Vàonăm 1920, Tôn Đức Thắng đã vận động thành lập tổ chức của những ngườithợ yêu nước với tên gọi Công hội Đỏ, đây là tổ chức Công hội bí mật đầutiên cảu giai cấp công nhân Việt Nam ở sài
Trang 1Đề tài: Tôn Đức Thắng và phong trào công nhân Việt Nam từ đầu thế kỷ XX -
1930
MỤC LỤC
Trang 220/8/1888 Sinh tại xã Mỹ Hòa Hưng, tổng Định Thành, tỉnh Long
Xuyên (nay thuộc thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang)
1906 – 1912 Rời quê lên Sài Gòn học việc, tham gia lãnh đạo cuộc bãi
công của công nhân xưởng Ba Son
1916 Rời tổ quốc sang Pháp và làm công nhân quân giới ở quân
cảng Toulon (miền nam nước Pháp) và làm thợ máy trênchiến hạm France
20/4/1919 Kéo cờ đỏ trên chiến hạm để ủng hộ cách mạng tháng
Mười Nga, tham gia cuộc binh biến của binh sĩ Pháp ởHắc Hải, sau đó bị trục xuất ra khỏi nước Pháp
1920 Lập công hội bí mật ở Sài Gòn Đây là tổ chức công hội
đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam
8/1925 Tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh của công nhân Ba
Son
1927 Tham gia Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội và
trực tiếp lãnh đạo phong trào công nhân Sài Gòn – ChợLớn
12/1928 Bị thực dân Pháp bắt ở Sài Gòn
26/7/1929 Bị tòa án Pháp kết án 20 năm khổ sai
2/7/1930 Bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo, tại Côn Đảo, Bác tham
gia vận động thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản ĐôngDương, tổ chức các đấu tranh đòi cải thiện chế độ lao tù
23/9/1945 Chính quyền cách mạng đưa Bác Tôn cùng anh em tù từ
Côn Đảo trở về đất liền
6/1/1946 Được bàu vào Quốc hội khóa đầu của nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa
2/1951 Được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao Động
Trang 3Việt Nam.
9/1955 Được bàu làm Trưởng ban Thường vụ Quốc hội
12/1955 Là người Việt Nam đầu tiên được nhận giải thưởng Lênin
“Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc”
1/1960 Được bầu làm Phó Chủ tịch nước
23/9/1969 Được bầu làm Chủ tịch nước
30/3/1980 Qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi
Trang 4đã anh dũng kiên cường chiến đấu, vượt qua những khó nhăn thử thách đểvươn lên để khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc.
Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranhquật khởi của nhân dân ta chống ách thống trị của bọn thực dân Pháp đãbùng nổ khắp nơi, nhưng đều bị nhấn chìm trong máu lửa Tiếp theo thất bạicủa các cuộc khởi nghĩa ở Yên Thế, Hương Khê, Hùng Lĩnh, Bãi Sậy, BaĐình nhiều cuộc vận động chính trị, bạo động vũ trang đều tiến hànhkhông thành công, phản ánh sự bế tắc về đường lối của cách mạng nước ta
Vì chưa có học thuyết cách mạng khoa học dẫn đường, nên những người yêunước Việt Nam chưa tìm được phương hướng đúng đắn để đáp ứng sựnghiệp đấu tranh cao cả nhằm giải phóng đất nước và nhân dân
Chính trong thời điểm lịch sử ấy, trên vũ đài chính trị nước ta xuấthiện những chiến sĩ tiên phong trong lớp thanh niên đầy nhiệt huyết Nối gótcác nhà ái quốc nhiệt thành tiền bối, tiếp thu tinh hoa tư tưởng yêu nướctruyền thống và mang khí phách anh hùng, họ đã trải qua biết bao phong ba,bão táp để ra đi tìm đường cứu nước Mùa hè năm 1911, theo chiếc tàu buôn
Amiral Latouche - Tréville, Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Sài Gòn "đi xem nước Pháp và các nước làm thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào" Thời gian
sau đó, người công nhân thủy thủ trẻ tuổi Tôn Đức Thắng với một tấm lòngyêu nước và khát khao được học hỏi, được tải nghiệm để về nước đấu tranh
có hiệu quả hơn cũng có mặt trên mảnh đất quê hương của các chiến sĩ Công
xã Pa-ri Tại đây, Tôn Đức Thắng đã tích cựu hoạt động, luôn tìm mọi cách
để nắm tin tức thời cuộc trên đất Pháp cũng như trong nước
Ngày 20/4/1919, dưới sự chỉ huy của Ủy ban Cách mạng trên chiếnhạm France, lá cờ đỏ được Tôn Đức Thắng kéo tung bay phấp phới trên cột
cờ chiếm hạm để phản đối cuộc binh biến Hắc Hải và ủng hộ Cách mạng
Trang 5tháng Mười Nga, chào mừng nhà nước vô sản đầu tiên trong lịch sử Vàonăm 1920, Tôn Đức Thắng đã vận động thành lập tổ chức của những ngườithợ yêu nước với tên gọi Công hội Đỏ, đây là tổ chức Công hội bí mật đầutiên cảu giai cấp công nhân Việt Nam ở sài gòn do Tôn Đức Thắng làm hộitrưởng.
Với sự ra đời của Công hội Đỏ cùng với sự thắng lợi của cuộc Cáchmạng tháng Mười Nga – 1917 đã làm cho phong trào công nhân Việt Nam
từ đầu thế kỷ XX – 1930 phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều kết quả tolớn làm tiền đề cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Qua các hoạt động của Tôn Đức Thắng ở trong nước cũng như ở nướcngoài đã làm tôi nhận thức được vai trò to lớn của Tôn Đức Thắng đối vớiphong trào công nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX – 1930 Vì vậy tôi chọn đề
tài: Tôn Đức Thắng và phong trào công nhân Việt Nam từ đầu thế kỷ XX – 1930 làm đề tài tiểu luận của mình Đề tài này vừa mang ý nghĩa khoa học
vừa mang ý nghĩa thực tiễn lớn và có tính thời sự trong giai đoạn hiện nay,góp phần phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
Nghiên cứu đề tài này giúp tôi hiểu biết rõ hơn về cuộc đời và sựnghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng - vị anh hùng góptay đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đi qua hai cuộc kháng chiến chốngPháp và chống Mỹ thắng lợi hoàn toàn và vai trò của Tôn Đức Thắng đốivới phong trào công nhân Việt Nam từ đầu thế kỷ XX – 1930
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn trong phạm vi nghiên cứu về Tôn Đức Thắng vàPhong trào công nhân Việt Nam từ đầu thế kỷ XX – 1930 Tức tìm hiểu vềtiểu sử và sự nghiệp của Tôn Đức Thắng, qua đó đi sâu tìm hiểu vai trò củaTôn Đức Thắng trong việc thành lập tổ chức Công hội đỏ - tổ chức Công
Trang 6đoàn đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam, phong trào công nhân từđầu thế kỷ XX – 1930 và vai trò của Tôn Đức Thắng đối với phong tràocông nhân trong giai đoạn từ đầu thế kỷ XX – 1930.
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những ghi chép, nghiên cứu có liên quan đến Tôn Đức Thắng vàphong trào công nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX – 1930 đã được nhiều tác giả
trong và ngoài nước tiến hành như: Nghiên cứu và nhận định trái chiều của
ông Christoph Giebel, giáo sư khoa Sử tại Đại học Washington, Hoa Kỳ và
là tác giả cuốn sách nghiên cứu về ông Tôn Đức Thắng (“Tiền bối tưởngtượng của những nhà Cộng sản Việt Nam: Tôn Đức Thắng và chính trị của
lịch sử và ký ức” - Imagined Ancestries of Vietnamese Communism: Ton Duc Thang and the Politics of History and Memory), ở trong nước cũng có
rất nhiều tác giả viết về cuộc đời, sự nghiệp cũng như hoạt động cách mạng
của Tôn Đức Thắng như: Bác Hồ, Bác Tôn và các anh của Lê Duẩn xuất bản năm 1976; Người thợ máy Tôn Đức Thắng của Lê Minh xuất bản năm 2004; Bác Tôn của chúng ta của Trần Thanh Phương xuất bản năm 1998 Ngoài ra
còn có các mẫu chuyện, hồi ký của nhiều tác giả kể lại nói về con người và
hoạt động cách mạng của Tôn Đức Thắng như: Tôn Đức Thắng - Người cộng sản mẫu mực, biểu tượng của đại đoàn kết – Hồi ký nhiều tác giả, xuất bản năm 2003; Hỏi đáp về chủ tịch Tôn Đức Thắng và lược sử phong trào công nhân Việt Nam, xuất bản năm 2003.
Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Tôn Ðức Thắng (20/8/1888– 20/8/2008), Thư viện tỉnh An Giang đã in hơn 20 tên sách với 6.300 bản
sách về Tôn Đức Thắng như: Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888 – 1980) của Sở Văn hóa thông tin An Giang xuất bản năm 1988, Bác Tôn – cuộc đời và sự nghiệp của Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ An Giang, xuất bản năm 1988; Chủ
Trang 7tịch Tôn Đức Thắng với Cách mạng Việt Nam và quê hương An Giang của
Tỉnh ủy An Giang và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, xuất bảnnăm 2004 các tác phẩm đều đề cập đến những sự kiện nổi bật, những dấumốc quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp Cách mạng của Tôn ĐứcThắng
Ngày 14 tháng 8 năm 2008, tại Hà Nội, Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và Tỉnh uỷ tỉnh An Giang đã phối hợp tổchức Hội thảo khoa học về Tôn Đức Thắng, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Trungương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh củaNgười (20/8/1888 – 20/8/2008), Các tham luận tại Hội thảo đã khẳng địnhChủ tịch Tôn Đức Thắng không chỉ là nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng
-và cách mạng Việt Nam mà còn có những đóng góp to lớn đối với Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân tộc, như các tham
luận: "Đồng chí Tôn Đức Thắng tiêu biểu cho sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc
của Phạm Thế Duyệt - nguyên Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, "Chủ tịch Tôn Đức Thắng với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
của Vũ Trọng Kim - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, "Tôn Đức Thắng - Người tiêu biểu nhất thực hiện tư tưởng Đại đoàn kết Hồ Chí Minh của PGS,TS Phạm Hồng Chương - Viện Hồ Chí Minh, "Tôn Đức Thắng - Người Cộng sản trung kiên mẫu mức, biểu tượng của Đại đoàn kết của Th.s Văn Thị Thanh Mai - Bảo tàng Hồ
Trang 8về lịch sử giai cấp Công nhân Việt Nam của Nguyễn Công Bình, Vũ Huy Phúc, Dương Kinh Quốc, xuất bản năm 1977; Giai cấp công nhân Việt Nam
và liên minh công nông của Lê Duẩn xuất bản năm 1976; Giai cấp công nhân Việt Nam những năm trươc khi thành lập Đảng của Ngô Văn Hòa, Dương Kinh Quốc, xuất bản năm 1978; Giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam của Hoàng Quốc Việt, xuất bản năm 1970
Những kết quả nghiên cứu và công bố của nhiều tác giả, nhiều côngtrình như đã trình bày trên đối với tôi là rất quý, làm cơ sở để cho tôi kế thừa
và phát triển để hoàn thành bài tiểu luận của mình
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng phương phán luận nghiên cứuduy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụngnhững phương pháp chuyên ngành khoa học lịch sử , dân tộc học… và cácphương pháp cụ thể như sưu tầm, xử lý số liệu, phương pháp đối chiếu,thông kê, so sánh… nhằm thấy được tính cụ thể và tổng quát nhất mà đề tàihướng tới Trong xử lý tư liệu, tác giả cố gắng bám sát vào tư liệu gốc và tưliệu dịch thuật bởi các cơ quan chuyên môn có uy tín Tuy nhiên, có nhiều lý
do khác nhau, tác giả không thể tiếp cận tư liệu gốc mà phải trích dẫn lại,trong những trường hợp như vậy tác giả đã trích dẫn rõ nguồn
5 Đóng góp của đề tài
Khi đề tài nghiên cứu thành công, đề tài trở thành một công trìnhnghiên cứu, đánh giá khá đầy đủ và có hệ thống về Chủ tịch Tôn Đức Thắng
và phong trào công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX
Nghiên cứu về Tôn Đức Thắng và phong trào công nhân Việt Namtrong những năm đầu thế kỷ XX là nghiên cứu một phần quan trọng trong
Trang 9dân Pháp xâm lược nói riêng Đặc biệt vào đầu thế kỷ XX, khi phong tràocông nhân thế giới phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu to lớnnhư cách mạng tư sản Pháp, cách mạng tháng mười Nga… đã ảnh hưởngmạnh mẽ đến phong trào công nhân Việt Nam Trong đề tài nghiên cứu này,trên cơ sở tài liệu tin cậy, kế thừa có chọn lọc những công trình tham khảo,tác giả hệ thống, khái quát lại cuộc đời, sự nghiệp của Tôn Đức Thắng cũngnhư phong trào công nhân Việt Nam từ đầu thế kỷ XX – 1930 Qua đó nhìnnhận lại vai trò của Tôn Đức Thắng đối với phong trào công nhân Việt Namđầu thế kỷ XX – 1930.
Từ thực tiễn nghiên cứu đề tài, bài tiểu luận rút ra được một số kinhnghiệm thiết thực có thể tham khảo, vận dụng trong cuộc sống xây dựng vàbảo vệ đất nước hiện nay
Bài tiểu luận này cũng đã tập hợp, hệ thống hóa những tài liệu có liênquan đến vấn đề trên có thể sử dụng làm tài liệu học tập nghiên cứu
1.2 Sự nghiệp của Tôn Đức Thắng
Chương 2: Phong trào công nhân Việt Nam từ đầu thế kỷ XX và vaitrò của Tôn Đức Thắng
2.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX2.2 Sự ra đời và phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam
2.3 Phong trào công nhân Việt Nam
2.4 Tôn Đức Thắng và sự ra đời của Công hội Đỏ
Trang 102.5 Vai trò của Tôn Đức Thắng trong việc thành lập Đảng Cộng sảnViệt Nam.
B NỘI DUNGCHƯƠNG 1:
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA TÔN ĐỨC THẮNG
1.1 Tiểu sử của Tôn Đức Thắng
“Tôn Đức Thắng (ở quê hương quen gọi là Hai Thắng) – người màtoàn dân Việt Nam, từ các vị lão thành đại thọ đến các cháu nhi đồng, đềugọi bằng hai từ thân kính “Bác Tôn” - bí danh là Thoại Sơn, sinh ngày
Trang 1120/8/1888, trong một gia đình nông dân ở Cù lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng,tổng Ðịnh Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là thành phố Long Xuyên, tỉnh AnGiang” [19, 13].
“Tôn Đức Thắng sinh ra trong một ngôi nhà sàn, vách ván, lợp ngói
âm dương, được dựng lên trước lúc Tôn Đức Thắng chào đời 4 năm Trongmột gia đình nông dân tương đối khá giả Thân phụ của Tôn Đức Thắng làTôn Văn Đề và thân mẫu là Nguyễn Thị Dị, đều là những người nông dânhiền lành, cần cù, chịu khó, chất phác như bao người nông dân Cù lao Ông
Hổ Khi hai người được ông bà ngoại giúp đỡ cất xong nhà, bốn năm saucon trai đầu lòng là Tôn Đức Thắng ra đời và sau đó là ba người em ruột”[19, 14]
“Năm 1894, khi Tôn Đức Thắng 6 tuổi, cha mẹ gửi ông về quê ngoại ởrạch Cái Sơn, xã Mỹ Phước để theo học chữ Ông Nguyễn Thượng Khách(Năm Khách), một thầy giáo làng đáng kính là người thầy giáo đầu tiên củaTôn Đức Thắng Khi học Tôn Đức Thắng thường nêu nhiều câu hỏi vớithầy, chẳng hạn tại sao đất nước mình lại có những người nơi khác đến mà
họ lắm quyền hành thế? Tại sao họ giết người mình lúc nào cũng được?Thuế mình nộp để người Pháp làm gì? Tại sao mình phải đi xâu? Nước Pháp
ở tận đâu? Những câu hỏi của người học trò được thầy giáo Năm Kháchgiải đáp, và nhờ trí thông minh, đức hiếu học, cậu học trò Tôn Đức Thắng đãchắp nối và dần hiểu ra thời cuộc Tôn Đức Thắng thật ra học không lâu,nhưng cái chính là ông học cách làm người, biết yêu cái đúng, ghét cái sai,cái lòng say mê thiên nhiên đất nước, trung thành với sự nghiệp của chaông” [19, 16]
Truyền thống quật cường của quê hương đất nước đã sớm hun đúclòng căm thù giặc và tinh thần yêu nước của người thanh niên Tôn Đức
Trang 12Thắng, cuộc sống và ý thức giai cấp công nhân đã tiếp bước rèn luyện ngườithanh niên ấy trở thành một chiến sĩ cách mạng kiên cường và lãnh tụ kínhyêu của nhân dân Việt Nam Tôn Đức Thắng sinh ra trên mảnh đất LongXuyên của Nam Bộ bất khuất và đau thương bị thực dân xâm chiếm đã hơn
20 năm Học hết lớp ba tiểu học, Tôn Đức Thắng đi thị xã Long Xuyên đểhọc hết bậc tiểu học, luôn mong muốn con mình trở thành một viên chức nên
từ nhỏ Tôn Đức Thắng được cha mẹ cho học chữ Nho, chữ quốc ngữ và chữPháp Nhưng niềm say mê của Tôn Đức Thắng thuở thiếu thời là được nghechuyện và đọc sách về các anh hùng, nghĩa sĩ Nam bộ như Trương Định,Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân Có lẽ những tấm gương lẫm liệt củacác nhà yêu nước tiền bối đã sớm ngấm vào máu chàng “hai lúa” Tôn ĐứcThắng nên vào năm 1906, người thanh niên mười tám tuổi đầy tâm huyếtTôn Đức Thắng đã nhất mực từ chối làm chân hầu việc cho các chức sắc ởlàng, quyết chí lên Sài Gòn học việc Ý chí tự lập ngay từ khi tuổi còn trẻ lànét độc đáo góp phần tạo nên tính cách toàn diện của Tôn Đức Thắng saunày Hạt giống cách mạng giờ đây được ươm giữa lòng đô thành Sài Gònđầy bóng quân xâm lược Lên Sài Gòn, chàng “hai lúa” nhanh chóng hòanhập vào đời sống học sinh, công nhân và sớm bộc lộ tư chất một ngườiđứng mũi chịu sào
“Với tầm nhìn và bản lĩnh được hun đúc bằng tính năng động, trải quachặng đường đầu sáu năm sống giữa lòng thành phố Sài Gòn, Tôn ĐứcThắng đã khổ công tự rèn luyện mình theo phương châm giáo dục nghiêm
khắc của tổ tiên: “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” Trước khi chính thức
ngồi dưới mái trường Bách Nghệ - có tên Pháp là “Trường cơ khí Á châu SàiGòn” (nay là trường kỹ nghệ Cao Thắng) Tôn Đức Thắng đã được luyện taynghề qua khá nhiều lĩnh vực: làm công cho các gara và đềpô tư nhân, làm
Trang 13cho hãng Cơrốp thuộc Sở kiến trúc cầu đường và nhà cửa Sài Gòn Sau bốnnăm học nghề, năm 1910, Tôn Đức Thắng tốt nghiệp với thành tích xuất sắc
và theo đúng giao kết khi xin vào học, Bác bước vào cuộc đời người thợ ởxưởng máy Ba Son – xưởng xưa nhất và lớn nhất ở Sài Gòn Và bây giờ,giai cấp công nhân của thành phố Sài Gòn lại đón nhận người công nhân trẻ,thông minh, kiên nghị và giác ngộ cách mạng – Tôn Đức Thắng” [3, 55].Kết quả của việc tích lũy kiến thức từ nguồn lao động công nghệ báchkhoa cộng với ý thức cộng đồng sâu sắc, Tôn Đức Thắng sớm giành đượcthiện cảm và niềm tin của các bạn đồng nghiệp và đồng môn Công lao lịch
sử của Tôn Đức Thắng thuở đương thời, là đã thổi bùng lên luồng sinh khímới vào đội ngũ giới cần lao, góp phần tạo ra bước chuyển mình quan trọng
của giai cấp công nhân Việt Nam từ “đấu tranh tự phát” sang “đấu tranh tự giác” [3, 55].
Xuất phát từ sự khởi đầu tích cực tham gia vào việc lập ra các hội đoàntruyền thống với hình thức thấp trong giới thợ thuyền để tiến hành đấu tranh:
tổ chức ra các hội tương tế, ái hữu, đòi tăng lương, giảm giờ làm, chóngđánh đập, phạt vạ… Tôn Đức Thắng đã hợp lực cùng một số hạt nhân nòngcốt tổ chức thành công cuộc đình công, bãi khóa đầu tiên ở hãng Ba Son vàtại trường Bách Nghệ Sài Gòn vào năm 1912 Bị bọn thực dân Pháp theodõi, lùng bắt, Tôn Đức Thắng phải lánh sang Pháp làm công nhân quân giới
ở quân cảng Toulon (miền Nam nước Pháp) và bị điều động làm thợ máytrên chiến hãm France, tham gia vào cuộc binh biến Hắc Hải
Những năm tháng xa xứ, Tôn Đức Thắng luôn tìm mọi cách để nắm tintức thời cuộc trên đất Pháp cũng như ở Việt Nam Tôn Đức Thắng đã đọcđược “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báoDân chúng Tôn Đức Thắng biết thêm về sức mạnh của “đại đoàn kết”, “giai
Trang 14cấp vô sản”, “giai cấp công nhân” và sung sướng khi nhận ra rằng: “cáchmạng Nga không riêng là của công nhân và binh lính Nga mà là của tất cảcông nhân và binh lính trên thế giới; cách mạng Nga tất sẽ mở đường chocách mạng thế giới trong đó có Việt Nam” [4, 115].
Năm 1920, trở về Sài Gòn sau sự kiện kéo cờ trên Hắc Hải nổi tiếng,Tôn Đức Thắng cùng những người bạn thân thiết lập ra tổ chức đầu tiên củagiai cấp công nhân Việt Nam - Công hội bí mật tại Sài Gòn - Chợ Lớn,nhằm đấu tranh bênh vực quyền lợi của công nhân, đấu tranh chống đế quốc
tư bản
Cuối năm 1926, khi nhận được chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc,Tôn Đức Thắng nhanh chóng tán thành gia nhập Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên, tán thành con đường cứu nước giải phóng dân tộc gắn liền vớigiải phóng giai cấp công nhân, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.Năm 1927, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kỳ thànhlập Tôn Đức Thắng được cử là một thành viên trong ban lãnh đạo Kỳ bộ vàtrực tiếp phụ trách phong trào công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn
Tháng 7/1929, Tôn Đức Thắng bị thực dân Pháp bắt giam ở khám lớnSài Gòn, sau đó bị kết án 20 năm khổ sai Tháng 7/1930, bị đày ra Côn Đảo,tại đây, Tôn Đức Thắng đã tham gia vận động thành lập chi bộ cộng sản nhà
tù Côn Đảo và là một trong những chi ủy viên đầu tiên
Đế quốc Pháp đã bắt giam và đày đọa Tôn Đức Thắng 17 năm trời ởKhám lớn Sài Gòn, và nhà ngục Côn Đảo với chế độ khổ sai, khi thì nhốtvào hầm xay lúa, khi thì nhốt vào hầm tối, tay chân bị xiềng xích, cùm kẹp,khi thì cho ăn lúa sống, hoặc bỏ đói, bỏ khát, nhưng tinh thần cách mạngkiên cường của Tôn Đức Thắng trước sau vẫn không lay chuyển Trong nhà
tù, Tôn Đức Thắng luôn nêu cao lòng yêu nước và chí khí quật cường của
Trang 15người công nhân, luôn luôn tin tưởng ở tương lai tươi sáng của dân tộc vàcủa giai cấp, luôn luôn vui vẻ không bao giờ sao lãng công tác cách mạng.
“Cách mạng Tháng Tám thành công, Tôn Đức Thắng ra khỏi nhà tù,vừa bước chân lên đất liền thì cuộc kháng chiến bùng nổ, Tôn Đức Thắng đãhăng hái cùng quân dân miền Nam chiến đấu chống thực dân Pháp; sau đóđược điều ra Bắc, lần lượt đảm nhiệm các trọng trách: Phó Hội trưởng HộiLiên Việt, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, Trưởng ban Thường trực Quốc hội,Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch rồiChủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó là nước Cộng hòa Xãhội chủ nghĩa Việt Nam” [16, http://tapchicthanhnien.org.vn]
Sau khi Bác Hồ mất, ngày 23/9/1969 Tôn Đức Thắng được bầu làmChủ tịch nước Tôn Đức Thắng giữ nhiệm vụ chủ tịch nước cho đến ngày30/3/1980 thì qua đời tại Hà Nội và thọ 92 tuổi
1.2 Sự nghiệp của Tôn Đức Thắng
Lúc vừa tròn 18 tuổi, Tôn Đức Thắng lên Sài Gòn để mưu sinh Vốnsinh trưởng trong một gia đình nông dân ở vùng đồng bằng châu thổ sôngCửu Long trù phú, nhưng khi đặt chân tới thành phố sau này được mệnhdanh là "hòn ngọc Viễn Đông", Tôn Đức Thắng đã nhanh chóng hòa nhậpvào đội quân "áo xanh" của ngành công nghiệp, quyết tâm biến mình thànhngười thợ và mãi mãi gắn bó cuộc đời với sứ mệnh lịch sử của giai cấp côngnhân
Những tháng năm đầu tiên sống ở Sài Gòn, trước khi được vào họcdưới mái trường Bách nghệ, Tôn Đức Thắng đã dày công luyện mình trong
Trang 16lò "Bách Nghệ" của cuộc sinh kế giữa trường đời: làm công cho các gara và
đề - pô tư nhân, sửa chữa xe máy, xe hơi, sửa chữa tàu thủy, làm nghề nguội,nghề tiện, nghề điện và làm công cho Hãng Kroff thuộc Sở Kiến trúc cầuđường và nhà cửa Sài Gòn
Kết quả của việc tích lũy dồi dào nguồn kiến thức lao động bách nghệcộng với ý thức cộng đồng sâu sắc, Tôn Đức Thắng đã sớm giành được sựtín nhiệm của bạn bè trong giới cần lao Công lao lịch sử của Tôn ĐứcThắng là đã thổi luồng sinh khí mới về chính trị vào đội ngũ thợ thuyền, gắn
tư tưởng yêu nước với phong trào công nhân, bước đầu tạo ra sự chuyểnbiến quan trọng - từ "đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác" [3, 55]
“Từ sự tích cực tham gia vào việc thành lập các hội đoàn truyền thốngtrong giới thợ và tiến hành đấu tranh bằng những hình thức phôi thai như: tổchức các hội tương tế, ái hữu, đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánhđập, phạt vạ Năm 1909, Tôn Đức Thắng tham gia vận động anh em họcsinh lính thủy bỏ học; năm 1910 tham gia vận động anh chị em công nhân
Sở Kiến trúc Cầu đường và Nhà ở Sài Gòn chống bọn chủ cúp phạt, đánhđập vô lý và đòi tăng lương; Tôn Đức Thắng đã tập hợp một số hạt nhânnòng cốt, tổ chức thành công cuộc bãi công, bãi khóa đầu tiên của công nhânHãng Ba Son và học sinh trường Bách nghệ Sài Gòn năm 1912 Sự kiện này
in dấu ấn rất sâu đậm trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Tôn ĐứcThắng” [18, 26]
Ý nghĩa quan trọng của cuộc bãi công này, mấy mươi năm sau, đãđược Tôn Đức Thắng kể lại trong những dòng từ truyện đầy cảm động Tôn
Đức Thắng viết: “Lúc cuộc bãi công của học sinh trường Kỹ nghệ Sài Gòn
và thợ thuyền Ba Son thắng lợi, cũng là lúc tôi cải trang xuống tàu Pháp để trốn sự truy nã của địch Từ đó bắt đầu cuộc đời trên mặt biển” [3, 56].
Trang 17Sau khi rời hải cảng Sài Gòn vào thập niên thứ hai của thế kỷ XX,chiếc tàu viễn dương Lacoóc và chiến hạm France của Pháp đã mới lạ - nơi:
"Quan san muôn dặm một nhà Bốn phương vô sản đều là anh em" Và chính
trên bước đường "Quan san muôn dặm", người công nhân thủy thủ trẻ tuổiViệt Nam đã được nhập tâm sâu sắc khẩu hiệu chiến đấu vĩ đại của các nhà
khai sáng chủ nghĩa xã hội khoa học: "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!" [3, 56].
“Biểu hiện rực rỡ của hành động "đoàn kết lại" là ý thức giác ngộ vềchính trị và dũng khí tuyệt vời của Tôn Đức Thắng trong buổi sáng mùaxuân 1919 trên mặt biển Hắc Hải, khi Bác tự tay kéo lá cờ đỏ thiêng liênglên đỉnh cột cờ thiết giáp hạm France và hát vang bài "Quốc tế ca" hùngtráng để ủng hộ Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, ủng hộ V.I.Lê-nin, ủng hộ chính quyền Xô-viết Bằng hành động đó, Tôn Đức Thắng làngười Việt Nam đầu tiên ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga Tôn ĐứcThắng đã mang lại vinh dự cho giai cấp công nhân Việt Nam, cho dân tộcViệt Nam một tinh thần quốc tế cao cả” [3, 56]
“Sau khi kéo cờ đỏ trên chiến hạm Phơ-răng-xơ, tham gia cuộc khởinghĩa ở Biển Đen nhằm bảo vệ chính quyền Xô-viết, bảo vệ Cách mạngTháng Mười đang bị các nước đế quốc bao vây, Tôn Đức Thắng nhận quyếtđịnh giải ngũ và bị trục xuất khỏi nước Pháp” [4, 115]
Trở lại Sài Gòn, Tôn Đức Thắng đã có bước trưởng thành vượt bậc,đặc biệt là về tổ chức đấu tranh của giai cấp công nhân bằng các hình thứccông đoàn, nghiệp đoàn Về nước, nhưng bị cấm vào làm việc ở bất kỳ cơ sởcông nghiệp nào của Pháp, Tôn Đức Thắng vào làm công nhân cho mộthãng của người Đức ở Sài Gòn Vừa kiếm sống, Tôn Đức Thắng đồng thờitìm mọi cách liên lạc với công nhân ở các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn
Trang 18thành phố Nghiên cứu kỹ đặc điểm công nhân ở một xứ thuộc địa, với tài tổchức của mình, Tôn Đức Thắng đã tổ chức ra Công hội bí mật ở nhiều cơ sởcông nghiệp - như Cảng Sài Gòn, Xưởng Ba Son, Xưởng FACI, Nhà máyĐèn Sài Gòn, Nhà máy Đèn Chợ Quán… Công hội bí mật ở Sài Gòn do TônĐức Thắng tổ chức và lãnh đạo từ năm 1920 là công hội đầu tiên của giaicấp công nhân Việt Nam Nó phù hợp với một nước thuộc địa như nước ta –dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ, bởi vậy tổ chức bí mật mới
có thể tránh khỏi mọi sự đàn áp, khủng bố của kẻ thù
“Bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Tôn Đức Thắng
mở ra vào một ngày cuối năm 1926, khi nhận được chỉ thị của lãnh tụNguyễn Ái Quốc, Tôn Đức Thắng nhanh chóng tán thành gia nhập Hội ViệtNam Cách mạng Thanh niên, tán thành con đường cứu nước giải phóng dântộc gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân, độc lập dân tộc gắn liền vớichủ nghĩa xã hội Từ đây, trong con người Tôn Đức Thắng, yêu nước gắnliền với yêu chủ nghĩa xã hội, trung thành với Tổ quốc, với dân tộc cũngđồng thời là trung thành với sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản lãnhđạo Ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã nâng lòng yêu nước chânchính của Tôn Đức Thắng lên một tầm cao mới, thêm sức mạnh và hăng háilao vào hoạt động cách mạng Năm 1927, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên ở Nam Kỳ thành lập Tôn Đức Thắng được cử là một thành viêntrong ban lãnh đạo Kỳ bộ và trực tiếp phụ trách phong trào công nhân SàiGòn - Chợ Lớn Trên cương vị này, Tôn Đức Thắng đã tích cực tuyên truyềngiác ngộ và cùng các đồng chí của mình tham gia chuẩn bị cho sự ra đời củamột đảng mác-xít chân chính ở Việt Nam Cuối năm 1929, giữa lúc phongtrào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ thì Tôn Đức Thắng bị mật thámPháp bắt, đưa về Khám lớn Sài Gòn và dùng mọi cực hình tàn bạo hòng khai
Trang 19kiên cường, bất khuất của người chiến sĩ cộng sản Chúng kết án Tôn ĐứcThắng 20 năm khổ sai” [16, http://tapchicthanhnien.org.vn].
“Đêm ngày 2 rạng sáng ngày 3/7/1930, con tàu Armand Roussean củathực dân Pháp lặng lẽ rời Sài gòn đưa Tôn Đức Thắng và một số cán bộ,quần chúng yêu nước đày ra Côn Đảo Kể từ đó cho đến ngày 18/8/1945, khiCôn Đảo được giải phóng, người tù mang số tù 5289-TF cùng với lời ghichú trong phiếu quản lý “Phần tử nguy hiểm” đã chứng tỏ nghị lực phithường, ý chí kiên cường và lòng trung thành vô hạn với cách mạng 15 năm
ở địa ngục trần gian Côn Đảo là quãng thời gian thử thách lớn nhất trongcuộc đời hoạt động cách mạng của Tôn Đức Thắng nhưng đó cũng là quãngđời đầy vinh quanh khi đồng chí thực sự biến nhà tù đế quốc thành trườnghọc cách mạng” [3, 282]
“Năm 1930, Lập chi bộ nhà tù lãnh đạo anh em trong tù đấu tranh,được Xứ ủy Nam Kỳ thừa nhận là chi bộ đặc biệt và là đảng viên từ đó.Bằng những kinh nghiệm đã có trong tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn,Tôn Đức Thắng đã bàn với những người cộng sản thành lập Hội nhữngngười tù đỏ làm hạt nhân lãnh đạo, tập hợp tù nhân, tạo sức mạnh đoàn kếtchống lại chế độ lao tù Nhiều Đảng viên cộng sản trong đó có Tôn ĐứcThắng bị kết án khổ sai cũng bị giam chung với tù thường phạm ở Banh I,nơi chuyên giam giữ tù lưu manh, trộm cắp, đã nhiều lần mang án Đây làthủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp mượn bàn tay của những tên tù anhchị nhằm tiêu diệt những người cộng sản Trong một lần liên lạc của Hội,bọn gác ngục đã phát hiện được Tôn Đức Thắng và phạt giam ở Hầm xaylúa Hầm là địa ngục của địa ngục, một hình thức cực hình đối với tù nhân,
địch gọi là “Khu trừng giời” Với âm mưu thâm độc của địch muốn dùng tay
anh chị để hành hạ và giết Tôn Đức Thắng, hiểu được ý đồ này, Tôn Đức
Trang 20Thắng đã tập hợp một số đồng chí cộng sản cũng bị đày ở Hầm xay lúa bàncách nắm lấy quyền lực điều hành để cải thiện đời sống và điều kiện làmviệc cho những bạn tù ở Hầm: bỏ lối cai quản người tù bằng roi vọt, sắp xếp,phân công để tất cả mọi người làm việc theo điều kiện sức khỏe, người yếuthì sàng gạo, đóng bao, người khỏe thì xay và khuân vác thóc, kíp đứng cốithì bố trí thêm người, thay nhau người làm, người nghỉ” [3, 170].
“Năm 1934, sau khi rời khỏi Hầm xay lúa, Tôn Đức Thắng làm việctại Sở Lưới, vừa sửa máy vừa lái canô Sở lưới, với vai trò của Tôn ĐứcThắng trở thành trung tâm giao liên quan trọng của tổ chức Đảng ở Côn Đảo
và là đầu mối để tổ chức cho cán bộ, đảng viên bị tù ở Côn Đảo trốn về hoạtđộng trong đất liền … Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xítNhật, nhanh chóng đánh bại đạo quân Quan Đông hơn một triêu lính tinhnhuệ của Nhật Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật chính thức đầu hàng Liên Xô
và các nước đồng minh không điều kiện Đảng ta kịp thời chớp thời cơ lãnhđạo nhân dân cả nước vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cảnước Sau khi nghe lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập domột đài nước ngoài phát lại, toản đảo vui mừng không xiết Sáng 23/9/1945,tàu Phú Quốc cùng 25 chiếc thuyền bầu đã nhổ neo đưa 1800 tù chính trị trở
về đất liền Chiếc canô vừa được sửa lại mang tên Giải phóng do chính TônĐức Thắng lái đưa một số đồng chí trong Ban lãnh đạo trở về Tuy gian nan,vất vả nhưng chiều ngày 2/3/9/1945 mọi người đã cập bến Đại Ngãi, tỉnhSóc Trăng trong sự đón tiếp nồng nhiệt của Đảng bộ và nhân dân địaphương” [3, 172]
Từ 8/1945: Ở Côn Đảo trở về Nam Bộ làm Uỷ viên Uỷ ban Khángchiến hành chính Nam Bộ phụ trách về vấn đề lương thực và vũ khí
Trang 21Ngày 06/01/1946: Trúng cử là đại biểu Quốc hội khóa đầu của nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa và tham gia phái đoàn Quốc hội sang Pháp.
“Những năm 1945 - 1946, trước tình thế thù trong giặc ngoài vô cùngkhó khăn, Ðảng chỉ rõ một trong những nhiệm vụ cấp bách là ra sức giữvững, tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, nhằm thực hiệnnhiệm vụ chiến lược "Dân tộc trên hết - Tổ quốc trên hết" "Khẩu hiệu cănbản của cả một giai đoạn cách mạng hiện thời phải là: Lập Mặt trận dân tộcthống nhất chống phản động Pháp, tiến tới giành độc lập hoàn toàn" Ðểđoàn kết, tập hợp đông đảo các lực lượng khác nhau có tinh thần dân tộc,yêu nước và muốn cứu nước nhưng còn đứng ngoài Mặt trận Việt Minh,Ðảng chủ trương thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam Tôn ÐứcThắng đã được Ban Chấp hành Trung ương Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minhtrao cho trọng trách đó Tôn Đức Thắng tham gia Ban sáng lập Hội Liênhiệp quốc dân Việt Nam cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn LươngBằng, Võ Nguyên Giáp và nhiều đại biểu khác không phải là Việt Minh.Tôn Ðức Thắng đã hoạt động không mệt mỏi bằng tất cả sức lực tâm trí vàkinh nghiệm của mình cùng các sáng lập viên khác để Hội Liên hiệp quốcdân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) chính thức ra đời ngày 29/5/1946 tại HàNội Hồ Chủ tịch được bầu là Chủ tịch danh dự của Hội, cụ Huỳnh ThúcKháng, Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là Chủ tịch Hội.Tôn Ðức Thắng được bầu là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp quốc dân ViệtNam Sau khi cụ Huỳnh qua đời năm 1947, Tôn Ðức Thắng được Ðảngphân công lãnh đạo Mặt trận Dân tộc thống nhất Sự chọn lựa một người cóđức độ, có khả năng lớn về vận động thuyết phục quần chúng, có khả năngđoàn kết rộng rãi, làm công tác dân vận khéo léo như Tôn Ðức Thắng đảmnhiệm vị trí công tác quan trọng đó là hoàn toàn chính xác Là người lãnhđạo chủ chốt, Tôn Ðức Thắng đã góp phần quan trọng thảo ra Cương lĩnh
Trang 22của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, trong đó nêu rõ mục đích của Hội là:
" đoàn kết tất cả những đảng phái yêu nước và những đồng bào yêu nước không đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường" Tôn Ðức Thắng đã giải quyết thành công những mối quan hệ giai cấp
và dân tộc trong công tác mặt trận - công tác được đồng chí coi là một hìnhthức đấu tranh giai cấp đặc biệt” [3 178]
Trước những âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của Pháp vàtay sai, Ðảng ta chủ trương thống nhất các tổ chức Mặt trận, lập một Mặttrận dân tộc thống nhất duy nhất Tôn Ðức Thắng được Ðảng giao nhiệm vụthống nhất Việt Minh - Liên Việt từ cơ sở đến trung ương theo chủ trương
đó Tôn Ðức Thắng đã chỉ đạo sát sao công việc này Do chuẩn bị tốt, tổchức chu đáo, có kế hoạch cụ thể, đến tháng 8/1950, hai tổ chức Mặt trận đãhợp nhất từ cấp cơ sở tới cấp tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành thànhcông Ðại hội hợp nhất cấp trung ương từ ngày 3/3/1951 đến ngày 7/3/1951.Ðại hội đã bầu Tôn Ðức Thắng là Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc của Mặt trậnLiên Việt Tôn Ðức Thắng đã đem hết sức lực và trí tuệ để thực hiện tốt nhấtđường lối Mặt trận của Ðảng, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàndân ngày càng vững chắc Sau thắng lợi năm 1954, đất nước tạm chia cắt,trong cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, Tôn Ðức Thắng là người con yêuquý của miền Nam ruột thịt, đại diện cho khát vọng thống nhất và độc lập tự
do của miền Nam đi trước về sau, tiếp tục có nhiều đóng góp to lớn cho sựnghiệp đoàn kết toàn dân trong cuộc đấu tranh mới
Trong những hoạt động quốc tế phong phú của mình, Tôn Ðức Thắngcũng thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế sâu sắc và có nhiều đóng góp trongviệc xây dựng, vun đắp tình hữu nghị giữa các dân tộc Tôn Đức Thắng là
Trang 23một trong những người Việt Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào côngnhân Pháp, đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng tình đoàn kết chiến đấugiữa giai cấp công nhân hai nước Tôn Đức Thắng cũng là một trong số rất ítnhững người Việt Nam tham gia bảo vệ thành quả của Cách mạng thángMười Nga 1917 bằng hành động cách mạng cụ thể và thiết thực của mình
Là người đứng đầu Mặt trận Liên Việt, Tôn Ðức Thắng đã tham gia Hộinghị đoàn kết nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia tổ chức ngày11/3/1951 Khối đoàn kết chiến đấu giữa ba tổ chức: Mặt trận Liên Việt;Mặt trận Lào Ítxala; Mặt trận Khme Ítxarắc được tăng cường đã góp phầnkhông nhỏ tăng thêm sức mạnh liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung củanhân dân ba nước Ðông Dương, đẩy mạnh cuộc kháng chiến của cả ba dântộc tiến nhanh đến thắng lợi Tôn Ðức Thắng còn giữ nhiều trọng trách: Chủtịch Hội hữu nghị Việt - Xô; Chủ tịch danh dự Ủy ban bảo vệ hòa bình thếgiới của Việt Nam; Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới v.v Tôn ĐứcThắng luôn lên án chủ nghĩa sô vanh nước lớn, chủ nghĩa vị kỷ dân tộc, kêugọi xây dựng quan hệ hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc dựa trên nguyêntắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của mỗi nước
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng gần 70 năm không ngừng nghỉcủa mình, Tôn Ðức Thắng đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệpđại đoàn kết toàn dân và tăng cường tình hữu nghị đoàn kết giữa các dân tộc.Tấm gương suốt đời tận tuỵ, phấn đấu hy sinh cho Tổ quốc, cho nhân dân;phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, cùng những tình cảm chân thành
và tốt đẹp dành cho đồng bào, chiến sĩ cũng là những điều làm nên sứccảm hóa, thu hút, tập hợp quần chúng của Tôn Ðức Thắng "Ðồng chí làngười tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Ðảng ta và của Hồ Chủtịch …”
Trang 24Từ 1955 - 1977: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam [4, 122].
“Từ 1960: Phó trưởng Ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội
vụ, Tổng Thanh tra toàn quốc, Trưởng Ban thường trực Quốc hội, Phó Chủtịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (tháng 7/1960) Tại Đại hội Đảng lầnthứ III (9/1960) được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trungương Đảng” [4,122]
“Ngày 23/9/1969 đến 1981: Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976) củaĐảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Tại Đại hội lần thứ IIICông đoàn Việt Nam, diễn ra từ ngày 11 đến ngày 14-2-1974, Tôn ĐứcThắng đã được bầu là Chủ tịch danh dự Tổng Công đoàn Việt Nam Từ
1977 – 1981, làm Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Ngày30/3/1980, Qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi” [4,122]
Với những cống hiến to lớn của Tôn Đức Thắng đối với sự nghiệp cách mạng, ông đã được Đảng, nhà nước, nhân dân ta và các nước trên thế giới trao tặng những danh hiệu cao quý:
- Năm 1955, được Ủy ban Giải thưởng hòa bình quốc tế Lênin tặng giảithưởng Lênin “Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc” [4, 123]
- Năm 1958, được Quốc hội và Hồ Chủ Tịch tặng thưởng Huân chương SaoVàng [4,123]
- Năm 1967, được Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng thưởng Huânchương Lênin về những hành động cách mạng góp phần vào cuộc đấu tranhbảo vệ chính quyền Xô viết trong thời kỳ nội chiến [4, 123]
- Năm 1978, được Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng thưởng Huânchương Cách mạng Tháng Mười để ghi nhận công lao đóng góp to lớn vào
Trang 25việc phát triển và củng cố tình hữu nghị anh em, hợp tác về mọi mắt giữaViệt Nam – Liên Xô [4, 123]
- Năm 1978, Đoàn chủ tịch Quốc hội Mông Cổ, tặng thưởng Huân chươngXu-khechương Xu-khê Ba-to, huân chương cao quý nhất của Mông Cổ, đểghi nhận công lao to lớn đã cống hiến cho sự nghiệp hòa bình, hữu nghị vàchủ nghĩa xã hội của các dân tộc; trong việc củng cố tình hữu nghị anh emgiữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mông Cổ [4, 123]
“Theo ông Christoph Giebel, giáo sư khoa Sử tại Đại học Washington,Hoa Kỳ và là tác giả cuốn sách nghiên cứu về ông Tôn Đức Thắng ("Tiềnbối tưởng tượng của những nhà Cộng sản Việt Nam: Tôn Đức Thắng và
chính trị của lịch sử và ký ức" - Imagined Ancestries of Vietnamese Communism: Ton Duc Thang and the Politics of History and Memory) cho
rằng: "không có bằng chứng cho thấy ngay từ thời rất trẻ, thậm chí trước cảthời Thế chiến thứ nhất, ông Tôn đã hoạt động rất tích cực trong các hoạtđộng cách mạng tại Sài Gòn", ông Tôn không bị bắt lính sang Pháp năm
1914 mà được tuyển mộ Trong sự kiện ở Hắc Hải năm 1919, Giebel "tinrằng ông Tôn Đức Thắng không có mặt trên bất kì con tàu nào của Pháp liênquan vụ binh biến ở Hắc Hải", bộ máy tuyên truyền đã dùng hình ảnh ôngTôn cắm cờ trên một trong những con tàu ở Hắc Hải để kết nối cách mạngViệt Nam với Cách mạng tháng Mười Nga Trong cuộc đình công ở Ba Sonnăm 1925, theo Giebel không phải là một cuộc đình công chính trị với mụcđích chống đế quốc, và cũng không "giam chân" được chiến hạm Pháp trênđường đến Trung Quốc” [8, http://vi.wikipedia.org]
Trang 26CHƯƠNG 2:
PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ
VAI TRÒ CỦA TÔN ĐỨC THẮNG
2.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX
Đến cuối thế kỷ XIX, công cuộc bình định Việt Nam căn bản hoànthành, thực dân Pháp tổ chức một Chính phủ chung cho Liên bang ĐôngDương, bộ máy cai trị riêng cho từng xứ, thiết lập hệ thống thuế khóa mới,tập trung mở mang giao thông thủy bộ, đẩy mạnh sản xuất và thương mại,củng cố lực lượng quân sự, hoàn thành bình định Bắc Kỳ, khuếch trươngảnh hưởng và quyền lợi của nước Pháp ở Viễn Đông
Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam
có nhiều thay đổi
“Liên bang Đông Dương được thành lập tháng 10/1887 gồm Bắc Kỳ,Nam Kỳ, và Cao Miên Tháng 4/1899, Liên bang Đông Dương có thêm Lào
và năm sau có thêm Qảng Châu Loan - phần đất Pháp thuê của Trung Quốc
Trang 27Việt Nam được chia thành Nam Kỳ thuộc địa, Bắc Kỳ và Trung Kỳ bảo hộ.Mục đích của chính sách trên nhằm xóa bỏ sự thống nhất của dân tộc ViệtNam, chính thức xóa tên nước ta tên bản đồ thế giới Sự đô hộ đó đã tạo nên
xã hội thuộc địa, nửa phong kiến ở Việt Nam: “Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn “chia để trị” của nó Chính vì thế mà nước
An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung mộtphong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói,
đã bị chia năm sẻ bảy Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hyvọng làm nguội tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam vàtạo ra những mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau Sau khi đẩy họchống lại nhau, người ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại, lậpnên một “Liên bang” gọi là Liên bang Đông Dương” [9, 19]
Đứng đầu Liên bang Đông Dương là toàn quyền, bên dưới là thốngđốc Nam Kỳ, Thống sứ ở Bắc Kỳ và Khâm sứ ở Trung Kỳ
Bộ máy thống trị thuộc địa đều do người Pháp nắm giữ với Công sứ(Bắc Kỳ, Trung Kỳ), Chủ tỉnh (Nam Kỳ) Vị trí, vai trò và vai trò của triềuđình Huế bị thủ tiêu hoàn toàn ở Nam Kỳ, chỉ còn lại chút ít ở Bắc Kỳ vàTrung Kỳ thông qua đội ngũ Kinh lược sứ, Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh,
Án sát ở cấp tỉnh; Tri phủ, Tri huyện, Tri châu ở cấp huyện
“Chính sách về chính trị làm cho dân ta không có một chút tự do, dânchủ nào Để bóc lột được lợi nhuận tối đa ở thuộc địa, thực dân Pháp duy trìphương thức sản xuất phong kiến, thiết lập một cách hạn chế phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa Chúng thực hiện chính sách độc quyền kinh tế vềcác mặt: xuất nhập hẩu, khai thác mỏ, giao thông vận tải, ngân hàng, tàichính, thuốc phiện, muối, rượu, chiếm đất lập đồn điền, lập ra hàng trăm thứ
Trang 28thuế vô lý và vô nhân đạo Chúng bốc lột nhân dân ta tới tận xương, tân tủy,khiến cho dân ta càng nghèo khổ, nước ta xác xơ, tiêu điều” [9, 20].
“Chính sách độc quyền của thực dân pháp đã biến Việt Nam thành thịtrường của chính quốc, phụ thuộc kinh tế của chính quốc; đồng thời thực dânPháp ra sức vơ vét tài nguyên, bốc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ,cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý Cuộc khai thác thuộc địa đãdiễn ra từ năm 1897 đến năm 1914 Do chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) nổ ra, thục dân pháp phải tạm ngừng kế hoạch khai thác Từ năm 1919đến năm 1929, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai.Những cuộc khai thác thuộc địa lớn đó, với sự vơ vét, bốc lột nặng nề làmcho mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân ta với thực dân Pháp càng thêmsâu sắc; đồng thời cũng dẫn tới những ngành kinh tế công nghiệp, khai thác
mỏ, giao thông vận tải, thương nghiệp Trong nông nghiệp đã xuất hiện kinh
tế đồn điền, kinh doanh theo lối tư bản” [9, 20 – 21]
“Về văn hóa - xã hội, thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân để
dễ bề cai trị, giam hãm dân tộc ta trong vòng nô lệ, tạo tâm lý tự ti dân tộc(90% dân số mù chữ) Chúng thực thi chương trình cải cách giáo dục, xáclập các trường tiểu học hệ Pháp - Việt, trường chuyên nghiệp và đại học, lậptrường Pháp chính thay thế trường Hậu bổ (Huế) và trường Sĩ hoạn (HàNội) Từ năm 1915, các trường tiểu học hệ Pháp - Việt được mở rộng đếncác tỉnh lỵ Thực dân Pháp ra sức bưng bít, ngăn chặn ảnh hưởng của nềnvăn hóa tiến bộ trên thế giới, kể cả văn hóa tiến bộ Pháp vào Việt Nam,khuyến khích văn hóa đồi trụy, khuyến khích tệ nạn xã hội: dùng rượu cồn
và thuốc phiện để đầu độc người Việt nam; tuyên truyền tư tưởng khai hóavăn minh, nước mẹ đại Pháp… nhằm tạo tâm lý phục Pháp và sợ Pháp” [9,21]
Trang 29Chính sách cai trị, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm biếnđổi cơ cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam Bên cạnh giai cấp địa chủ phongkiến và giai cấp nông dân đã tồn tại từ lâu, xuất hiện giai cấp tiểu tư sảnthành thị, giai cấp tư sản, giai cấp công nhân Với hệ thống giáo dục và đàotạo phục vụ cho chế độ thuộc địa, cũng ra đời một tầng lớp công chức, trithức mới bên cạnh tầng lớp tri thức nho học của chế độ phong kiến.
2.2 Sự ra đời và phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam
Trong quá trình vũ trang xâm lược Việt Nam, trước sức kháng cựmạnh mẽ của dân tộc ta, đã có lúc thực dân Pháp lộ rõ vẻ lúng túng và buộcphải đưa ra thảo luận vấn đề có nên rút khỏi xứ Bắc Kỳ hay xâm chiếmmạnh hơn Tuy nhiên phái có tư tưởng “chiến bại” không thể đẩy lùi được
dã tâm xâm lược Việt Nam của bọn cầm đầu nước Pháp hồi đó Giới cầmđầu Pháp đã tuyên bố: “Chính sách thực dân là con đẻ của chính sách côngnghiệp… Nền hòa bình xã hội… trong thời đại công nghiêp hiện nay, là vấn
đề thị trường bên ngoài”, đồng thời nêu lên sự cần thiết phải bành trướngchủ nghĩa đế quốc Pháp trên các phương diện kinh tế, chính trị, chiến lược
Để đạt được mục tiêu trên các phương diện đó, thực dân Pháp đã ra sức tăngcường củng cố những nơi chúng đã chiếm được và ráo riết đàn áp phong tràokhang chiến của nhân dân ta Đồng thời, ngay cả những năm 90 thế kỷ XIX,chúng đã bàn định để đề ra một “phương hướng xây dựng công nghiệp” ởthuộc địa Việt Nam [9, 17]
Pôn Đune (Paul Doumer), toàn quyền Đông Dương, cựu Bộ trưởng
Bộ tài chính Pháp, đã phát biểu: “việc thiết lập kỹ nghệ ở thuộc địa chỉ có thể được khuyến khích trong giới hạn nó không làm tổn hại gì cho kỹ nghệ chính quốc Kỹ nghệ chính quốc phải được bổ sung chứ không phải để bị phá sản bởi kỹ nghệ thuộc địa Nói cách khác, kỹ nghệ thuộc địa phải được
Trang 30lập ra để sản xuất những gì mà kỹ nghệ nước Pháp không thể sản xuất được, để gửi hàng tới nơi nào mà hàng của chính quốc không thể gửi tới được Đối với nước Pháp, các thuộc địa, đứng trên mọi quan điểm mà xét, ngay cả trên lĩnh vực kỹ nghệ nữa, chỉ là những căn cứ hoạt động giúp cho nước Pháp bành trướng được ra xa hoạt động của mình trong thế giới” [6,
Trong quá trình đánh chiếm và đàn áp phong trào kháng chiến của dântộc ta, con mắt cú vọ của thực dân Pháp đã nhìn thấy ở khối quần chúngnông dân đông đảo và dũng cảm này nguồn cung cấp nhân lực dồi dào, rẻ
mạt, rất có lợi cho chính sách thực dân của chúng “Ở đây nhân công hầu như không đáng gì hết, rẻ lắm, nhà tư bản chắc chắn sẽ khỏi bị xác xơ.Ở cái xứ An Nam này, thiên nhiên đã phú cho những điều kiện có thể làm cho nhà công nghệ nhảy lên reo mừng khi trong tay họ có một ít tiền” [6, 19].
Đối với người thợ thủ công và các nghề thủ công của nước ta, bọn
chúng cũng đã thấy họ có sự khéo léo tự nhiên rất lớn, có tinh kiên nhẫntrước mọi thử thách Ta không nên lấy làm ngạc nhiên rằng, với những đứctính về trí lực và thể lực đó, người An Nam đã đi vào hầu hết các ngànhnghệ thuật và kỹ nghệ Song nghệ thuật và kỹ nghệ lại chỉ mới phát triển rất
ít, mặc dù có sự khéo léo của người thợ và có sự phù hợp với thị hiếu của
Trang 31dân chúng Nhưng bất kỳ người Âu nào mà muốn hoàn thiện nền kỹ nghệ ởthuộc địa, hoặc muốn thiết lập một nền kỹ nghệ mới, đều được đảm bảo chắcchắn là sẽ kiếm được đủ số thợ cần thiết và không phải lo lắng chút nào đếncái kết quả của việc hướng dẫn về kỹ thuật mà người ta phải tiến hành đốivới những người thợ đó cả.
Chính dưới góc độ đó, với nhu cầu to lớn về nhân lực “người bản xứ”của chúng để “bình định” nước ta, để “phát triển kỹ nghệ ở Đông Dương” đểkhai thác tài nguyên phong phú của nước ta mà người thợ thủ công và nhất
là nông dân lao độngViệt Nam đã bị tư bản thực dân Pháp tấn công mạnhmẽ vào cuộc sống “tự cung, tự cấp” cổ truyền của họ Họ đã bị chúng lôi rakhỏi lũy tre làng thân yêu để ném vào các nơi công trường, hầm mỏ, dưới
hai hình thức chung nhất mà chúng thường gọi trong thời kỳ này là : phu công nhân “cưỡng bức” và phu công nhân “tự do” hay “tình nguyện” [6,
20]
“Một điều hiển nhiên là khi bước chân tới công trường, hầm mỏ,
người nông dân phải từ bỏ nếp sống tự cung tự cấp và hình thức lao động cá
thể cố hữu của mình để buộc phải làm quen với điều kiện sinh hoạt của
người làm thuê ăn lương, với hình thức lao động theo giao kèo Đây là ranh
giới tách biệt đầu tiên giữa người nông dân với người công nhân Trong quátrình phải “thích ứng” với điều kiện sinh hoạt mới, khắc nghiệt, người côngnhân đã ngày càng cảm thấy thân phận của mình quá ư khốn nạn, thậm chí
“khốn nạn hơn cả kẻ tội đồ và kẻ bị đày biệt xứ” Dần dần họ nhận thấy rằngmột khi đã bước chân vào công trường, hầm mỏ của bọn thực dân tư bản là
họ đã thuộc về một lớp người “trông lên thì chẳng sung sướng bằng ai, màtrông xuống thì chẳng ai cực khổ bằng mình” [6, 22]
Trang 32Văn học dân gian còn lưu lại những câu thơ mộc mạc, đượm mùi đắngcay nói lên tình trạnh ăn uống cực khổ của phu đào sông, đắp đường cuối thế
Vào những năm đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp còn đặt ra hàng loạtcác tội trạng hết sức vô lý để đánh đập công nhân cạo mủ cao su ở các đồnđiền Với những tội trạng đó, người công nhân đồn điền như sống trong tùngục:
Lỡ lầm vào đất cao su Chẳng tù thì cũng như tù chung thân
và cái cảnh:
Cao su đi dễ khó về Trai thì bỏ xác, gái thì ra ma [4, 17]
đối với họ như là định mệnh
Trong cuộc sống tập trung khắc nghiệt đó, ở người công nhân, cáitâm lý so sánh giữa cuộc đời của mình với người khác, đã ảnh hưởng rấtnhiều đến sự hình thành và phát triển tâm lý của những người đồng hội,
Trang 33đồng thuyền, đồng bệnh tương liên Với truyền thống đoàn kết, thương yêuđùm bọc lẫn nhau ở chốn nông thôn trước kia, thì giờ đây, khi đã trở thànhtầng lớp tận cùng của xã hội, họ lại càng thương yêu, đùm bọc lẫn nhau hơnnữa Ngoài ra, người công nhân bị dồn ra các công trường hầm mỏ khôngphải là bị dồn ra một cách lẻ loi, đơn độc mà từng đoàn, từng tập thể lớnhoặc nhỏ, nếu không phiên chế theo từng lán thuộc từng tỉnh khác nhau, thìcũng là những người đồng chí đã từng sát cánh cùng nhau trong cuộc khángchiến chống giặc cứu nước Bởi vậy nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho họ
đã hiểu nhau lại càng hiểu nhau sâu sắc hơn, đã nhất trí với nhau hơn trongcuộc đấu tranh chống kẻ thù chung của dân tộc, đồng thời lại là kẻ thù trựctiếp của giai cấp mình mà khi bấy giờ họ chưa thể tự giác nhận thức được
Chính sách sử dụng nhân công của thực dân tư bản Pháp ở Việt Nam
là một chính sách bần cùng hóa chứ không phải là vô sản hóa người nôngdân lao động nước ta Chính sách đó đã tạo ra một lớp người cùng kiệt xác
xơ nhất và ngày càng nhiều trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến Song, sốngười cùng khổ này không phải đã hoàn toàn và vĩnh viễn thành vô sảnthành người công nhân, gắn chặt cuộc đời mình với một công trường, hầm
mỏ tư bản chủ nghĩa nhất định nào đó Số người bị cưỡng bức bị luân phiên
ra làm phu, làm công nhân ở công trường, hầm mỏ Số người gội là “tự do”thì” đi vào con đường nô lệ bán sức lao động, trở thành vô sản” Thế mà sứclao động của họ cũng không “đắt” cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng : đồnglương vô cùng rẻ mạt, trong hai ngày chỉ có việc làm một ngày, trong mộtnăm chỉ có việc nhiều nhất là 160 ngày Ai muốn làm liên tục cũng khôngđược Điều này không phải là do ít việc mà đó là một thủ đọa vô cùng thâmđộc, dã man của bọn thực dân tư bản nhằm “luôn luôn đổi mới sức lao động”trước một khối lượng nhân công đông đúc, nghèo xác nghèo xơ thườngxuyên túc trực tìm công ăn việc làm nơi công trường hầm mỏ Do đó chính
Trang 34sách sử dụng nhân công kiểu này đã ảnh hưởng đến sự hình thành giai cấpcông nhân Việt Nam Nó làm cho lớp người này chưa thể ổn định ngayđược Đặc biệt khi nghành khai thác mỏ ngày càng mở rộng quy mô thì số
thợ ngày càng thêm đông đảo “Theo các tác giả công trình Đông Dương thuộc Pháp vào năm 1906, số công nhân thường xuyên làm việc trong 200
xí nghiệp của tư bản Pháp ở Đông Dương là 55.000 người” [13, 45]
“Như vậy, đến trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, cả ba xứ đều cócông nhân công ngiệp tập trung, giàu tinh thần đoàn kết đấu tranh chống ápbức xã hội Do còn non trẻ, giai cấp công nhân Việt Nam vẫn còn phải hòavào các phong trào dân tộc Tuy nhiên, những hình thức liên minh giai cấp
đầu tiên đã xuất hiện dưới các tên gọi: Hội ái hữu, Hội trí tri, Hội hợp thiện
ở Bắc Kỳ năm 1906 Các cuộc đấu tranh của công nhân đã nổ ra, lúc đầu lấymục tiêu đấu tranh kinh tế và từng bước xuất hiện yếu tố đấu tranh chính trị.Đặc biệt là cuộc đấu tranh tháng 5/1909 của 200 công nhân, viên chức hãngLiên hiệp thương mại Đông Dương (LUCI) và cuộc đấu tranh của công nhân
Ba Son kết hợp với cuộc bãi khóa của học sinh trường Bách Nghệ - Sài Gònnăm 1912” [13, 45]
“Mặc dù chỉ chiếm khoảng 1,25% dân số nhưng công nhân lại sốngtập trung tại các thánh phố, các khu công nghiệp Tinh thần kỷ luật, ý thứctương thân của công nhân được rèn giũa trong quá trình lao động và đấutranh Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918), giai cấpcông nhân Việt Nam tiếp tục tăng lên Số lượng công nhân mỏ năm 1913 là12.000 người; năm 1914 là 15.000 người; năm 1915 là 15.500 người và năm
1916 là 17.000 người Để phục vụ cho chiến tranh, tư bản Pháp còn pháptriển một số nghành công nghiệp khác như khai thác than, thiếc, nghànhđóng tàu, sửa chữa quân nhu, hóa chất… Vì thế số lượng công nhân tăng lên
Trang 35cùng với sự ra đời các nghành công nghiệp đó Số lượng công nhân tăngnhanh trong những năm tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 –1929), đến cuối năm 1929 số công nhân Việt Nam là hơn 22 vạn người” [13,45].
Trong hoàn cảnh xã hội thuộc địa nửa phong kiến, cũng như giai cấpnông dân và các tầng lớp lao động khác, giai cấp công nhânViệt Nam chịu
sự áp bức, bốc lột của cả đế quốc, phong kiến và giai cấp tư sản Phần lớncông nhân xuất thân từ nông dân, đó là cơ sở khách quan, thuận lợi cho côngnhân và nông dân liên minh chặt chẽ ngay từ khi mới ra đời và phát triểntrong quá trình đấu tranh cách mạng Đó là tiền đề của khối Liên minh côngnông sau này dưới sự lãnh đạo của chính Đảng của giai cấp công nhân ViệtNam
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc,không chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa công đoàn, chủ nghĩa cải lương, tuy sốlượng còn ít, trình độ văn hóa, kỹ thuật, công nghệ còn thấp, nhưng giai cấpcông nhân Việt Nam thực sự đại biểu cho lực lượng sản xuất hiện đại, mộtgiai cấp tập trung cao, có ý thức kỷ luật và năng lực cách mạng, có tinh thầnquốc tế vô sản
“Kế thừa truyền thống anh hùng của dân tộc, giai cấp công nhân ViệtNam vừa có ý thức giai cấp vừa có tinh thần yêu nước sâu sắc Ra đời vàphát triển trong điều kiện lịch sử khi mà giai cấp công nhân nước Nga dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Bôsêvích đã giành thắng lợi trong Cáchmạng Tháng Mười năm 1917, đã nắm chính quyền, Quốc tế Cộng sản đãthành lập (tháng 3/1919), lại được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giác ngộ, truyền
bá lý luận tiên phong, giai cấp công nhân Việt Nam đã nhanh chóng pháttriển từ tự phát đến tự giác Hình thức đấu tranh đặc thù là bãi công được sử
Trang 36dụng thường xuyên hơn Trong những năm 20 của thế kỷ XX đã diễn rahàng chục cuộc bãi công của công nhân Nổi bật nhất là cuộc bãi công của
600 thợ nhuộm ở Chợ Lớn (tháng 11/ 1922) đã được lãnh tụ Nguyễn ÁiQuốc khi đó đang ở Pháp quan tâm và cổ vũ Người đánh giá đây là dấu hiệucủa thời đại mới Cuộc bãi công của 1.000 công nhân xưởng Ba Son (SàiGòn) từ ngày 4/8/1925 đến ngày 28/11/1925 để “kìm chân” chiếc tàuJ.Misơlê của đế quốc Pháp, không cho đưa lính sang đàn áp cách mạng
Trung Quốc gắn liền với sự lãnh đạo và tổ chức của Công hội do Tôn Đức
Thắng thành lập Sự kiện đó đánh dấu mốc quan trọng của giai cấp côngnhân Việt Nam bắt đầu bước vào thời kỳ đấu tranh có tổ chức, chỉ đạo chặtchẽ, biểu hiện tinh thần quốc tế cao cả và ý thức chính trị rõ rệt Từ năm
1925 và nhất là trong những năm 1925 – 1928, với phong trào “vô sản hóa”
của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân Việt Nam đã phát triển mang tính tự giác” [13, 46]
2.3 Phong trào công nhân Việt Nam
2.3.1 Giai đoạn tự phát
Ra đời trong cảnh nước mất, nhà tan, hình thành trong quá trình khaithác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân đế quốc Pháp, phong trào đấu tranhcủa giai cấp công nhân Việt Nam không thể không chịu ảnh hưởng của thời
kỳ lịch sử đó Nếu như người nông dân Việt Nam, trước chính sách cưỡngbức lao động của thực dân Pháp đã lâm vào cảnh:
“Đến cùng tắc biến
Kẻ bán ruộng, bán nương Người bán cột, bán giường Đưa con đi cầm cố
Trang 37Cởi áo quân ra cầm cố” [9, 158]
mà vẫn không thoát khỏi nạn đi phu, thì khi đã trở thành người vô sản, họ
không con gì để bán ngoài sức lao động của bản thân Trong những năm
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người lao động Việt Nam đã coi việcbướcchân vào hàng ngũ công nhân, hàng ngũ của những người làm thuê ănlương, hàng ngũ những người cùng khổ nhất trong những người cùng khổ,như là đã bước vào thế cùng rồi Biện pháp duy nhất của người công nhân đểthoát khỏi thể cùng trong khi không còn gì để bán, đó là vùng dậy giành lạinhững gì đã bị bọn thực dân cướp nước và thống trị tước đoạt mất Bởi vậy,
“quá trình chuyển từ người nông dân sang công nhân trong thời kỳ lịch sử này cũng là một quá trình đấu tranh dưới nhiều hình thức phong phú, chứa đựng nội dung chính trị và kinh tế của tầng lớp người lao động mới này để giành lại giá trị cho con người của mình” [9, 158].
Người công nhân từ công trường hầm mỏ trở về đồng ruộng với hình
ảnh “lưa hai tròng con mắt” đã là những cái loa tuyên truyền mạnh mẽ nhất,
có tính thuyết phục nhất, và hơn nữa bản thân con người bằng xương bằngthịt của họlà mẫu mực điển hình nhất, là những bằng cứ hùng hồn nhất tốcáo cuộc sống lầm than cực nhục mà họ phải chịu dưới sự áp bức bốc lột củabọn thực dân tư bản thống trị Tình cảnh sống của người công nhân dã đồnthổi đi khắp trong Nam ngoài Bắc, ai nghe cũng phải kinh hãi tức giận, cho
là người phương Tây đãi mình như muông chim, coi mình như gỗ đá… từ
đó trước khi bước chân vào công trường, hầm mỏ, lòng căm giận áp bứcthống trị của người lao động đã được nhân lên gấp bội Biện pháp duy nhấtcủa người công nhân để thoát khỏi thế cùng trong khi không còn gì để bán
đó, là vùng dậy dành lại những gì đã bị bọn thực dân cướp nước và thống trịtước đoạt mất Bởi vậy, quá trình chuyển biến từ người nông dân sang người
Trang 38công nhân trong thời kỳ lịch sử này cũng là quá trình đấu tranh dưới nhiềuhình thức phong phú, chứa đựng nội dung chính trị kinh tế của lớp người laođộng mới này để giành lại giá trị mới cho con người của mình.
“Hiện tượng độc đáo là hình thức đấu tranh đầu tiên trong giai đoạn tự
phát của giai cấp công nhân Việt Nam là bỏ trốn về quê cá nhân hay tập thể.
Từ 1885, khi sách Pháp ghi rõ là 171 người phu trên tuyến đường Đèo Quan(Lạng Sơn) bỏ trốn thì hình thức này thật phổ biến Công nhân, phu trên cáctuyến đường sắt ở Bắc Kỳ, mỏ than Kế Bào, mỏ sắt Lang Hít (TháiNguyên), các mỏ thiếc, kẽ, bô xít ỏ Cao Bằng, Bắc Cạn, mỏ Đá Hải DươngĐông Triều cho tới tận 1917 bỏ trốn về quê vẫn thường xảy ra Từ cuối năm
1892 đến đầu năm 1893, dưới sự lãnh đạo của Lãnh Pha, công nhân vùng
mỏ Quảng Yên phối hợp với phong trào dân tộc toan chiếm lại vùng ĐôngTriều Nghĩa quân của Lãnh Hy chiếm Hà Vốc (phía tây mỏ Kế Bào) làmcăn cứ và hoạt động mạnh quanh vùng Kế Bảo”
“Đến năm 1895, thủy thủ Pháp và thủy thủ Việt Nam làm việc trên tàuSaint Louis đã đấu tranh đòi tăng lương và chống cách đối xử tàn tệ của chủtàu Khi tàu cập bến Hải Phòng, họ đã đồng lòng đình công, đưa yêu sách.Chủ tàu phải cầu cứu tòa án thực dân can thiệp Bọn chúng đã bắt giam 7thủy thủ Pháp, trong khi đó 5 thủy thủ Việt Nam đã bỏ việc lên bờ khônglàm cho tàu nữa Cuộc đình công này kéo dài từ ngày 11/5 đến 6 giờ chiềungày 13/5/1895’ [4, 19]
“Tháng 10/1898, công nhân mỏ than khu Cái Đài, Kế Bào đình công.Ngày 19/10/1898, 400 đại biểu công nhân gồm cả Việt Nam và Trung Quốckeo đến văn phòng chủ mỏ Defaix ở Port-Wallut đấu tranh Trước tên công
sứ Quảng Yên Benoit, anh em công nhân đã “dùng lời lẽ đe dọa để đòi trảlương và trở về quê quán” Bọn thống trị và chủ nô tìm mọi cách chia rẽ