1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI BỀN VỮNG

100 556 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Môi Trường Sinh Thái Và Vấn Đề Phát Triển Kinh Tế - Xã Hội Bền Vững
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Môi trường Sinh thái
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI BỀN VỮNG Tp. Hồ Chí Minh, tháng 05 2014Mục lụcTrang Lời nói đầu31. THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG SINH THÁI HIỆN NAY4 1.1. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG41.1.1. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI4 1.1.1.1. Ô nhiễm đất5 1.1.1.2. Ô nhiễm không khí5 1.1.1.3. Ô nhiễm nước8 1.1.1.4. Ô nhiễm tiếng ồn171.1.2. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM19 1.1.2.1. Ô nhiễm không khí 19 1.1.2.2. Ô nhiễm nước 28 1.1.2.3. Ô nhiễm bởi rác thải31 1.1.2.4. Ô nhiễm tiếng ồn31 1.1.2.5. Khai thác khoáng sản gây ô nhiễm môi trường34 1.1.2.6. Phá rừng lấy gỗ, củi, làm hồ chứa thủy lợi, thủy điện35 1.2. SỰ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN QUÁ MỨC, KHÔNG CÓ KẾ HOẠCH DẪN TỚI HỦY HOẠI MÔI TRƯỜNG SINH THÁI361.2.1. Phá hủy cân bằng, hủy hoại môi trường36 1.2.1.1. Mất cân bằng sinh thái37 1.2.1.2. Mất cân bằng nước381.2.2. Làm giảm sút chất lượng cuộc sống và đói nghèo402. ĐỂ ĐẢM BẢO VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI BỀN VỮNG PHẢI PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ XANH, MỘT XÃ HỘI VỚI CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CAO, VÀ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI BỀN VỮNG 2.1. PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ XANH, MÔI TRƯỜNG XANH442.1.1. NỀN KINH TẾ XANH44 2.1.1.1. Khái niệm nền kinh tế xanh44 2.1.1.2. Các nguyên lí của một nền kinh tế xanh46 2.1.1.3. Điển hình về một số mô hình nền kinh tế xanh trên thế giới 51 2.1.1.4. Nền kinh tế xanh ở Việt Nam522.1.2. MÔI TRƯỜNG XANH60 2.1.2.1. Biến nước mặn thành nước ngọt61 2.1.2.2. Thu hồi khí CO261 2.2. PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HÀI HÒA VỪA PHÁT TRIỂN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG, VỪA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG XANH702.2.1. PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ SINH THÁI70 2.2.1.1. Lịch sử ra đời của đô thị sinh thái70 2.2.1.2. Các tiêu chí đánh giá đô thị sinh thái trên thế giới722.2.2. CÔNG NGHỆ XANH GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 78 2.2.2.1. Xà phòng thông minh tiết kiệm nước78 2.2.2.2. Sản xuất sản phẩm tiêu dùng bằng nhựa tái chế79 2.2.2.3. Khí CO2 sản xuất nguyên liệu làm chất dẻo 80 2.2.2.4. Sản xuất nhiên liệu sinh học từ rác80 2.2.2.5. Sản xuất chất dẻo từ thực vật82 2.2.2.6. Lợi ích lớn từ điện mía83 2.2.2.7. Nilông sinh học làm từ bột khoai mì 85 2.2.2.8. Ngành tái chế phế liệu cơ hội lớn cho việc làm tại Việt Nam 87Lời kết91Tài liệu tham khảo92Phụ lục93 LỜI NÓI ĐẦUSự phát triển của xã hội hiện đại với những thành tựu to lớn về phương diện văn minh vật chất từ nửa sau thế kỷ XX đã tạo nên áp lực nặng nề của con người đối với môi trường tự nhiên, làm cho giới tự nhiên mất đi khả năng tự phục hồi. Sự suy thoái môi trường đã tiềm tàng nguy cơ khủng hoảng sinh thái toàn cầu. Mặc dù đã được nhiều chính phủ và các tổ chức quốc tế, đặc biệt là giới khoa học liên tục tổ chức các hoạt động cụ thể để bảo vệ môi sinh và đã thu được một số kết quả. Tuy nhiên những cố gắng đó vẫn chưa đủ để chặn đứng nguy cơ khủng hoảng sinh thái và bức tranh môi trường thế giới vẫn đang còn là một bức tranh không mấy sáng sủa. Cho đến nay việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam cũng như phạm vi toàn cầu vẫn còn rất nhiều bất cập, đòi hỏi phải được giải quyết một cách đồng bộ hơn, triệt để hơn. Chính vì vậy, bài tiểu luận “Môi trường sinh thái và vấn đề phát triển kinh tế xã hội bền vững” tập trung trình bày về tình trạng môi sinh toàn cầu cũng như ở Việt Nam và tổng hợp và đưa ta một số giải pháp, ý kiến để đảm bảo việc phát triển kinh tế xã hội bền vững phải phát triển nền kinh tế xanh, một xã hội với chất lượng cuộc sống cao, và môi trường sinh thái bền vững.Hi vọng với tiểu luận này sẽ góp phần vào việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng môi trường sinh thái và vấn đề phát triển bền vững trên thế giới và Việt Nam; và sẽ là tài liệu cho những ai quan tâm tới chủ đề nóng này. 1. THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG SINH THÁI HIỆN NAY1.1. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNGCó rất nhiều định nghĩa về môi trường. Theo “luật bảo vệ môi trường của Việt Nam”, thì : “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.Còn theo kinh tế học: “Môi trường là toàn bộ các vùng vật lý và sinh học, các điều kiện vật chất tự nhiên với tư cách là sản phẩm lâu dài của tạo hóa, có trước con người, có tương tác lẫn nhau, và cùng tác động đến sự hình thành, sinh tồn và phát triển của con người, cùng các hoạt động xã hội của họ. Về cơ cấu, môi trường bao gồm sinh quyển (không khí, nước, đất đai, ánh sáng...) và hệ sinh sống, mà giữa chúng có ảnh hưởng tương tác đến nhau, và cùng ảnh hưởng đến cuộc sống của con người”...Vậy nhưng, môi trường toàn cầu đang có chiều hướng ngày càng xấu đi và có ảnh hưởng nhất định đến sự tồn vong của con người. Và con người đang đứng trước những thách thức lớn về môi trường toàn cầu – đó chính là ô nhiễm môi trường.Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường.Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát của triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu. 1.1.1. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRÊN THẾ GIỚIMôi trường toàn cầu đang có chiều hướng ngày càng xấu đi và có ảnh hưởng nhất định đến sự tồn vong của con người. Và con người đang đứng trước những thách thức lớn về môi trường toàn cầu.1.1.1.1. Ô nhiễm đấtTổng diện tích đất trên thế giới 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng. Trong đó, 12% tổng diện tích là đất canh tác, 24% là đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm lầy. Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác hơn 1.500 triệu ha. Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70%; ở các nước đang phát triển là 36%. Trong đó, những loại đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất rừng nâu chỉ chiếm 12,6%; những loại đất quá xấu như đất vùng tuyết, băng, hoang mạc, đất núi, đất đài nguyên chiếm đến 40,5%; còn lại là các loại đất không phù hợp với việc trồng trọt như đất dốc, tầng đất mỏng, ... Hiện nay, trên toàn thế giới đang có xu hướng tăng hiện tượng đất bị ô nhiễm, bởi: một là, do con người quá lạm dụng hoặc do tác động phụ của việc sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, chất diệt cỏ và các chất kích thích sinh trưởng khác. Mỗi năm, trên thế giới có hàng nghìn hóa chất mới được đưa vào sử dụng trong khi con người vẫn chưa hiểu biết hết tác động phụ của chúng đối với hệ sinh vật. Hai là, không xử lý đúng kỹ thuật các chất thải công nghiệp và sinh hoạt khác của người và súc vật, hoặc các xác sinh vật chết gây ra... Ô nhiễm đất làm giảm năng suất và chất lượng cây trồng, hủy diệt sự sống một số sinh vật trong những khu vực ô nhiễm nặng, đồng thời còn đe dọa đến sức khỏe con người thông qua vật nuôi, cây trồng, thậm chí gây ra những biến dạng sinh thái và di truyền nặng nề cho hệ sinh sống. 1.1.1.2. Ô nhiễm không khíSự phát triển công nghiệp và đời sống đô thị dựa trên “nền văn minh dầu mỏ” đang làm không khí bị ô nhiễm bởi các chất thải khí SO2, NO2, CO, hơi chì, mồ hóng, tro và các chất bụi lơ lửng khác sinh ra trong quá trình đốt cháy nhiên liệu hay các chất cháy khác...Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, hiện có tới 50% dân số thành thị trên thế giới sống trong môi trường không khí có mức khí SO2 vượt quá tiêu chuẩn và hơn 1 tỉ người đang sống trong môi trường có bụi than, bụi phấn vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Những năm gần đây, lượng khí thải ngày càng tăng lên (trong vòng 20 năm tới sẽ tăng gấp 15 lần so với hiện nay). Sự ô nhiễm không khí có thể trực tiếp giết chết hoặc hủy hoại sức khỏe các sinh vật sống, gây ra “hiệu ứng nhà kính” và các trận mưa a xít không biên giới làm biến dạng và suy thoái môi trường, hủy diệt hệ sinh thái (80% nước hồ miền nam Na Uy đã bị axit hóa từ những trận mưa axit).Theo báo cáo mới nhất của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), tính riêng năm 2010, lượng phát thải nhà kính trên toàn thế giới đã gia tăng ở mức kỷ lục, phủ bóng mờ lên niềm hy vọng về việc duy trì sự nóng lên toàn cầu ở ngưỡng an toàn.Theo báo cáo, năm 2010 có tới 30,6 tỷ tấn CO2 phát thải vào bầu khí quyển, chủ yếu do hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch, tăng 1,6 tỷ tấn so với năm 2009.Sự gia tăng này đồng nghĩa với việc mục tiêu ngăn nhiệt độ tăng trên 20C – ngưỡng có thể tiềm ẩn nguy cơ gây nên “biến đổi khí hậu nguy hiểm” theo các nhà khoa học – sẽ là “điều không tưởng”, ông Fatih Birol, nhà kinh tế học hàng đầu của IEA, cũng là một trong những chuyên gia hàng đầu trên thế giới về phát thải, cho biết.Thêm nữa, trái ngược với một số dự đoán, đợt khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất toàn cầu trong vòng 80 năm qua thực tế chỉ tác động rất nhỏ tới lượng phát thải. Ở Trung Quốc, Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc dùng từ nghiêm trọng để mô tả thực trạng ô nhiễm trong báo cáo môi trường thường niên mà họ mới công bố.Trong bản báo cáo mang tên Các điều kiện môi trường, Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc nói rằng, nhìn chung các vấn đề môi trường trong năm ngoái đều nghiêm trọng, Guardian đưa tin.Chất lượng không khí, nước và đất của Trung Quốc đều giảm rõ rệt, báo cáo nhấn mạnh.Báo cáo tập trung vào ô nhiễm nước và không khí hai loại ô nhiễm mà dư luận quan tâm nhiều nhất trong những tháng gần đây. Số liệu trong báo cáo cho thấy tỷ lệ nước ngầm tại 198 thành phố có chất lượng tệ hoặc cực kỳ tệ chiếm 57,3% trong năm 2012 và hơn 30% sông lớn của Trung Quốc bị ô nhiễm hoặc ô nhiễm nghiêm trọng. Năm ngoái chỉ 27 trong số 113 thành phố quan trọng sở hữu bầu không khí đạt chất lượng tiêu chuẩn.Từ đầu năm ngoái, khói mù đặc đã bao phủ một khu vực có diện tích hơn một triệu km2, tác động tới vài trăm triệu người, China Daily đưa tin.Ô nhiễm môi trường không chỉ tác động tới cuộc sống ở đô thị, mà còn ảnh hưởng tới các những vùng nông thôn. Chất thải từ các cơ sở công nghiệp đang làm giảm chất lượng môi trường ở các vùng quê.Công nghiệp hóa, đô thị hóa và hiện đại hóa nông nghiệp là những nguyên nhân chính gây nên các vấn đề môi trường, báo cáo lập luận.Giới lãnh đạo Trung Quốc ý thức sâu sắc sự cấp bách của các vấn đề môi trường. Vài ngày trước Bộ trưởng Bảo vệ Môi trường Trung Quốc thông báo Bắc Kinh sẽ nâng cao tiêu chuẩn chống ô nhiễm, khuyến khích người dân sử dụng năng lượng sạch và lập các hệ thống cảnh báo để theo dõi khói mù. Đánh bắt cá voi làm tăng khí thải CO2Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ được BBC công bố mới đây, các vụ đánh bắt cá voi kéo dài một thế kỷ qua đã thải ra hơn 100 triệu tấn khí carbon (CO2) vào bầu khí quyển. Cơ thể khổng lồ của cá voi chứa nhiều khí CO2, khi chúng bị giết, khí CO2 sẽ thoát ra ngoài.Tiến sĩ Andrew Pershing thuộc Đại học Maine của Mỹ mô tả cá voi được xem như những “khu rừng của đại dương”. Đặc biệt khi cá voi còn nhỏ, chúng được ví như nguồn dầu sống nếu nấu lên sẽ thải khí carbon vào không khí. Nếu cá voi chết tự nhiên, cơ thể của chúng chìm xuống biển và xem như lượng khí carbon cũng sẽ được chôn dưới biển.Theo tính toán ban đầu, trong hơn 100 năm qua, số cá voi bị săn bắt đã thải ra lượng khí tương đương với việc đốt 130.000km² rừng nhiệt đới.Theo tiến sĩ Pershing, lượng khí này vẫn còn khá nhỏ so với hàng tỷ tấn CO2 do các hoạt động của con người thải ra mỗi năm nhưng cá voi đóng vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và vận chuyển khí CO2 trong hệ sinh thái của biển. Vì thế cần sớm áp dụng cơ chế “quota” khí CO2 tương tự như trên mặt đất trong lĩnh vực săn bắt cá voi, một mặt để bảo tồn loài cá này, mặt khác bảo vệ hệ sinh thái biển và bầu khí quyển. Ở nhiều thành phố, ô nhiễm không khí đang đạt tới mức đe dọa sức khỏe con người, theo nhận định của WHO sau khi kết hợp dữ liệu về chất lượng không khí trong thời gian từ 20032010 tại 1.100 thành phố ở 91 quốc gia. Trong đó, đặc biệt nghiêm trọng là Trung Quốc và các quốc gia khu vực Đông Nam Á.WHO ước tính hơn 2 triệu người trên thế giới chết hằng năm vì ô nhiễm không khí ngoài trời và trong nhà, do hít phải những hạt bụi PM10 rất nhỏ, có thể xâm nhập vào phổi và mạch máu, gây ra bệnh tim, ung thư, hen suyễn và các bệnh về hô hấp. Mức ô nhiễm không khí hiện tại trung bình đã gấp 15 lần so với mức gợi ý của WHO.Ngưỡng chuẩn mà WHO đề xuất là 20 microgam trong 1m3 (ugm3). Tuy nhiên, báo cáo của WHO cho thấy ở một số thành phố, mật độ lên tới 300 ugm3 và rất ít nơi còn đáp ứng được gợi ý của WHO.Theo các chuyên gia của WHO, việc giảm mật độ bụi PM10 từ 70 ugm3 xuống 20 ugm3 có thể giúp giảm 15% tỉ lệ tử vong do các bệnh liên quan tới ô nhiễm không khí. Nếu thành công, đây sẽ là tiến bộ lớn trong lĩnh vực sức khỏe cộng đồng.Ở các nước phát triển và đang phát triển, yếu tố lớn nhất gây nên ô nhiễm không khí ngoài trời là các phương tiện giao thông gắn máy, các nhà sản xuất nhỏ lẻ và các ngành nghề công nghiệp, đốt than để nấu ăn và sưởi, cũng như nhà máy chạy bằng than. Đốt gỗ và than để sưởi ấm được xem là tác nhân quan trọng với ô nhiễm không khí, đặc biệt ở những vùng nông thôn vào những tháng trời giá lạnh, theo báo cáo của WHO.Năm 2008, số người tử vong vì ô nhiễm không khí ngoài trời là 1,34 triệu người. Nếu các quốc gia thực hiện theo hướng dẫn của WHO, thì khoảng 1,09 triệu cái chết đã có thể được ngăn chặn vào năm này. Số người chết như vậy đã tăng so với dự đoán 1,15 triệu người năm 2004. Việc tăng về số người thiệt mạng do nhiều nguyên nhân, như ô nhiễm tập trung, dân số ở đô thị tăng.1.1.1.3. Ô nhiễm nước70% diện tích Trái Đất được bao phủ bởi nước nhưng chỉ có 2,5% nước trên thế giới là nước ngọt, trong khi 97,5% là đại dương. Trong đó, 0,3% nước ngọt của thế giới nằm trong các sông, hồ; 30% là nước ngầm, phần còn lại nằm trên các sông băng, núi băng. 70% lượng nước trên thế giới được sử dụng cho nông nghiệp, 22% cho công nghiệp và 8% phục vụ sinh hoạt. Theo ước tính, trung bình một người ở các nước phát triển sử dụng 500800 lítngày so với 60150 lítngườingày ở các nước đang phát triển.Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển. Đây là thống kê của Viện Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển.Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ đáng lo ngại. Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát triển kỹ nghệ. Ta có thể kể ra đây vài thí dụ tiêu biểu.Anh Quốc chẳng hạn: Ðầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch. Nó trở thành ống cống lộ thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn, nhưng vấn đề cũng không khác bao nhiêu. Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối thế kỷ 18. Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp bị ô nhiễm mãn tính. Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người, là nạn nhân của nhiều tai nạn (như nạn cháy nhà máy thuốc Sandoz ở Bâle năm 1986 chẳng hạn) thêm vào các nguồn ô nhiễm thường xuyên.Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương ở bờ phía đông cũng như nhiều vùng khác. Vùng Ðại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng.Trong ô nhiễm nguồn nước, báo động nhất là vấn đề ô nhiễm nguồn nước của các con sông. Dưới đây là 10 con sông đang trong tình trạng cạn kiệt nước và ô nhiễm nhất trên thế giới:Sông Citarum, IndonesiaSông Citarum, Indonesia, rộng 13.000km2, là một trong những dòng sông lớn nhất của Indonesia. Theo số liệu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), sông Citarum cung cấp 80% lượng nước sinh hoạt cho 14 triệu dân thủ đô Jakarta, tưới cho những cánh đồng cung cấp 5% sản lượng lúa gạo và là nguồn nước cho hơn 2.000 nhà máy nơi làm ra 20% sản lượng công nghiệp của đảo quốc này.

Trang 2

2

Mục lục

Trang

1 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG SINH THÁI HIỆN NAY 4

1.1.2.5 Khai thác khoáng sản gây ô nhiễm môi trường 34

1.1.2.6 Phá rừng lấy gỗ, củi, làm hồ chứa thủy lợi, thủy điện 35

1.2 SỰ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN QUÁ MỨC, KHÔNG CÓ KẾ

1.2.1 Phá hủy cân bằng, hủy hoại môi trường 36

1.2.2 Làm giảm sút chất lượng cuộc sống và đói nghèo 40

2 ĐỂ ĐẢM BẢO VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI BỀN VỮNG PHẢI PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ XANH, MỘT XÃ HỘI VỚI CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CAO, VÀ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI BỀN VỮNG

2.1 PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ XANH, MÔI TRƯỜNG XANH 44

2.1.1.2 Các nguyên lí của một nền kinh tế xanh 46

2.1.1.3 Điển hình về một số mô hình nền kinh tế xanh trên thế giới 51

Trang 3

3

2.1.1.4 Nền kinh tế xanh ở Việt Nam 52

2.1.2.1 Biến nước mặn thành nước ngọt 61

2.2 PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HÀI HÒA VỪA PHÁT TRIỂN CHẤT LƯỢNG CUỘC

2.2.1.1 Lịch sử ra đời của đô thị sinh thái 70

2.2.1.2 Các tiêu chí đánh giá đô thị sinh thái trên thế giới 72

2.2.2 CÔNG NGHỆ XANH GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 78

2.2.2.1 Xà phòng thông minh tiết kiệm nước 78

2.2.2.2 Sản xuất sản phẩm tiêu dùng bằng nhựa tái chế 79

2.2.2.3 Khí CO2 sản xuất nguyên liệu làm chất dẻo 80

2.2.2.4 Sản xuất nhiên liệu sinh học từ rác 80

2.2.2.5 Sản xuất chất dẻo từ thực vật 82

2.2.2.7 Ni-lông sinh học làm từ bột khoai mì 85

2.2.2.8 Ngành tái chế phế liệu - cơ hội lớn cho việc làm tại Việt Nam 87

Trang 4

4

LỜI NÓI ĐẦU

Sự phát triển của xã hội hiện đại với những thành tựu to lớn về phương diện văn minh vật chất từ nửa sau thế kỷ XX đã tạo nên áp lực nặng nề của con người đối với môi trường tự nhiên, làm cho giới tự nhiên mất đi khả năng tự phục hồi Sự suy thoái môi trường đã tiềm tàng nguy cơ khủng hoảng sinh thái toàn cầu

Mặc dù đã được nhiều chính phủ và các tổ chức quốc tế, đặc biệt là giới khoa học liên tục tổ chức các hoạt động cụ thể để bảo vệ môi sinh và đã thu được một số kết quả Tuy nhiên những cố gắng đó vẫn chưa đủ để chặn đứng nguy cơ khủng hoảng sinh thái và bức tranh môi trường thế giới vẫn đang còn là một bức tranh không mấy sáng sủa Cho đến nay việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam cũng như phạm vi toàn cầu vẫn còn rất nhiều bất cập, đòi hỏi phải được giải quyết một cách đồng bộ hơn, triệt để hơn

Chính vì vậy, bài tiểu luận “Môi trường sinh thái và vấn đề phát triển kinh tế

- xã hội bền vững” tập trung trình bày về tình trạng môi sinh toàn cầu cũng như ở

Việt Nam và tổng hợp và đưa ta một số giải pháp, ý kiến để đảm bảo việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững phải phát triển nền kinh tế xanh, một xã hội với chất lượng cuộc sống cao, và môi trường sinh thái bền vững

Hi vọng với tiểu luận này sẽ góp phần vào việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng môi trường sinh thái và vấn đề phát triển bền vững trên thế giới và Việt Nam; và sẽ

là tài liệu cho những ai quan tâm tới chủ đề nóng này

Trang 5

5

1 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG SINH THÁI HIỆN NAY

1.1 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Có rất nhiều định nghĩa về môi trường Theo “luật bảo vệ môi trường của Việt Nam”, thì : “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan

hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”

Còn theo kinh tế học: “Môi trường là toàn bộ các vùng vật lý và sinh học, các điều kiện vật chất - tự nhiên với tư cách là sản phẩm lâu dài của tạo hóa, có trước con người, có tương tác lẫn nhau, và cùng tác động đến sự hình thành, sinh tồn và phát triển của con người, cùng các hoạt động xã hội của họ Về cơ cấu, môi trường bao gồm sinh quyển (không khí, nước, đất đai, ánh sáng ) và hệ sinh sống, mà giữa chúng có ảnh hưởng tương tác đến nhau, và cùng ảnh hưởng đến cuộc sống của con người”

Vậy nhưng, môi trường toàn cầu đang có chiều hướng ngày càng xấu đi và có ảnh hưởng nhất định đến sự tồn vong của con người Và con người đang đứng trước những thách thức lớn về môi trường toàn cầu – đó chính là ô nhiễm môi trường

Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:

"Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường"

Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát của triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ

Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng

độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu

1.1.1 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI

Môi trường toàn cầu đang có chiều hướng ngày càng xấu đi và có ảnh hưởng nhất định đến sự tồn vong của con người Và con người đang đứng trước những thách thức lớn

về môi trường toàn cầu

Trang 6

6

1.1.1.1 Ô nhiễm đất

Tổng diện tích đất trên thế giới 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng

và 13.251 triệu ha đất không phủ băng

Trong đó, 12% tổng diện tích là đất canh tác, 24% là đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm lầy Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác hơn 1.500 triệu ha Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70%;

ở các nước đang phát triển là 36% Trong đó, những loại đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất rừng nâu chỉ chiếm 12,6%; những loại đất quá xấu như đất vùng tuyết, băng, hoang mạc, đất núi, đất đài nguyên chiếm đến 40,5%; còn lại là các loại đất không phù hợp với việc trồng trọt như đất dốc, tầng đất mỏng,

Hiện nay, trên toàn thế giới đang có xu hướng tăng hiện tượng đất bị ô nhiễm, bởi: một là, do con người quá lạm dụng hoặc do tác động phụ của việc sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, chất diệt cỏ và các chất kích thích sinh trưởng khác Mỗi năm, trên thế giới có hàng nghìn hóa chất mới được đưa vào sử dụng trong khi con người vẫn chưa hiểu biết hết tác động phụ của chúng đối với hệ sinh vật Hai là, không xử lý đúng kỹ thuật các chất thải công nghiệp và sinh hoạt khác của người và súc vật, hoặc các xác sinh vật chết gây ra Ô nhiễm đất làm giảm năng suất và chất lượng cây trồng, hủy diệt sự sống một số sinh vật trong những khu vực ô nhiễm nặng, đồng thời còn đe dọa đến sức khỏe con người thông qua vật nuôi, cây trồng, thậm chí gây ra những biến dạng sinh thái

và di truyền nặng nề cho hệ sinh sống

1.1.1.2 Ô nhiễm không khí

Sự phát triển công nghiệp và đời sống đô thị dựa trên “nền văn minh dầu mỏ” đang làm không khí bị ô nhiễm bởi các chất thải khí SO2, NO2, CO, hơi chì, mồ hóng, tro và các chất bụi lơ lửng khác sinh ra trong quá trình đốt cháy nhiên liệu hay các chất cháy khác

Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, hiện có tới 50% dân số thành thị trên thế giới sống trong môi trường không khí có mức khí SO2 vượt quá tiêu chuẩn và hơn 1 tỉ người đang sống trong môi trường có bụi than, bụi phấn vượt quá tiêu chuẩn cho phép Những năm gần đây, lượng khí thải ngày càng tăng lên (trong vòng 20 năm tới sẽ tăng gấp 15 lần

so với hiện nay) Sự ô nhiễm không khí có thể trực tiếp giết chết hoặc hủy hoại sức khỏe các sinh vật sống, gây ra “hiệu ứng nhà kính” và các trận mưa a xít không biên giới làm

Trang 7

7

biến dạng và suy thoái môi trường, hủy diệt hệ sinh thái (80% nước hồ miền nam Na Uy

đã bị axit hóa từ những trận mưa axit)

Theo báo cáo mới nhất của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), tính riêng năm

2010, lượng phát thải nhà kính trên toàn thế giới đã gia tăng ở mức kỷ lục, phủ bóng mờ lên niềm hy vọng về việc duy trì sự nóng lên toàn cầu ở ngưỡng an toàn

Theo báo cáo, năm 2010 có tới 30,6 tỷ tấn CO2 phát thải vào bầu khí quyển, chủ yếu do hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch, tăng 1,6 tỷ tấn so với năm 2009

Sự gia tăng này đồng nghĩa với việc mục tiêu ngăn nhiệt độ tăng trên 20C – ngưỡng có thể tiềm ẩn nguy cơ gây nên “biến đổi khí hậu nguy hiểm” theo các nhà khoa học – sẽ là “điều không tưởng”, ông Fatih Birol, nhà kinh tế học hàng đầu của IEA, cũng

là một trong những chuyên gia hàng đầu trên thế giới về phát thải, cho biết

Thêm nữa, trái ngược với một số dự đoán, đợt khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất toàn cầu trong vòng 80 năm qua thực tế chỉ tác động rất nhỏ tới lượng phát thải

** Ở Trung Quốc, Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc dùng từ "nghiêm trọng" để mô tả

thực trạng ô nhiễm trong báo cáo môi trường thường niên mà họ mới công bố

Trong bản báo cáo mang tên "Các điều kiện môi trường", Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc nói rằng, nhìn chung các vấn đề môi trường trong năm ngoái đều nghiêm trọng, Guardian đưa tin

"Chất lượng không khí, nước và đất của Trung Quốc đều giảm rõ rệt", báo cáo nhấn mạnh

Báo cáo tập trung vào ô nhiễm nước và không khí - hai loại ô nhiễm mà dư luận quan tâm nhiều nhất trong những tháng gần đây Số liệu trong báo cáo cho thấy tỷ lệ

nước ngầm tại 198 thành phố có chất lượng "tệ" hoặc "cực kỳ tệ" chiếm 57,3% trong năm 2012 và hơn 30% sông lớn của Trung Quốc bị "ô nhiễm" hoặc "ô nhiễm nghiêm trọng" Năm ngoái chỉ 27 trong số 113 thành phố quan trọng sở hữu bầu không khí

Trang 8

8

đạt chất lượng tiêu chuẩn

"Từ đầu năm ngoái, khói mù đặc đã bao phủ một khu vực có diện tích hơn một triệu km2, tác động tới vài trăm triệu người", China Daily đưa tin

Ô nhiễm môi trường không chỉ tác động tới cuộc sống ở đô thị, mà còn ảnh hưởng tới các những vùng nông thôn Chất thải từ các cơ sở công nghiệp đang làm giảm chất lượng môi trường ở các vùng quê

"Công nghiệp hóa, đô thị hóa và hiện đại hóa nông nghiệp là những nguyên nhân chính gây nên các vấn đề môi trường", báo cáo lập luận

Giới lãnh đạo Trung Quốc ý thức sâu sắc sự cấp bách của các vấn đề môi trường Vài ngày trước Bộ trưởng Bảo vệ Môi trường Trung Quốc thông báo Bắc Kinh sẽ nâng cao tiêu chuẩn chống ô nhiễm, khuyến khích người dân sử dụng năng lượng sạch và lập các hệ thống cảnh báo để theo dõi khói mù

** Đánh bắt cá voi làm tăng khí thải CO 2

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ được BBC công bố mới đây, các vụ đánh bắt cá voi kéo dài một thế kỷ qua đã thải ra hơn 100 triệu tấn khí carbon (CO2) vào bầu khí quyển Cơ thể khổng lồ của cá voi chứa nhiều khí CO2, khi chúng bị giết, khí CO2 sẽ thoát ra ngoài

Tiến sĩ Andrew Pershing thuộc Đại học Maine của Mỹ mô tả cá voi được xem như những “khu rừng của đại dương” Đặc biệt khi cá voi còn nhỏ, chúng được ví như nguồn dầu sống nếu nấu lên sẽ thải khí carbon vào không khí Nếu cá voi chết tự nhiên, cơ thể của chúng chìm xuống biển và xem như lượng khí carbon cũng sẽ được chôn dưới biển

Theo tính toán ban đầu, trong hơn 100 năm qua, số cá voi bị săn bắt đã thải ra lượng khí tương đương với việc đốt 130.000km² rừng nhiệt đới

Theo tiến sĩ Pershing, lượng khí này vẫn còn khá nhỏ so với hàng tỷ tấn CO2 do các hoạt động của con người thải ra mỗi năm nhưng cá voi đóng vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và vận chuyển khí CO2 trong hệ sinh thái của biển Vì thế cần sớm áp dụng

cơ chế “quota” khí CO2 tương tự như trên mặt đất trong lĩnh vực săn bắt cá voi, một mặt

để bảo tồn loài cá này, mặt khác bảo vệ hệ sinh thái biển và bầu khí quyển

Ở nhiều thành phố, ô nhiễm không khí đang đạt tới mức đe dọa sức khỏe con người, theo nhận định của WHO sau khi kết hợp dữ liệu về chất lượng không khí trong

Trang 9

Ngưỡng chuẩn mà WHO đề xuất là 20 microgam trong 1m3 (ug/m3) Tuy nhiên, báo cáo của WHO cho thấy ở một số thành phố, mật độ lên tới 300 ug/m3 và rất ít nơi còn đáp ứng được gợi ý của WHO

Theo các chuyên gia của WHO, việc giảm mật độ bụi PM10 từ 70 ug/m3 xuống 20 ug/m3 có thể giúp giảm 15% tỉ lệ tử vong do các bệnh liên quan tới ô nhiễm không khí Nếu thành công, đây sẽ là tiến bộ lớn trong lĩnh vực sức khỏe cộng đồng

Ở các nước phát triển và đang phát triển, yếu tố lớn nhất gây nên ô nhiễm không khí ngoài trời là các phương tiện giao thông gắn máy, các nhà sản xuất nhỏ lẻ và các ngành nghề công nghiệp, đốt than để nấu ăn và sưởi, cũng như nhà máy chạy bằng than Đốt gỗ và than để sưởi ấm được xem là tác nhân quan trọng với ô nhiễm không khí, đặc biệt ở những vùng nông thôn vào những tháng trời giá lạnh, theo báo cáo của WHO

Năm 2008, số người tử vong vì ô nhiễm không khí ngoài trời là 1,34 triệu người Nếu các quốc gia thực hiện theo hướng dẫn của WHO, thì khoảng 1,09 triệu cái chết đã

có thể được ngăn chặn vào năm này Số người chết như vậy đã tăng so với dự đoán 1,15 triệu người năm 2004 Việc tăng về số người thiệt mạng do nhiều nguyên nhân, như ô nhiễm tập trung, dân số ở đô thị tăng

1.1.1.3 Ô nhiễm nước

70% diện tích Trái Đất được bao phủ bởi nước nhưng chỉ có 2,5% nước trên thế giới là nước ngọt, trong khi 97,5% là đại dương Trong đó, 0,3% nước ngọt của thế giới nằm trong các sông, hồ; 30% là nước ngầm, phần còn lại nằm trên các sông băng, núi băng 70% lượng nước trên thế giới được sử dụng cho nông nghiệp, 22% cho công nghiệp và 8% phục vụ sinh hoạt Theo ước tính, trung bình một người ở các nước phát triển sử dụng 500-800 lít/ngày so với 60-150 lít/người/ngày ở các nước đang phát triển

Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào

Trang 10

10

các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển Đây là thống kê của Viện Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển

Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ đáng

lo ngại Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát triển kỹ nghệ Ta có thể

kể ra đây vài thí dụ tiêu biểu

Anh Quốc chẳng hạn: Ðầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch Nó trở thành ống cống

lộ thiên vào giữa thế kỷ này Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi người

ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt

Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn, nhưng vấn đề cũng không khác bao nhiêu Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối thế kỷ 18 Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp bị ô nhiễm mãn tính Sông Rhin chảy qua vùng

kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người, là nạn nhân của nhiều tai nạn (như nạn cháy nhà máy thuốc Sandoz ở Bâle năm 1986 chẳng hạn) thêm vào các nguồn ô nhiễm thường xuyên

Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương ở bờ phía đông cũng như nhiều vùng khác Vùng Ðại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng

Trong ô nhiễm nguồn nước, báo động nhất là vấn đề ô nhiễm nguồn nước của các con sông Dưới đây là 10 con sông đang trong tình trạng cạn kiệt nước và ô nhiễm nhất trên thế giới:

Sông Citarum, Indonesia

Sông Citarum, Indonesia, rộng 13.000km2, là một trong những dòng sông lớn nhất của Indonesia Theo số liệu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), sông Citarum cung cấp 80% lượng nước sinh hoạt cho 14 triệu dân thủ đô Jakarta, tưới cho những cánh đồng cung cấp 5% sản lượng lúa gạo và là nguồn nước cho hơn 2.000 nhà máy - nơi làm ra 20% sản lượng công nghiệp của đảo quốc này

Trang 11

11

Dòng sông này là một phần không thể thay thế trong cuộc sống của người dân vùng Tây đảo Java Nó chảy qua những cánh đồng lúa và những thành phố lớn nhất Indonesia Tuy nhiên, hiện tại nó là một trong những dòng sông ô nhiễm nhất thế giới

Citarum như một bãi rác di động, nơi chứa các hóa chất độc hại do các nhà máy xả

ra, thuốc trừ sâu trôi theo dòng nước từ các cánh đồng và cả chất thải do con người đổ xuống

Ô nhiễm nghiêm trọng khiến cá chết hàng loạt, người dân sử dụng nước cũng bị lây nhiễm nhiều loại bệnh tật Điều kinh hoàng hơn cả là nhiều hộ dân sống quanh dòng sông này hàng ngày vẫn sử dụng nước sông để giặt giũ, tắm rửa, thậm chí cả đun nấu

Sông Hằng, Ấn Độ

Sông Hằng là con sông nổi tiếng nhất Ấn Độ, dài 2.510km bắt nguồn từ dãy Hymalaya, chảy theo hướng Đông Nam qua Bangladesh và chảy vào vịnh Bengal Sông Hằng có lưu vực rộng 907.000km2, một trong những khu vực phì nhiêu và có mật

độ dân cao nhất thế giới Sông Hằng được người Hindu rất coi trọng và sùng kính, là trung tâm của những truyền thống xã hội và tôn giáo của đất nước Ấn Độ

Trang 12

12

Lưu vực sông Hằng gần như tạo ra một vùng đất liền thứ ba của Ấn Độ và là một trong 12 vùng dân cư trên thế giới phụ thuộc vào con sông Đây cũng là nơi sinh sống của hơn 140 loài cá, 90 loài động vật lưỡng cư và loài cá heo sông Hằng

Hiện nay, sông Hằng là một trong những con sông bị ô nhiễm nhất trên thế giới vì

bị ảnh hưởng nặng nề bởi nền công nghiệp hóa chất, rác thải công nghiệp và rác thải sinh hoạt chưa qua xử lý tới mức những người mộ đạo trước kia tôn thờ nguồn nước sông này giờ đây lại trở nên khiếp sợ chính nguồn nước đó Chất lượng nước đang trở nên xấu đi nghiêm trọng

Cùng với sự mất đi khoảng 30-40% lượng nước do những đập nước đang làm cho sông Hằng trở nên khô cạn và có nguy cơ biến mất Theo ước tính, có hơn 400 triệu người sống dọc hai bờ sông Hằng và mỗi ngày có 2 triệu người tới bờ sông làm các nghi thức tắm rửa tại đây

Ngoài ra, do phong tục hỏa táng một phần thi thể rồi thả trôi sông nên những thi thể người trôi lững lờ trên dòng sông này, rồi rác thải trực tiếp từ các bệnh viện do thiếu

lò đốt cũng là một nguyên nhân làm tăng ô nhiễm sông

Nước sông giờ không những không thể dùng ăn uống, tắm giặt mà còn không thể dùng cho sản xuất nông nghiệp Các nghiên cứu cũng phát hiện tỷ lệ các kim loại độc trong nước sông khá cao như thủy ngân (nồng độ từ 65-520ppb), chì (10-800ppm), crom (10-200ppm) và nickel (10-130ppm)

Hiện Chính phủ Ấn Độ đang có kế hoạch cải tạo và bảo vệ con sông này

Sông Mississippi, Mỹ:

Sông Mississipi, con sông dài thứ 2 ở Mỹ, với 3.782km, bắt nguồn từ hồ Itasca, chảy qua hai bang Minnesota và Louisiana

Trang 13

13

Mực nước sông Mississippi giảm tới 22% trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm

2004 Sự sụt giảm này liên quan tới tình trạng biến đổi khí hậu và gây ảnh hưởng lớn đối với hàng trăm triệu người trên thế giới

Theo Quỹ bảo vệ thiên nhiên toàn cầu (WWF), con sông này đang trở nên cạn kiệt, khô cằn, ảnh hưởng đến hàng trăm triệu người và phá hủy sự sống ở những vùng lưu vực con sông Nếu con sông này “chết” thì hàng triệu người sẽ mất đi những nguồn sống của họ, sự đa dạng sinh học bị phá hủy trên diện rộng, nước ngọt sẽ thiếu trầm trọng và

đe doạ tới an ninh lương thực

Nhận thức được tầm quan trọng của con sông này, nước Mỹ đã tiến hành xây hàng nghìn con đập và đê dọc theo chiều dài của dòng sông trong suốt thế kỷ trước để hỗ trợ giao thông thủy và kiểm soát lũ lụt

Sông Buriganga, Bangladesh:

Sông Buriganga là một trong những con sông lớn chạy qua thủ đô Dhaka của Bangladesh Tuy nhiên, từ năm 1995-1999, mức ô nhiễm của sông rất cao

Trang 14

14

Sông bị ô nhiễm bởi các hóa chất từ các nhà máy ximăng, xà phòng, nhuộm, da và giấy Hầu hết những loại hóa chất được xác định có trong nước sông đều thuộc nhóm 12 chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), rất độc hại đối với con người Các chất ô nhiễm này liên tục thâm nhập vào cơ thể con người thông qua thực phẩm, đồ uống và phá hủy các bộ phận của cơ thể

Sông Yamuna, Ấn Độ

Sông Yamuna, Ấn Độ, dài 1.376km, là phụ lưu lớn nhất của sông Hằng Thủ đô New Delhi có 15 triệu dân thì chỉ có 55% dân số sống ở các khu vực có xử lý nước thải Phần còn lại, nước thải đều chảy thẳng ra sông Yamuna Đây chính là nguyên nhân khiến con sông nổi tiếng của Ấn Độ đang ngày một ô nhiễm hơn nhiều Lượng rác đổ xuống sông từ năm 1993 đến 2005 đã tăng gấp đôi

Trang 15

15

Sông Hoàng Hà, Trung Quốc

Sông Hoàng Hà, là con sông dài thứ 2 ở Trung Quốc, có vai trò rất quan trọng đối với người dân nước này Đây chính là nguồn cung cấp nước lớn nhất cho hàng triệu người dân ở phía Bắc Trung Quốc nhưng hiện giờ đã bị ô nhiễm nặng nề bởi sự cố tràn dầu và các chất thải công nghiệp

Một đường ống dẫn dầu bị vỡ của Công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc với hơn 1.500 lít dầu đã tràn vào đất canh tác và một phụ lưu của sông Hoàng Hà

Sông Marilao, Philippineses

Nằm trong hệ thống các sông gần vùng ngoại ô tỉnh Bulacan ở Philippines, sông Marilao đang bị ô nhiễm nặng nề với đủ thứ rác thải sinh hoạt hàng ngày Đây còn là nơi lưu thông hàng hóa cho các khu vực thuộc da, tinh chế kim loại, đúc chì Chính vì vậy, nguồn nước của sông Marilao chứa rất nhiều hóa chất gây độc hại cho sức khỏe con người như đồng, thạch tín

Trang 16

Sông Tùng Hoa, Trung Quốc

Sông Tùng Hoa có chiều dài gần 2.000km, chảy qua thành phố lớn Cáp Nhĩ Tân với gần 4 triệu dân và hơn 30 thành phố khác, nối tiếp với các vùng thôn quê mà đa số cư dân sống nhờ vào nguồn nước của con sông này

Sông Tùng Hoa đã bị ô nhiễm nặng nề bởi một sự cố bất thường liên quan đến các nhà máy hóa chất dầu hỏa lớn trong tỉnh Cát Lâm phía Bắc Trung Quốc đã bất ngờ bị nổ

và hậu quả là hơn 100 tấn benzene và những chất độc khác từ nhà máy đã đổ xuống sông

Trang 17

17

Benzene và nitrobenzene là chất gây ung thư ngay cả với liều lượng nhỏ Khối chất độc ấy sẽ tiếp tục trôi xuống hạ nguồn, đổ vào con sông lớn Hắc Long Giang

Sông Sarno, Italy

Sông Sarno, Italy, chảy qua Pompeii tới phía Nam của vịnh Naples Con sông này nổi tiếng bởi mức độ ô nhiễm nhất châu Âu với rất nhiều rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp Sông Sarno đã không chỉ làm ô nhiễm tại những nơi nó chảy qua mà còn làm ô nhiễm vùng biển mà nó đổ vào gần khu vực vịnh Naples

Sông King, Australia

Trang 18

18

Sông King nằm ở Tây Australia Sông này có độ phèn rất cao do chịu tác động của hơn 1,5 triệu tấn rác thải sunfit từ hoạt động khai khoáng được đổ xuống mỗi năm Lượng rác thải hiện là hơn 100 triệu tấn, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho con sông này

1.1.1.4 Ô nhiễm tiếng ồn

Ô nhiễm tiếng ồn được xem là một trong những mối nguy hiểm lớn đối với sức

khoẻ của con người, nguy hiểm không khác gì các hiện tượng ô nhiễm khác Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì trong vòng 3 thập kỉ trở lại đây nạn ô nhiễm tiếng

ồn đang trở nên bức xúc, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và chất lượng sống của con người, nhất là ở các quốc gia đang phát triển

Bậc thang tiếng ồn:

Décibel là đơn vị đo tiếng ồn Xin không đi sâu vào khái niệm này mà chỉ xin đưa

ra những thí dụ minh họa để mọi người cùng hiểu một cách cụ thể :

- 10-20 dB: Gió vi vu qua lá cây được xem là trạng thái yên tỉnh

- 30 dB: Thì thầm (trong phòng ngủ)

- 40 dB: Tiếng nói chuyện bình thường

- 50 dB: Tiếng máy giặt, ồn ở siêu thị, có gây phiền nhưng còn chịu được

- 55 dB -80 dB: Động cơ xe hơi, xe máy, gây khó chịu, mệt mỏi

- 80 dB - 85 dB: Máy cắt cỏ, hút bụi, cắt gỗ, làm rất khó chịu

- 90 dB - 100 dB: phát ra ở Công trường xây dựng, ồn ở mức nguy hiểm

- 120dB - 140 dB: Máy bay lúc cất cánh, ồn quá lớn gây tổn thương tâm trí

Theo số liệu thống kê mới nhất của WHO thì tại châu Âu, 40% dân số khu vực này đang bị phơi ra môi trường ô nhiễm tiếng ồn, đặc biệt là tiếng ồn của các phương tiện giao thông Mức ồn hiện đã vượt trên 55 decibels (dB), 25% dân số hàng ngày nghe tiếng

ồn trên 65 dB, tương đương với âm thanh do máy rửa bát đĩa phát ra Cũng theo WHO,

có tới 30% dân số châu âu phải ngủ trong môi trường có tiếng ồn vượt trên 55 dB, đây là mức ồn có thể làm gián đoạn giấc ngủ Theo Cơ quan an toàn giao thông và Môi trường của Liên Minh châu âu thì có từ 44% dân số châu âu (khoảng 200 triệu người) phải sống chung với tiếng ồn có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ

Bộ Môi trường Mỹ (EPA) cảnh báo để hạn chế bệnh điếc, mọi người không nên tiếp xúc với môi trường có độ ồn lớn hơn 70 dB trong khoảng thời gian 24 giờ liên tục

Trang 19

19

Ngoài ra, nếu làm việc liên tục trong môi trường có độ ồn trên 55 dB (ngoài trời) và 45

dB (trong nhà) trong thời gian dài liên tục cũng sẽ gây ảnh hưởng đến sức nghe

Bộ Môi trường Đức (GFEA) gần đây đã hoàn thành nhiều nghiên cứu và phát hiện thấy mối nguy hại của tiếng ồn đối với sức khoẻ, như giảm thính lực, làm tăng stress, tăng huyết áp Cũng theo GFEA, ngoài tiếng ồn công nghiệp, thì tiếng ồn về âm nhạc, như nhạc rock, nhạc disco, hoặc các loại nhạc phát ra từ thiết bị giải trí cá nhân cũng tiềm

ẩn nhiều nguy cơ Một trong những hiện tượng thường thấy là ù tai và dần dẫn đến mất sức nghe và thực tế có người còn rất trẻ nhưng do nghe nhạc ở độ ồn lớn và quá lâu nên

đã bị điếc

Những loại tiếng ồn được gọi chung là tiếng ồn môi trường, thủ phạm là do các phương tiện giao thông cơ giới như xe ô tô, xe con, xe tải, tàu hoả, máy bay gây ra Theo đó, với tốc độ trên 60 km /h, các phương tiện này sẽ phát ra tiếng ồn rất lớn Tiếng

ồn do tàu hoả gây ra cũng rất tiềm ẩn, như từ động cơ, còi, phanh vv nếu chạy trên 250km/h thì tiếng ồn của tàu hoả giống như tiếng ồn của máy bay Những người sống gần sân bay phải chịu tiếng ồn gấp 4 lần so với những người sống cách xa 10km Theo thống kê thì có tới trên 55% số người sống gần sân bay, đường sắt phàn nàn cuộc sống, sức khoẻ của họ bị ảnh hưởng rất nhiều, những bệnh viện đặt gần nơi phát ra tiếng ồn thì mức độ gây nguy hiểm cũng không lường hết Theo quy định của WHO, mức ồn đối với các bệnh viện không được vượt quá 30 dB (ban ngày) và 40 dB (ban đêm) Nhưng trong thực tế một số bệnh viện đã vượt quá mức quy định này Ví dụ tại Anh có tới 5 bệnh viện phải chịu mức tiếng ồn trên 80 dB, tại ấn Độ mức độ tiếng ồn đối với các bệnh viện ở Madurai là 72 dB (cao nhất) và 57 dB (trung bình)

Một nghiên cứu về huyết áp của nhóm người sống gần sân bay đang thực hiện tại châu Âu đã phát hiện thấy những người sống gần sân bay, nghe tiếng ồn động cơ là nhóm người có mức độ huyết áp tăng rất cao Kết luận trên được rút ra từ nghiên cứu ở 140 người, mỗi đêm đo huyết áp vài lần Cụ thể huyết áp tối đa của nhóm người này tăng tới

6, 2 mmHg còn huyết áp tối thiểu tăng 7,4 mmHg, nhịp tim tăng 5, 4 lần/phút Riêng nhóm thường xuyên có huyết áp thấp và nhóm người thường xuyên có huyết áp cao thì những ảnh hưởng bởi tiếng ồn lại rất nguy hiểm, nhất là những người sống trong môi trường tiếng ồn quá lâu Mức tăng, giảm huyết áp của nhóm người này cũng không đồng nhất, riêng ban đêm mức tăng đạt tới đỉnh điểm

Trang 20

20

Ngoài việc tăng huyết áp, tiếng ồn còn can thiệp tới các hình thái giấc ngủ, làm cho nhóm người già liên tục thức giấc, thủ phạm làm tăng các loại hormone gây stress như adreralin và noradrenalin, đây là những loại hormone làm nhiệm vụ điều phối các chức năng chuyển hóa trong cơ thể, và độ ồn càng lớn thì chức năng này lại càng giảm, hiện tượng dễ nhận biết là lượng mỡ máu và đường huyết tăng cao Ngoài ra, tiếng ồn còn là thủ phạm gây ra nhiều bệnh thần kinh nan y như trầm uất, lo lắng, stress, nôn ói, tức giận hoặc thù địch và làm cho người ta liên tục thay đổi tâm tính, tính nết, riêng ở trẻ nhỏ tiếng ồn còn để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và khả năng học tập

1.1.2 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội

Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức Tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với

sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn Ô nhiễm môi trường bao gồm

3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí Trong ba loại ô nhiễm

đó thì ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và làng nghề là nghiêm

trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép

1.1.2.1 Ô nhiễm không khí

Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô thị, công nghiệp và các làng nghề ở nước ta hiện nay Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh

Trang 21

21

hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng "nhà kính", mưa axít và suy giảm tầng ôzôn), Công nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng

** Nguồn ô nhiễm không khí từ hoạt động công nghiệp

Công nghiệp cũ (được xây dựng trước năm 1975) đều là công nghiệp vừa và nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu, một số cơ sở sản xuất có thiết bị lọc bụi, hầu như chưa có thiết bị xử lý khí thải độc hại Nói chung, công nghiệp cũ không đạt tiêu chuẩn về chất lượng môi trường Công nghiệp cũ lại rất phân tán, do quá trình đô thị hoá, phạm vi thành phố ngày càng mở rộng nên hiện nay phần lớn công nghiệp cũ này nằm trong nội thành của nhiều thành phố Ví dụ ở thành phố Hồ Chí Minh, không kể các cơ sở thủ công nghiệp, có khoảng 500 xí nghiệp trong tổng số hơn 700 cơ sở công nghiệp nằm trong nội thành, ở thành phố Hà Nội có khoảng 200 xí nghiệp trong tổng số khoảng 300 cơ sở công nghiệp nằm trong nội thành

Trong các năm gần đây nguồn ô nhiễm từ hoạt động công nghiệp nằm trong nội thành có phần giảm bớt do các tỉnh, thành đã tích cực thực hiện chỉ thị xử lý triệt để các

cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng nằm xen kẽ trong các khu dân cư Ví dụ như ở Hà Nội

đã đầu tư xây dựng kỹ thuật hạ tầng 10 cụm công nghiệp nhỏ ở các huyện ngoại thành với tổng diện tích đất quy hoạch 2.573ha để khuyến khích các xí nghiệp cũ ở trong nội thành di dời ra các cụm công nghiệp đó Đặc biệt, thành phố Hà Nội có chế độ thưởng tiến độ di chuyển sớm trong giai đoạn từ 2003 - 2004, mức thưởng từ 10 triệu đến 500 triệu đồng/đơn vị sản xuất Cho đến nay Hà Nội đã di chuyển được 10 cơ sở sản xuất gây

ô nhiễm nặng ra ngoại thành như: Công ty Cổ phần Dệt 10/10, Công ty Thuỷ tinh Hà Nội, Công ty Giầy Thụy Khuê, Hiện nay có 6 công ty đang di chuyển là Công ty Nhựa

Hà Nội, Dệt kim Hà Nội, Xe đạp xe máy Đống Đa, Kỹ thuật điện thông, Dệt kim Thăng Long Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra chính sách thưởng 500 triệu đồng (mức cao nhất) cho những doanh nghiệp di dời trong năm 2002, mức thưởng này chỉ còn 50% đối với các doanh nghiệp di dời vào năm 2003 và còn 40% vào năm 2004 Tỉnh Bắc Ninh và một số tỉnh khác cũng đã đầu tư kỹ thuật hạ tầng xây dựng một số cụm công nghiệp nhỏ

để tập trung các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nặng nề ở đô thị và làng nghề vào các cụm công nghiệp này,

Trang 22

22

Hoạt động công nghiệp gây ô nhiễm không khí còn từ các khu, cụm công nghiệp

cũ, như các khu công nghiệp: Thượng Đình, Minh Khai - Mai Động (Hà Nội), Thủ Đức, Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh), Biên Hoà I (Đồng Nai), Khu Công nghiệp Việt Trì, Khu Gang thép Thái Nguyên, và ô nhiễm không khí cục bộ ở xung quanh các xí nghiệp, nhà máy xi măng (đặc biệt là xi măng lò đứng), các lò nung gạch ngói, xí nghiệp sản xuất đồ gốm, các nhà máy nhiệt điện đốt than và đốt dầu FO, các nhà máy đúc đồng, luyện thép, các nhà máy sản xuất phân hoá học, Các chất ô nhiễm không khí chính do công nghiệp thải ra là bụi, khí SO2, NO2, CO, HF và một số hoá chất khác

Ô nhiễm môi trường không khí ở nhiều làng nghề đã tới mức báo động, một số bài báo đã đánh giá một cách đáng lo ngại là "sống giàu, nhưng chết mòn" đối với làng tái chế nilông Minh Khai (Như Quỳnh, Hưng Yên); "hít khói ăn tiền" ở xã Chỉ Đạo (Văn Lâm, Hưng Yên) - tái chế chì, hay là "những làng khói độc" ở làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) Ở rất nhiều làng nghề, đặc biệt là các làng nghề ở vùng Đồng bằng Bắc

Bộ, đang kêu cứu về ô nhiễm môi trường không khí

Công nghiệp mới: Phần lớn các cơ sở công nghiệp mới được đầu tư tập trung vào

82 khu công nghiệp Trước khi xây dựng dự án đều đã tiến hành "Đánh giá tác động môi trường", nếu dự án thực hiện đầy đủ các giải pháp bảo vệ môi trường đã được trình bày trong báo cáo đánh giá tác động môi trường thì sẽ đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng môi trường

Tuy vậy, còn nhiều xí nghiệp mới, đặc biệt là các nhà máy nhiệt điện đốt than, chưa xử lý triệt để các khí thải độc hại (SO2, NO2, CO), nên đã gây ra ô nhiễm môi trường không khí xung quanh

** Nguồn ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông vận tải

Cùng với quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, phương tiện giao thông cơ giới

ở nước ta tăng lên rất nhanh, đặc biệt là ở các đô thị Trước năm 1980 khoảng 80 - 90% dân đô thị đi lại bằng xe đạp, ngày nay, ngược lại khoảng 80% dân đô thị đi lại bằng xe máy, xe ôtô con Nguồn thải từ giao thông vận tải đã trở thành một nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí ở đô thị, nhất là ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng Năm 2010, theo đánh giá của chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông vận tải gây ra chiếm tỷ lệ khoảng 70%

Trang 23

23

Theo số liệu của Phòng Cảnh sát giao thông Hà Nội, năm 1990 có 34.222 xe ôtô, năm 1995 có 60.231 xe, năm 2000 có 130.746 xe tham gia giao thông Như vậy sau 10 năm số lượng ôtô ở Hà Nội tăng lên gần 4 lần Về xe máy ở Hà Nội năm 1996 mới có khoảng 600.000 xe máy, năm 2001 gần 1 triệu, năm 2002 tăng tới hơn 1,3 triệu xe máy, bình quân khoảng 1 xe máy/2 người dân Theo Sở Giao thông Vận tải TPHCM, bất chấp những khó khăn về kinh tế, số lượng phương tiện giao thông đăng ký mới trên địa bàn TP tiếp tục tăng mạnh Trong tháng 5-2012 TPHCM có 20.862 phương tiện giao thông đăng

ký mới, trong đó có 1.221 ô tô và 19.641 mô tô Tính đến tháng 5-2012 trên toàn địa bàn

TP có 5.715.798 phương tiện giao thông với 509.106 ô tô và 5.206.692 mô tô, tăng 10,42% so với cùng kỳ năm 2011 Bình quân số lượng xe máy ở các đô thị nước ta mỗi năm tăng khoảng 15 - 18%, số lượng xe ôtô mỗi năm tăng khoảng 8 - 10%

Do số lượng xe máy tăng lên rất nhanh, không những làm tăng nhanh nguồn thải gây ô nhiễm không khí, mà còn gây ra tắc nghẽn giao thông ở nhiều đô thị lớn Ở Hà Nội

có khoảng 40 điểm thường xuyên bị ùn tắc giao thông, ở thành phố Hồ Chí Minh là 80 điểm Khi tắc nghẽn giao thông, mức độ ô nhiễm hơi xăng dầu có thể tăng lên 4 - 5 lần so với lúc bình thường Ở Việt Nam , khoảng 75% số lượng ôtô chạy bằng nhiên liệu xăng, 25% số lượng ôtô chạy bằng dầu DO, 100% xe máy chạy bằng xăng Ô nhiễm khí CO và hơi xăng dầu (HC) thường xảy ra ở các nút giao thông lớn, như là ngã tư Cầu Giấy, ngã

tư Kim Liên (Hà Nội), ngã tư Điện Biện Phủ - Đinh Tiên Hoàng, vòng xoay Hàng Xanh (thành phố Hồ Chí Minh), ngã tư Cầu Đất - Nguyễn Đức Cảnh (thành phố Hải Phòng), Trước năm 2001 ở các nút giao thông này còn bị ô nhiễm chì (Pb)

** Nguồn ô nhiễm không khí do hoạt động xây dựng

Ở nước ta hiện nay hoạt động xây dựng nhà cửa, đường sá, cầu cống, rất mạnh

và diễn ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở các đô thị Các hoạt động xây dựng như đào lấp đất, đập phá công trình cũ, vật liệu xây dựng bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển, thường gây ô nhiễm bụi rất trầm trọng đối với môi trường không khí xung quanh, đặc biệt là ô nhiễm bụi, nồng độ bụi trong không khí ở các nơi có hoạt động xây dựng vượt trị số tiêu chuẩn cho phép tới 10 - 20 lần

** Nguồn ô nhiễm không khí từ sinh hoạt đun nấu của nhân dân

Nhân dân ở nông thôn nước ta thường đun nấu bằng củi, rơm, cỏ, lá cây và một tỷ

lệ nhỏ đun nấu bằng than Nhân dân ở thành phố thường đun nấu bằng than, dầu hoả, củi,

Trang 24

24

điện và khí tự nhiên (gas) Đun nấu bằng than và dầu hoả sẽ thải ra một lượng chất thải ô nhiễm đáng kể, đặc biệt nó là nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí trong nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân Trong những năm gần đây nhiều gia đình trong đô thị đã sử dụng bếp gas thay cho bếp đun bằng than hay dầu hoả

Theo báo cáo hiện trạng môi trường của các tỉnh thành năm 2002, và năm 2003, ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, đặc biệt là ở các thành phố và thị xã của các tỉnh phía Nam, một số gia đình có mức sống cao chuyển

từ đun nấu bằng than, dầu sang đun nấu bằng bếp gas ngày càng nhiều Bếp gas gây ô nhiễm không khí ít hơn rất nhiều so với đun nấu bằng than, dầu Ngược lại, do giá dầu hoả và giá điện tăng lên đáng kể, rất nhiều gia đình có mức thu nhập thấp đã chuyển sang dùng bếp than tổ ong với số lượng lớn, bình quân mỗi gia đình tiêu thụ khoảng 2kg than/ngày, gây ra ô nhiễm không khí cục bộ nặng nề, nhất là lúc nhóm bếp và ủ than

a/ Ô nhiễm bụi

Ở hầu hết các đô thị nước ta đều bị ô nhiễm bụi, nhiều nơi bị ô nhiễm bụi trầm trọng, tới mức báo động Các khu dân cư ở cạnh đường giao thông lớn và ở gần các nhà máy, xí nghiệp cũng bị ô nhiễm bụi rất lớn

Nồng độ bụi trong các khu dân cư ở xa đường giao thông, xa các cơ sở sản xuất hay trong các khu công viên cũng đạt tới xấp xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép

Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng trung bình lớn hơn trị số tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 3 lần,

ở các nút giao thông thuộc các đô thị này nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 5 lần, ở các khu đô thị mới đang diễn ra quá trình thi công xây dựng nhà cửa, đường

sá và hạ tầng kỹ thuật thì nồng độ bụi thường vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 - 20 lần

Ở các thành phố, thị xã thuộc Đồng bằng Nam Bộ có mức ô nhiễm bụi trung bình cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 đến 1,5 lần, như ở thành phố Cần Thơ, thị xã Rạch Giá, thị xã Hà Tiên, thị xã Bến Tre Nói chung, ô nhiễm bụi ở các tỉnh, thành miền Nam trong mùa khô thường lớn hơn trong mùa mưa

Nồng độ bụi trong không khí ở các thị xã, thành phố miền Trung và Tây Nguyên (như là thị xã Tam Kỳ, Hội An, Nha Trang, Cam Ranh, Vinh, Đồng Hới, Buôn Ma Thuột, Kon Tum, ) cao hơn ở các thành phố, thị xã Nam Bộ

Trang 25

25

Nồng độ bụi ở các đô thị thuộc các tỉnh miền núi, vùng cao, nói chung còn thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép (tức là không khí còn trong sạch), như là Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Đà Lạt, Ngược lại, ở các đô thị phát triển đường giao thông và xây dựng nhà cửa mạnh, thì môi trường không khí bị ô nhiễm bụi tương đối nặng, như thị xã Vĩnh Yên (nồng độ bụi: 0,70 - 1,23mg/m3), thị xã Phúc Yên (0,99 - 1,33mg/m3), thị trấn Hoà Mạc, Hà Nam (1,31mg/m3), thị xã Hà Đông (0,9 - 1,5mg/m3),

Trên Hình V.5 giới thiệu diễn biến nồng độ bụi trong không khí từ năm 1995 đến hết năm 2002 ở các khu dân cư bên cạnh các khu công nghiệp

Nhà máy Nhiệt điện Ninh Bình có công suất 100MW, được xây dựng vào những năm 1960, đặt sát vách núi Cánh Diều, nằm ở đầu hướng gió chính thổi vào thị xã Công nghệ sản xuất lạc hậu, toàn bộ nhà máy và ống khói cao 80m nằm trong bóng "khí động" của núi Cánh Diều Xử lý bụi bằng xiclon với hiệu suất rất thấp, khoảng 50% Vì vậy, trước năm 1996, nhà máy đã gây ra ô nhiễm bụi và khí SO2 rất trầm trọng đối với thị xã Ninh Bình và các làng, xã phụ cận Ở khu vực xung quanh cuối hướng gió, cách nhà máy khoảng 600 - 1.000m, nồng độ bụi trong không khí gấp 15-30 lần tiêu chuẩn cho phép, nồng độ khí SO2 vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,3 - 3,6 lần Thống kê trung bình tỷ lệ số người bị các bệnh về đường hô hấp ở khu vực bị ô nhiễm này cao hơn ở xã Trường Yên (nơi không bị ô nhiễm) từ 2 - 3 lần Nhân dân xung quanh đã nhiều lần kêu cứu về ô nhiễm bụi và khí SO2, nhà máy phải giảm công suất xuống còn 10% và có ý định đóng cửa nhà máy Để khắc phục ô nhiễm môi trường, năm 1997 nhà máy đã xây dựng ống

Trang 26

26

khói mới, cao 130m, vượt trên bóng "khí động" của núi Cánh Diều, thay lọc bụi xiclon bằng lọc bụi tĩnh điện với hiệu suất 99%, cải tạo lò, làm kín dây chuyền công nghệ, cải tạo nhà máy, nên nhà máy đã phục hồi được công suất 100% mà vẫn đảm bảo môi trường không khí bên trong nhà máy cũng như toàn bộ thị xã Ninh Bình được cải thiện rõ rệt và đạt tiêu chuẩn môi trường

Trước đây, với công nghệ đốt than bằng vòi đốt cũ, đã gây ô nhiễm môi trường và

đã xảy ra tai nạn chết người do sập xỉ lò Năm 2001, nhà máy đã cải tiến vòi đốt than theo kiểu UD, giải quyết cơ bản hiện tượng đóng xỉ trong lò, kéo dài chu trình vận hành lò, giảm chi phí vận hành, giảm nồng độ khí NO2 trong khí thải từ 1.000mg/m3 xuống còn 650mg/m3, đồng thời không xảy ra tai nạn lao động trong 3 năm qua

Tuy kinh phí đầu tư cải tạo môi trường nhà máy điện là rất lớn, khoảng 170 tỷ đồng, nhưng hiệu quả mang lại còn lớn hơn nhiều, không những giải quyết xong nạn ô nhiễm môi trường trầm trọng, mà còn mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rất lớn: nhà máy không phải đóng cửa hay di dời đi nơi khác; phục hồi sản xuất 100%; trước đây sản xuất 1KW điện phải mất 0,88kg than tiêu chuẩn, nay chỉ mất 0,61kg than; không phải mất tiền trợ cấp độc hại cho cán bộ công nhân viên của nhà máy và thị xã, thiệt hại vì ốm đau, bệnh tật và nghỉ việc của nhân dân do ô nhiễm gây ra nay còn không đáng kể; vệ sinh môi trường toàn thị xã được cải thiện, thu hút khách du lịch đến Ninh Bình và tạo điều kiện trong tương lai gần sẽ mở rộng công suất nhà máy

Trang 27

27

Hình V.6 thể hiện sự diễn biến nồng độ khí SO2 ở gần các khu công nghiệp cũ của một số thành phố lớn từ năm 1995 đến nay Xem Hình V.6 có thể thấy nồng độ khí SO2 trong không khí ở Khu công nghiệp Biên Hoà I, năm 1995, rất lớn (SO2 = 1,02mg/m3), gấp gần 3,7 lần trị số tiêu chuẩn cho phép, các năm gần đây giảm đi rất nhiều, ở các thành phố, khu công nghiệp khác, nồng độ khí SO2 từ 1995 đến nay thay đổi không đáng

kể, hoặc có xu hướng giảm đi đôi chút, tuy rằng hoạt động công nghiệp ngày càng tăng, điều này có thể là kết quả tích cực của công tác quản lý và bảo vệ môi trường đô thị và công nghiệp trong thời gian qua ở nước ta Tại Khu Công nghiệp Tân Bình (thành phố

Hồ Chí Minh), nồng độ khí SO2 năm 2002 lớn hơn năm 2001 nhưng nhỏ hơn năm 2000 Ngược lại, nồng độ các chất khí ô nhiễm ở các khu dân cư thông thường trong nội thành (như phố Lý Quốc Sư, Hà Nội, Hình V.5, Hình V.6) cũng như ở ngoại thành có chiều hướng gia tăng Đặc biệt, riêng số liệu đo lường nồng độ khí SO2 năm 2000 ở phố Lý Quốc Sư (Hà Nội) tăng vọt lên rất lớn, nguyên nhân là do trong năm 2000 số hộ gia đình tập thể ở cạnh phố tăng lên, nhà cửa mở rộng cơi nới thêm, khu phố không thông thoáng như năm 1999 về trước, mặt khác ở gần điểm đo có một số nhà mở thêm hàng phở, đun nấu bằng than và nhiều gia đình trong khu tập thể này cũng đun bếp bằng than tổ ong

c/ Ô nhiễm các khí CO, NO 2 :

Ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, nồng độ khí CO trung bình ngày dao động từ 2 - 5 mg/m3, nồng độ khí NO2 trung bình ngày dao động từ 0,04 - 0,09mg/m3, chúng đều nhỏ hơn trị số tiêu chuẩn cho phép, tức là

ở các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam, nói chung chưa có hiện tượng ô nhiễm khí

Trang 28

28

CO và khí NO2 Tuy vậy, ở một số nút giao thông lớn trong đô thị nồng độ khí CO và khí

NO2 đã vượt trị số tiêu chuẩn cho phép, như ở ngã tư Đinh Tiên Hoàng - Điện Biên Phủ (thành phố Hồ Chí Minh) trị số trung bình ngày của năm 2001: 0,19, gấp 1,9 lần trị số tiêu chuẩn cho phép, nồng độ CO năm 2001: 15,48 gấp 3,1 lần trị số tiêu chuẩn cho phép; tương tự, năm 2002 nồng độ khí NO2 = 0,191mg/m3 và khí CO = 12,67mg/m3

Chất lượng không khí thường thay đổi nhanh theo thời gian Để theo dõi thường xuyên và kịp thời phát hiện rủi ro ô nhiễm môi trường không khí ở các thành phố lớn, Nhà nước đã đầu tư 4 trạm quan trắc không khí tự động cố định tại Hà Nội, 1 trạm tự động cố định tại Hải phòng và 2 trạm quan trắc không khí tự động di động (1 ở Hà Nội

và 1 ở thành phố Hồ Chí Minh) Năm 2002 và đầu năm 2003, ngành khí tượng thủy văn

đã lắp đặt và đưa vào vận hành 6 trạm quan trắc môi trường không khí tự động tại Láng (Hà Nội), Phù Liễn (Hải Phòng), Cúc Phương (Ninh Bình), Đà Nẵng, Pleiku (Gia Lai), Nhà Bè (thành phố Hồ Chí Minh) Tại thành phố Hồ Chí Minh, với sự giúp đỡ của Đan Mạch, cũng đã lắp đặt 4 trạm quan trắc không khí tự động cố định

Chưa tổng kết được kết quả quan trắc của tất cả các trạm tự động này, nhưng theo

số liệu quan trắc của trạm không khí tự động đặt tại Đại học Xây dựng Hà Nội thì chất lượng không khí như sau: trị số trung bình năm của nồng độ (mg/m3) trong 2001 của các chất ô nhiễm là khí SO2 = 0,0083 - 0,016; năm 2002 từ 0,038 - 0,063mg/m3 (tiêu chuẩn quốc tế là 0,05); bụi hô hấp PM10 năm 2001 là 0,122 - 0,126; năm 2002 là 0,090 - 0,173mg/m3 (tiêu chuẩn quốc tế là 0,05) Như vậy, nồng độ khí SO2 năm 2002 đã xấp xỉ trị số của tiêu chuẩn quốc tế, nồng độ bụi PM10 trung bình năm cao hơn tiêu chuẩn quốc

tế từ 2,5 đến 3,5 lần Ô nhiễm khí SO2 và bụi PM10 năm 2002 cao hơn năm 2001

Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã bắt đầu (2003) nối mạng thông tin các trạm quan trắc tự động môi trường không khí và thiết lập một số bảng thông tin điện tử trên đường phố để thông tin tình trạng chất lượng môi trường không khí thành phố cho cộng đồng dân cư biết hàng ngày

d/ Ô nhiễm chì (Pb) trong không khí đô thị:

Thực hiện chỉ thị 24/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ở nước ta đã sử dụng xăng không pha chì từ ngày 1-7-2001 Số liệu quan trắc ô nhiễm giao thông cho thấy nồng độ chì trong không khí Hà Nội trung bình năm 2002 giảm đi khoảng 40 - 45%

Trang 29

29

so với cùng thời kỳ năm trước; tương tự, ở thành phố Hồ Chí Minh nồng độ chì giảm đi khoảng 50%

e/ Mưa axít (lắng đọng axít):

Ô nhiễm khí SO2 và NO2 trong không khí là nguyên nhân chính gây ra mưa axít Như phần trên đã trình bày, môi trường không khí ở nước ta, về tổng thể, chưa bị ô nhiễm khí SO2, NO2, sự ô nhiễm khí SO2, NO2 mới có tính cục bộ, do đó có thể suy ra rằng bản thân các nguồn ô nhiễm khí SO2 và NO2 của nước ta chưa thể gây ra hiện tượng mưa axít Nhưng ô nhiễm không khí có thể xuyên qua biên giới giữa các nước, ô nhiễm SO2,

NO2 của nước này có thể gây ra mưa axít ở nước khác

1.1.2.2 Ô nhiễm nước

Việt Nam có tài nguyên nước khá phong phú, công nghiệp hoá và đô thị hoá ở nước ta tuy chưa phát triển nhưng nhiều vùng đô thị và khu công nghiệp đã bị ô nhiễm nước Nước ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Mình, Hải Phòng, Đà Nẵng, đều

bị ô nhiễm Các khu công nghiệp cũng đã gây ô nhiễm cho các sông ở những đoạn tương ứng với chúng (Việt Trì, Bắc Giang, Phả Lại, ) Theo Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam 2005, ô nhiễm nước tuy chưa có tính chất nghiêm trọng ở quy mô toàn quốc nhưng đã đáng lo ngại ở nhiều địa phương, đặc biệt là các đô thị và khu công nghiệp

Môi trường nước lục địa: nước lục địa bao gồm nguồn nước mặt và nước dưới đất

Nước mặt phân bố chủ yếu trong hệ thống sông suối, hồ ao, kênh rạch

và các hệ thống tiêu thoát nước trong nội thành nội thị Nước dưới đất hay còn gọi là nước ngầm là tầng nước tự nhiên chảy ngầm trong lòng đất qua nhiều tầng đất

đá, có cấu tạo địa chất khác nhau

Hiện nay, vấn đề ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt tại các lưu vực sông và các sông nhỏ kênh rạch trong các nội thành nội thị

Nước dưới đất cũng có hiện tượng bị ô nhiễm và nhiễm mặn cục bộ

- Cácnguồn gây ô nhiễm nước lục địa bao gồm:

• Khai thác và sử dụng quá mức tài nguyên nước mặt nước ngầm

• Nước thải đô thị và khu công nghiệp

Trang 30

30

• Nước thải từ hoạt động nông nghiệp và nước thải từ các nguồn khác tại nông thôn

- Diễn biến ô nhiễm nước:

Diễn biến ô nhiễm nước mặt: Theo các kết quả quan trắc, chất lượng nước ở thượng lưu của hầu hết các con sông chính ở Việt Nam còn khá tốt, trong khi mức độ ô nhiễm ở hạ lưu các con sông này ngày càng tăng do ảnh hưởng của các

đô thị và các cơ sở công nghiệp

Đặc biệt, mức độ ô nhiễm tại các sông tăng cao vào mùa khô khi lưu lượng nước đổ về các sông giảm Hàm lượng các thông số BOD5, N-NH4+, chấ trắn

lơ lững cũng như một số thông số khác vượt mức tiêu chuẩn cho phép nhiều lần

Diễn biến ô nhiễm nước ngầm: Việc khai thác nước dưới đất của một số

hộ gia đình và một số công trình khai thác không được quản lý và quy hoạch cụ thể đã dẫn đến hiện tượng nước ngầm bị nhiễm mặn nhiều nơi

Việc khai thác nước quá mức và không có quy hoạch đã làm cho mực nước ngầm bị hạ thấp Hiện tượng này thấy nhiều ở các khu vực đồng bằng Bắc bộ và đồng bằng Sông Cửu Long Tình trạng rõ rệt nhất của ô nhiễm nước ngầm là ô nhiễm các chất dinh dưỡng do ngấm xuống từ nước thải, rác thải, phổ biến ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Tp Hồ ChíMinh Một số nơi cũng bị nhiễm vi khuẩn, kim loại độc (ví dụ As)

Ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khỏe, là nguyên nhân gây các bệnh như tiêu chảy (do vi rút, vi khuẩn, vi sinh vật đơn bào), lỵ trực trùng, tả, thương hàn, viêm gan A, giun sán Các bệnh này gây suy dinh dưỡng, làm thiếu máu, thiếu sắt, gây kém phát triển, tử vong, nhất

là ở trẻ em Có đến 88% trường hợp bệnh tiêu chảy là do thiếu nước sạch, vệ sinh môi trường kém

Môi trường biển: nhìn chung, chất lượng nước ở các vùng biển và ven biển vẫn còn nằm trong tiêu chuẩn cho phép, trừ một số vùng cửa sông và vùng ven biển nơi có các khu dân cư đô thị tập trung, các cơ sở công nghiệp, các cảng biển Tuy nhiên, nguy cơ ô nhiễm biển đang ngày càng biểu hiện rõ nét bởi các hoạt động của con người Biển là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa theo các sòng chảy sông suối, các chất thải từ các hoạt động trên biển như khai thác dầu

Trang 31

31

mỏ, vận tải trên biển, rửa các tàu chở dầu, tai nạn tàu biển, Biển bị ô nhiễm khá đa dạng

và có thể chia thành một số dạng như sau:

- Gia tăng nồng độ các chất gây ô nhiễm trong nước biển như dầu

mỏ, các kim loại nặng, các chất hữu cơ, các hóa chất độc hại,

- Gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích trong đáy biển

- Suy thoái hệ sinh thái biển như hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái rừng ngập mặn, làm suy giảm trữ lượng các loài sinh vật biển và giảm đa dạng sinh học biển

- Xuất hiện các hiện tượng như thủy triều đỏ,tích tụ các chất ô nhiễm trong các sinh vật biển và các sản vật lấy từ biển

Các nguồn ô nhiễm biển là:

• Hoạt động trong các khu dân cư đô thị ven biển

• Hoạt động công nghiệp tập trung tại khu vực ven biển

• Hoạt động khai thácvà nuôi trồng thủy sản

• Hoạt động giao thông vận tảivà sự cố tràn dầu

• Khai thác khoángsản

• Hoạt động du lịch và dịch vụ tại các khu du lịch và các khu nghỉ dưỡngven biển Diễn biến ô nhiễm nước biển: ô nhiễm nước biển được xác định bởi một số thông số đặc trưng là chất rắn lơ lững, độ đục, hàm lượng nitrit (NO2), nitrat (NO3), hàm lượng phốt pho, kim loại nặng, hàm lượng dầu và chỉ số coliform

Theo các số liệu quan trắc môi trường vùng biển và ven biển, hàm lượng các chất rắn lơ lững,nitrit, nitrat, kim loại nặng (Zn), dầu trong nước, coliform đã cao hơn giá trị cho phép từ 1,5 đến 5 lần Các thông số khác như hàm lượng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật và một số kim loại nặng khác(Cu, Pb, Cd, As, Hg) có giá trị thấp hơn giá trị cho phép

Ô nhiễm biển, đặc biệt là ô nhiễm kim lọai nặng, dầu mỡ và hóa chất độc hại gây ảnh hưởng đến pháttriển kinh tế biển

Ô nhiễm biển ở các bãi tắm và các điểm du lịch và sự xuống cấp của cảnh quan thiên nhiên hoang dã đã, đang và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch vùng ven biển nước ta Nước ven biển bị ô nhiễm chất rắn lơ lững cũng gây tác động xấu đến hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng biển, làm giảm lượng khách du kịch đến vùng biển

Trang 32

32

1.1.2.3 Ô nhiễm bởi rác thải

Việt Nam hiện có khoảng 755 đô thị, tốc độ tăng dân số và quá trình đô thị hóa nhanh chóng đang gây sức ép về suy giảm môi trường sống do không kiểm soát được chất thải phát sinh Xử lý rác thải đã và đang trở thành một vấn đề nóng bỏng

Điều đáng nói là với hàng ngàn tấn rác thải mỗi ngày như hiện nay thì phương pháp xử lý của VN vẫn chỉ là chôn lấp

Theo thống kê của Viện Môi trường đô thị và công nghiệp VN, bình quân mỗi năm cả nước phát sinh thêm khoảng 25.000 tấn rác thải sinh hoạt, tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ các đô thị có xu hướng tăng trung bình từ 10% - 16% Trong đó, tỉ

lệ thu gom rác thải tại cả đô thị bình quân cả nước chỉ đạt khoảng 70% - 85%

Một điều đáng lưu ý khác là cả nước có tới 52 bãi chôn lấp rác thải gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong khi quỹ đất cho các bãi chôn lấp ngày càng hạn hẹp Khi đặt ra vấn đề cần phải xử lý rác như thế nào thì câu hỏi lại vẫn là chôn lấp là chính Một

số dự án công nghệ xử lý, tái chế chất thải rắn hoạt động chưa hiệu quả và cũng thiếu nguồn nhân lực cho công tác quản lý và vận hành xử lý, tái chế chất thải rắn dẫn tới việc

ô nhiễm rác thải và có tác động tiêu cực đến chất lượng sống đô thị Chỉ tính riêng tại TPHCM, năm 2010 lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh 7.000 tấn/ngày, trong đó chỉ thu gom được 6.500 tấn/ngày

1.1.2.4 Ô nhiễm tiếng ồn

Gắn liền với quá trình công nghiệp và mạng lưới giao thông phát triển, hiện trạng

ô nhiễm tiến ồn ở Việt Nam ngày càng trở nên báo động, đặc biệt là ở các thành phố lớn,

các trung tâm công nghiệp lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng…

Ô nhiễm tiếng ồn và tình hình ở Việt Nam có thể chia thành các nguyên nhân chính sau:

* Ô nhiễm tiếng ồn ở các đơn vị sản xuất

Hiện nay tại các thành phố lớn, nhỏ và các tỉnh ở Việt Nam, tình trạng ô nhiễm tiếng ồn cũng có mặt ở nhiều nơi như các khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ lẻ, hay tại các bến tàu, bến cảng

Trang 33

Mức ồn của một số công nghệ sản xuất trong công nghiệp

Ô nhiễm tiếng ồn từ giao thông

Ở các đô thị lớn, trong các nguồn sinh ra tiếng ồn thì các phương tiện giao thông đóng vai trò chủ yếu (60-80%) Phần lớn tại các điểm đo đạc trên các trục giao thông chính của các đô thị lớn, nơi mà mật độ các phương tiện giao thông lưu thông đông đúc, cường độ xe tải lớn, đều vượt quá Quy chuẩn Việt Nam về tiếng ồn, đặc biệt vào các giờ cao điểm

Hiện nay các phương tiện giao thông ngày càng tăng với mức độ chóng mặt Theo thống kê của tổng cục đăng kiểm vào năm 2009 cả nước có khoảng 29 triệu xe mô tô và

xe máy, đến năm 2015 có khoảng 31 triệu xe Tính riêng hà nội là 4,6 triệu phương tiện

và thành phố Hồ Chí Minh là khoảng 5,5 triệu phương tiện Mật độ xe lưu thông trên đường phố ngày càng nhiều gây ô nhiễm tiếng ồn càng cao vì sự rung động của các bộ phận trên xe gây nên

Trang 34

150 điểm quan trắc đặt trên 30 tuyến đường Theo đó, ở tuyến đường đông xe có hầu hết

số lần đo vượt tiêu chuẩn ở mức cao Đáng báo động nhất là ngay cả đêm khuya, từ 6h sáng, mức độ ồn đo được cũng vượt quá giới hạn gấp nhiều lần Tất cả các lần đo ở 6 trạm quan trắc gồm: ngã tư An Sương, ngã sáu Gò Vấp, vòng xoay Hàng Xanh, Đinh Tiên Hoàng – Điện Biên Phủ, vòng xoay Phú Lâm, ngã tư Huỳnh Tấn Phát – Nguyễn Văn Linh nhiều lần đạt tới 85 dB, vượt xa ngưỡng ồn cho phép là 75 dB

22h-**Tiếng ồn từ sinh hoạt, dịch vụ:

Trong sinh hoạt thường sự dụng nhiều thiết bị thu phát âm thanh như: tivi, radio, karaoke… ngoài ra nơi tập trung đông người cũng gây ra tiếng ồn đáng kể như: dám cưới, sân thể thao, hội chợ… bên cạnh đó là tiếng ồn do các hoạt động sửa chữa nhà cửa

Mức ồn trong sinh hoạt của con người

Trang 35

35

** Tiếng ồn qua các hoạt động bán hàng rong, phát loa đài

Theo TCVN về tiếng ồn cho phép được dao động đến 75dB trong thời gian từ 18h, dao động 70dB từ 18-22h, vào buổi tối từ 22h-6h phải dưới 50dB Tuy nhiên hầu hết

6h-ở các thành phố tiếng ồn luôn vượt hàng chục lần so với quy định chuẩn trên với các cửa hàng thời trang, siêu thị, cửa hàng điện tử…

1.1.2.5 Khai thác khoáng sản gây ô nhiễm môi trường

Hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta đã và đang gây nhiều tác động xấu đến môi trường xung quanh Biểu hiện rõ nét nhất là việc sử dụng thiếu hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên; tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải; làm ảnh hưởng đến sử dụng nước, ô nhiễm nước, tiềm ẩn nguy cơ về dòng thải axit mỏ Những hoạt động này đang phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ô nhiễm nặng nề đối với môi trường, trở thành vấn đề cấp bách mang tính chính trị và xã hội của cộng đồng một cách sâu sắc

Nhận định về những tác động đến môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản hiện nay, thì đáng lo ngại nhất là các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản quy mô nhỏ đang diễn ra khá phổ biến ở nước ta Do vốn đầu tư của các doanh nghiệp này hạn chế, khai thác bằng phương pháp thủ công, bán cơ giới, công nghệ lạc hậu và nhất là chạy theo lợi nhuận, ý thức chấp hành luật pháp chưa cao nên các chủ cơ sở ít quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, an toàn lao động, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, để lại nhiều hậu quả xấu đến môi trường Đa số các mỏ đang hoạt động hiện nay sản lượng khai thác thấp hơn nhiều so với sản lượng được cấp phép, hoạt động không tuân thủ dự án, thiết kế

và báo cáo đánh giá tác động môi trường, hoặc bản cam kết được duyệt

Đơn cử như việc khai thác than, từ năm 2000 đến nay sản lượng ngành than đã không ngừng tăng Song vấn đề bức xúc nhất đối với các mỏ khai thác than về góc độ bảo vệ môi trường là đất đá thải Để sản xuất 1 tấn than, cần bóc đi từ 8 – 10 m3 đất phủ, thải từ 1 - 3 m3nước thải mỏ Chỉ tính riêng năm 2006, các mỏ than của Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt nam đã thải vào môi trường tới 182,6 triệu m3 đất đá, khoảng 70 triệu m3 nước thải mỏ, dẫn đến một số vùng của tỉnh Quảng Ninh bị ô nhiễm đến mức báo động như Mạo Khê, Uông Bí, Cẩm Phả

Đất đá thải loại trong khai thác khoáng sản cũng là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến tác động cộng hưởng về phát thải bụi từ các mỏ, gây suy giảm môi trường không khí do

Trang 36

36

nhiễm bụi ở các khu dân cư ở trong vùng khai thác Trên các mỏ than thường có mặt với hàm lượng cao các nguyên tố Sc, Ti, Mn Các khoáng vật sulphua có trong than còn chứa Zn, Cd, HG làm cho bụi mỏ trở nên độc hại với sức khỏe con người

Trong khai thác mỏ kim loại, tác động rõ nét nhất là tàn phá mặt đất, ảnh hưởng lớn đến rừng và thảm thực vật Việc khai thác vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho sản xuất phân bón và hóa chất như đá vôi làm ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước nghiêm trọng Do quy trình khai thác lạc hậu, không có hệ thống thu bụi nên hàm lượng bụi tại những nơi này thường lớn gấp 9 lần so với tiêu chuẩn cho phép

Một trong những loại vật liệu xây dựng được khai thác từ các lòng sông là cát Hoạt động này diễn ra trên toàn bộ hệ thống sông suối ở nước ta Tại miền Nam có tới

120 khu vực được UBND các tỉnh cấp phép khai thác cát xây dựng, khối lượng cát đã khai thác từ những con sông lớn như Đồng Nai - Nhà Bè, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông, sông Tiền và sông Hậu kể từ năm 1990 đến nay lên tới 100 triệu m3 Hậu quả môi trường mà các tỉnh này đang phải gánh chịu là làm đục nước sông, cản trở thuyền bè qua lại và nguy

cơ gia tăng tai nạn giao thông đường thủy Đặc biệt là gây sạt lở nghiêm trọng các bờ sông, nhất là ở sông Đồng Nai và sông Sài Gòn đã và đang sạt lở nặng nề nhất

1.1.2.6 Phá rừng lấy gỗ, củi, làm hồ thủy lợi, thủy điện

Thực tế cho thấy, hiếm có nước nào trên thế giới có tình trạng "loạn thủy điện" như nước ta Đã đành rằng Việt Nam giàu tiềm năng thủy điện, thế nhưng làm thủy điện

mà không cân nhắc kỹ lợi hại, làm thủy điện bằng mọi giá như thời gian vừa qua thì thật tai hại Theo Bộ NN&PTNT, để làm 160 dự án thủy điện, chúng ta mất 20.000ha rừng, trung bình mỗi dự án "ngốn" 125ha Một thống kê khác, cứ 1 MW điện sẽ mất 10ha rừng, chưa kể những thiệt hại khác như phá rừng để lấy đất phục vụ tái định cư, làm nương rẫy mới, lâm sản bị tận thu kiểu "ăn theo", tình trạng biến đổi dòng chảy, lúc thiếu lúc thừa nước, lũ lụt đe dọa, môi trường bị tàn phá, động thực vật hoang dã bị tận diệt… Việc Bộ Công thương vừa đề nghị Chính phủ loại bỏ 424 dự án, tạm dừng 136 dự án và không đưa vào quy hoạch tiềm năng thủy điện 172 vị trí chính vì lẽ đó Chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm xương máu trong việc xây dựng Nhà máy Thủy điện Sông Tranh 2, Nhà máy Thủy điện Krong Kma, khiến cho diện tích rừng bị mất khá lớn, chưa kể nhiều hệ lụy khác như mất đất, tranh chấp nước giữa thủy lợi và thủy điện…

Trang 37

37

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, ngày 7/11, từ năm 2006-10/2013, cả nước có

205 dự án thuộc 27 tỉnh thành có rừng chuyển đổi sang làm thủy với diện tích gần 20.000ha Trong đó, Tây Bắc có 22 dự án với diện tích 2.794ha; Đông Bắc 44 dự án với diện tích 1.306,6ha; Bắc Trung Bộ 22 dự án, với diện tích 4.343,5ha; Nam Trung Bộ 45

dự án với diện tích 2.314,3ha; Tây Nguyên 64 dự án, với diện tích 7.952,2ha; Đông Nam

Bộ 6 dự án với diện tích 1.090,4 ha; Tây Nam Bộ 2 dự án với diện tích 5,0ha

Mặc dù trước đó đã có quy định rất rõ tại Nghị định 23/2006/NĐ-CP về việc trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác Nghị định quy định đối với các doanh nghiệp, chủ đầu tư có diện tích chuyển đổi rừng làm thủy điện phải có phương án trồng rừng khả thi mới được khởi công công trình; đối với những tỉnh không còn đất trồng rừng thay thế thì phải nộp số tiền theo dự án trồng rừng thay thế được duyệt về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Trung ương để Bộ NN&PTNT bố trí cho tỉnh khác còn quỹ đất trồng rừng thay thế thực hiện

Tuy nhiên, đến tháng 10/2013 mới có 11/27 tỉnh phê duyệt phương án trồng rừng hoặc thu tiền để trồng rừng, tương ứng với diện tích trồng rừng là 1.897,6ha/19.805,3ha, đạt 10% 16/27 tỉnh chưa chỉ đạo trồng rừng, chưa thu tiền hoặc phê duyệt phương án trồng rừng nhưng vẫn cho xây dựng thủy điện gồm: Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lắc, Đăk Nông, Bình Phước và Bình Thuận

Tình trạng phê duyệt dự án thủy điện bừa bãi, không có phương án trồng rừng thay thế là nguyên nhân khiến hơn 20.000ha rừng bị chuyển đổi làm thủy điện nhưng chỉ

có 735ha, bằng 3,7% rừng được trồng lại (theo báo cáo của Bộ NN&PTNT)

1.2 SỰ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN QUÁ MỨC, KHÔNG

CÓ KẾ HOẠCH DẪN TỚI HỦY HOẠI MÔI TRƯỜNG SINH THÁI

1.2.1 Phá hủy cân bằng, hủy hoại môi trường

Hiện nay, thế giới đang đứng trước 5 cuộc khủng hoảng lớn là: dân số, lương thực, năng lượng, tài nguyên và sinh thái Năm cuộc khủng hoảng này đều liên quan chặt chẽ với môi trường và làm cho chất lượng cuộc sống của con người có nguy cơ suy giảm Nguyên nhân gây nên các cuộc khủng hoảng là do sự bùng nổ dân số và các yếu tố phát sinh từ sự gia tăng dân số Do đó, xuất hiện một khái niệm mới là khủng hoảng môi trường

Trang 38

38

"Khủng hoảng môi trường là các suy thoái về chất lượng môi trường sống trên quy mô toàn cầu, đe doạ cuộc sống của loài người trên trái đất"

Sau đây là những biểu hiện của khủng hoảng môi trường:

 Ô nhiễm không khí (bụi, SO2, CO2 v.v ) vượt tiêu chuẩn cho phép tại các

đô thị, khu công nghiệp

 Hiệu ứng nhà kính đang gia tăng làm biến đổi khí hậu toàn cầu

 Tầng ozon bị phá huỷ

 Sa mạc hoá đất đai do nhiều nguyên nhân như bạc màu, mặn hoá, phèn hoá, khô hạn

 Nguồn nước bị ô nhiễm

 Ô nhiễm biển xảy ra với mức độ ngày càng tăng

 Rừng đang suy giảm về số lượng và suy thoái về chất lượng

 Số chủng loài động thực vật bị tiêu diệt đang gia tăng

 Rác thải, chất thải đang gia tăng về số lượng và mức độ độc hại

1.2.1.1 Mất cân bằng sinh thái

Ngoài những nguyên nhân tự nhiên như cháy rừng, phun trào núi lửa, bão bụi hay các quá trình phân hủy, thối rữa xác động, thực vật… thì giao thông vận tải, sản xuất năng lượng, hoạt động nông nghiệp và công nghiệp đang được xem là những hoạt động trực tiếp gây ô nhiễm không khí – mối đe dọa thầm lặng đối với đa dạng sinh học và sức khỏe con người

Ô nhiễm không khí thường xảy ra khi trong không khí có sự hiện diện của khí nhà kính, sự mất cân bằng hóa học hay sự tập trung dày đặc của các hạt aerosol

Thông qua các tiến trình xảy ra tự nhiên, CO2 dễ dàng hòa tan trong nước tạo thành a-xít các-bo-níc (H2CO3) Nồng độ CO2 trong bầu khí quyển tăng sẽ kích thích

Trang 39

39

phản ứng này, làm giảm độ pH, từ đó tăng tình trạng a-xít hóa đại dương Điều này đang xuất hiện ở nhiều hệ sinh thái biển dễ bị tổn thương, khiến chúng trở nên khó thích ứng với những thay đổi mới

Nhiệt độ toàn cầu cũng ghi nhận mức tăng trung bình 1,6 độ F với sự nóng lên ngày càng rõ nét ở hai địa cực Những thay đổi dù là rất nhỏ về nhiệt độ đã đem tới nhiều thay đổi trong các mô hình thời tiết ở nhiều hệ sinh thái như gia tăng về mức độ cũng như tần suất các trận bão lớn, không chỉ gây thiệt hại về người và của mà còn đe dọa đa dạng sinh học

Sự đa dạng sinh học của nhiều rạn san hô trên thế giới đã và đang bị suy giảm Trái đất đã mất đi 25% số rạn san hô – ngôi nhà của 25% cư dân đại dương (xấp xỉ 2 triệu loài) Theo dự báo, đến năm 2050 sẽ chỉ còn lại 5% quần thể san hô hiện có còn tồn tại ngay cả khi mức gia tăng nhiệt độ theo dự đoán là thấp nhất Và nếu dự đoán của giới khoa học thành hiện thực, loài người sẽ mất đi một ngành công nghiệp trị giá 375 tỷ USD, đồng thời mất đi 10% nguồn thực phẩm toàn cầu

Ngoài hai hợp chất trên, các-bon mô-nô-xít (CO) cũng được coi là một trong những nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng hóa học Hóa chất cực độc sản sinh ra từ quá trình đốt cháy không hoàn toàn của các nhiên liệu hóa thạch này đặc biệt có hại với hệ hô hấp của người và động vật Nó ngăn máu mang ô-xy tới các cơ quan khác, mang lại những nguy cơ về sức khỏe cho cả người và động vật

c/ Các hạt aerosol

Aerosol bao gồm các vật chất dạng hạt như bụi, muội than và các hạt sun-fat lơ lửng trong không khí, là nguyên nhân chủ yếu gây nên ô nhiễm không khí Đa phần các aerosol xuất hiện tự nhiên, nhưng cũng có khoảng 10% là do tác động của con người, trong đó có hai nhân tố chính là hoạt động đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và sản xuất công nghiệp

Trang 40

40

Aerosol ảnh hưởng tiêu cực tới các hệ sinh thái thông qua việc xâm nhập vào nguồn nước hay vào lá phổi của các sinh vật hô hấp, đe dọa đa dạng sinh học cũng như sức khỏe con người Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các thành phố có mật độ tập trung hạt aerosol cao thì tỷ lệ tử vong do suy hô hấp cũng ở mức cao

Ngoài ra, ô nhiễm aerosol còn dẫn đến mất đa dạng sinh học thủy sinh vì các hạt trong khí quyển có khả năng gây mưa a-xít, làm thay đổi độ pH ở các dòng sông, con suối…

1.2.1.2 Mất cân bằng nước

Trong thế kỷ XX, dân số trên địa cầu đã tăng gấp ba lần Cùng thời kỳ, nhu cầu về nước ngọt của nhân loại tăng lên gấp sáu lần so với thế kỷ XIX Trung bình mỗi ngày, một người dân ở Bắc Mỹ, chủ yếu là Canada và Hoa Kỳ dùng từ 600 đến 800 lít nước

Để so sánh, nhu cầu này tại các quốc gia đang phát triển dao động từ 60 đến 150 lít/ ngày Dân số trên địa cầu ước tính lên tới 9 tỷ người vào khoảng năm 2050 Nhu cầu về lương thực qua đó tăng theo Để nuôi sống 9 tỷ người, ngành nông nghiệp trên thế giới phải sản xuất thêm, kéo nhu cầu về nước đi lên Để sản xuất ra một lít sữa, nông dân phải cần tới hơn 1.000 lít nước, và để có được một cân thịt bò thì người ta cần có tới từ 12.000 đến 15.000 lít nước Cùng lúc, để gia tăng năng suất, ngành nông nghiệp cũng sẽ phải sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóa học Mức độ ô nhiễm nước sẽ càng gia tăng Vấn đề lọc nước bẩn, sát trùng các nguồn nước bị ô nhiễm và quản lý các nguồn nước sạch trở thành mối quan tâm hàng đầu

Tại châu Á và châu Phi, dân số thành thị tăng gấp đôi trong ba thập niên từ năm

2000 đến 2030 141 triệu dân cư ở các thành phố lớn không được bảo đảm về nước ngọt

và nước sạch Nước bẩn là mầm mống gây ra cái chết cho 1/5 trẻ em trong độ tuổi dưới 5 tuổi vì những căn bệnh như : tiêu chảy, dịch tả, sốt rét… Tại các nước đang phát triển, như Trung Quốc hay Ấn Độ, trung bình một tháng, các thành phố lớn phải đón nhận thêm khoảng 5 triệu người đến định cư Trong thập niên sắp tới, 95% những người từ nông thôn lên thành thị sinh sống thuộc về các nền kinh tế đang trỗi dậy Làn sóng di dân này đã, đang và còn tiếp tục đặt ra nhiều thách thức cho chính quyền, đặc biệt là vấn đề cung cấp nước cho tất cả mọi người, đồng thời cần mở rộng hệ thống xử lý nước thải trước hiện tượng dân số ngày càng gia tăng Một trong những mối lo ngại đau đầu nhất đối với những quốc gia đang phát triển - đặc biệt là tại Brazil và Ấn Độ - là làm thế nào

Ngày đăng: 07/08/2014, 16:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình V.6 thể hiện sự diễn biến nồng độ khí SO 2  ở gần các khu công nghiệp cũ của  một số thành phố lớn từ năm 1995 đến nay - MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI BỀN VỮNG
nh V.6 thể hiện sự diễn biến nồng độ khí SO 2 ở gần các khu công nghiệp cũ của một số thành phố lớn từ năm 1995 đến nay (Trang 27)
Bảng Tổng hợp mức ồn trung bình tại các khu vực sản xuất của Tp. HCM - MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI BỀN VỮNG
ng Tổng hợp mức ồn trung bình tại các khu vực sản xuất của Tp. HCM (Trang 33)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w