên thị trường chủ yếu được xác
định dựa trên giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm
Mức giá này được tổng hợp như sau:
Trang 26- Gạch Cđược hưởng: 70% lương
- Xây goòng mới được hưởng: 17.000 đ/ goòng
- Thay khung goòng tuỳ theo thực tế thanh toán
- Độc hại đã được cộng vào đơn giá tiền lương
- Công phát sinh chỉ được thanh toán ngoài nội dung công việc ở
các công đoạn
2 3 Kết cấu hàng tiêu thụ
Bảng 9: Tỷ trọng doanh thu tiêu thụ các sản phẩm qua 2 năm
2003/2002
Trang 27Qua bảng trên ta thấy kết cấu hàng tiêu thụ của doanh nghiệp trong
năm 2003 không có sự thay đổi lớn so với năm 2002 Cụ thể:
Năm 2002 doanh thu từ tiêu thụ gạch 2 lỗ chiếm 69% tổng doanh thu
tới năm 2003 tỷ trọng này tăng lên 70% tăng 2% so với năm 2002 nguyên
nhân là do doanh nghiệp đã điều chỉnh tăng lượng sản phẩm sản xuất coi loại
sản phẩm này là mặt hàng chủ yếu trong cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp
nếu cứ giữ mức độ tăng tỷ trọng của loại gạch này ở mức 2% thì trong vài
năm tới loại gạch này sẽ giữ vị trí độc tôn trong cơ cấu sản phẩm của doanh
nghiệp Điều này cũng mang đến nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp là làm cho
doanh nghiệp dễ dàng quản lý khâu bán hàng vì chỉ có một loại mặt hàng chi
phí bán hàng chắc chắn sẽ giảm nhiều, mặt khác sự thay đổi này là bắt nguồn
từ nhu cầu thị trường do đó lượng sản phẩm này tăng không gây ra sự mạo
hiểm trong kinh doanh Tuy nhiên nhược điểm của sự thay đổi này là rõ ràng
doanh nghiệp không thể phát triển loại thị trường mới điều này làm cho doanh
nghiệp không mở rộng được quy mô là điều bất cập lớn nhất trong cơ chế
hiện nay
Loại gạch 3 lỗ tỷ trọng doanh thu tiêu thụ loại gạch này năm 2002 là
4,4% tới năm 2003 tỷ trọng này là 4% giảm 0,4% so với năm 2002 lượng
giảm không đáng để hơn nữa loại gạch này lại chiếm vị trí thứ yếu trong cơ
cấu sản phẩm của doanh nghiệp do đó sự suy giảm này không gây đột biến
Trang 28trong doanh thu Tuy vậy, sự suy giảm này chứng tỏ một điều là doanh loại
sản phẩm mới này không chiếm được vị trí quan trọng trên thị trường và nếu
tình trạng này kéo dài trong một vài năm tới thì nguy cơ loại sản phẩm này
không có mặt trong danh mục hàng sản xuất của doanh nghiệp là rất có khả
năng xảy ra điều này gây ra tình trạng dây truyền sản xuất loại sản phẩm này
chắc chắn sẽ bị thanh lý trước thời hạn điêu đó làm cho chi phí sản xuất tăng
đột biến khó có thể bù đắp được bằng sự gia tăng doanh thu từ những sản
phẩm khác cách khắc phục tốt nhất là doanh nghiệp cần tạo ra sự khác biệt
đối với sản phẩm trên thị trường để kích cầu trong trường hợp giải pháp này
không có hiệu quả thì doanh nghiệp không nên đưa loại sản phẩm này vào sản
xuất nữa vì như thế sẽ rất mạo hiểm
Loại gạch 4 lỗ: năm 2002 tỷ trọng doanh thu từ loại sản phẩm này là
17% năm 2003 chiếm tỷ trọng là 15% giảm 2% so với năm 2002 tốc độ giảm
này là rất lớn và gây ra sự ảnh hưởng nghiệm trọng trong cơ cấu doanh thu
của doanh nghiệp Đây là loại sản phẩm truyền thống của doanh nghiệp chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của doanh nghiệp (chỉ đứng sau loại gạch 2
lỗ) với tốc độ giảm nhanh chóng như thế này chắc chắn sẽ gây ra một sự mất
cân đối trong cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp Vì đây là loại sản phẩm sản
xuất với số lượng lớn qua nhiều năm nên số lượng dây truyền phục cho sản
xuất loại sản phẩm này là rất nhiều cho nên việc ngừng trệ sản xuất loại sản
phẩm này gây ra thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp và không thể tăng doanh
thu của loại sản phẩm khác để bù đắp được, biện pháp tốt nhất mà doanh
nghiệp cần sử dụng ngay lúc này là kích cầu để tiêu thụ sản phẩm nếu cần
thiết có thể chịu lỗ ít để lấy doanh thu của mặt hàng khác bù đắp vào
Loại gạch 6 lỗ, 9 lỗ, lát nền: đây là 3 loại sản phẩm mới của doanh
nghiệp nên việc tiêu thụ tốt hay xấu có ảnh hưởng tới việc mở rộng và phát
triển thị trường cũng như quy mô doanh nghiệp Nhìn vào bảng thống kê trên
ta thấy tỷ trọng doanh thu của cả 3 loại sản phẩm trên đều tăng trong năm
Trang 292003 điều này chứng tỏ những sản phẩm này tuy mới nhưng đã chiếm được
cảm tình của người tiêu dùng nếu duy trì được tốc độ tăng trong những năm
tới trung bình là 0, 5% thì doanh nghiệp hoàn toàn có thể đưa những mặt hàng
này là những mặt hàng chính của doanh nghiệp trong trường hợp lượng tiêu
thụ tăng với tốc độ nhanh hơn thì doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư nhiều dây
truyền mới để sản xuất các loại sản phẩm này
3 Doanh thu từ các hoạt động khác
Ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh thuần tuý doanh nghiệp còn
thực hiện một số các nghiệp vụ kinh tế trong một số lĩnh vực khác như hoạt
động tài chính, hoạt động bất thường … trong năm 2003 các hoạt động này
tạo thêm doanh thu cho doanh nghiệp chủ yếu trong lĩnh vực hoạt động tài
chính mà cụ thể ở đây là hoạt động quản lý các khoản phải thu
Trang 30Bảng 10: Tình hình công nợ phải thu
Căn cứ vào số liệu bảng trên ta có nhận xét sau:
Công nợ phải thu năm 2002 là 322.720 (000đ) đến năm 2003 công
nợ phải thu tăng lên 370.509 (000đ) như vậy các khoản phải thu tăng so với
năm 2002 là 47.785 (000đ) với tốc độ tăng 14% Công nợ phải thu tăng lên là
do ảnh hưởng chủ yếu của khoản mục phải thu của khách hàng Năm 2002
công nợ phải thu khách hàng là 270.151(000đ) Năm 2003 công nợ phải thu
khách hàng tăng lên 57.813(000đ) với tốc độ tăng là 25% Trong tổng số công
nợ phải thu năm 2003 là 337.965 (000đ) nợ quá hạn từ 1 năm trở lên là
324.446 (000đ) chiếm 96% tổng số công nợ phải thu khách hàng, còn lại
13.518(000đ) là nợ khó đòi, không có khả năng đòi và đã chuyển thụ lý pháp
luật
Trang 31Các khoản nợ khó đòi, không có khả năng đòi năm 2003 giảm so với
năm 2002 là 1.339(000đ) Trong đó công ty xoá nợ chuyển sang nợ khó đòi
đã xử lý một số đối tượng công nợ bị phá sản, không thể trả được, đã chết
hoặc đã bỏ trốn còn 2.009 (000đ) thu hồi được là do công ty chuyển hồ sơ
một số đối tượng sang cơ quan pháp luật xử lý và bản án được thi hành Như
vây công ty bị mất số nợ quá hạn từ 1 năm trở nên năm 2003 là 324.44(000đ)
tăng 691.535 (000đ) với tốc độ tăng 27% Nguyên nhân là số nợ quá hạn trên
tăng là do để giải phóng hàng tồn kho, công ty cho khách hàng thanh toán
chậm do đó đã làm cho số nợ phải thu của khách hàng tăng lên Năm 2003
trong tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm 2.432.992 (000đ) doanh thu bán hàng
thanh toán chậm là 851.547(000đ) chiếm 35% tổng doanh thu Công ty cho
khách hàng thanh toán chậm một mặt bị khách hàng chiếm dụng vốn, mặt
khác làm tăng chi phí trả vay ngân hàng cho số hàng bán chịu Năm 2003 chi
phí là 55.377 (000 đ) tăng 2.744 (000đ) so với năm 2002 Chính vì vậy việc
làm cho khách hàng thanh toán chậm càng cao thì mức độ rủi ro về mặt tài
chính càng lớn Điều này ảnh hưởng tới chi phí hoạt động kinh doanh, tăng
chi phí lãi vay, tăng chi phí thu hồi công nợ và nhiều chi phí liên quan khác từ
đó làm tăng chi phí hoạt động kinh doanh, tăng gía thành sản phẩm, tăng giá
bán và giảm lợi nhuận của công ty Công nợ phải thu năm 2003 tăng lên ảnh
hưởng tới số vòng quay của các khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân
Bảng 11: Thống kê vòng quay của vốn trong 2 năm
Đơn vị: nghìn đồng
1 Gía thành sản xuất 1.398.480 2.310.994
2 Các khoản phải thu đầu kỳ 322.720 370.509
3 Các khoản phải thu cuối kỳ 245.298 346.614
4 Số dư bình quân các khoản phải thu 245.298 346.614
Trang 325 Vòng quay các khoản phải thu 5,7 6,7 +1.0
Do tốc độ tăng doanh thu thuần năm 2003 là 63% nhanh hơn tốc độ
tăng của các khoản phải thu vì vậy mặc dù các khoản phải thu tăng nhưng số
vòng quay các khoản phải thu tăng 1 vòng từ đó làm cho kỳ thu tiền bình
quân giảm 9 ngày Nếu nhìn vào số liệu tính toán bảng trên số vòng quay
hàng tồn kho tăng, kỳ thu tiền bình quân giảm để đưa ra kết luận công tác thu
hồi công nợ của công ty là tốt thì chưa chính xác Vì trong tổng doanh thu,
doanh thu bán chịu chiếm 35% Việc tăng khối lượng hàng hoá bán chịu sẽ
làm tăng mức độ rủi ro cho công ty, tăng khả năng mất vốn lưu động Việc
xoá nợ năm 2003 là bằng chứng xác thực minh chứng cho chính sách bán
chịu của công ty Thêm vào đó việc làm giảm hàng hoá tồn kho bằng biện
pháp tăng bán chịu cho khách hàng chỉ là hình thức hoán đổi mức độ rủi ro từ
khoản mục hàng tồn kho sang các khoản phải thu Điều đó chứng tỏ biện pháp
giảm hàng tồn kho bằng chính sách bán chịu chưa chắc đã là biện pháp tối ưu
Công ty cần xem xét lại chính sách bán chịu đồng thời cần nghiên cứu kỹ khả
năng thanh toán của khách hàng trước khi cho khách hàng thanh toán chậm để
từ đó giảm bớt mức độ rủi ro mất vốn trong kinh doanh
Qua việc phân tích tình hình quản lý các khoản phải thu ta thấy công
ty đã có nhiều nỗ lực trong việc giảm tồn kho hàng hoá, tăng nhanh vòng
quay hàng tồn kho, tiết kiệm vốn lưu động góp phần không nhỏ trong thành
tựu chung của công ty Tuy nhiên việc quản lý các khoản phải thu còn nhiều
thiếu xót, tồn tại đặc biệt chính sách bán chịu Hàng tồn kho và các khoản
phải thu thay đổi đã làm ảnh hưởng đến vòng quay vốn lưu động và số ngày
một vòng quay vốn lưu độ
Trang 33II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH
1 Tình hình thực hiện chi phí và giá thành trong lĩnh vực sản
chi phi chung
chi phi vat lieu chi phi NCTT
2003 104190802003 2976880
chi phi vat lieu chi phi NCTT
chi phi chung
Qua bảng tổng hợp giá thành trên ta thấy tổng giá thành sản phẩm của
doanh nghiệp trong năm 2002 là 16.015.000(000đ) trong năm 2003 là
14.884.400 (000đ) giảm 1.130.600 (000đ) tốc độ giảm 8% nguyên nhân là do
Trang 34doanh nghiệp đã tiết kiệm được các khoản chi phí từ nguyên vật liệu, nhân
công, chi phí chung cụ thể như sau:
- Chi phí nguyên vật liệu năm 2002 là 11.210.500 (000đ) đến năm
2003 con số này là 10.418.080 (000đ) giảm 791.420 (000đ) tốc độ giảm là 6%
nguyên nhân là do doanh nghiệp đã mua được lượng đất của từng vùng trên
núi Tiên Hội theo giá khuyến khích của UBNH huyện nhằm giải phóng con
đường lớn sắp được xây dựng tại đây do đó giá mua đất theo lô đã làm cho
chi phí nguyên vật liệu của doanh nghiệp giảm mạnh điều này tạo điều kiện
rất lớn để doanh nghiệp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm từ đó tăng lợi nhuận
Tình hình sử dụng nguyên vật liệu của doanh nghiệp trong năm vừa
qua được tổng hợp trong bảng sau:
Nguyên nhân của việc tiết kiệm nguyên vật liệu còn do doanh nghiệp
mới nhập được 2 dây truyền mới tận dụng được lượng đất ven đồi lượng đất
này trước kia vẫn bỏ đi mà không sử dụng Việc nhập 2 dây truyền mới này