Đồng Hỷ là huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh TháiNguyên, những năm gần đây cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, kinh tế của huyện ngày càng phát triển ké
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Yêu cầu 2
4 Ý nghĩa của đề tài 2
4.1 Ý nghĩa Khoa học 2
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số vấn đề chung về môi trường 3
1.1.1 Khái niệm môi trường 3
1.1.2 Các chức năng cơ bản của môi trường 4
1.2 Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước về môi trường 7
1.2.1 Khái niệm về quản lý môi trường 7
1.2.2 Nội dung của QLNN về môi trường [12] 7
1.2.3 Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường 8
1.2.4 Các nguyên tắc của quản lý môi trường 9
1.3 Các cơ sở của quản lý nhà nước về môi trường 11
1.3.1 Cơ sở khoa học 11
1.3.2 Cơ sở kinh tế 12
1.3.3 Cơ sở pháp luật 13
1.4 Công tác quản lý nhà nước về môi trường trên thế giới và Việt Nam 16
Trang 21.4.1 Các hoạt động quốc tế về môi trường 16
1.4.2 Kinh nghiệm quản lý môi trường của nước ngoài 18
1.4.2.1 Kinh nghiệm về quản lý ô nhiễm hồ Laguna ở Philipin 18
1.4.2.2 Môi trường đô thị của Singapore 24
1.4.2.3 Các chính sách của Nhật Bản 27
1.4.3 Công tác quản lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam 28
1.4.4 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 32
1.4.5 Công tác quản lý nhà nước về môi trường tại tỉnh Thái Nguyên 36
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Đối tượng nghiên cứu 41
2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 41
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 41
2.2.2 Thới gian tiến hành 41
2.3 Nội dung nghiên cứu 41
2.3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội và
môi trường của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 41
2.3.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về
môi trường tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 41
2.3.3 Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Uỷ ban nhân dân cấp xã 42
2.3.4 Đánh giá việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường
đối với các cơ sở sản xuất trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 42
2.3.5 Những thuận lợi, khó khăn và giải pháp để tăng cường
công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của huyện Đồng Hỷ 42
2.4 Phương pháp nghiên cứu 42
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 42
2.4.3 Phương pháp phân tích tổng hợp 43
2.4.4 Phương pháp so sánh 43
2.4.5 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 43
Trang 32.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường
của huyện Đồng Hỷ 44
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 44
3.1.1.1 Vị trí địa lý 44
3.1.1.2 Địa hình 44
3.1.1.3.Điều kiện khí hậu, thuỷ văn 44
3.1.1.4 Thực trạng các nguồn tài nguyên: 45
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 51
3.1.2.1 Điều kiện kinh tế 51
3.1.2.2 Điều kiện xã hội 53
3.1.3 Hiện trạng chất lượng môi trường trên địa bàn huyện 55
3.1.3.1 Chất thải sinh hoạt và sản xuất: 55
3.1.3.2 Chất lượng môi trường không khí 57
3.1.3.3 Chất lượng môi trường nước 59
3.1.3.4 Chất lượng môi trường đất 60
3.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước
về môi trường tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 62
3.2.1 Tổ chức nhân sự của phòng Tài nguyên và môi trường huyện Đồng Hỷ 62
3.2.2 Đánh giá việc ban hành theo thẩm quyền, quy định, cơ chế,
chính sách, chương trình kế hoạch bảo vệ môi trường 64
3.2.3 Việc tiếp nhận và triển khai thực hiện các văn bản quy phạm
pháp luật của các cấp, về thực hiện chính sách pháp luật về môi trường 64
3.2.4 Tổ chức đăng ký và kiểm tra thực hiện cam kết bảo vệ môi trường 66
3.2.5 Công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại và xử lý
vi phạm pháp luật, chính sách về môi trường 68
3.2.5.1 Công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường 68
Trang 43.2.5.2 Công tác giải quyết khiếu nại và xử lý vi phạm về môi trường 69
3.2.6 Công tác phối hợp với các ngành liên quan để giải quyết
các vấn đề môi trường 70
3.2.7 Tuyên truyền giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường 71
3.2.8 Thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
theo uỷ quyền của cấp tỉnh 72
3.2.9 Chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về BVMT của UBND các xã 73
3.3 Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Uỷ ban nhân dân cấp xã 74
3.4 Đánh giá việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường
đối với các cơ sở sản xuất trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 75
3.5 Những thuận lợi, khó khăn và các giải pháp để tăng cường
công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của huyện Đồng Hỷ 77
3.5.1 Những thuận lợi, khó khăn 77
3.5.2 Các giải pháp để tăng cường công tác quản lý nhà nước
về bảo vệ môi trường của huyện Đồng Hỷ 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Kiến nghị 82
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu viết tắt Diễn giải đầy đủ nội dung
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Đồng Hỷ năm 2012 46
Bảng 3.2: Các loại đất theo tính chất của đất tại huyện Đồng Hỷ năm2012 47
Bảng 3.3: Sự phân bổ các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn huyện 52
Bảng 3.4: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Đồng Hỷ 53
Bảng 3.5: Tình hình dân số và lao động của huyện Đồng Hỷ 2012 54
Bảng 3.6: Cơ cấu lao động của huyện Đồng Hỷ năm 2012 55
Bảng 3.7: Tình hình thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn 56
Bảng 3.8: Kết quả phân tích mẫu khí tại khu vực nghiền xi của nhà máy xi măng Quang Sơn 58
Bảng 3.9: Kết quả giám sát môi trường tại trang trại Bình Nguyên 60
Bảng 3.10: Kết quả phân tích dư lượng HCBVTV trong đất 61
Bảng 3.11: Cơ cấu nhân sự của phòng Tài nguyên và môi trường huyện Đồng Hỷ 62 Bảng 3.12: Tổng hợp kết quả đăng ký CKBVMT từ 2010-2012: 66
Bảng 3.13: Kết quả đăng ký và thực hiện cam kết BVMT theo lĩnh vực hoạt động từ năm 2010- 2012 67
Bảng 3.14: Tình hình thanh tra, kiểm tra về công tác BVMT năm 2010 - 2012 .68
Bảng 3.15: Kết quả giải quyết khiếu nại về môi trường năm 2010 - 2012 69
Bảng 3.16: Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về BVMT từ 2010 - 2012 71 Bảng 3.17: Tình hình thu phí BVMT của huyện Đồng Hỷ 72
Bảng 3.18: Tình hình sử dụng ngân sách sự nghiệp môi trường của huyện 72
Bảng 3.19: Một số nội dung chỉ đạo về quản lý môi trường đối với UBND các xã 73
Bảng 3.20: Thực trạng quản lý bảo vệ môi trường tại các xã trên địa bàn huyện 75
Bảng 3.22 Kết quả thực hiện BVMT của cơ sở trên địa bàn huyện 76
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức công tác quản lý môi trường của Việt Nam 32Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên 41Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức của phòng Tài nguyên & Môi trường Đồng Hỷ 65
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường và biến đổi khíhậu (BĐKH) đã trở thành chủ đề quan trọng, thu hút sự quan tâm của hầu hếtcác quốc gia, đặc biệt là những nước đã và đang chịu tác động nặng nề của ônhiễm môi trường và BĐKH Đây cũng là những chủ đề của các hội nghịquốc tế lớn với sự tham dự của nhiều nguyên thủ quốc gia
Có thể nói rằng, chưa bao giờ Đảng, Nhà nước và toàn dân quan tâmđến môi trường, ô nhiễm môi trường và BĐKH như hiện nay Ô nhiễm môitrường tại các làng nghề, các khu công nghiệp, các cơ sở y tế, dịch vụ lànguồn gốc gây ô nhiễm các lưu vực sông chính như sông Cầu, sông Nhụê -sông Đáy, sông Đồng Nai - sông Sài Gòn Ô nhiễm nước, ô nhiễm đất và ônhiễm không khí đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống tinh thần và sứckhoẻ của con người Trong khi đó, nhận thức và nhu cầu có một môi trườngtrong sạch của mỗi người dân ngày càng cao Môi trường đã tác động, đã gắn
bó với cuộc sống thường ngày của người dân như cơm ăn, áo mặc, như giáodục và y tế Những điều này yêu cầu chúng ta phải quan tâm niều hơn, tíchcực hơn và hiệu quả hơn đối với các vấn đề môi trường
Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thức đúng về môi trường, BVMT vàBĐKH Thấu suốt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI,cũng như nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, ngành TN&MT đã triểnkhai đồng bộ và tích cực hệ thống các giải pháp để BVMT, chủ động ứng phóvới BĐKH, bảo đảm phát triển bền vững trên qui mô toàn quốc
Đồng Hỷ là huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh TháiNguyên, những năm gần đây cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, kinh tế của huyện ngày càng phát triển kéo theo đó là các vấn
đề môi trường, vì thế công tác quản lý nhà nước về môi trường ngày càngđược quan tâm
Trang 9Để hiểu rõ hơn thực trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường tạihuyện Đồng Hỷ và góp phần hướng tới phát triển bền vững, được sự đồng ýcủa trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa sau đại học và sự hướngdẫn của Thầy giáo PGS.TS Lương Văn Hinh tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng việc quản lý nhà nước về môi trường của huyện
- Thu thập đầy đủ các tài liệu, số liệu cần thiết cho việc đánh giá
- Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực
- Cần nắm vững các quy định trong Luật bảo vệ môi trường năm 2005
và các văn bản dưới luật có liên quan đến công tác quản lý môi trường
4 Ý nghĩa của đề tài
4.1 Ý nghĩa Khoa học
Phân tích, làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về môitrường đối với cấp huyện, được quy định trong Luật bảo vệ môi trường 2005 Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn, nâng cao kỹ năng tổnghợp và phân tích số liệu
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát vềcông tác quản lý môi trường tại huyện Đồng Hỷ Từ đó đề ra giải pháp nhằm
Trang 10tăng cường công tác quản lý môi trường của tỉnh Thái Nguyên nói chung vàhuyện Đồng Hỷ nói riêng.
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số vấn đề chung về môi trường
1.1.1 Khái niệm môi trường
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo baoquanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triểncủa con người và sinh vật
Theo cách phân chia tương đối theo nguồn gốc thì môi trường đượcquan niệm thành 3 dạng là môi trường tự nhiên, xã hội và nhân tạo:
- Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố vật lý, hoá học, còn đượcgọi là môi trường vật lý, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người
+ Môi trường vật lý (Physical environment): để chỉ các yếu tố nhiệt độ,bức xạ, áp suất khí quyển, màu, mùi, vị
+ Môi trường hoá học (Chemical environment) : chỉ những nguyên tố
và các hợp chất hoá học Đây là dạng môi trường “vô sinh” (abiotic)
+ Môi trường sinh học (Biological environment): gồm động vật, thựcvật, vi sinh vật Đây là dạng “biotic”
Khái niệm “môi trường sinh thái” được sử dụng nhiều vì suy cho cùngmọi vấn đề môi trường đều do nguyên nhân suy giảm sinh thái
- Môi trường xã hội: phản ánh mối quan hệ giữa con người và conngười tạo nên sự thuận lợi hay cản trở cho sự phát triển xã hội
- Môi trường nhân tạo: môi trường của tất cả các yếu tố vât lý - hoá học
- sinh học và xã hội, chịu sự chi phối của con người và sự biến đổi do hoạtđộng của con người Ví dụ: những toà nhà - những khối bê tông khổng lồ đặcbiệt ở các “trade center” ở các nước phát triển
Ngoài cách phân loại dựa trên nguồn gốc ở trên, môi trường còn có thểđược hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
Trang 12Môi trường theo nghĩa rộng là tổng quan các nhân tố như không khí,nước, đất, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan, xã hội vv Có ảnh hưởng tới chấtlượng cuộc sống con người và các tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho sinhsống và sản xuất của con người Môi trường theo nghĩa hẹp là các nhân tốnhư: Không khí, đất, nước, ánh sáng vv liên quan đến chất lượng cuộc sốngcon người, không xét tới tài nguyên.
Theo nghĩa hẹp: môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội, ảnhhưởng tới chất lượng sống của con người mà không xem xét đến vấn đề tàinguyên Theo nghĩa này thì môi trường chỉ “chất liệu môi trường” Tuy nhiên,
sự phân chia các khái niệm này chỉ là tương đối, phục vụ cho các mục tiêunghiên cứu chuyên ngành Các hợp phần và yếu tố của môi trường luôn cómối liên hệ và quy ước với nhau
1.1.2 Các chức năng cơ bản của môi trường
1 Môi trường tạo ra không gian sinh sống:
- Mỗi một con người đều có yêu cầu về lượng không gian cần thiết chohoạt động sống như: diện tích đất ở, hàm lượng không khí Trung bình mộtngày, một người cần khoảng 4m3 không khí sạch, 2,5l nước uống, một lượnglương thực, thực phẩm đáp ứng hàm lượng calo từ 2.000 – 2.500 calo Cộngđồng loài người tồn tại trên Trái đất không chỉ đòi hỏi ở môi trường về phạm
vi không gian sống mà cả về chất lượng của không gian sống đó Chất lượngkhông gian sống phải đảm bảo được các yêu cầu bền vững về sinh thái - kinh
tế - môi trường, thể hiện ở môi trường sạch sẽ, tinh khiết, giàu O2, không chứacác chất cặn bẩn, độc hại đối với sức khoẻ của con người
- Môi trường chính là khoảng không gian sinh sống của con người Hệ
số sử dụng đất của con người ngày một giảm: nếu trước đây, trung bình diệntích đất ở của một người vào năm 1650 là khoảng 27,5 ha/người thì đến naychỉ còn khoảng 1,5-1,8 ha/người Diện tích không gian sống bình quân trêntrái đất ngày càng bị thu giảm, mức độ giảm ngày càng tăng nhanh [9]
Trang 132 Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và các hoạt động sản xuất của con người:
Môi trường không những chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng
“đầu ra” cho các quá trình sản xuất và đời sống Hoạt động sản xuất là mộtquá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máy móc,đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người để tạo ra sảnphẩm hàng hóa Có những nguồn tài nguyên có thể sử dụng trực tiếp (thuỷ,hải sản ), có dạng phải tác động thì mới sản xuất được của cải vật chất phục
vụ đời sống con người (đất đai ) Các hoạt động sống cũng vậy, con người tacũng cần có không khí để thở, cần có nhà để ở, cần có phương tiện để đi lại,cần có chỗ vui chơi giải trí, học tập nâng cao hiểu biết Những dạng vật chấttrên chính là các yếu tố môi trường
Như vậy chính các yếu tố môi trường (yếu tố vật chất kể trên - kể cả sức laođộng là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của conngười Hay nói cách khác: môi trường là “đầu vào” của sản xuất và đời sống.Tuy nhiên, cũng phải nói rằng môi trường tự nhiên cũng có thể là nơi gây ranhiều thảm họa cho con người (thiên tai), và các thảm họa này sẽ tăng lên nếucon người gia tăng các hoạt động mang tính tàn phá môi trường, gây mất cânbằng tự nhiên
3 Môi trường là nơi chứa đựng và hoá giải các chất thải do con người tạo ra trong quá trình sinh hoạt và sản xuất:
Bên cạnh vai trò “đầu vào”, môi trường tự nhiên cũng lại là nơi chứađựng, đồng hóa “đầu ra” các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất vàđời sống Quá trình sản xuất thải ra môi trường rất nhiều chất thải(cả khí thải,nước thải, chất thải rắn) Trong các chất thải này có thể có rất nhiều loại độchại làm ô nhiễm, suy thoái, hoặc gây ra các sự cố về môi trường Quá trìnhsinh hoạt, tiêu dùng của xã hội loài người cũng thải ra môi trường rất nhiềuchất thải Những chất thải này nếu không được xử lý tốt cũng sẽ gây ô nhiễm
Trang 14môi trường nghiêm trọng Vấn đề ở đây là phải làm thế nào để hạn chế đượcnhiều nhất các chất thải, đặc biệt là chất thải gây ô nhiễm, tác động tiêu cựcđối với môi trường Hiện nay, vấn đề chất thải đô thị và công nghiệp là cực kỳquan trọng Có quan điểm cho rằng “chất thải là một dạng tài nguyên” do đã
có công nghệ chế biến chất thải thành phân bón Đó là một dạng “công nghệthân thiện với môi trường” Tuy nhiên, mặc dù điều kiện phát triển đến đâuthì các nhu cầu tự nhiên của con người như ăn, uống, thở cũng đều yêu cầumôi trường trong sạch
4 Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên đến con người và các vi sinh vật trên trái đất, ví dụ như:
- Tầng khí quyển: Khí quyển giữ cho nhiệt độ Trái đất tránh được cácbức xạ quá cao, chênh lệch nhiệt độ lớn, ổn định nhiệt độ trong khả năng chịuđựng của con người
- Thủy quyển thực hiện chu trình tuần hoàn nước, giữ cân bằng nhiệt
độ, các chất khí, giảm nhẹ tác động có hại của thiên nhiên đến con người vàcác sinh vật
- Thạch quyển liên tục cung cấp năng lượng, vật chất cho các quyển kháccủa Trái đất, giảm tác động tiêu cực của thiên tai tới con người và sinh vật
5 Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin
Môi trường cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiếnhoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của oàingười Bên cạnh đó, môi trường sống cung cấp các chỉ thị không gian và tạmthời mang tính chất báo động sớm các nguy hiểm đối với con người và sinhvật sống trên trái đất như các phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy
ra các tai biến thiên nhiên và hiện tượng thiên nhiên đặc biệt như bão, độngđất, v.v Môi trường còn lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng cácnguồn gien, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các
vẻ đẹp và cảnh quan có giá trị thẩm mỹ, tôn giáo và văn hoá khác
Trang 15Ô nhiễm môi trường (Environmental Pollution): Theo Luật Bảo vệ môitrường năm 2005 được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namkhoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, “Ô nhiễm môitrường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêuchuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật” Trên thế giới,
ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượngvào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sựphát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ônhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chấtthải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượngnhư nhiệt độ, bức xạ.Tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học,sinh học gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, các cơ thể sống khác Ônhiễm môi trường là do con người và cách quản lý của con người [9]
1.2 Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước về môi trường
1.2.1 Khái niệm về quản lý môi trường
Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, cótác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệthống và kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liênquan tới con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới sự pháttriển bền vững và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên [12]
Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, cótác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệthống và kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề về môi trường cóliên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới sựphát triển bền vững và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên
1.2.2 Nội dung của QLNN về môi trường [12]
- Ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường;
Trang 16- Ban hành hệ thống tiêu chuẩn và bộ chỉ thị về môi trường; thẩm định,phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM);
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch quốc gia về bảo
vệ môi trường;
- Xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường; đánh giá hiệntrạng, dự báo diễn biến môi trường và quản lý thống nhất thông tin, dữ liệu vềmôi trường;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách thuế, phí về bảo
vệ môi trường;
- Bảo đảm ngân sách đầu tư cho công tác quản lý nhà nước về bảo vệmôi trường,các kết cấu hạ tầng quan trọng về môi trường và các dịch vụ bảo
vệ môi trường mà khu vực ngoài nhà nước không thể đầu tư;
- Tổ chức nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và kinhnghiệm quản lý trong bảo vệ môi trường;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về môi trường và đào tạo nguồnnhân lực cho hoạt động bảo vệ môi trường;
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý viphạm pháp luật về môi trường;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp, bồi thường thiệt hại về môi trường
1.2.3 Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường
Mục tiêu chủ yếu của QLMT là phát triển bền vững, đảm bảo sự cânbằng giữa phát triển KT-XH và bảo vệ môi trường.Phát triển KT-XH tạo tiềmlực BVMT Và ngược lại bảo vệ môi trường tạo các tiềm năng tự nhiên và xãhội mới cho phát triển KT-XH.Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xãhội, hệ thống chính trị, pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng quốc gia
mà mục tiêu QLMT có thể khác nhau Theo Chỉ thị 36/CT-TW ngày
Trang 1725/6/1998 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng, một số mụctiêu cụ thể của công tác QLMT Việt Nam hiện nay là:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinhtrong các hoạt động sống của con người
- Hoàn chỉnh hệ thống văn bản luật pháp bảo vệ môi trường, ban hànhcác chính sách phát triển KT-XH phải gắn với bảo vệ môi trường, nghiêmchỉnh thi hành Luật Bảo vệ môi trường
- Phát triển đất nước theo nguyên tắc phát triển bền vững được Hộinghị Thượng đỉnh về Môi trường và phát triển bền vững tại Rio de Janneiro(Braxin) tháng 6/1992 thông qua
1.2.4 Các nguyên tắc của quản lý môi trường
Để xây dựng xã hội phát triển bền vững, các nhà môi trường đế ra 9nguyên tắc bảo vệ môi trường Những nguyên tắc này bao gồm [8]:
- Tôn trọng và quan tâm đến đời sống cộng đồng
- Cải thiện và năng cao chất lượng cuộc sống con người
- Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất
- Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm tài nguyên không tái tạo
- Giữ vững trong khả năng chịu đựng của trái đất
- Thay đổi thái độ, hành vi và xây dựng đạo đức vì sự phát triển bền vững
- Tạo điều kiện để cộng đồng tự QLMT của mình
- Tạo cơ cấu quốc gia thống nhất thuận lợi cho việc phát triển bền vững
- Xây dựng khối liên minh toàn thế giới về bảo vệ và phát triển bềnvững Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụng trong thực tế củamột thế giới vốn nhiều biến động về kinh tế, chính trị, văn hóa Sau RIO-92,
đã có thêm rất nhiều cố gắng mới trong nghiên cứu các nguyên tắc phát triểnbền vững, nhằm mục tiêu bổ sung hoàn thiện, hoặc chi tiết hóa làm rõ nghĩahơn, hoặc giản lược hóa, làm cho nó dễ hiểu và dễ áp dụng hơn Một trongnhững cố gắng theo hướng giản lược các nguyên tắc của phát triển bền vững
Trang 18đã được thực hiện bới Luc Hens, một giáo sư ngành sinh thái nhân văn họcngười Bỉ Đó là các nguyên tắc:
- Sự ủy thác của nhân dân;
- Phòng ngừa;
- Bình đẳng giữa các thế hệ;
- Bình đẳng trong nội bộ một thế hệ;
- Phân quyền và ủy quyền;
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền;
- Người sử dụng phải trả tiền
Luc Hens đã lựa chọn trong số các nguyên tắc của Tuyên bố Rio-92 vềMôi trường và phát triển để xây dựng một hệ thống các nguyên tắc mớicủaphát triển bền vững Mặt khác, trong các nguyên tắc này của Luc Hens, ôngquan tâm nhiều tới khía cạnh thể chế Các nước trên thế giới cũng đã bướcđầu thể chế hóa các nguyên tắc này, trong đó có cả ở Việt Nam Nghị quyết
số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ươngĐảng khóa IX nêu lên 3 mục tiêu chủ yếu về bảo vệ môi trường của nước tatrong thời gian tới là:
- Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môitrường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra Sử dụngbền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học
- Khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễmnghiêm trọng, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái, từng bước nâng cao chấtlượng môi trường
- Xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hòagiữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môitrường; mọi người đều có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiện với môi trường
Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường bao gồm:
Trang 19- Hướng công tác quản lý môi trường tới mục tiêu phát triển bền vữngkinh tế xã hội đất nước, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường
- Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồngdân cư trong việc quản lý môi trường
- Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công
1.3 Các cơ sở của quản lý nhà nước về môi trường
Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạtđộng sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh,ngăn ngừa Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trườngnhư kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều nước phát triển trênthế giới
Trang 20Tóm lại, quản lý môi trường cầu nối giữa khoa học môi trường với hệthống tự nhiên - con người - xã hội đã được phát triển trên nền phát triển củacác bộ môn chuyên ngành [5].
1.3.2 Cơ sở kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cảivật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hóa theo giá trị Loại hànghóa có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh Trong khi đóloại hàng hóa kém chât lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng Hàng hóa côngcộng là hàng hóa được dùng cho nhiều người, khi chúng cung cấp cho một sốngười thì những người khác cũng có thể sử dụng được Môi trường là loạihàng hóa công cộng, có hai thuộc tính là không cạnh tranh và không loại trừ
Vì vậy, chúng ta có thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá
và định hướng hoạt động sản xuất để có lợi cho công tác bảo vệ môi trường
Tuy nhiên, đôi khi giá cả thị trường không phản ánh hoạt động của nhữngsản xuất hay những người tiêu dùng, do tồn tại những hàng hóa công cộng.Ngoại ứng là những tác động đến lợi ích và chi phí nằm ngoài thị trường Ngoạiứng có thể tích cực khi tạo ra lợi ích cho các bên khác, hoặc có thể là tiêu cực khi
áp đặt chi phí cho các bên Hàng hóa công cộng là hàng hóa được dung chonhiều người, khi chúng cung cấp cho một số người thì những người khác có thể
sử dụng chúng được
Môi trường là loại hàng hóa công cộng, có hai đặc tính không cạnhtranh và không loại trừ Vì vậy chúng ta có thể dùng các phương pháp và cáccông cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động phát triển sản xuất cólợi cho công tác bảo vẹ môi trường
Các công cụ kinh tế rất đa dạng bao gồm các loại thuế, phí và lệ phí,cota ô nhiễm, quy chế đóng góp có bồi hoàn, trợ cấp kinh tế, nhãn sinh thái,
hệ thống các tiêu chuẩn ISO [10]
Trang 211.3.3 Cơ sở pháp luật
Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường là các văn bản về luật quốc tế
và luật quốc gia về lĩnh vực môi trường
Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc,quy phạm quốc
tế điều chỉnh mối quan hệ giưã các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tếtrong việc ngăn chặn loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốcgia và môi trường ngoài phạm vi tàn phá quốc gia[13]
Các văn bản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cáchchính thức từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu
Mỹ, châu Phi Từ hội nghị quốc tế về “Môi trường con người “ tổ chức năm
1972 tại Thụy Điển và sau hội nghị thượng đỉnh Rio 92 có rất nhiều văn bản
về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết Cho đến nay đã có hàng nghìn cácvăn bản về luật quốc tế về môi trường [14]
Trong đó có nhiều các văn bản đã được Việt Nam tham gia ký kết, gồm:+ Công ước về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt
là các loài chim cư trú các loài chim nước (RAMSA) “20/9/1988”
+ Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hóa và tự nhiên(19/10/1982)
+ Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật cónguy cơ bị đe dọa (20/1/1994)
+ Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển (MARPOL)
“29/8/1991”
+ Công ước liên hiệp quốc về sự biến đổi môi trường
+ Công ước về bảo vệ tầng ozon (13/5/1995)
+ Công ước về sự thông báo sớm về sự cố hạt nhân IAEA (29/9/87).+ Công ước khung của liên hiệp quốc về sự biến đổi khí hập, 1992(16/11/1994)
+ Công ước về đa dạng sinh học, 1992 (16/1/1994)
Trang 22Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề cập trong nhiều bộluật Gần đây, nhà nước đã ban hành hàng loạt văn bản mới có liên quan đếnvấn đề môi trường và bảo vệ môi trường như:
+ Luật bảo vệ môi trường 29/11/2005
+ Thông tư 103 ngày 30/11/2005 của bộ tài chính hướng dẫn thực hiệnnghị định số 107/2005/NĐ – CP ngày 09/11/2005 của chính phủ về phíBVMT đối với khai thác khoáng sản
+ Quyết định của thủ tướng chính phủ số 328/2005 QĐ – TTg ngày12/12/2005 về việc phê duyệt kê hoạch quốc gia kiểm soát môi trường đến năm 2010
+ Nghị quyết liên tịch 01/2005/NQTL – HPN – BTNMT về việc phốihợp hành động BVMT phục vụ phát triển bền vững
kết bảo vệ môi trường (Thay thế nghị định 21/2009/NĐ-CP)
+ Thông tư số 26/2011/TT – BTNMT ngày 18/7/2011 của Bộ tài nguyên
và môi trường, quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ – CPngày 18/4/2011 của chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh
giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường (Thay thế thông tư 05/2008/TT-BTNMT).
+ Thông tư số 12/2011/TT – BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ tàinguyên và môi trường, quy định về quản lý chất thải nguy hại
+ Thông tư số 46/2011/TT – BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ Tàinguyên và Môi trường, quy định về Bảo vệ môi trường làng nghề
Trang 23+ Thông tư số 01/2012/TT – BTNMT ngày 16/3/2012 của Bộ tàinguyên và môi trường, quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xácnhận việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết; lập và đăng ký đề án bảo
vệ môi trường đơn giản (Thay thế thông tư 04/2008/TT-BTNMT).
+ Thông tư số 04/2012/TT – BTNMT ngày 8/5/2012 của Bộ tài nguyên
và môi trường, quy định tiêu chí xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
+ Thông tư liên tịch số 45/2010/TTLT – BTC - BTNMT ngày30/3/2010 của Bộ Tài chính - Bộ tài nguyên và môi trường, Hướng dẫn việcquản lý kinh phí sự nghiệp môi trường
Đặc biệt, Hội nghị lần thứ bẩy Ban chấp hành trung ương Đảng (khóaXI), đã nhất trí ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về “chủ động ứng phó vớibiến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường[1]
Một số văn bản pháp luật khác có liên quan:
+ Pháp lệnh về bảo vệ nguồn thuỷ sản
+Pháp lệnh bảo vệ các công trình giao thông
+ Luật Tài nguyên nước
+ Luật thuế môi trường
+ Luật Bảo vệ đa dạng sinh học
+ Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
Trang 241.4 Công tác quản lý nhà nước về môi trường trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Các hoạt động quốc tế về môi trường
Trên thế giới các vấn đề môi trường toàn cầu, khu vực, quốc gia đangtrở lên cấp bách Hội nghị thượng đỉnh môi trường toàn cầu 5/6/1972 với tiêu
đề “Môi trường con người” (Human Environment) ở Stockhom, đã nêu nhữngvấn đề môi trường toàn cầu, báo động cho toàn thế giới 7 vấn đề môi trườngcấp thiết:
1 Hiện tượng hiệu ứng nhà kính và nóng lên của Trái đất
2 Suy thoái rừng và mất đa dạng sinh học
3 Suy thoái đất và hoang mạc hoá
4 Lỗ thủng tầng ôzôn
5 Quá trình suy thoái và ô nhiễm môi trường biển
6 Ô nhiễm môi trường đô thị và khu công nghiệp
7 Rác thải và các chất tồn lưu [4]
Thế giới đã lấy ngày 5/6 hàng năm làm ngày Môi trường toàn cầu vớimục đích nhắc nhở các vấn đề môi trường cấp bách và hậu quả cho nhân loại.Điều đó cho thấy vấn đề môi trường toàn cầu ngày càng trở lên cấp bách do
sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, sự phát triển vớitốc độ nhanh của nền kinh tế đòi hỏi khai thác một lượng lớn tài nguyên thiênnhiên Do nhu cầu của con người về tài nguyên ngày một tăng lên và lượngchất thải ở cả dạng rắn, lỏng, khí trong sinh hoạt và sản xuất ngày một tănggây sức ép ngày càng lớn đối với môi trường và tài nguyên Chính bởi nhữngnội dụng trên, vấn đề bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môitrường là vấn đề không phải của riêng từng quốc gia mà là vấn đề chung.Khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường là côngtác đòi hỏi phải có sự hợp tác cùng thực hiện của nhiều quốc gia, nhiều khuvực Nghiên cứu những thành công cũng như tiếp nhận những bài học kinhnghiệm của các quốc gia khác trên thế giới là tiền đề để từ đó, công tác QLNN
Trang 25về tài nguyên và môi trường được hoàn thiện và gặt hái những tiến bộ nhấtđịnh.
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường việt Nam đã sớm có quan hệ quốc tế
về bảo vệ môi trường, đã được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế (WB,UDNP, WWF, UNEP ) và Việt Nam đã tham gia công ước sau
- Hiệp ước về khoảng không vũ trụ (1967)
- Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hóa và tài nguyên (1982)
- Công ước về thông báo sớm về sự cố hạt nhân (9/1987)
- Công ước RAMSAT (1988)
- Công ước về việc trợ giúp sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu phóng xạ(9/1987)
- Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hóa tự nhiên (10/1987)
- Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặcbiệt là nơi cư chú của các loài chim (1/1989)
- Công ước quốc tế ngăn ngừa ô nhiêm do tàu biển gây ra (5/1991)
- Công ước đa dạng sinh học, 1992 (16/11/1994)
- Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã cónguy cơ diệt chủng (1/1994)
- Công ước Viên 1985 về bảo vệ tầng ô zôn (1994)
- Nghị định thư Montreal 1987 về các chất làm suy giảm tần ô zôn(1/1994) công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu (16/11/1994)
- Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển chất thải nguy hại qua biêngiới và việc tiêu hủy chúng (3/1995)
- Công ước chống hoang mạc hóa
- Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy(6/2002)
- Nghị định thư Kyoto (25/9/2003)
Trang 26- Nghị định thư Cartahena về an toàn sinh học của công ước đa dạngsinh học (01/2004).
- Công ước Rotterdam về các thủ tục thỏa thuận thông báo trước một sốhóa chất và thuốc trừ sâu nguy hại trong thương mại quốc tế (PIC – có hiệulực từ ngày 5/8/2007) [8]
1.4.2 Kinh nghiệm quản lý môi trường của nước ngoài
1.4.2.1 Kinh nghiệm về quản lý ô nhiễm hồ Laguna ở Philipin
Philipin là một quốc gia nằm ở phía Tây biển Thái Bình Dương trongkhu vực Đông Nam Á, được cấu thành từ 7.107 hòn đảo với đường bờ biểndài 36.000 km và là quốc gia nổi tiếng về chủng loại thủy hải sản và các sảnphẩm từ nghề cá Hồ Laguna là hồ nước ngọt lớn nhất của Philipin và lớn thứ
ba tại Đông Nam Á với diện tích mặt hồ là 949 km2 và chiều sâu là 2m Hồđược cung cấp nước bởi một lưu vực rộng 45.000 km2 với 21 phụ lưu chính,trong đó, sông Pagsaryan chiếm 35% lượng nước và sông Santa Cruz chiếm15% Hồ được sử dụng cho các mục đích khác nhau như tưới tiêu, giao thôngđường thủy, chứa nước lũ, nước thải, cung cấp nước làm mát trong sản xuấtcông nghiệp, cấp nước, thủy điện, giải trí và nuôi cá
Với vai trò và ý nghĩa quan trọng như vậy nên công tác BVMT, quản lý
ô nhiễm hồ Laguna được Chính phủ Philipin đặc biệt coi trọng Năm 1966,
Cơ quan phát triển hồ Laguna (LLDA) được thành lập, có vị trí như một tổchức có tính chất của cơ quan nhà nước Tính chất hoạt động của LLDA kháđặc biệt, không giống với các tổ chức phi chính phủ (NGOs) vì không hoàntoàn độc lập với Chính phủ; không phải là một cơ quan lập pháp (vì không cóchức năng đại diện, không có quyền ban hành văn bản); cũng không phải làmột cơ quan tư pháp (vì không có chức năng tài phán) và cũng không hoàntoàn là một cơ quan hành chính nhưng lại được đặt dưới một cơ quan hànhpháp và được hưởng một mức độ độc lập nhất định về cơ cấu tổ chức, chứcnăng, nhiệm vụ và hoạt động LLDA có nhiệm vụ giúp Chính phủ điều phối,
Trang 27thúc đẩy các hoạt động phát triển bền vững vùng hồ Laguna thông qua cácquy định về quản lý môi trường, đặc biệt là giám sát chất lượng nước, bảo tồncác nguồn tài nguyên thiên nhiên và quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vàocộng đồng Trước đây, khi được thành lập, LLDA được đặt dưới sự chỉ đạotrực tiếp của Văn phòng Tổng thống Chính phủ Philipin được tổ chức theo thểchế Cộng hòa nhất thể, Tổng thống, tuy nhiên sau này đã được tổ chức lại vàđặt tại Bộ Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên Philipin.
Để thực hiện nhiệm vụ, LLDA đã được giao thực hiện các quyền hạn:cấp các loại giấy phép liên quan đến vùng hồ Laguna (giấy phép xả thải vàonguồn nước, giấy phép sử dụng nguồn nước, giấy phép lưu thông trên hồ);Thực hiện công tác thanh tra định kỳ, thanh tra theo khiếu nại tố cáo đối vớicác cơ sở sản xuất kinh doanh có nguồn thải ra hồ Laguna Kết luận thanh tracủa LLDA có ý nghĩa buộc phải thực hiện và trong trường hợp cần thiếtLLDA có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm việc thực hiện kếtluận thanh tra của mình; Tổ chức thu các loại phí, lệ phí có liên quan đếnnguồn nước LLDA được phép sử dụng số phí, lệ phí thu được để phục vụ chohoạt động của mình
Hoạt động của LLDA hoàn toàn độc lập với các cơ quan quản lý môitrường của Philipin, có sự phân định phạm vi trách nhiệm rất rõ ràng Cụ thể,đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ có xả thải vào hồ Laguna thìtrách nhiệm quản lý xả thải đó thuộc về LLDA, còn trách nhiệm quản lý khíthải, chất thải rắn thì thuộc về các cơ quản lý môi trường LLDA có thể kếthợp với cơ quan quản lý môi trường tiến hành thanh tra, kiểm tra cơ sở hoặccũng có thể tiến hành thanh tra, kiểm tra độc lập
Nhìn chung, mô hình hoạt động của LLDA có những nét tương đồngvới mô hình hoạt động của một đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam, song cũng cónhững điểm khác biệt Sự tương đồng thể hiện ở các điểm: Thứ nhất, LLDAcũng đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của một cơ quan quản lý nhà nước, cụ thể ở
Trang 28đây là Bộ Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên Philịpin Hoạt động củaLLDA gắn liền với nhiệm vụ quản lý nhà nước Thứ hai, LLDA tự bảo đảmkinh phí hoạt động từ nguồn thu phí, lệ phí trong quá trình quản lý, phát triển
hồ Laguna Còn sự khác biệt, đó là nếu như LLDA được trao quyền thực hiệnmột số nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước như: cấp phép, thu phí, thanhtra, kiểm tra thì đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam không được trao các quyền này
mà chỉ thực hiện các nhiệm vụ phục vụ yêu cầu của công tác quản lý nhànước Mặt khác, nguồn thu chủ yếu của LLDA là các khoản phí, lệ phí, vốn làkhoản thu chủ yếu đóng góp vào ngân sách nhà nước thì nguồn thu của đơn vị
sự nghiệp ở Việt Nam lại chủ yếu từ các hợp đồng dịch vụ
Thực tế từ Philipin cho thấy, mô hình hoạt động của LLDA rất hiệu quả, chấtlượng môi trường nước hồ Laguna luôn được duy trì, bảo đảm việc phục vụcho tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động dân sinh khác Bài họckinh nghiệm rút ra đó là cần có sự phân định rõ ràng, rạch ròi trách nhiệm,quyền hạn của các cơ quan, bảo đảm không có sự chồng lấn, chồng chéo dựatrên nguyên tắc quyền phải đi đôi với trách nhiệm Mô hình trao cho một đơn
vị hoạt động có tính chất sự nghiệp một số quyền hạn của cơ quan quản lý nhànước (thu phí, cấp phép, kiểm tra, thanh tra) để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể(bảo vệ chất lượng môi trường nước hồ Laguna phục vụ cho các hoạt độngphát triển kinh tế - xã hội) là khá xa lạ đối với Việt Nam nhưng lại là một thựctiễn thành công của Philipin Mặc dù giữa Việt Nam và Philipin có một néttương đồng trong quản lý môi trường, với chủ trương sử dụng triệt để nguyêntắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" thông qua việc ban hành các công cụkinh tế như: thuế, phí, quỹ để tạo nguồn thu đầu tư trở lại cho BVMT Songnếu như ở Việt Nam, chu trình từ khi tạo được nguồn thu đến khi đầu tư trở lạicho môi trường phải trải qua nhiều khâu, nhiều cơ quan, nhiều đầu mối dẫnđến việc đầu tư trở lại thường dàn trải, kém hiệu quả và không rõ trách nhiệmthì ở Philipin, mô hình quản lý hồ Laguna, chu trình này chỉ do một cơ quan
Trang 29thực hiện và chịu trách nhiệm, đó là LLDA Thực tiễn của Philipin đã chứngminh vói chu trình giản đơn đã đem lại hiệu quả cao trong công tác quản lý môitrường.
Cũng giống như Việt Nam, Philipin coi trọng công tác thanh tra, kiểmtra, giám sát sự tuân thủ pháp luật về BVMT của các cơ sở/doanh nghiệp.Song khác với Việt Nam, Chính phủ Philipin thành lập một cơ quan gọi làBan Xét xử ô nhiễm (PAB), đóng vai trò gần giống như một tòa án nhằm xét
xử các trường hợp gây ô nhiễm PAB được đặt dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng
Bộ Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên Philipin, có sự hỗ trợ của Cục Quản
lý Môi trường (EMB) Các thành viên của Ban bao gồm: Chủ tịch là Bộtrưởng Bộ Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, ủy viên gồm 2 Thứ trưởngcủa Bộ Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, Cục trưởng Cục Quản lý môitrường và 03 thành viên khác do Bộ trưởng chỉ định PAB có các thẩm quyềnnhư: đề xuất với Bộ trưởng ban hành quyết định chấm dứt hành vi, tạm đìnhchỉ hoặc chấm dứt hoạt động của cơ sở gây ô nhiễm; phạt tiền hoặc đề xuấtcác cơ quan chính phủ có chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với đốitượng vi phạm Bất cứ quyết định hay mệnh lệnh cuối cùng nào của Hội đồngcũng sẽ có hiệu lực và phải được thực thi giống như các quyết định của Tòa
sơ thẩm
Tuy nhiên, để ra một quyết định, PAB phải thực hiện quy trình khá chặtchẽ Trên cơ sở kết quả phân tích mẫu chất thải (được thực hiện bởi các cơquan quản lý môi trường thông qua các hoạt động thanh tra, kiểm tra hoặc báocáo quan trắc định kỳ của cơ sở), nêu vượt quy chuẩn cho phép, cơ quan quản
lý môi trường ra thông báo về hành vi vi phạm đồng thời kèm theo là Giấymời hội đàm kỹ thuật Tại buổi Hội đàm kỹ thuật, cơ sở được phép trình bàynguyên nhân và đưa ra các cam kết thực hiện biện pháp xử lý ô nhiễm Cácbiện pháp này phải được thực hiện tối thiểu trong vòng 90 ngày và sau đó sẽtiếp tục được kiểm tra, lấy mẫu Nếu kết quả đảm bảo chất thải không vượt
Trang 30quy chuẩn cho phép thì cơ quan quản lý môi trường đưa hồ sơ lên PAB đềnghị xem xét phạt tiền và kết thúc vụ việc Nếu kết quả vẫn vượt quy chuẩncho phép thì PAB ban hành quyết định đình chỉ hành vi gây ô nhiễm hoặc tạmđình chỉ hoạt động Quyết định này sẽ được thực hiện ngay trong vòng 72 giờ
kể từ khi được ban hành Trong quá trình thực hiện quyết định đình chỉ hành
vi gây ô nhiễm hoặc tạm đình chỉ hoạt động, PAB tiếp tục tổ chức các buổiHội đàm kỹ thuật với cơ sở để thống nhất các biện pháp xử lý ô nhiễm cũngnhư thời gian khắc phục Khoảng thời gian này có thể là 3 tháng hoặc lâu hơn.Sau thời gian được ấn định này, nếu cơ sở tuân thủ, kết quả lấy mẫu đạt quychuẩn cho phép thì PAB sẽ ra quyết định xử phạt và chấm dứt việc tạm đìnhchỉ hành vi hay hoạt động gây ô nhiễm Nếu cơ sở không tuân thủ thì PAB sẽquyết định xử phạt, thu giấy phép và đóng cửa chính thức hoạt động củadoanh nghiệp
Việc xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường không chỉ đơn thuần dựa vàocác kết quả kiểm tra, thanh tra mà còn thông qua quá trình theo dõi, giám sátcũng như các kết quả quan trắc định kỳ của cơ sở Đây cũng sẽ là nhữngnguồn dữ liệu quan trọng để bắt đầu một vụ việc xử lý ô nhiễm Ngoài ra,việc xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường phải thận trọng, khách quan và phảigắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Đối với các hành vi gây ônhiễm bị phát hiện, cần thiết phải cho cơ sở một khoảng thời gian hợp lý đểkhắc phục trước khi đưa ra các biện pháp xử lý cuối cùng Việc xác địnhkhoảng thời gian hợp lý này phải dựa trên một quy trình khách quan, chặt chẽ,tôn trọng thực tế khách quan của cơ sở, tránh sự duy ý chí, áp đặt một chiều.Mục tiêu lớn nhất là phải vừa BVMT, vừa tạo điều kiện tối đa để cơ sở khắcphục ô nhiễm, tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần phát triểnkinh tế - xã hội Mặt khác, dù bất cứ trong trường hợp nào, cơ sở có hành vigây ô nhiễm đã khắc phục hoặc chưa khắc phục cũng đều phải bị xử phạt tiền
do có hành vi gây ô nhiễm Hoàn toàn không có chuyện cho cơ sở một thời
Trang 31gian hợp lý để xử lý ô nhiễm là tạo điều kiện để cơ sở thoát khỏi việc bị xửphạt.
Những bài học kinh nghiệm nói trên của Philipin rất bổ ích đối với ViệtNam, đặc biệt khi chúng ta đang trong giai đoạn nghiên cứu sửa đổi LuậtBVMT cũng như đề xuất kiện toàn mô hình hoạt động của các ủy ban BVMTlưu vực sông Theo đó, mô hình hoạt động của các Ủy ban BVMT lưu vựcsông cần sớm được thay đổi theo nguyên tắc: gắn trách nhiệm với quyền hạnđược giao thông qua một quy chế phối hợp và phân định quyền hạn, tráchnhiệm Đối với Văn phòng các Lưu vực sông có thể được tổ chức dưới hìnhthức một đơn vị sự nghiệp, kinh phí hoạt động do các địa phương trong lưuvực đóng góp từ những lợi ích thu được qua hoạt động BVMT tại lưu vựcsông đó[26]
Đối với việc sửa Luật BVMT và các văn bản dưới luật, mặc dù Điều 49của Luật có quy định về việc lập danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng cần phải xử lý song vấn đề này vô hình đã bị triệt tiêu bởi Nghịđịnh số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT
do không có một quy định hướng dẫn nào về vấn đề này Hiện nay cũng cómột số ý kiến cho rằng việc lập danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng, cho các cơ sở này một thời gian để khắc phục ô nhiễm là đồngnghĩa với việc "hợp thức hóa" hành vi gây ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, quathực tiễn kinh nghiệm của Philipin đã cho thấy BVMT phải gắn vói phát triểnkinh tế - xã hội, phải xuất phát từ việc làm sao để các doanh nghiệp khắc phục
ô nhiễm chứ không phải triệt tiêu các doanh nghiệp gây ô nhiễm Do đó, việccho các doanh nghiệp gây ô nhiễm một thời gian để khắc phục ô nhiễm là cầnthiết Việc xác định khoảng thời gian này phải tuân theo một quy trình chặt chẽ,
do cấp có thẩm quyền quyết định (cấp nào có thẩm quyền đình chỉ hoạt độngthì cấp đó có thẩm quyền cho phép thời gian để khắc phục ô nhiễm) Do vậy,trong thời gian tới, cần thiết phải nhanh chóng sửa đổi Nghị định số 117/2009/
Trang 32NĐ-CP, trong đó đặc biệt là toàn bộ chương III về xử lý cơ sở gây ô nhiễm môitrường, theo hướng cụ thể hóa Điều 49 Luật BVMT 2005.
1.4.2.2 Môi trường đô thị của Singapore
Không phải ngẫu nhiên mà Singapore trở thành một quốc đảo sạch vàobậc nhất thế giới Chính từ những bài học đắt giá về hậu quả do sự phát triểncông nghiệp mạnh mẽ làm gia tăng ô nhiễm không khí, rồi chất thải lỏng vàchất thải rắn làm môi trường xuống cấp rõ rệt vào ba bốn thập kỷ trong thế kỷtrước, đã làm quốc đảo này sớm tỉnh ngộ Không có con đường nào khác làphải tự mình thực hiện tốt các chương trình bảo vệ môi trường Nhìn mộtcách toàn diện, chưa có nước nào có được môi trường đô thị tốt hơnSingapore Đó là do quốc đảo này đã có một chiến lược quản lý môi trườnghợp lý, thực hiện tốt kế hoạch hoá việc sử dụng đất đai, biết kiểm soát kếhoạch xây dựng và phát triển đô thị Và điều quan trọng là đặc biệt chú trọngquản lý hạ tầng cơ sở, đi đôi với việc ban hành luật và kiểm tra giáo dụcnghiêm ngặt Xây dựng một chiến lược quản lý môi trường hợp lý Chiếnlược bảo vệ môi trường đô thị của Singapore gồm 4 thành phần: phòng ngừa,cưỡng bách, kiểm soát và giáo dục Phòng ngừa ô nhiễm thông qua kế hoạch
sử dụng đất đai hợp lý, chọn địa điểm công nghiệp thận trọng, kiểm soát gắtgao việc phát triển xây dựng, tăng cường trang bị phương tiện thu gom và xử
lý chất thải Một khi đã thực hiện biện pháp phòng ngừa thì bắt buộc kiểm tranghiêm ngặt nhằm đảm bảo các phương tiện thu gom và xử lý chất thải đượckhai thác và bảo trì hợp lý Việc kiểm soát thường xuyên môi trường khôngkhí và nước trong đất liền và nước biển cũng được thực hiện để tiếp cận cácchương trình kiểm tra ô nhiễm môi trường một cách đầy đủ và có hiệu quả
Thực hiện tốt kế hoạch hoá sử dụng đất đai Đất đai sử dụng vào cácmục đích khác nhau phải được bảo vệ nhằm thực hiện phát triển xã hội vàkinh tế đồng thời duy trì một môi trường có chất lượng cao Việc kiểm soátmôi trường được kết hợp trong kế hoạch sử dụng đất đai, tạo điều kiện chọn
Trang 33vị trí hợp lý cho công trình, hài hoà với việc sử dụng đất xung quanh để tạonên một môi trường lành mạnh Khi kiểm soát môi trường, thường kết hợpxem xét vấn đề về lưu vực trữ nước và chọn địa điểm xây dựng công nghiệp.
Do vậy, đã giải quyết tốt vấn đề thoát nước chung và giải quyết thích đángmâu thuẫn giữa phát triển khu công nghiệp và ô nhiễm môi trường khu dân
cư Để chỉ đạo tốt việc lập kế hoạch sử dụng đất đai, đã phân loại công nghiệptheo mức độ sạch, đồng thời chú ý đến việc bố trí các công năng tương thíchkhác như công trình thương mại, giải trí, công viên, đường sá, bãi đỗ xe bêntrong vùng đệm của khu công nghiệp Nhằm giảm thiểu những nguy hiểmtrong việc xử lý các chất độc hại, đã đưa các nhà máy sử dụng nhiều hoá chất
ra các hòn đảo khác hoặc bố trí thật xa khu đất ở Kiểm soát chặt chẽ kế hoạchxây dựng và phát triển đô thị Khi kiến nghị về phát triển xây dựng đã đượcduyệt và đưa vào kế hoạch, đơn vị chủ trì có thể bắt tay vào việc đệ trình kếhoạch xây dựng cho Ban kiểm tra xây dựng của Vụ Công chính để xét duyệt.Bên cạnh thủ tục và kế hoạch xây dựng, đơn vị chủ trì còn phải gửi kế hoạchcho các Vụ Quản lý kỹ thuật, trong đó có Vụ Kiểm soát ô nhiễm để giải quyếtnhững yêu cầu kỹ thuật Vụ này kiểm tra các kế hoạch phát triển xem có phùhợp với yêu cầu kỹ thuật về y tế môi trường, thoát nước và kiểm soát ônhiễm, đồng thời xác nhận sự hợp lệ của các kết quả đo kiểm ô nhiễm kết hợpngay trong thiết kế công trình Ban phát triển đô thị và nhà ở phải được sựnhất trí của Vụ này trong việc lựa chọn địa điểm xây dựng công trình côngnghiệp Vụ này đánh giá tác động môi trường của những công trình côngnghiệp kiến nghị xây dựng, khi thấy đảm bảo an toàn về y tế và đảm bảo tiêuchuẩn môi trường mới cho phép xây dựng Chú trọng quản lý hạ tầng cơ sởmôi trường Hai vấn đề lớn được chú trọng mà cũng là thành công lớn ởSingapore là quản lý hệ thống thoát nước và quản lý chất thải rắn Đó là việccung cấp hệ thống thoát nước toàn diện để thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt,nước thải sản xuất và tổ chức một hệ thống quản lý chất thải rắn rất có hiệu
Trang 34quả Hệ thống thoát nước ở Singapore phục vụ tất cả các công trình côngnghiệp và hơn 97% khu vực dân dụng Hầu hết nước thải đều đưa ra hệ thốngthải công cộng Nước thải công nghiệp đều được xử lý và đạt tiêu chuẩn quyđịnh trước khi đưa vào mạng đường ống chung Nước chảy từ các nhà máy xử
lý nước thải đều đưa ra biển hoặc các cửa sông Về quản lý chất thải,Singapore có một hệ thống thu gom rác thải hoàn thiện và có hiệu quả Mọichất thải rắn đều được thu gom và xử lý hàng ngày Để thu gom hàng ngày,cần phải xử lý các chất thải hữu cơ bị thối rữa Dịch vụ thu gom chất thải rắn
đô thị đáng tin cậy và đã áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý điềuhành Vì ở quốc đảo này đất đai khan hiếm nên hầu như các chất thải rắn đềuphải thiêu đốt Đối với các chất thải không thể đốt được và tro từ các nhà máyđốt rác sẽ được xử lý tại bãi thải vệ sinh lớn Chất đã làm sạch từ bãi này lạiđược thu gom và xử lý trước khi thải ra biển Ban hành luật lệ và giáo dụcnghiêm ngặt Ban hành luật lệ ở Singapore đóng vai trò quan trọng trong việckiểm soát ô nhiễm để bảo vệ môi trường Các biện pháp nêu trong Luậtthường xuyên được xem xét định kỳ để bổ sung cho chặt chẽ và hợp lý hơn
Vụ Kiểm soát ô nhiễm phải thường xuyên thanh tra các khu công nghiệp vàdân dụng để đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu kiểm soát ô nhiễm Lấy mẫu để
xử lý, thử nghiệm nguồn, phân tích lò, quan trắc bụi khói là những việc làmthường xuyên và bắt buộc để phòng ngừa các vi phạm Sự nhận thức của cộngđồng về môi trường là yếu tố quan trọng nhất làm cơ sở để duy trì và pháttriển thích hợp cho Singapore về môi trường đô thị Tại đây, người ta đã thựchiện nhiều chương trình giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết củaquần chúng về môi trường và động viên họ tham gia tích cực vào việc bảo vệ
và giữ gìn môi trường Các chương trình giáo dục về môi trường bao gồm từtiểu học, trung học đến đại học Thiếu nhi cũng tham gia vào các chuyến thamquan về bảo vệ thiên nhiên, làm quen với trang thiết bị xử lý và tái chế chấtthải Các trường học cũng tổ chức nhiều cuộc triển lãm để tuyên truyền về
Trang 35nhận thức môi trường và tái chế chất thải Bộ Môi trường thường xuyên làmviệc với các tổ chức xã hội để thực hiện những chiến dịch giáo dục tới tận cáccộng đồng dân cư, tới công chức và khu vực tư nhân.
1.4.2.3 Các chính sách của Nhật Bản
Ở Nhật Bản, Luật Môi trường cơ bản đề ra những nguyên tắc và địnhhướng chung cho việc xây dựng các chính sách môi trường đã được ban hànhvào tháng 11 năm 1993 Tháng 12 năm đó, Chương trình hành động quốc gia
để thực thi Agenda 21 đã được đệ trình lên Liên Hợp Quốc Một năm sau, vàotháng 12/1994 một kế hoạch hành động đã được phê duyệt, đó là Kế hoạchMôi trường cơ bản, đã trở thành một biện pháp quan trọng do Luật môitrường cơ bản đưa ra Kế hoạch này quy định rõ một cách hệ thống là cấpquốc gia, chính quyền địa phương, tập thể và cả cá nhân, cần thiết phải thựchiện các biện pháp, các hành động nào vào đầu thế kỷ 21 Nó cũng xác địnhnhững vai trò của các bên liên quan, những cách thức, biện pháp đề ra mộtcách hữu hiệu các chính sách về môi trường Hơn nữa, Cơ quan Môi trườngNhật bản đang tích cực đề ra các biện pháp hỗ trợ, trong đó có cả biện phápđược thiết kế nhằm hỗ trợ cho việc chuyển giao công nghệ thích hợp thôngqua "Trung tâm quốc tế Công nghệ Môi trường của UNEP", là cơ quan đầumối nhằm bổ sung và tăng cường hệ thống ODA cho việc phát triển bền vững
ở các nước đang phát triển Theo số liệu của Cục Y tế và Môi sinh Nhật Bản,hàng năm nước này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó, phần lớn là ráccông nghiệp (397 triệu tấn) Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rácthải phải đưa tới bãi chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế
Số còn lại được xử lý bằng cách đốt, hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác Chiphí cho việc xử lý rác hàng năm tính theo đầu người khoảng 300 nghìn Yên(khoảng 2.500 USD) Như vậy, lượng rác thải ở Nhật Bản rất lớn, nếu khôngtái xử lý kịp thời thì môi trường sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng Nhận thứcđược vấn đề này, người Nhật rất coi trọng bảo vệ môi trường Trong nhiều năm
Trang 36qua, Nhật Bản đã ban hành 37 đạo luật về bảo vệ môi trường, trong đó, Luật
"Xúc tiến sử dụng tài nguyên tái chế" ban hành từ năm 1992 đã góp phần làmtăng các sản phẩm tái chế Sau đó, Luật "Xúc tiến thu gom, phân loại, tái chếcác loại bao bì" được thông qua năm 1997, đã nâng cao hiệu quả sử dụngnhững sản phẩm tái chế bằng cách xác định rõ trách nhiệm của các bên liênquan Hiện nay, tại các thành phố của Nhật Bản, chủ yếu sử dụng công nghệđốt để xử lý nguồn phần rác thải khó phân hủy Các hộ gia đình được yêu cầuphân chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân hủy, được thu gom hàng ngày
để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost, góp phần cải tạo đất, giảm bớt nhucầu sản xuất và nhập khẩu phân bón; loại rác không cháy được như các loại vỏchai, hộp được đưa đến nhà máy phân loại để tái chế; loại rác khó tái chế,hoặc hiệu quả không cao, nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồinăng lượng Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màusắc khác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân
cư vào giờ quy định, dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư Đối với nhữngloại rác có kích thước lớn như tủ lạnh, máy điều hòa, ti vi, giường, bàn ghế thì phải đăng ký trước và đúng ngày quy định sẽ có xe của Công ty vệ sinh môitrường đến chuyên chở
Nhật Bản quản lý rác thải công nghiệp rất chặt chẽ Các doanh nghiệp,
cơ sở sản xuất tại Nhật Bản phải tự chịu trách nhiệm về lượng rác thải củamình theo quy định các luật về bảo vệ môi trường Ngoài ra, Chính quyền tạicác địa phương Nhật Bản còn tổ chức các chiến dịch “xanh, sạch, đẹp” tại cácphố, phường, nhằm nâng cao nhận thức của người dân Chương trình này đãđược đưa vào trường học và đạt hiệu quả [6]
1.4.3 Công tác quản lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam
Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại;
là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói giảmnghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên phạm
Trang 37vi toàn thế giới Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, biện pháp giảiquyết các vấn đề về môi trường.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc BVMT nên Nhà nước ta đã chútrọng nhiều đến công tác quản lý, đưa công tác BVMT vào cuộc sống, xâydựng hệ thống pháp luật, nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân, tăng cườngđầu tư cho công tác quản lý BVMT
Với sự giúp đỡ của UNDP và UNEP, vào tháng 12/1991 Việt Nam đãđăng cai và tổ chức thành công hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển
và đã đưa ra bản dự thảo kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâubền 1991 – 2000, với mục tiêu chủ yếu là tạo ra lưới phát triển tuần tự củakhuôn khổ quốc gia về quy hoạch và quản lý môi trường
Bao gồm các nội dung: tổ chức, xây dựng chính sách pháp luật môitrường Đặc biệt vào tháng 12/1993 Luật bảo vệ môi trường đầu tiên ở nước
ta được ra đời gồm 7 chương và 55 điều khoản, nó có ý nghĩa rất lớn chocông tác quản lý và bảo vệ môi trường, giúp công tác này đạt được nhưnghiệu quả tích cực
Trong quá trình phát triển, luật bảo vệ môi trường đã bộc lộ nhữngđiểm thiếu xót bất cập chưa thật phù hợp với sự phát triển trong nước, khuvực và trên thế giới Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ môitrường, ngày 20/11/2005 luật bảo vệ môi trường được sửa đổi, bổ sung và đãđược quốc hội thông qua có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006, luật gồm 15chương và 136 điều khoản, cùng với các hoạt động bảo vệ môi trường trongnước, Việt Nam còn tham gia công ước Quốc tế có liên quan đến môi trường
Công tác quản lý môi trường là một công việc không thể thiếu tronglĩnh vực bảo vệ môi trường đối với Việt Nam nói riêng và đối với tất cả cácquốc gia khác nói chung Vì vậy, tổ chức công tác QLMT là nhiệm vụ quantrọng nhất của công tác bảo vệ môi trường, bao gồm các công việc sau:
Trang 38+ Bộ phận nghiên cứu đề xuất kế hoạch, chính sách, các quy định luậtpháp dùng chông công tác bảo vệ môi trường.
+ Bộ phận quan trắc, giám sat, đánh giá định kỳ chất lượng môi trường.+ Bộ phân thực hiện các công tác kỹ thuật, đào tạo cán bộ môi trường
+ Các bộ phận nghiên cứu, giám sat kỹ thuật và đào tạo cho các địaphương, ở các cấp các ngành
Bộ tài nguyền và môi trường được thành lập ngày 5/8/2002 trên cơ sởhợp chất các đợn vị: Tổng cục hành chính, tổng cục khí tượng thủy văn, cụcmôi trường (Bộ khoa học công nghệ và môi trường), cục địa chất và khoángsản Việt Nam và cục địa chất khoáng sản (Bộ công nghiệp) và bộ phận quản lýtài nguyên nước thuộc cục quản lý nước và công trình thủy lợi (Bộ nông nghiệp
và phát triển nông thôn)
Trang 39Hình 1.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức công tác quản lý môi trường của
Việt Nam [8]
Bộ tài nguyên và môi trường được chính phủ giao cho nhiệm vụ thườngtrực hội đồng quốc gia về tài nguyên nước, hội đồng đánh giá trữ lượng,khoáng sản, Ban chỉ đạo Quốc gia về khắc phục hậu quả chất độc hóa học do
Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, ban chỉ dạo quốc gia về cung cấpnước sạch và vệ sinh môi trường
Bộ tài nguyên và môi trường là cơ quan của chính phủ thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng
Ủy ban nhân
dân tỉnh
Bộ Tài nguyên
và Môi trường
Các Bộ khác
Tổng cục môi trường
Các tổng cục khác
Cục BVMT
UBNDhuyện
VụKHCN
& MT
Các
vụ khác
Các phòng chuyên môn
MT
PhòngTN&MT
UBND các xã
CB địa chính
Trang 40sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc, bản đồ biển và hải đảo trongphạm vi cả nước, quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diệnchủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước tronglĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường,khí tượng thủy văn, đo đạc, bản đồ, biển và đảo theo quy định của pháp luật.
1.4.4 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
Trong mấy năm gần đây, cùng với những chuyển biến tích cực về
KT-XH, mạng lưới đô thị quốc gia mở rộng và phát triền Quá trình đô thị hóadiễn ra mạnh mẽ, nhất là ở các vùng kinh tế trọng điểm trên cả 3 miền Bắc,Trung, Nam Việc phát triển nhanh và mạnh mẽ cùng với việc hệ thống đô thịViệt Nam thực sự là hạt nhân của quá trình phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiênquá trình này cũng có tác động không nhỏ tới nguồn tài nguyên và những ảnhhưởng tiêu cực đến môi trường Kinh nghiệm phát triển của các đô thị trongnước cùng các biện pháp mà những địa phương khác đang thực hiện khá hiệuquả là những bài học để đảm bảo một sự phát triển bền vững Hoạt động quản
lý, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường đã và đang được các địaphương thực hiện dựa trên những đặc điểm từng địa phương Dưới đây đi sâuvào truyền thống bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn nguồn tài nguyên rừng, bảo vệmôi trường của các cộng đồng tại một số địa phương ở Việt Nam
Trong lịch sử phát triển của đất nước, các cộng đồng dân tộc ở ViệtNam đã có truyền thống lâu đời trong việc sống hài hòa với thiên nhiên, bảo
vệ môi trường, vừa bảo tồn thiên nhiên vừa khai thác một cách hợp lý Trongbảo vệ rừng và sử dụng bền vững tài nguyên, cộng đồng đã có nhiều kinhnghiệm, tri thức bản địa và nhiều phương pháp sáng tạo, trong đó có việc quyđịnh các hương ước Hương ước do nhân dân địa phương tự nguyện quy định
và thi hành nhằm bảo vệ rừng, khai thác tài nguyên một cách hợp lý, giữ gìn
đa dạng sinh học cho thế hệ đang sống và thế hệ tương lai Những quy định
về môi trường trong các hương ước đã góp phần