Nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế trẻ trung và năng động, nó đang trên đường hội nhập thế giới. Điều đó được đánh dấu bởi sự kiện Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO vào cuối năm 2006.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế trẻ trung và năng động, nó đang
trên đường hội nhập thế giới Điều đó được đánh dấu bởi sự kiện Việt Nam đã trở
thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO vào cuối năm
2006 Sự kiện này mở ra cho các doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội rất lớn song
cũng đặt các doanh nghiệp trước nhiều thử thách mới Điều này khiến cho các
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được phải nhận thức được tình hình kinh
doanh của chính mình và tìm ra một hướng đi đúng đắn cho các kế hoạch mà mình
đặt ra Hơn nữa để mở rộng và có sức cạnh tranh trong thị trường đầy khốc liệt đó,
buộc các doanh nghiệp phải năng động, phải không ngừng phát huy những lợi thế
vốn có của mình, đồng thời tích cực nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ hiện
đại để đưa ra được các phương án sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế, nghĩa là
không chỉ đảm bảo bù đắp được chi phí sản xuất mà còn đem lại lợi nhuận cao
Lợi nhuận giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường,
doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không, thì điều quyết định là doanh
nghiệp có tạo ra lợi nhuận hay không Vì thế, lợi nhuận được coi là một trong
những đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu
quả sản xuất – kinh doanh của một doanh nghiệp Lợi nhuận tác động đến tất cả các
mặt của hoạt động của doanh nghệp, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính
của doanh nghiệp Việc thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng
đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp được vững chắc, là tiền đề của
mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Công ty cổ phần xây dựng số 1 Sông Hồng (Tên viết tắt là SONG HONG
NO I.JSC) Là một công ty hàng đầu trong ngành xây dựng, hoạt động trên phạm vi
cả nước Cũng như mọi công ty khác tham gia trong nền kinh tế thị trường, mục
đích của công ty là đạt lợi nhuận cao Khi nhận thức được đúng đắn vị trí và tầm
Trang 2quan trọng của chỉ tiêu lợi nhuận, thì tình hình lợi nhuận và các giải pháp nhằm
nâng cao lợi nhuận cho công ty là điều mà cả công ty quan tâm và đặc biệt là đối
với sinh viên thực tập tại công ty Do vậy khi thực tập tại công ty em đã chọn đề tài
nghiên cứu “Lợi nhuận và các biện pháp nâng cao lợi nhuận tại công ty Cổ
phần xây dựng số 1 Sông Hồng” nhằm nêu ra tình hình thực hiện lợi nhuận của
công ty và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận tại công ty Số liệu
thực tế được lấy tại năm 2005 và năm 2006
Trong quá trình thực tập em xin trân thành cảm ơn thầy Vũ Xuân Dũng –
Giáo viên hướng dẫn thực tập đã tận tình giúp đỡ và giải đáp những vướng mắc
trong quá trình hoàn thành bài báo cáo Và em xin trân thành cảm ơn tất cả các anh
chị trong phòng ban kế toán - tài chính tại công ty cổ phần xây dựng số 1 Sông
Hồng đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực tập tại công ty
Trang 3PHẦN 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN VÀ CÁC BIỆN PHÁP NÂNG
CAO LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
I Khái niệm, kết cấu, vai trò của lợi nhuận
1 Khái niệm
Sau một thời gian hoạt động nhất định, doanh nghiệp sẽ có thu nhập bằng tiền
Thu nhập này sau khi bù đắp các khoản chi phí sản xuất kinh doanh có liên quan,
còn lại là lợi nhuận Lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộc vào chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp, thể hiện thành quả tài chính
cuối cùng của doanh nghiệp Vì vậy lợi nhuận được coi là chỉ tiêu chất lượng tổng
hợp cuối cùng của hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp Qua chỉ tiêu này cho thấy
được sự nỗ lực phấn đấu của từng người, từng bộ phận của doanh nghiệp, về việc
tăng doanh thu, giảm chi phí
Vậy lợi nhuận của doanh nghiệp là gì? chúng ta có thể đưa ra khái niệm về lợi
nhuận như sau: Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh hiệu quả kinh tế của các
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó là khoản chênh lệch giữa các
khoản thu nhập thu được và các khoản chi phí đã bỏ ra để đạt được thu nhập đó
trong một thời kỳ nhất định
Như vậy để xác định được lợi nhuận thu được trong thời kỳ nhất định, người ta
căn cứ vào hai yếu tố :
- Thu nhập phát sinh trong một thời kỳ nhất định
- Chi phí phát sinh nhằm đem lại thu nhập trong thời kỳ đó, hay nói cách khác
chỉ những chi phí phân bổ cho các hoạt động, các nghiệp vụ kinh doanh đã thực
hiện trong thời kỳ
2 Kết cấu lợi nhuận
Trong nền kinh tế thị trường, với cơ chế hạch toán kinh doanh, phạm vi kinh
doanh của doanh nghiệp được mở rộng, doanh nghiệp có thể đầu tư vào nhiều lĩnh
Trang 4vực khác nhau Do vậy lợi nhuận thu được cũng đa dạng theo phương thức đầu tư
của doanh nghiệp
Tổng lợi nhuận của doanh
a Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp là hoạt động đầu tư vốn nhằm tìm kiếm lợi nhuận theo
những mục tiêu được xác định sẵn, bao gồm:
Lợi nhuận từ hoạt động
sản xuất kinh doanh =
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh hàng hoá và cung cấp
dịch vụ
+
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
- Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ:
Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh hàng hoá dịch vụ được hình thành từ
việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp, những nhiệm vụ
này được ghi trong quyết định thành lập công ty Bộ phận lợi nhuận này thường
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp
- Lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính: Ngoài lĩnh vực hoạt động sản
xuất kinh doanh Các doanh nghiệp còn có thể tham gia vào hoạt động đầu tư tài
chính Hoạt động tài chính là hoạt động đầu tư vốn ra bên ngoài doanh nghiệp như:
Góp vốn liên doanh liên kết kinh tế; mua bán trái phiếu, cổ phiếu; cho thuê tài sản;
lãi tiền gửi ngân hàng; và lãi cho vay thuộc nguồn vốn kinh doanh… các khoản lợi
nhuận thu được từ hoạt động này góp phần làm tăng tổng lợi nhuận cho doanh
Trang 5b Lợi nhuận khác:
Là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác và các khoản chi phí khác ngoài
dự tính của doanh nghiệp Những khoản lãi này phát sinh không thường xuyên,
doanh nghiệp không sự kiến trước được nhưng ít có khả năng thực hiện Lợi nhuận
khác thường bao gồm: Lợi nhuận từ cá khoản phải trả không xác định được chủ nợ;
thu hồi các khoản nợ khó đòi đã được duyệt bỏ; các khoản thu từ bán vật tư tài sản
thừa sau khi đã bù trừ hao hụt mất mát; lãi thu từ người bán, thanh lý tài sản cố
định; tiền được phạt, được bồi thường…
3 Vai trò của lợi nhuận
Lợi nhuận là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp Nó có vai trò rất quan trọng đối với
mỗi công ty đồng thời nó còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với người lao động và
tất nhiên là với cả nền kinh tế quốc dân
a Đối với mỗi công ty
lợi nhuận vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển,
không ngừng vượt qua khó khăn, không ngừng tìm ra phương án tối ưu để đạt được
những mục tiêu tìm ra lợi nhuận Lợi nhuận là tiền đề vật chất quan trọng đảm bảo
sự tồn tại và phất triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Do nền kinh
tế thị trường là nền kinh tế tự do cạnh tranh Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt
giữa các thành phần tham gia trong nền kinh tế, nhất là từ khi Việt Nam ra nhập
WTO thì doanh nghiệp muốn cạnh tranh không những với các doanh nghiệp thuộc
thị trường trong nước mà còn phải cạnh tranh với thị phần của các doanh nghiệp
nước ngoài , do đó doanh nghiệp muốn có khả năng cạnh tranh tốt thì khả năng
mạnh về tài chính là điều cực kỳ quan trọng
Trang 6Hơn nữa lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng nói lên kết quả của toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh Nếu doanh nghiệp phấn đấu cải tiến hoạt động sản xuất
kinh doanh làm cho giá thành hạ thì lợi nhuận sẽ tăng lên một cách trực tiếp
Ngược lại nếu giá thành tăng lên thì lợi nhuận sẽ giảm đi Chính vì vậy lợi nhuận là
một chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp
b Đối với người lao động
Mục đích của doanh nghiệp là lợi nhuận còn mục đích của người lao động là
thu nhập hay chính là tiền lương mà doanh nghiệp phải trả cho họ Lợi nhuận là
nguồn tài chính cơ bản để doanh nghiệp thực hiện phân phối trong nội bộ doanh
nghiệp, chính là phân phối cho người lao động nhằm giải quyết không những đủ
nhu cầu cơ bản cuộc sống của họ mà còn tạo ra một phần tích luỹ, nâng cao đời
sống của họ Khi doanh nghiệp kinh doanh tạo ra nhiều lợi nhuận thì tạo điều kiện
tăng nguồn trích lập các quỹ khen thưởng, Phúc lợi tạo điều kiện nâng cao đời sống
vật chất nâng cao tinh thần cho người lao động, góp phần kích thích người lao động
nâng cao năng suất và tập chung lao động cống hiến công sức cho doanh nghiệp
c Đối với nền kinh tế quốc dân
Lợi nhuận không chỉ là nguồn tích luỹ cơ bản để thực hiện quá trình tái sản
xuất mở rộng ở phạm vi doanh nghiệp mà còn của toàn bộ nên kinh tế quốc dân
Trong phạm vi doanh nghiệp thì nguồn tích luỹ từ lợi nhuận là một nguồn quan
trọng để doanh nghiệp phát triển bền vững Còn đối với nền kinh tế, do doanh
nghiệp là tế bào của nền kinh tế Sự tham gia đóng góp của các doanh nghiệp vào
ngân sách nhà nước còn được phản ánh ở số thuế thu nhập doanh nghiệp mà doanh
nghiệp đã nộp Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển thì bản thân mỗi doanh nghiệp
cũng phải tăng trưởng và phát triển Do đó khi doanh nghiệp phát triển làm ăn có
hiệu quả thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận tăng sẽ góp phần làm tăng nghĩa vụ của
doanh nghiệp với nhà nước và làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển
II Xác định và đánh giá lợi nhuận
Trang 71 Xác định lợi nhuận doanh nghiệp
Trong thực tế, doanh nghiệp thường đầu tư vốn vào nhiều lĩnh vực khác nhau
như hoạt động sản xuất kinh doanh chính, đầu tư tài chính….nên lợi nhuận của
doanh nghiệp cũng được tạo ra từ nhiều hoạt động khác nhau
Tổng lợi nhuận của
1.1 Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh: Là phần chênh lệch giữa thu nhập
từ hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh
vụ
-
Giá vốn hàng bán
+
Doanh thu tài chính
-
Chi phí tài chính
-
Chi phí
BH
-
Chi phí QLD
N Trong đó:
a, Tổng doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ được xác định như
sau:
Tổng doanh thu thuần về bán
hàng và cung cấp dịch vụ =
Tổng doanh thu bán hàng trong kỳ -
Các khoản giảm trừ doanh thu
Tổng doanh thu bán hàng trong kỳ bao gồm:
- Trị giá hàng hoá đã tiêu thụ;
- Hàng bán trả góp ( giá một lần không bao gồm lãi)
Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm:
- Trị giá hàng bị trả lại: Là các khoản phát sinh khi giá trụ của số sản phẩm,
hàng hoá bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân như: Vi phạm hợp đồng kinh tế,
hàng bị kém, mất phẩm chất, không đúng chủng laoi, quy cách Giá trị hàng bán bị
trả lại sẽ làm giảm doanh thu bán hàng thực hiện trong kỳ
Trang 8- Giảm giá hàng bán: Là các khoản phát sinh do giảm giá ban thực tế, và
giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do sản phẩm, hàng hoá kém
chất lượng, mất phẩm chất hay không đúng quy cách theo quy định trong hợp đồng
kinh tế
- Triết khấu thương mại: Là các khoản phát sinh do doanh nghiệp đã giảm
trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua hàng
(Sản phẩm, hàng hoá) dịch vụ với khối lượng lớn và theo thoả thuận bên bán sẽ
dành cho bên mua một khoản chiết khấu thương mại ( Đã ghi trên hợp đồng kinh
tế mua bán hoặc cam kết mua, bán hàng)
- Thuế ở khâu tiêu thụ: Bao gồm thuế xuất khẩu; thuế TTĐB; thuế VAT đối với
doanh nghiệp nộp thế theo phương pháp trực tiếp;
b, Giá vốn hàng bán là chi phí giá thành thực tế sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ
trong kỳ, được xác định bằng nhiều nhiều phương pháp khác nhau phù hợp với
từng đặc điểm sản phẩm kinh doanh của các ngành nghề khác nhau Tuy nhiên các
chi phí cấu thành giá vốn hàng bán tiêu thụ trong kỳ bao gồm các chi phí sau:
- Chi phí vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí nguyên nhiên liệu sử dụng trực
tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm chi phí tiền lương tiền công, các
khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp tạo ra
sản phẩm tiêu thụ trong kỳ Đặc biệt đối với ngành xây dựng khoản chi phí này chỉ
bao gồm tiền lương của công nhân trực tiếp tạo ra sản phẩm xây dựng bao gồm cả
tiền lương của công nhân trong biên chế lao động của công ty và tiền công của lao
động thuê ngoài Khoản chi phí này không bao gồm các khoản trích theo lương của
công nhân trực tiếp tạo ra sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm các khoản chi phí liên quan đến việc phục
vụ, quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, tổ đội sản xuất như chi phí về
tiền lương, tiền công và các khoản phải trích theo lương phải trả cho nhân viên
quản lý phân xưởng; chi phí vật liệu, công cụ dùng trong quản lý phân xưởng, chi
Trang 9phí khấu hao tài sản cố định….Đặc biệt trong ngành xây dựng khoản chi phí này
bao gồm cả chi phí trích BHXH, BHYT, KPCĐ cho công nhân sản xuất trực tiếp
sản phẩm
c, Doanh thu từ hoạt động tài chính: bao gồm các khoản thu từ các hoạt
động tài chính như:
- Lãi được chia từ hoạt động liên doanh liên kết kinh tế
- Lợi tức cổ phần, trái phiếu
- Lãi tiền gửi ngân hàng, hoặc lãi cho vay các đối tượng khác
- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh chứng khoán ( giữa giá mua bán trái
phiếu, cổ phiếu )
- Thu từ việc cho thuê tài sản
- Hoàn nhập các khoản dự phòng giảm giá đã trích năm trước nhưng không
sử dụng hết
- Triết khấu thanh toán được hưởng khi mua
- Thu nhập tài chính khác
d, Chi phí hoạt động tài chính: là các chi phí đầu tư tài chính ra bên ngoài
doanh nghiệp, nhằm sử dụng hợp lý các nguồn vốn, tăng thêm thu nhập và nâng
cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp Các khoản chi phí này bao gồm:
- Chi phí trả lãi tiền vay
- Chi phí thực hiện hợp đồng liên doanh, liên kết kinh tế ( không bao gồm
vốn góp)
- Chi phí cho thuê tài sản
- Chi phí mua bán các loại chứng khoán, kể cả các loại tổn thất trong đầu tư
chứng khoán nếu có,
- Chiết khấu thanh toán dành cho khách hàng
e, Chi phí bán hàng phân bổ cho hàng hoá đã tiêu thụ: Là biểu hiện bằng tiền
của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá và các khoản
chi phí cần thiết khác phục vụ cho quá trình bảo quản, tiêu thụ hàng hoá
Trang 10Các khoản chi phí này bao gồm các chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm,
quảng cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá
(Trừ hoạt động xây lắp), chi phí bảo quản đóng gói, vận chuyển…
g, Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các
khoản hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các khoản chi phí cần thiết
khác phục vụ cho quá trình quản lý và điều hành doanh nghiệp
Các khoản chi phí này bao gồm chi phí về nhân viên quản lý doanh nghiệp
(Tiền lương, tiền cồng, các khoản phụ cấp,…), bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh
phí công đoàn của nhân viên quản lý doanh nghiệp; chi phí vật liệu văn phòng,
công cụ lao động, khấu hao tài sản cố định dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền
thuê đất, thuế môn bài; các khoản trích lập dự phòng; chi phí mua ngoài và chi phí
bằng tiền khác phụ vụ cho công tác quản lý và điều hành doanh nghiệp
1.2 .Lợi nhuận khác: là chênh lệch giữa các khoản thu được từ lợi nhuận
khác với các khoản chi phí khác và được tính như sau:
Lợi nhuận khác = Thu nhập khác - Chi phí khác
Trong đó:
a, Thu nhập khác: Là các khoản thu nhập khác của doanh nghiệp ngoài các
khoản doanh thu ván hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính
Bao gồm:
- Thu thanh lý nhượng bán TSCĐ ( Giá trị nhượng bán cao hơn giá trị
còn lại của TSCĐ)
- Thu từ các khoản nợ khó đòi đã được duyệt bỏ nay thu hồi được
- Thu hồi từ việc bán vật tư, tài sản, phế liệu thừa
- Các khoản thu nhập bất thường khác như tiền phạt, tiền được bồi
thường
- Thu từ quà biếu tặng của các tổ chức, cá nhân cho doanh nghiệp
b, Chi phí khác: Là những khoản chi phí thực tế phát sinh bất thường được xác
định là hợp lệ theo chế độ của nhà nước quy định như:
Trang 11- Chi phí thanh lý nhượng bán TSCĐ ( Giá trị nhượng bán thấp hơn giá
trị còn lại của TSCĐ)
- Vật tư hàng hoá thiếu trong khi kiểm kê, thiếu chờ xử lý, được xử lý
vào chi phí khác
- Tiền phạt bồi thường do vi phạm hợp đồng kinh tế, hợp đồng tín dụng
- Các khoản chi phí kinh doanh bị bỏ xót những năm trước đây nay phát
hiện ghi bổ sung
- Các khoản chi phí khác
Việc xác định chính xác lợi nhuận có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh
nghiệp Nó đảm bảo phản ánh đúng kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định Là cơ sở cho việc đánh giá năng lực hoạt động
của doanh nghiệp trên thương trường Đồng thời là cơ sở cho việc phân phối đúng
đắn lợi nhuận tạo ra để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp được tiến hành một cách thường xuyên liên tục
2 Đánh giá lợi nhuận của doanh nghiệp qua các chỉ tiêu tài chính
2.1 Tổng lợi nhuận
Là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số lãi sẽ được tạo ra trong năm Chỉ tiêu này
được xác định và tập hợp theo từng mảng hoạt động hoặc theo từng đơn vị thành
viên của công ty
Chỉ tiêu này càng lớn càng chứng tỏ công ty làm ăn có lãi và có triển vọng tốt trong
tương lai, doanh nghiệp cần phát huy
Tuy lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp có vai trò rất quan trọng và đã
được nêu ở trên Nhưng cũng cần lưu ý rằng không thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy
nhất để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh và cũng không thể chỉ
dùng nó để so sánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
khác nhau Cho nên để đánh giá, so sánh chất lượng hoạt động của các doanh
nghiệp ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối, còn phải dùng chỉ tiêu tương đối là tỷ
suất lợi nhuận, hay còn gọi là hệ số sinh lời
Trang 12b Tỷ suất lợi nhuận: Có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận, mỗi cách có
một nội dung kinh tế khác nhau Sau đây là một số cách tính tỷ suất lợi nhuận:
b1 Tỷ suất lợi nhuận doanh thu: (p’)
Là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa tổng lợi nhuận với tổng
chi phí kinh doanh trong năm
Tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu
= Tổng lợi nhuận trong kỳ
X 100%
Tổng doanh thu trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng doanh thu thu được thì có bao nhiêu đồng
lợi nhuận
b2 Tỷ suất lợi nhuận vốn: Là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa
tổng mức lợi nhuận với tổng vốn kinh doanh sử dụng bình quân trong năm
Tỷ suất lợi nhuận
trên vốn kinh doanh
= Tổng lợi nhuận trong kỳ
X 100%
Tổng vốn kinh doanh bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn kinh doanh Cứ một đồng
vốn kinh doanh bình quân doanh nghiệp bỏ ra thì thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận
Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, điều này cho thấy doanh nghiệp đang kinh doanh có
hiệu quả
b3 Tỷ suất lợi nhuận chi phí: Là chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ tỷ
lệ giữa tổng lợi nhuận với tổng chi phí kinh doanh trong năm
Tỷ suất lợi nhuận
lợi nhuận cho doanh nghiệp trong kỳ Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, điều này
chứng tỏ doanh nghiệp đã quản lý tốt chi phí kinh doanh làm cho chi phí kinh
Trang 13doanh được sử dụng có hiệu quả mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp Và
ngược lại nếu chỉ tiêu này thấp hoặc có xu hướng giảm trong các kỳ liên tiếp thì
điều này là không tốt, chứng tỏ doanh nghiệp chưa quản lý tốt chi phí, sử dụng lãng
phí các tài nguyên của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần tìm hiểu nguyên nhân và
các biện pháp khắc phục
III Nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp
1 Sự cần thiết của việc nâng cao lợi nhuận
Thông qua vai trò của lợi nhuận cũng như mục tiêu và động lực phát triển của
công ty, ta thấy việc nâng cao lợi nhuận có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Bất lỳ một doanh nghiệp nào hoạt dộng kinh doanh đều nhằm mục đích tối đa
hoá lợi nhuận trong khuân khổ pháp luật của nhà nước cho phép Xuất phát từ mục
tiêu đó, trong kinh doanh các doanh nghiệp luôn luôn tìm ra cho mìnhmột con
đường riêng tối ưu để thoả mãn cao nhất nhu cầu thị trường và đạt được mức lơi
nhuận tối đa
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp bị chi phối bởi
các quy luật kinh tế khắc nghiệt như: Quy luật giá trị; quy luật cạnh tranh; quy luật
cung cầu… và chịu sự điều tiết của nhà nước thông qua hệ thống pháp luật
Để có thể đứng vững trong cuộc cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm mọi
biệp pháp khẳng định vị trí của mình trên thị trường Giải quyết vấn đề này phụ
thuộc rất nhiều vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả
hay không? Nói cách khác là tạo ra được lợi nhuận hay không? Bởi vì khi doanh
nghiệp có lợi nhuận thì mới có điều khiện tích luỹ sản xuất mởi rộng nâng cao uy
tín và thế lực của mình trên thị trường cũg như không ngừng đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của xã hội Lợi nhuận tăng, doanh nghiệp sẽ có kảh năng trả cho cán bộ,
công nhân viên mức lương thoả đáng phù hợp ới công sức họ đã bỏ ra Đồng thời
khi lợi nhuận tăng thì nguồn thu cho ngân sách cũng tăng trên cơ sở đó các doanh
nghiệp thực hiện nghĩa vụ với nhà nước tăng Như vậy lợi nhuận không chỉ là mục
tiêu phấn đấu của các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh mà còn là của người lao
Trang 14động và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Hơn nữa lợi nhuận là con đường để
doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh và là yếu tố quyết định sự sống còn, sự
phát triển của doanh nghiệp Do đó nâng cao lợi nhuận là tất yếu khách quan đối
với mọi doanh nghiệp nhất là trong nền kinh tế thị trường đã ra nhập WTO với sự
cạnh tranh gay gắt như hiện nay
2 các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận
Lợi nhuận của doanh nghiệp là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói lên kết quả
của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì nó là một chỉ tiêu
quan trọng nhưng cũng rất nhạy cảm, nó chịu tác động của cả các yếu tố khách
quan do môi trường bên ngoài tác động cũng như các yếu tố bên trong doanh
nghiệp tác động có thể ảnh hưởng tốt đến lợi nhuận, làm tăng lợi nhuận Và có cả
những yếu tố có tác động xấu đến lợi nhuận làm giảm lợi nhuận Do đó các doanh
nghiệp phải nhận thức rõ được những yếu tố này để có những biện pháp can thiệp
để nhằm nâng cao lợi nhuận đồng thời bảo toàn vốn kinh doanh của doanh nghiệp
a Các nhân tố khách quan: Là những nhân tố bên ngoài tác động đến doanh
nghiệp Đó là các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh mà doanh nghiệp không có
khả năng tác động mà chỉ có thể thích ứng với sự thay đổi từ môi trường đó
* Sự thay đổi về môi trương tự nhiên, địa lý, khí hậu, thiên tai, bão lũ, hoả
hoạn Những điều kiện tự nhiên tác động đến doanh nghệp làm doanh nghiệp
không thể lường trước được, nhiều khi gây thiệt hại cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được
* Sự thay đổi của cơ chế chính sách quản lý kinh tế của nhà nước ở tầm vĩ mô
Chính sách quản lý kinh tế của nhà nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì vậy mà nó tác động tích cực thúc đẩy
sự phát triển của các doanh nghiệp nếu những chính sách đó thông thoáng và tạo
điều kiện cho sự phát triển của doanh nghiệp Nhưng nó sẽ lại tác động tiêu cực đến
sự phát triển của doanh nghiệp nếu nó có những bất cập và gây khó khăn cho hoạt
động của doanh nghiệp
Trang 15* Sự tác động của các quy luật kinh tế cơ bản: Do nền kinh tế của nước ta là
nền kinh tế thị trường nên nó chịu tác động rất nhiều của các quy luật thi trường
như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị…
Quy luật cung cầu tác động đến doanh ở mức độ: Nếu nhu cầu thị trường tăng
cao thì ắt khối lượng hàng hoá, sản phẩm sẽ tăng và qua đó tăng hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp Còn ngược lại nếu nhu cầu thị trường giảm xuống
hay bão hoà thì khối lượng sản phẩ, hàng hoá tiêu thu sẽ giảm và điều này ảnh
hưởng lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp
Cũng như vậy nếu thị trường cung tăng cao Trong khi đó cầu của thị trường là
có hạn nếu cung cứ tăng thì khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ rất gay
gắt và khắc nghiệt Thực tế trong sự cạnh tranh của các doanh nghiệp xây lắp hiện
nay, các công ty xây dựng đang mọc lên rất nhiều, họ cạnh tranh nhau từ khâu tìm
kiếm gói thầu đến cạnh tranh về thời gian bàn giao công trình, về các ưu tiên
khác…Do vậy yếu tố cạnh tranh cũng ảnh hưởng rất nhiều đến lợi nhuận của doanh
nghiệp thông qua các chiêu thức như: Giá thầu rẻ, thời gian bàn giao công trình
ngắn…
: bên cạnh những nhân tố khách quan nói trên, những nhân tố chủ quan cũng
có những ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp
* Nhân tố con người: Có thể nói con người lao động luôn luôn đóng vai trò
trung tâm có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp Trình độ quản lý, trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm của người lao
động quyết định đến sự thành công hay thất bại của mỗi doanh nghiệp Với đội ngũ
cán bộ công nhân viên có trình độ cao doanh nghiệp có thể nâng cao được năng
suất lao động, từ đó nâng cao lợi nhuận và tạo điều kiện tối đa hoá lợi nhuận
Đặc biệt trong nền kinh tế như hiện nay, khi các doanh nghiệp phải cạnh tranh
gay gắt thì con người càng khẳng định được mình là nhân tố quyết định tạo ra lợi
nhuận Bởi một phương án kinh doanh khả thi và trình độ tổ chức thực hiện phương
án một cách linh hoạt, mềm dẻo sẽ giúp doanh nghiệp đạt lợi nhuận tối ưu
Trang 16Tóm lại, con người luôn luôn là yếu tố quan trọng nhất, nhạy cảm nhất, quyết
định đến lợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì vậy bất cứ doanh nghiệp nào cũng
không được coi nhẹ yếu tố này, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường và sự gia
nhập WTO ở nước ta như hiện nay
* Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm nhiều
hay ít là do nhiều nhân tố quyết định nhưng những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới
doanh thu là khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, chất lượng sản phẩm, kết
cấu mặt hàng, giá bán sản phẩm và việc thanh toán tiền hàng
- Khối lượng sản phẩm tiêu thụ: Khối lượng sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp
đến chỉ tiêu doanh thu Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì khi khối
lượng sản phẩm tiêu thụ tăng thì sẽ làm cho doanh thu tăng, và ngược lại nếu khối
lượng tiêu thụ giảm sẽ làm cho doanh thu giảm trong các công ty xây dựng thì
khối lượng sản phẩm tiêu thụ chính là khối lượng công trình hoàn thành và bàn
giao trong kỳ Nếu trong kỳ khối lượng công trình, hạng mục công trình bàn giao
trong kỳ nhiều thì doanh thu thu về sẽ tăng và ngược lại
Việc sản xuất gắn liền với việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm được nâng cao không những ảnh hưởng tới giá bán sản phẩm
mà còn ảnh hưởng tới khối lượng tiêu thụ, do đó có ảnh hưởng trực tiếp tới doanh
thu Sản phẩm có phẩm chất cao hơn sẽ có giá bán cao hơn, vì vậy chất lượng là giá
trị được tạo thêm
Trong thi công xây dựng cơ bản, thi công nhanh nhưng chất lượng kém cũng
không thể bàn giao cho đơn vị giao thầu Hậu quả của chất lượng kém có thể là
phải tốn thêm nhiều chi phí để sửa chữa, gia cố thậm chí là phải phá đi làm lại,
không thể bàn giao được Đối với sản phẩm xây lắp đem ra sử dụng, yêu cầu đảm
bảo chất lượng là một điều bắt buộc Nâng cao chất lượng sản phẩm còn tạo điều
kiện tiêu thụ sản phẩm dễ dàng và nhanh chóng thu được tiền hàng hoặc tiền thanh
toán Ngược lại những loại sản phẩm chất lượng kém không đúng với yêu cầu trong
Trang 17hợp đồng thì đơn vị mua hàng có thể sẽ từ chối việc chấp nhận thanh toán, và sẽ
dẫn đến sản phẩm bị giảm giá và dẫn tới giảm mức doanh thu
Đặc biệt trong thi công xây lắp doanh thu còn phụ thuộc vào việc thống kê đo
đạc khối lượng hoàn thành có chính xác không, có bỏ xót khối lượng nhất là khối
lượng ngầm dưới đất, có thể làm cho các xí nghiệp này mất doanh thu khi thanh
toán theo giai đoạn quy ước Do đó, chuẩn bị tốt việc ký kết hợp đồng kinh tế với
các đơn vị mua, xuất giao hàng nhanh chóng sau khi sản phẩm được sản xuất xong,
kịp thời lập các chứng từ thanh toán, thanh toán bằng nhiều hình thức thích hợp,
xác định và giữ vững kỷ luật thanh toán với đơn vị mua, tính toán chính xác khối
lượng sản xuất và khối lượng xây lắp hoàn thành ….Tất cả những việc đó đều có ý
nghĩa nâng cao doanh thu
Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí:
Chi phí sản xuất kinh doanh cũng là một nhân tố quan trọng quyết định đến lợi
nhuận của doanh nghiệp Nếu với cùng một mức doanh thu nếu doanh nghiệp nào
có chi phí thấp thì lợi nhuận sẽ cao hơn doanh nghiệp có chi phí cao hơn Các nhân
tố ảnh hưởng đến chi phí sẽ được đánh giá tuỳ thuộc vào cách phân loại chi phí của
mỗi doanh nghiệp
PHẦN THỨ HAI TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CP XÂY
DỰNG SỐ 1 SÔNG HỒNG
I Giới thiệu tổng quan về doanh nghiệp
1 Quá trình hoạt động và đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp
Công ty Cổ Phần Xây Dựng Số 1 Sông Hồng là doanh nghiệp nhà nước hạng
một trực thuộc Tổng Công Ty Sông Hồng đã được cổ phần hoá theo quyết định số
2333/QĐ-BXD ngày 19 tháng 12 năm 2005 của bộ trưởng bộ xây dựng
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103011164 cấp ngày 08/3/2006
Công ty bắt đầu đi vào hoạt động từ 1975 và đã trải qua một quá trình hình
thành và phát triển khá lâu dài và bền vững:
Trang 18- Tiền thân là công ty đá, cát, sỏi thuộc bộ xây dựng, thành lập năm 1974
- Năm 1979 được đổi tên là liên hiệp các xí nghiệp đá, cát, sỏi thuộc bộ xây
- Năm 2005 chuyển thành Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Số 1 Sông Hồng, có tên
viết tắt là SONG HONG 1 căn cứ vào quyết định số 2333/QĐ - BXD Ngày 19
tháng 12 năm 2005 Với quá trình xây dựng và phát triển được như ngày hôm nay
là sức lực của bao nhiêu thế hệ lãnh đạo và tập thể cán bộ, công nhân viên đoành
kết gắn bó cùng chung sức để xây dựng phấn đấu trở thành một trong những doanh
nghiệp xây dựng chuyên nghiệp hàng đầu của ngành xây dựng trên địa bàn cả nước
và trong khu vực
Công ty Cổ Phần Xây Dựng Số 1 Sông Hồng là một công ty hàng đầu trong
ngành xây dựng, hoạt động trên phạm vi toàn quốc với phương châm không ngừng
nâng cao chất lượng dịch vụ, đầu tư chiều sâu, điều kiện phát triển tài năng, cuộc
sống của cán bộ công nhân viên, khả năng sinh lời cho các chủ sở hữu và sự hưng
thịnh của đất nước
Địa chỉ: Số 72, phố An Dương - Yên Phụ - Tây Hồ - Hà Nội
Ngành nghề kinh doanh chính:
- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông thuỷ lợi, bưu điện,
thuỷ điện, hạ tầng kỹ thuật, đường dây chạm biến thế điện
- Lắp đặt máy móc, thiết bị; trang trí nội thất, ngoại thất
- Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, nhiên liệu, máy móc, thiết bị phụ
tùng khai thác vật liệu xây dựng
Trang 19- Đầu tư, kinh doanh và phát triển nhà, bất động sản
- Tư vấn kỹ thuật công nghệ cho các dự án phát triển vật liệu xây dựng
- Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, vật liệu xây dựng
- Tư vấn thiết kế quy hoạch đô thị, nội ngoại thất công trình
- Tư vấn giám sát xây dựng và hoàn thiện công trình dân dụng và công nghiệp
Với đội ngũ cán bộ có nhiều kinh nghiệm, công nhân kỹ thuật lành nghề và
máy móc, thiết bị công nghệ phù hợp để thi công các công trình có quy mô lớn
Trong những năm qua, công ty đã không ngừng mở rộng thị trường, tham gia thi
công trên khắp địa bàn cả nước và các ngành như: Bắc Giang, Bắc Kạn, Sơn La,
Thanh Hoá, Đà Nẵng…Trong đó có một số công trình tiêu biểu như: Thuỷ điện
sông Ba Hạ, Thuỷ điện Sơn la, Đường quốc lộ 37 tỉnh Hải Dương, dự án DAP Hải
Phòng….được chủ đầu tư đánh giá rất cao
Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Công ty cổ phần Xây Dựng Số
1 Sông Hồng là đơn vị thi công xây lắp các công trình xây dựng dân dụng, công
nghiệp với một ngành đặc thù như vậy nên hoạt động của công ty mang tính chất
lưu động, sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, đặc điểm thi công phức tạp…
còn các điều kiện cần thiết cho sản phẩm như các loại xe, máy, thiết bị thi công,
công nhân xây lắp, chủ yếu là công ty thuê ngoài theo địa bàn đặt công trình Công
ty có các đối tác kinh doanh ở khắp mọi nơi các tỉnh thành phố, công ty còn kết hợp
làm ăn với các đơn vị trong ngành Quan hệ làm ăn được thực hiện trên cơ sở các
hợp đồng đã ký với đơn vị chủ thầu sau khi trúng thầu hoặc chỉ định thầu
2 Tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
Với những đặc điểm mang tính riêng biệt trong ngành xây dựngvà theo sự phân
cấp quản lý của công ty nên bộ máy quản lý của công ty Cổ Phần Xây Dựng Số 1
Sông Hồng hoạt động theo hình thức quản lý trực tuyến Các bộ phận chức năng
của côngty bao gồm:
1 Phòng tổ chức – hành chính
2 Phòng kế toán tài chính
Trang 203 Phòng kinh tế kế hoạch
4 Phòng kỹ thuật, dự án và đấu thầu
5 Trung tâm tư vấn
Xí nghiệp 1.01
Xí nghiệp 1.02
Xí nghiệp 1.03
Xí nghiệp sản xuất gạch Tuynel Cam Thượng
Xí nghiệp kinh doanh và sản xuất vật liệu xây dựng
Đội thi công xây lắp điện nước
Đội thi công số 1 Đội thi công số 2 Đội thi công số 3 Phụ trách các bộ phận là giám đốc xí nghiệp, đội trưởng, giúp việc là các
PGĐ xí nghiệp, đội phó thi công và các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ Những
người phụ trách các bộ phận chức năng chỉ đóng vai trò tham mưu, giúp việc cho
đơn vị trong việc ra quyết định Trưởng đơn vị là người chịu trách nhiệm trước
công ty về những công việc do đơn vị mình thực hiện
Các bộ phận phòng ban quản lý của công ty phối hợp cùng các đơn vị sản
xuất để thực hiện công việc đạt kết quả tốt
Bộ phận trực tuyến hợp thành một đường thẳng, chỉ đạo trực tuyến từ thủ
trưởng đơn vị đến những người phụ trách các tuyến sản xuất
Sơ đồ bộ máy quản lý công ty Cổ Phần Xây Dựng Số 1 Sông Hồng
Trang 21Nhiệm vụ chức năng của các phòng ban:
Hội đồng quản trị: Là cơ quan trực tiếp chủ sở hữu vốn nhà nước tại tổng công
ty.Bao gồm các cổ đông có vốn góp trong vốn pháp định và nguồn vốn kinh
doanh của công ty Đứng đầu hội đồng quản trị là chủ tịch hội đồng quản trị và
các cổ đông có cổ phần lớn nhất Hội đồng quản trị có quyền nhân danh công ty
Phòng
DA Đấu thầu
Phòng
Kế hoạch
kỹ thuật
Phòng kinh doanh Ban Kiểm Soát
XN Xây Dựng 1.02
XN Xây Dựng 1.03
Các đội xây dựng
Trang 22để quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc xác định và thực hiện mục tiêu,
nhiệm vụ và quền lợi của công ty
Ban giám đốc: Là người đại diện theo pháp luật của công ty Ban giám đốc
điều hành quản lý chung mọi hoạt động của công ty thông qua các phó giám đốc và
các phòng ban chức năng Ban giám đốc là người đại diẹn pháo nhân của công ty
trước pháp luận và đại diện cho quyền lợi của toàn bộ cán bộ công nhân viên toàn
công ty trước hội đồng quản trị Giám đốc công ty có chức năng thực hiện các định
mức tiêu chuẩn, đơn giá đã được thống nhất, thực hiện phương án theo chiều sâu
Đồng thời ban giám đốc cũng chịu trách nhiệm trước cơ quan chủ quản và trước
pháp luật về những quyết định quản lý của mình
Ban kiểm soát: Hội đồng quản trị thành lập ban kiểm soát để giúp hội đồng
quản trị kiểm tra, giám sát tính pháp lý, hợp lý, chính xác và trung thực trong quản
lý điều hành hoạt động kinh doanh của công ty
Các phòng ban chức năng:
Phòng tổ chức hành chính: Có trách nhiệm theo dõi tình hình nhân sự của
công ty và Tổ chức phân công lao động phù hợp với quá trình sản xuất thi công
công trình, quản lý điều động xe và công tác hành chính trong công ty
Phòng tài chính kế toán: Có nhiệm vụ theo dõi tình hình hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty Phân tích đánh giá qua việc ghi chép nhằm đưa ra những
thông tin hữu ích cho ban giám đốc trong việc ra quyết định tài chính, kinh tế
Phòng có chức năng tập hợp các số liệu thong tin của toàn bộ hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty, đồng thời kiểm tra giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế tài
chính của công ty theo pháp luật
Phòng dự án đấu thầu: Có nhiệm vụ chuyên về hồ sơ dự thầu, tìm kiếm và
lập dự án các gói thầu
Phòng kế hoạch kỹ thuật: Có chức năng nghiên cứu, lập kế hoạch tác nghiệp
của công ty về kế hoạch tháng, quý, năm
Trang 23 Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ phụ trách toàn bộ hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp Ngoài công tác kinh doanh và tiếp thị cho hoạt động xây dựng,
phòng kinh doanh còn có nhiệm vụ kinh doanh các mặt hàng khác của công ty như:
buôn bán xi măng; vật liệu xây dựng và các mặt hàng khác thuộc mặt hàng kinh
doanh của công ty
Các xí nghiệp, tổ đội thi công xây dựng: Có nhiệm vụ thi công các công trình
đúng tiến độ thi công và đảm bảo chất lượng công trình Hoàn toàn chủ động xây
dựng và lập biện pháp thi công, tổ chức sản xuất đảm bảo an toàn lao động cho
công nhân và chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty về an toàn chất lượng sản
phẩm của đơn vị
3.Khái quát tình hình tài chính của công ty qua các năm 2005 và 2006
BẢNG 1: BẢNG TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA CÔNG TY
ĐVT: Đồng
chỉ tiêu
năm 2005 năm 2006 Chênh lệch
số tiền TT% số tiền TT% số tiền TL%
Trang 24BẢNG 2: BẢNG TÌNH HÌNH NGUỒN VCSH CỦA CÔNG TY
ĐVT: Đồng
chỉ tiêu năm 2005 năm 2006 chênh lệch
số tiền TT% số tiền TT% Số tiền TL%
Nợ PT 38.773.823.262 87,06% 39.112.773.409 86,51% 338.950.147 0,87%
1 Nợ NH 30.319.558.826 68,08% 31.835.559.380 70,41% 1.516.000.554 5,00%
2 Nợ DH 8.454.264.436 18,98% 7.277.214.029 16,10%
1.177.050.407
13,92%Vốn CSH 5.764.077.117 12,94% 6.058.945.848 13,40% 294.868.731 5,12%Tổng NV 44.537.900.379 100% 45.211.719.257 100% 673.818.878 1,51%
-II Tình hình xác định và thực hiện lợi nhuận của công công ty cổ phần xây
dựng số 1 Sông Hồng
1 Phương pháp xác đinh lợi nhuận của công ty
Tại công ty cổ phần xây dựng số 1 Sông Hồng lợi nhuận cũng được hình thành
từ nhiều nguồn khác nhau Tuy nhiên chủ yếu là được hình thành từ hai nguồn
chính đó là: Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi nhuận từ hoạt động
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Bao gồm hai bộ phận là lợi
nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính và lợi nhuận từ hoạt động tài chính:
Công thức xác định:
Lợi nhuận từ hoạt động
sản xuất kinh doanh =
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, xây lắp +
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính Trong đó:
1.1.1 Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh xây lắp:
Trang 25Theo phân công lao động, chức năng chủ yếu của doanh nghiệp xây dựng là
xây dựng cơ bản, xây dựng những công trình dân dụng, là khâu đầu cảu tái sản xuất
mở rộng, đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra tài sản cố định của nền kinh tế
Công trình xây dựng thường là những công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết
cấu phức tạp mang tính chất đơn chiếc, thời gian xây dựng dài, và cũng mang lại
lợi nhuận lớn
Tại Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Số một Sông Hồng lợi nhuận từ hoạt động
sản xuất kinh doanh chính chủ yếu được tạo ra từ các hoạt động:
- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông thuỷ lợi, bưu điện,
thuỷ điện, hạ tầng kỹ thuật, đường dây chạm biến thế điện
- Lắp đặt máy móc, thiết bị; trang trí nội thất, ngoại thất
- Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, nhiên liệu, máy móc, thiết bị phụ
tùng khai thác vật liệu xây dựng
- Đầu tư, kinh doanh và phát triển nhà, bất động sản
- Tư vấn kỹ thuật công nghệ cho các dự án phát triển vật liệu xây dựng
- Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, vật liệu xây dựng
- Tư vấn thiết kế quy hoạch đô thị, nội ngoại thất công trình
- Tư vấn giám sát xây dựng và hoàn thiện công trình dân dụng và công nghiệp
Công thức xác định lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính:
Lợi nhuận từ hoạt
-
Thuế phải nộp
ở khâu tiêu thụ Trong đó:
- Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính là doanh thu về khối
lượng công trình, hạng mục công trình được bàn giao trong kỳ Doanh thu
thuần được tính như sau:
Doanh thu thuần từ hoạt
động kinh doanh, xây lắp =
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh, xây lắp -
Các khoản giảm trừ doanh thu
Trang 26Do đặc điểm của ngành xây dựng là được thực hiện trên cơ sở các hợp đồng
đã ký với đơn vị chủ đầu tư sau khi chúng thầu hoặc được chỉ định thầu Trong hợp
đồng xây dựng hai bên đã thống nhất với nhau về giá trị thanh toán của công trình
cùng với các điều kiện khác Hơn nữa, nghiệp vụ bàn giao công trình, hạng mục
công trình hoặc khối lượng xây lắp hoàn thành đạt điểm dừng kỹ thuật cho bên giao
thầu chính là quá trình tiêu thụ sản phẩm và do vậy, lúc này doanh thu của công
trình xây dựng mới được ghi nhận
Như vậy doanh thu của công ty xây dựng được ghi nhận khi việc tiêu thụ sản
phẩm xây lắp được thực hiện, tức là khi bàn giao công trình, hạng mục công trình
đã hoàn thành cho đơn vị giao thầu và thu tiền về hoặc được chấp nhận thanh toán
Do đặc điểm của ngành xây dựng là những công trình, vật kiến trúc có quy
mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính chất đơn chiếc, thời gian xây dựng dài và chi
phí để thực hiện xây lắp rất lớn cho nên doanh thu của hoạt động xây lắp cũng rất
lớn
Các khoản giảm trừ doanh thu: là các khoản như chiết khấu thương mại,
giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại
Triết khấu thương mại: Là các khoản phát sinh do doanh nghiệp đã giảm trừ
hoặc thanh toán cho người mua hàng đã mua hàng, sản phẩm với khối lượng lớn và
theo thoả thuận bên bán sẽ dành cho bên mua một khoản triết khấu thương mại
Đối với các doanh nghiệp xây lắp không phát sinh khoản triết khấu thương mại
Nhưng tại công ty Cổ Phần Xây Dựng Số Một Sông Hồng do ở phòng kinh doanh
của công ty có phát sinh hoạt động kinh doanh hàng hoá nên vẫn phát sinh khoản
chiết khấu thương mại cho khách hàng khi khách hàng đặt mua với số lượng lớn
khối lượng vật liệu xây dựng
Giảm giá hàng bán: Là các khoản phát sinh do giảm giá ban thực tế, và giảm
giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do sản phẩm, hàng hoá kém chất
Trang 27lượng, mất phẩm chất hay không đúng quy cách theo quy định trong hợp đồng kinh
tế Tại công ty trong năm 2005 và 2006 không phát sinh khoản giảm giá hàng bán
Trị giá hàng bị trả lại: Là các khoản phát sinh khi giá trụ của số sản phẩm,
hàng hoá bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân như: Vi phạm hợp đồng kinh tế,
hàng bị kém, mất phẩm chất, không đúng chủng loại, quy cách Giá trị hàng bán bị
trả lại sẽ làm giảm doanh thu bán hàng thực hiện trong kỳ Tại công ty trong năm
2005 và 2006 không phát sinh khoản này
Số liệu cụ thể tại công ty Cổ Phần Xây Dựng Số 1 Sông Hồng như sau:
Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh: 92.487.516.354
Các khoản giảm trừ: Có chiết khấu thương mại: 246.857.450
Doanh thu thần từ hoạt động sản xuất kinh doanh: 92.240.658.904
Chi phí hợp lý, hợp lệ: Là toàn bộ chi phí kinh doanh phân bổ cho công trình, hạng
mục công trình trong kỳ Và các khoản chi phí được coi là hợp lý và hợp lệ là các
khoản chi phí phù hợp với tiêu chuẩn định mức của công trình và hạng mục công
trình, đồng thời nằm trong phạm vi chi phí kinh doanh mà nhà nước đã quy định
Do doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nên khoản
chi phí này không bao gồm thuế GTGT Chi phí này bao gồm:
Giá thành Thực tế công trình: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế để
hoàn thành khối lượng xây lắp trong kỳ Chỉ tiêu này được tính trên cơ sở số liệu kế
toán về chi phí sản xuất đã tập hợp được cho khối lượng xây lắp thực hiện được
trong kỳ
Giá thành thực tế của công ty trong
Năm 2005 là: 74.236.957.297
Trang 28Năm 2006 là: 86.245.016.075
Chi phí bán hàng: là toàn bộ chi phí thực tế phát sinh cho việc bán hàng phát sinh ở
xí nghiệp sản xuất và các chi phí phát sin ở phòng kinh doanh trong việc tiêu thụ
hàng hoá
Chi phí bán hàng phát sinh ở công ty
Năm 2005 là: 546.825.462
Năm 2006 là: 376.800.972
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là toàn bộ các chi phí quản lý chung toàn doanh
nghiệp được phân bổ vào chi phí trong kỳ Chi phí này không gắn với cấu thành
thực thể công trình nhưng rất cần thiết để phục vụ cho công tác xây lắp và tổ chức
quản lý công trường Chi phí này bao gồm nhiều khoản như:
- Chi phí lương và các khoản trích theo lương của bộ phận quản lý doanh
nghiệp
- Chi phí khấu hao tài sản chung toàn doanh nghiệp
- Chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ cho bộ phận quản lý doanh nghiệp
- Chi phí mua ngoài
- Chi phí bằng tiền khác
Chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh tại công ty:
Năm 2005 là: 4.026.435.486
Năm 2006 là: 3.429.596.742
Thuế phải nộp ở khâu tiêu thụ: Là những khoản thuế gián thu như thuế xuất
khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp Tại công ty
Cổ Phần Xây Dựng Số 1 Sông Hồng trong năm 2005 và 2006 không phát sinh
các khoản chi phí này
Như vậy Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính của công ty trong:
Năm 2005 là:
79.824.685.266 - 74.236.957.297 - 546.825.463 - 3.429.596.742 =
1.736.787.115