1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, hệ thống hóa bản đồ giáo khoa treo tường

62 721 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu, Hệ Thống Hóa Bản Đồ Giáo Khoa Treo Tường
Trường học trường đại học
Chuyên ngành địa lý
Thể loại đề tài nghiên cứu
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 543 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu, hệ thống hóa bản đồ giáo khoa treo tường

Trang 1

PHẦN I - MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Bản đồ giáo khoa được xác định là “cuốn sách giáo khoa thứ hai”,

và còn hơn thế nữa vì những đặc tính mà chỉ riêng bản đồ có được BĐGKtreo tường là một bộ phận rất quan trọng của hệ thống BĐGK Vì vậy,BĐGK treo tường cần được nghiên cứu và sắp xếp một cách có hệ thống

để việc sản xuất, lưu thông và sử dụng chúng trong dạy học bộ môn Địa lí

ở nhà trường phổ thông có hiệu quả, đặc biệt là đối với chương trình Địa líTHPT ban Nâng Cao

Bản đồ là nguồn tri thức, đồng thời là phương tiện dạy học khôngthể thiếu của bộ môn Địa lí trong trường phổ thông BĐGK trong nhàtrường THPT hiện nay được trang bị khá phong phú và đa dạng để đáp ứngnhu cầu dạy học ngày càng cao của nền giáo dục quốc dân Tuy nhiên việc

sử dụng BĐGK một cách hiệu quả thì không phải tất cả mọi người đều làmtốt, đặc biệt là các trường THPT ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi màđiều kiện mọi mặt còn nhiều khó khăn và hạn chế Một công việc quantrọng để bước đầu sử dụng một cách hiệu quả hệ thống BĐGK trong nhàtrường THPT là hệ thống hóa chúng theo mục tiêu, nội dung và phươngpháp dạy học theo hướng tích cực

Tiến hành hệ thống hóa BĐGK trong chương trình Địa lí THPT làmột việc làm quan trọng và thiết thực đối với mỗi giáo viên Địa lí trongquá trình dạy học Địa lí ở trường THPT Hiện nay, với sự phong phú và đadạng của hệ thống BĐGK cũng như hệ thống phương pháp phân loại thìviệc lựa chọn phương pháp cũng như cách phân loại BĐGK như thế nàotùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương và đơn vị giáo dục.Tuy nhiên áp dụng Lý thuyết Hệ thống vào việc hệ thống hóa BĐGK làmột hướng đi mới, phù hợp với lí thuyết về phân loại nội dung chươngtrình Địa lí và hệ thống BĐGK ngày càng phong phú, đa dạng

Trang 2

Với những lí do trên, em đã chọn đề tài: Nghiên cứu, hệ thống hóa

bản đồ giáo khoa treo tường (Địa lí THPT ban Nâng Cao).

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề - Sự hình thành và phát triển của Lý thuyết Hệ thống

Từ sau chiến tranh thế giới thứ II các hệ thống lớn được hình thành

và phát triển nhanh chóng đòi hỏi phải có những phương pháp và công cụnghiên cứu thích ứng

Những hệ thống lớn này bao trùm lên mọi mặt của hoạt động kinh tế

- xã hội và sinh hoạt của cộng đồng đông đảo trên toàn thế giới, như các

hệ thống năng lượng (điện, dầu khí và các dạng năng lượng khác), bưuchính - viễn thông, giao thông vận tải, hệ thống các nhà băng và dịch vụngân hàng, mạng máy tính toàn cầu (Internet) và các hệ thống dịch vụkhác…

Lý thuyết Hệ thống hiện đại (Modern Systems Theory) được hìnhthành trong khoảng từ những năm 1940 đến 1975, trên cơ sở các nguyên lýcủa triết học, vật lý, sinh học và kỹ thuật Nó dần xâm nhập vào nhiều lĩnhvực của xã hội học, lý thuyết tổ chức, quản lý, điều trị tâm lý và kinh tếhọc

Lý thuyết Hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật họcLudwig Fon Bertalanffy (tên gọi: Lý thuyết những hệ thống Chung –General Systems Theory, 1968), và bắt nguồn từ Ross Ashby [1]

Fon Bertlanffy là phản ứng lại chống lại chủ nghĩa đơn giản hoá lẫnđóng gói đối tượng của khoa học Ông nhấn mạnh những hệ thống thực tế

là mở và có tương tác lẫn nhau và với môi trường, và chúng có thể có thêmnhững thuộc tính định tính mới thông qua biểu hiện mới kết quả sự Tiếnhóa liên tục Hơn là chia nhỏ một thực thể (như là cơ thể con người) tớinhững thuộc tính, những phần hoặc những phần tử của nó (như là các các

bộ phận hay tế bào), Lý thuyết Hệ thống tập trung về sự sắp đặt và những

Trang 3

quan hệ giữa những phần kết nối chúng trong một tổng thể Tổ chức đặcbiệt này xác định như một hệ thống, gồm những phần tử độc lập cụ thể(như các tế bào, các phần, các tranzito, người ) Như vậy, những kháiniệm và nguyên lí của tổ chức nằm dưới những ngành khoa học khác nhau(vật lí, sinh vật, công nghệ, xã hội học ), cung cấp một cơ sở cho sự thốngnhất chúng Những khái niệm hệ thống bao gồm: môi trường hệ thống baoquanh, đầu vào, đầu ra, quá trình, trạng thái, sự phân cấp, hướng mục đích

và thông tin

Sự phát triển của Lý thuyết Hệ thống là đa dạng [2], bao gồm nhậnthức những nền tảng triết học (những triết học của Bunge, Bahm vàLaszlo); Lí thuyết toán mô hình hoá và lí thuyết Thông tin và những ứngdụng thực tiễn Lí thuyết những hệ thống toán học xuất hiện sự phát triển

cô lập/độc lập giữa những mô hình những mạch điện và những hệ thốngkhác Áp dụng bao gồm kỹ nghệ, điện toán, sinh thái học, quản lý, và tâm

lý trị liệu gia đình Sự phân tích những hệ thống, phát triển độc lập Lýthuyết Hệ thống, áp dụng những nguyên lý hệ thống để trợ giúp ra quyếtđịnh - với những vấn đề xác định, tái xây dựng, tối ưu hóa và điều khiển

hệ thống (thường là một tổ chức về kỹ thuật), trong khi hướng đến nhiềumục tiêu, ràng buộc và tài nguyên Mục đích của nó chỉ rõ những hướnghoạt động có thể, tính đến độ rủi ro, giá thành và lợi ích thu được

Lý thuyết Hệ thống gắn chặt với Điều khiển học và cũng như Độnghọc hệ thống, mô hình thay đổi trong Mạng ghép lẫn nhau của những biến(như “thế giới thay đổi" - mô hình của Jay Forrester và Câu lạc bộ Rome).Những ý tưởng liên quan được sử dụng bên trong ra đời những khoa họccủa sự phức tạp, nghiên cứu sự tổ chức và những mạng hỗn tạp các đốitượng tương tác, và những lĩnh vực khác nhau như: động học hỗn loạn,cuộc sống nhân tạo, trí tuệ nhân tạo, mạng nơron, và mô hình hoá và môphỏng bằng máy tính

Các hệ thống lớn thông thường có các đặc điểm sau:

Trang 4

- Tính rộng lớn về phương diện lãnh thổ và không gian, nhiều hệthống ngày nay mang tính toàn cầu, thậm chí cả khoảng không gian baoquanh Trái Đất.

- Tính phức tạp về cấu trúc: số lượng các phần tử tham gia vào hệthống rất lớn, mối liên hệ phức tạp

- Tính đa dạng chức năng và đa mục tiêu của hệ thống và trong một

số trường hợp các mcụ tiêu này có thể mâu thuẫn nhau

- Mức độ bất định của thông tin ảnh hưởng đến tất cả các khâu trongquá trình phát triển của hệ thống, từ quy hoạch, thiết kế, xây dựng đến khaithác và mở rộng hệ thống Giai đoạn khảo sát càng dài về tương lai thì tínhbất định càng cao

Vấn đề độ tin cậy của hệ thống ngày càng trở nên bức xúc Hệ thốngcàng lớn, việc đảm bảo độ tin cậy của hệ thống càng khó khăn và tốn kém,hậu quả của hỏng hóc, mất an toàn của hệ thống càng nghiêm trọng

Những đặc điểm trên đây đã thúc đẩy quá trình hình thành và pháttriển của lí thuyết hệ thống (hay kĩ thuật hệ thống), mặt khác, nhờ vàonhững thành tựu về khoa học và công nghệ của các hệ thống lớn mà cácphương pháp và công cụ của Lý thuyết Hệ thống được phổ cập càng rộngrãi và mang lại hiệu quả ngày càng cao

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu về Lý thuyết Hệ thống

- Tiến hành hệ thống hóa BĐGK treo tường trong chương trình Địa

lí THPT ban Nâng Cao theo Lý thuyết Hệ thống

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thu thập, xử lí, phân tích các tài liệu viết và tài liệu bản đồ vềBĐGK

Trang 5

- Phõn tớch chương trỡnh Địa lớ THPT ban Nõng Cao và hệ thốngBĐGK treo tường tương ứng.

4 Giới hạn phạm vi nghiờn cứu của đề tài

Hệ thống húa BĐGK treo tường trong chương trỡnh Địa Lý THPTban Nõng Cao bằng Lý thuyết Hệ thống

5 Quan điểm và phương phỏp nghiờn cứu của đề tài

5.1 Quan điểm nghiờn cứu

Hai quan điểm chủ đạo được sủ dụng trong nghiờn cứu đề t i cài c ủa em lài cquan điểm hệ thống v quan ài c điểm tổng hợp:

- Quan điểm hệ thống

Theo L.Béctơ-Lan-Phil: “Hệ thống là tổng thể các là thành phần nằmtrong sự tác động tơng hỗ” Mọi đối tợng và hiện tợng đều có mối liên hệbiện chứng tạo thành một chỉnh thể đợc gọi là hệ thống, mỗi hệ thống lạinằm trong một hệ thống lớn hơn và mỗi hệ thống lại có thể phân chia thànhcác hệ thống ở cấp thấp hơn

Theo quan điểm này thỡ tập hợp bản đồ trong sỏch giỏo khoa, AtlatĐịa lớ, BĐGK treo tường … là một thể thống nhất của hệ thống BĐGKtrong chương trỡnh Địa lớ THPT ban Nõng Cao

Những BĐGK treo tường được xem xột như l mài c ột hệ thống bản đồ

ho n chài c ỉnh, một bộ phận quan trọng của hệ thống BĐGK Địa lớ THPT

- Quan điểm tổng hợp

Hệ thống BĐGK trong chương trỡnh Địa lớ THPT ban Nõng Cao làmột thể tổng hợp, trong đú thể tổng hợp này được phõn chia thành cỏc thểtổng hợp nhỏ hơn

Cỏc BĐGK treo tường là một thể tổng hợp trong hệ thống BĐGKtrong chương trỡnh Địa lớ THPT ban Nõng Cao

Trang 6

5.2 Phương phỏp nghiờn cứu

Trong đề tài của mỡnh em sử dụng hệ thống cỏc phương phỏp nghiờncứu chớnh sau: phương phỏp thu thập tài liệu; phương phỏp phõn tớch, tổnghợp, so sỏnh; phương phỏp bản đồ v phài c ơng pháp sử dụng các kỹ thuậtphụ trợ

- Phương phỏp thu thập tài liệu

Thu thập cỏc tài liệu viết về bản đồ học, bản đồ, đặc biệt là BĐGKnúi chung và BĐGK treo tường núi riờng trong chương trỡnh Địa lớ THPTban Nõng Cao

Thu thập t i liài c ệu BĐGK treo tường ở trường THPT

- Phương phỏp phõn tớch, tổng hợp, so sỏnh

Sau khi thu thập đợc tài liệu và tiến hành xử lý tài liệu đề tài sử dụngphơng pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, nhờ phơng pháp này nguồn tàiliệu đã đợc xử lí sao cho phù hợp với thực tế khách quan Từ đó có thể rút

ra những kết luận khoa học cho đề tài của mình

- Phương phỏp bản đồ

Trong quỏ trỡnh nghiờn cứu cấu trỳc lớ thuyết bản đồ học, nhà bản đồhọc người Ba Lan - L.Rataixki đó đề cập nhiều đến phương phỏp bản đồ vàđưa ra sơ đồ “Phương phỏp bản đồ nhận thức thực tế” Theo sơ đồ của ụng,

cú thể chia “Phương phỏp bản đồ nhận thức thực tế” thành 4 quỏ trỡnh:

+Nhận thức thụng tin từ thực tế khỏch quan và chọn lọc thụng tin+Biến đổi thụng tin th nh dài c ạng bản đồ

+Truyền thụng tin từ dạng bản đồ đến người dựng

+Tỏi tạo trong nhận thức người dựng về thực tế khỏch quan

Sơ đồ của L.Rataixki được xem như sơ đồ mẫu về phương phỏp bản

đồ nhận thức thực tế và được nhiều nhà bản đồ bổ sung, phỏt triển và hoànchỉnh

- Phơng pháp sử dụng các kỹ thuật phụ trợ

ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lí tài liệu và công tác hệthống hóa bản đồ

Trang 7

6 Cấu trúc nội dung dề tài

Đề tài gồm ba phần chính:

Phần I - Mở đầu

Phần II - Nội dung

Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2 Phân tích hệ thống bản đồ giáo khoa treo tường trongchương trình Địa lí THPT

Chương 3 Hệ thống hóa bản đồ giáo khoa treo tường (chương trìnhĐịa lí THPT ban Nâng Cao) theo lý thuyết Hệ thống

Phần III - Kết luận

PHẦN II - NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

Trang 8

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lí luận của đề tài

1.1.1 Bản đồ học và bản đồ địa lí

1.1.1.1 Định nghĩa bản đồ học

Theo Lâm Quang Dốc – Phạm Ngọc Đĩnh [4]:

Định nghĩa chặt chẽ và hòan chỉnh về bản đồ học do giáo sư K.A.Salishev đưa ra, được nhiều người thừa nhận: “Bản đồ học là khoa học về

sự nghiên cứu và phản ánh sự phân bố không gian, sự phối hợp và sự liênkết lẫn nhau của các hiện tượng tự nhiên và xã hội (cả những biến đổi củachúng theo thời gian) bằng các mô hình kí hiệu hình tượng đặc biệt – sựbiểu hiện bản đồ”

Năm 1995, tại Bacxêlôna – Tây Ban Nha, đại hộ lần thứ 10 Hội Bản

đồ thế giới đã dư ra định nghĩa: “Bản đồ học là ngành khoa học giải quyếtnhững vấn đề lí luận, sản xuất, phổ biến và nghiên cứu về bản đồ”

1.1.1.2 Định nghĩa, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa bản đồ địa lí

Đinh nghĩa

Khái niệm về bản đồ địa lí là kiến thức học sinh tiếp nhận được ngay

từ bài học Địa lí đầu tiên ở nhà trường phổ thông, với định nghĩa: “Bản đồ

là hình vẽ thu nhỏ trên giấy, tương đối chính xác về một khu vực hay toàn

bộ bề mặt Trái Đất”

“Bản đồ địa lí là mô hình ký hiệu hình tượng không gian của các đốitượng và các hiện tượng tự nhiên, xã hội, được thu nhỏ được tổng hợp hoátheo một cơ sở toán học nhất định nhằm phản ánh vị trí, sự phân bố và mốitương quan của các đối tượng, hiện tượng, cả những biến đổi của chúngtheo thời gian để thoả mãn mục đích yêu cầu đã định trước” (K A.Xalishev)

“Bản đồ là hình ảnh thực tế của địa lí, được kí hiệu hoá, phản ánhcác yếu tố hoặc các đặc điểm địa lí một cách có chọn lọc, kết quả từ sự nỗ

Trang 9

lực, sáng tạo trong lựa chọn của tác giả bản đồ và được thiết kế để sử dụngchủ yếu liên quan đến các mối quan hệ không gian” (Hội bản đồ thế giới)

Các định nghĩa trên hoàn toàn xác thực với bản đồ địa lí, phản ánhđầy đủ những thuộc tính của một bản đồ địa lí

Đặc điểm

Nếu nghiên cứu, phân tích một cách sâu sắc ta thấy sự biểu hiện bản

đồ nổi bật những đặc trưng sau:

- Bản đồ thành lập trên cơ sở toán học

Xuất phát từ việc biểu hiện sự phân bố và quan hệ không giancủa các đối tượng, bản đồ được xem là sự biểu hiện thu nhỏ bề mặt TráiĐất, cùng một lúc có thể bao quát được tất cả một không gian rộng lớn,thậm chí cả thế giới, không gian vũ trụ Như vậy, sự biểu hiện bản đồ gắnliền với tính chất của tỉ lệ xích Bản đồ được thể hiện trên mặt phẳng, đểchuyển được bề mặt tự nhiên của Trái Đất vốn có địa hình phức tạp vànhững đối tượng cần họa đồ rất đa dạng trên bề mặt elipxoit Trái Đất Thứhai, thu nhỏ khích thước elipxoit Trái Đất và biểu hiện bề mặt elipxoit TráiĐất trên mặt phẳng Để làm được điều này phải sử dụng phương pháp toánhọc, gọi là phép “chiếu hình bản đồ” Phép chiếu hình bản đồ quy định sựphụ thuộc hàm số nhất định giữa tọa độ của những điểm trên bề mặtelipxoit Trái Đất và tọa độ của những điểm tương ứng trên mặt phẳng bản

đồ Nhờ đó bản đồ đảm bảo được tính đồng dạng và sự tương ứng khônggian của các đối tượng được biểu hiện

- Bản đồ sử dụng ngôn ngữ hình ảnh - kí hiệu

Trong quá trình phát triển, xã hội loài người đã xuất hiện hàngloạt các phương tiện để ghi chép và truyền đạt các biểu tượng như ngônngữ cử chỉ, ngôn ngữ âm thanh, ngôn ngữ hình ảnh, ngôn ngữ văn tự… Sựbiểu hiện bản đồ sử dụng ngôn ngữ hình ảnh – hệ thống kí hiệu Các kíhiệu bản đồ đã ghi được các đối tượng, hiện tượng khác nhau biểu hiệntrên bản đồ Sự biểu hiện bằng hệ thống kí hiệu đã làm cho bản đồ không

Trang 10

giống với những sự biểu hiện khác về Trái Đất như những bức ảnh hàngkhông và tranh phong cảnh cùng một địa phương.

Bản đồ với các kí hiệu, ấn tượng ban đầu có thể cho cảm giác

xa lạ, không trực quan như những bức ảnh, bức tranh, nhưng thực tế, sựbiểu hiện bằng kí hiệu đã tạo cho bản đồ có những ưu thế mà không mộtbức ảnh, bức tranh đuah phương nào có được

- Bản đồ có sự tổng quát hóa

Bản đồ không thể hiện tất cả các đối tượng, hiện tượng Địa lí

có ở địa phương, vì bản đồ là sự biểu hiện thu nhỏ Tỉ lệ càng nhỏ, mức độthu nhỏ càng lớn Mặt khác, mỗi bản đồ được thành lập đều nhằm phục vụmột mục đích và chủ đề nhất định nào đó Vì thế những đối tượng, hiệntượng đưa lên bản đồ phải được chọn lọc có ý thức, phải loại bỏ những đốitượng và khía cạnh không cần thiết, chỉ giữ lại và nêu bật những đối tượng,hiện tượng với những nét đặc trưng chủ yếu, điển hình, quan trọng nhấttrên cơ sở mục đích, chủ đề, tỉ lệ bản đồ và đặc điểm địa phương Quátrình chọn lọc đó là sự “tổng quát hóa bản đồ”

Nội dung

Nội dung của bản đồ là yếu tố chủ đạo cấu thành nên bản đồ(gồm: nội dung bản đồ, cơ sở toán học của bản đồ, yếu tố hỗ trợ và nhữngbản đồ phụ) Nội dung này bao gồm tổng thể những thông tin về các đốitượng, hiện tượng địa lí (tự nhiên, kinh tế - xã hội) được biểu hiện trongphạm vi lãnh thổ họa đồ với sự phân bố, tình trạng, những sự kết hợp, cácmối liên hệ và sự phát triển Những nội dung này tùy thuộc vào mục đích,chủ đề và tỉ lệ của mỗi bản đồ

Trên bản đồ địa lí đại cương, sự biểu hiện là các đối tượng,hiện tượng địa lí tự nhiên, kinh tế - xã hội như: địa hình, nước trên mặt, lớpphủ thực vật, các điểm quần cư, mạng lưới giao thông, và một số đối tượngnông nghiệp, công nghiệp, văn hóa, sự phân chia chính trị - hành chính…Còn trên bản đồ chuyên đề, nội dung biểu hiện chính chỉ gồm một vài đối

Trang 11

tượng, hiện tượng địa lí, nhưng được phản ánh một cách chi tiết, sâu sắc;

ví dụ: bản đồ dân cư biểu hiện sự phân bố quần cư, mật độ dân số, số dân

và các đặc điểm khác của dân cư

Ý nghĩa bản đồ địa lí

Nói về vai trò, ý nghĩa của bản đồ địa lí, nhà địa lí học củaLiên Xô trước đây đã khái quát: “Nếu như các nhà sinh vật học để nghiêncứu những vật thể nhỏ bé, trước hết phải quan tâm thu nhận sự biểu hiệnphóng đại chúng qua kính hiển vi Ngược lại, các nhà địa lí phải nghĩ cóđược sự biểu hiện thu nhỏ bề mặt Trái Đất - cái đó chính là bản đồ”

Bản đồ địa lí có vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn trong thựctiễn, trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy, học tập Địa lí

Trong thực tiễn, bản đồ địa lí được sử dụng một cách rộng rãi

để giải quyết nhiều nhiệm vụ khác nhau, những nhiệm vụ gắn liền với sựkhai thác và sử dụng hợp lí lãnh thổ

Bản đồ địa lí không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học, nó

là phương tiện nghiên cứu của các nhà khoa học về Trái Đất Bản đồ giúpcác nhà khoa học tìm hiểu những quy luật phân bố các đối tượng, sự lantruyền của các hiện tượng và những mối tương quan của chúng trongkhông gian, cho phép phát hiện các quy luật tồn tại và dự đoán con đườngphát triển của chúng trong tương lai Bất cứ một sự nghiên cứu nào cũngphải bắt đầu từ bản đồ và kết thúc bằng bản đồ Bản đồ được xem là mộttiêu chuẩn của sự phát triển địa lí D N Anusin đã viết: “Mức độ nhậnthức về mặt địa lí một nước được xác định bởi độ hoàn hảo của bản đồhiện có của nước đó”

Trong giảng dạy và học tập địa lí, bản đồ giữ vai trò rất quantrọng Bản đồ là kho tàng trữ các tri thức địa lí tích lũy được, là kênh hìnhcủa sách giáo khoa địa lí Bản đồ vừa là nội dung vừa là phương tiện đặcthù không thể thiếu trong giảng dạy và học tập địa lí

Trang 12

Ngày nay bản đồ còn được coi là một phương tiện có hiệu quả

để phổ biến các tri thức, nâng cao trình độ văn hóa chung cho mọi người,cung cấp những hiểu biết về quê hương đất nướcn về các quốc gia trên thếgiới, giáo dục lòng yêu nước, yêu quý thiên nhiên, bảo vệ môi trường…

Không phải cường điệu khi nói rằng các bản đồ ở mức độ nào

đã trở thành một phương tiện cần thiết trong sản xuất và đời sống conngười

1.1.2 Bản đồ giáo khoa và bản đồ giáo khoa treo tường

1.1.2.1 Khái niệm về bản đồ giáo khoa và bản đồ giáo khoa treo tường

* Bản đồ giáo khoa Địa lí

BĐGK Địa lí là một loại hình cụ thể trong hệ thống bản đồ Địa lí, vìvậy ngoài tính chất đặc trưng của bản đồ địa lí ra, nó còn có những tínhchất riêng mà các loại bản đồ địa lí khác không có

U C Bilich và A.C Vasmuc đã định nghĩa: “Bản đồ giáo khoa lànhững bản đồ sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việcgiảng dạy và học tập ở tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạonên một hệ thống giáo dục cho tất cả các tàng lớp dân cư từ học sinh chođến việc đào tạo các chuyên gia Những bản đồ đó cũng được sử dụngtrong nhiều ngành khoa học, trước hết là Địa lí và Lịch sử.” [4]

BĐGK là biểu hiện thu nhỏ của bề mặt Trái Đất lên mặt phẳng dựatrên cơ sở toán học Bằng ngôn ngữ bản đồ, phương tiện (đồ họa) phản ánh

sự phân bố, trạng thái mối liên hệ tương hỗ của khách thể - tương ứng vớimục đích, nội dung và phương pháp của môn học trên những nguyên tắcchặt chẽ của tổng quát hóa bản đồ; phù hợp với trình độ phát triển của lứatuổi học sinh, có xét đến cả yêu cầu giáo dục thẩm mĩ và vệ sinh họcđường

Nói một cách đơn giản hơn, BĐGK Địa lí là bản đồ dùng để dạy vàhọc Địa lí theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định trong nhà

Trang 13

trường Có thể nói một cách khái quát: BĐGK là những bản đồ dùng vàoviệc dạy và học trong nhà trường BĐGK hiện nay sử dụng chủ yếu vhohai môn học: Địa lí và Lịch sử Đối tượng sử dụng các loại BĐGK này hầuhết là giáo viên và học sinh của hai môn học đó trong nhà trường phổthông.

* Bản đồ giáo khoa treo tường

BĐGK treo tường cũng được các tác giả nghiên cứu khác nhau đưa

ra các khái niệm khác nhau tùy theo mục đích và phương pháp nghiên cứu

BĐGK treo tường là loại bản đồ được dùng thường xuyên để dạy bộmôn Địa lí trên lớp BĐGK treo tường có những yêu cầu, những phươngpháp biểu hiện riêng, phù hợp với lí luận về bản đồ và lí luận dạy học Địa

lí (Nguyễn Dược – Nguyễn Trọng Phúc[5])

Theo Lâm Quang Dốc [3]

“Bản đồ giáo khoa treo tường là loại bản đồ dùng để giảng dạy vàhọc ở trên lớp Nó được dùng để nghiên cứu, giảng dạy và học tập ở nhiềulĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực Địa lí và lịch sử.”

BĐGK treo tường thể hiện được nội dung Địa lí trong các mối quan

hệ và cấu trúc không gian, đảm bảo tính logic khoa học của vấn đề giáoviên trình bày Mỗi điểm, mỗi đối tượng Địa lí trên bản đồ đều giữ đúng vịtrí Địa lí của mình trên mặt đất Đặc điểm của mỗi đối tượng cũng đượcbiểu hiện bằng các phương pháp họa đồ phù hợp Trên bản đồ, lượng thôngtin khoa học tương xứng với tỉ lệ bản đồ, các đối tượng Địa lí trên bản đồđược khái quát hóa cao, có đối tượng phải cường điệu hóa đến mức cầnthiết Nhiều kí hiệu tượng trưng, tượng hình, nhiều màu sắc đẹp gần gũivới đối tượng được sử dụng làm cho bản đồ có tính trực quan cao, gâyhứng thú cho việc học tập Địa lí Nội dung kiến thức và phương pháp trìnhbày trên bản đồ còn phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi, với thị lực học sinhtrong khoảng cách nhìn từ 5 đến 10 mét, với trình độ nhận thức của từng

Trang 14

lớp học, cấp học Vì vậy, BĐGK treo tường có hệ thống kí hiệu lớn, chữviết to, màu sắc rực rỡ, độ tương phản mạnh

Tuy có những điểm khác nhau trong định nghĩa của các tác giả, songcác nhà nghiên cứu đều thống nhất ở một số điểm như:

BĐGK treo tường là bản đồ giáo khoa sử dụng cho dạy họcĐịa lí (và Lịch sử) trên lớp

BĐGK treo tường có những yêu cầu và đặc điểm riêng, phùhợp với nội dung chương trình bộ môn và tâm sinh lí lứa tuổi, nhận thứccủa học sinh ở từng lớp học, từng cấp học

1.1.2.2 Đặc điểm cơ bản của bản đồ giáo khoa

BĐGK Địa lí hiện nay, tuy vẫn có chức năng là một phương tiện dạyhọc Địa lí trực quan, nhưng chức năng chủ yếu và ngày càng được coitrọng là một nguồn tri thức Địa lí phong phú để học sinh khai thác khi họctập Mỗi đối tượng địa lí được ghi trên bản đồ đều bắt nguồn từ nhữngcuộc thám hiểm, đôi khi gian lao và đầy hiểm nguy của các nhà Địa lí trênthực địa Chính vì thế, BĐGK Địa lí xứng đáng được coi là “Cuốn sáchgiáo khoa Địa lí thứ hai” trong dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông

+ Tính khoa học của BĐGK

Bản đồ Địa lí dùng trong nhà trường khác với những bản đồ tra cứu

ở chỗ: “trọng tải” của bản đồ không lớn và có nội dung phù hợp vớichương trình giảng dạy của từng lớp, từng cấp học thậm chí từng bài học

Do đó, BĐGK là một tư liệu khoa học độc lập trong nhà trường

Để đáp ứng yêu cầu đó, BĐGK phải có tính khoa học Tính khoahọc của bản đồ biểu hiện trước hết ở tính chính xác của cơ sở toán học.BĐGK được xây dựng theo quy luật toán nhất định, theo tỉ lệ nhất định.Quy luật toán học biểu hiện rõ ở tính đơn trị và tính liên tục của việc biểuhiện bản đồ Tính đơn trị biểu hiện ở chỗ một điểm trên bản đồ có tọa độ x

và y chỉ tương ứng với một điểm trên bề mặt đất, mỗi kí hiệu đặt trên điểmnày chỉ có một ý nghĩa cố định rõ ràng trong bản chú giải Tính liên tục

Trang 15

biểu hiện ở chỗ bản đồ “không có khoảng trống” Điều này nói lên trênlãnh thổ và không gian của chúng đã có tài liệu chính xác Tỉ lệ và các đơn

vị đo, thang màu và sự phân cấp kí hiệu cho phép thực hiện trên bản đồmọi khả năng đo tính và nhận biết đặc điểm khác nhau của các hiện tượng.Tính khoa học của bản đồ còn biểu hiện ở chỗ mỗi đối tượng, hiện tượngĐịa lí có đặc điểm riêng phù hợp với một phương pháp biểu hiện nhất định

và trên bản đồ có lượng thông tin tương ứng với tỉ lệ của bản đồ Lượngthông tin của bản đồ càng cao, dĩ nhiên, tính khoa học càng cao, nhưngvượt quá lượng thông tin cần thiết thì bản đồ sẽ trở nên “quá tải” gây khókhăn cho người sử dụng, tính khoa học giảm Cấu trúc nội dung của mộtbản đồ vừa truyền đạt đủ nội dung Địa lí cơ bản đã viếttrong sách giáokhoa vừa giúp học sinh hiểu và trình bày được mối quan hệ biện chứng vớinhững đố tượng khác Tính khoa học còn biểu hiện ở tính trừu tượng, tínhchọn lọc và tính tổng hợp, tính bao quát, tính đồng dạng và tính lôgic

- Tính trừu tượng của BĐGK

Bất kì bản đồ nào, đặc biệt là bản đồ tỉ lệ nhỏ, khi biên vẽ đều trảiqua một quá trình trừu tượng hóa Trừu tượng hóa bản đồ dựa trên tổngquát hóa và kí hiệu bản đồ Đó là kết quả của sự lựa chọn có mục đích rõrệt, sự loại bỏ cái thứ yếu, ít quan trọng, không cơ bản, đặc biệt chú ý đếnnhững đặc điểm chính, sự cường điệu hóa cao đối với đối tượng và hiệntượng có ý nghĩa quan trọng đối với địa phương Đây là nhiệm vụ chủ yếukhi tiến hành thành lập bản đồ dùng trong trường học, các nhà chuyênmôn, các nhà phương pháp giảng dạy và các nhà bản đồ không chỉ làmviệc với tài liệu giáo khoa, mà cả với những hình ảnh của các hiện tượngĐịa lí nguyên vẹn, với hệ thống khái niệm xuất hiện trong quá trình biên

vẽ và tổng quát hóa bản đồ, nghĩa là trừu tượng hóa diễn ra từ lúc khởithảo cho đến lúc hoàn thành bản vẽ cuối cùng Sự trừu tượng hóa các đốitượng Địa lí biểu hiện trên bản đồ được giáo viên khai thác trong giảngdạy, được học sinh lĩnh hội khi học tập Trừu tượng hóa khoa học có vai

Trang 16

trò quan trọng trong việc nhận thức các khía cạnh này khác của thực tếkhách quan Lênin nói “Tư duy, khi có nguồn gốc từ cụ thể đến trừ tượng,

nó sẽ không đi xa chân lí – nếu nó đúng chất, sự trừu tượng hóa quy luật tựnhiên, trừu tượng hóa giá trị… là một từ, tất cả trừu tượng hóa khoa học(đúng đắn, nghiêm túc, không vô lí) đều đều phản ánh tự nhiên sâu sắchơn, đúng đắn hơn, đầy đủ hơn Từ trực quan sinh động đến thực tế - đó làcon đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực kháchquan” Tổng quát hóa ở nhiều mức độ khác nhau là đặc tính của mô hìnhbản đồ Sự trừu tượng hóa khoa học cao là đặc điểm của mô hình toán học,nhưng tính chất trừu tượng hóa này thuộc loại khác Nếu nêu đặc điểm rấttóm tắt về sự khác nhau chủ yếu của mô hình bản đồ và mô hình toán học,khi bỏ qua các đặc diểm khác nhau của chúng, thì có thể nói rằng, mô hìnhtoán học (ví dụ: phương trình toán học) đã lãng quên các tính chất cụ thểcủa các đối tượng thực tế, còn mô hình bản đồ tổng quát hóa các tính chất

cụ thể

- Tính chọn lọc và tính tổng hợp của BĐGK

Tất cả những quá trình riêng biệt và những hiện tượng trong thực tếnhiều khi không biểu hiện được đầy đủ lên bản đồ mà có sự chọn lọc.Chẳng hạn, trong tất cả các nhân tố hình thành khí hậu trên lãnh thổ, người

ta chỉ lựa chọn lượng mưa để biểu hiện trên bản đồ phân bố lượng mưa củalãnh thổ đó Các nhân tố khác như áp suất không khí, gió, nhiệt độ… đều

bị loại bỏ

Bản đồ không chỉ có tính chất chọn lọc mà còn có cả tính chất tổnghợp nữa Tính chất tổng hợp của bản đồ biểu hiện ở sự thống nhất các hiệntượng cà quá trình trong thực tế Chẳng hạn, muốn hiểu biết đặc điểm pháttriển kinh tế của một đất nước phải biểu hiện tổng hợp các nhân tố như:trình độ phát triển nông nghiệp và công nghiệp, thu nhập quốc dân, nguồntài nguyên thiên nhiên và tài nguyên lao động… Tính tổng hợp của bản đồbao giờ cũng liên quan đến những khái niệm, những chỉ tiêu và những kí

Trang 17

hiệu mới, chính nhờ chúng mà có thể phân tích mối quan hệ tương hỗ giữacác hiện tượng và các quá trình.

Tính chất chọn lọc và tính chất tổng hợp vốn có trong nhiều mô hìnhĐịa lí Sự khác nhau của các tính chất này trong các mô hình chỉ là ở mức

độ và tính chất trực quan

- Tính bao quát của BĐGK

Bản đồ cho phép nhà Địa lí nhìn bao quát và nghiên cứu khoảngkhông gian bao la của bất kì một lãnh thổ nào Chính tính chất đó của bản

đồ giúp cho các nhà Địa lí và địa chất khám phá ra nhiều quy luật trên quy

mô hành tinh và khu vực rộng lớn Không có một loại mô hình Địa lí nàolại có đặc tính này ở mức độ rõ rệt như bản đồ

- Tính đồng dạng hình học và sự phù hợp địa lí của BĐGK

Việc chuyển các điểm phản ánh hình dạng và kích thước của các đốitượng được biên vẽ trong điều kiện tỉ lệ và lưới chiếu cho trước gọi là sựđồng dạng hình học Nhờ tính chất đồng dạng này mà nhà Địa lí không chỉtìm thấy sự biểu hiện các vị trí tương hỗ và sự phụ thuộc lẫn nhau của cácđối tượng trên lãnh thổ, mà còn nhận thức được cả hình dạng và kích thướccủa các đối tượng nghiên cứu, nghĩa là nắm được cấu trúc không gian củachúng Những bức ảnh hàng không và các ảnh vũ trụ, các bình đồ, các mặtcắt… cũng có tính chất tương tự Sự đồng dạng hình học của bản đồ, tấtnhiên, không thể hiểu một cách cứng nhắc như việc tính tỉ lệ đơn giản củađối tượng trên địa phương và trên bản đồ, bởi vì bản đồ đã sử dụng các kíhiệu ngoài tỉ lệ, còn hình dạng các đối tượng trên bản đồ được biểu hiệntheo tỉ lệ Trong một số trường hợp, trên bản đồ tỉ lệ nhỏ, sự đồng dạnghình học (độ chính xác hình học) đã bị phá vỡ một cách có ý thức, để biểuhiện rõ tính quy luật Địa lí quan trọng đối với người đọc, ví dụ: trên bản đồ

tỉ lệ nhỏ, các đường bình độ có thể hơi dịch chuyển tương đối so với vị tríthực của chúng để biểu hiện đúng đặc điểm bề mặt dốc hoặc lục địa Nam

Trang 18

Cực trong lưới chiếu hình trụ đứng không đồng dạng với lục địa Nam Cựcngoài thực địa như ở lưới chiếu hình phương vị đứng.

- Tính logic của BĐGK

Bản đồ nào cũng kèm theo bản chú giải Nó là chìa khóa của mọibản đồ và là cơ sở logic của mọi bản đồ Không phải vô cớ việc thành lậpbản đồ bao giờ cũng bắt đầu từ việc chuẩn bị bản chú giải Bản chú giảicủa bản đồ không chỉ giải thích kí hiệu mà còn là đơn vị phân loại (địahình, khoáng sản, công nghiệp, nông nghiêp…), phân cấp bậc (bậc độ cao

và độ sâu, mật độ dân số, tổng giá trị sản lượng công nghiệp…), là cơ sở

đo tính (thước tỉ lệ, thước đo độ dốc…), giúp cho người đọc bản đồ hiểu

mô hình bản đồ với các đặc trưng số lượng, chất lượng và cấu trúc, cácmối tương quan không gian và mọi biến đổi theo thời gian

Những bản đồ có biểu đồ bổ sung thể hiện tính kết cấu logic đặc biệt

và tính trực quan Những kí hiêu đường nét, màu sắc dùng trên bản chúgiải cùng với sự sắp xếp theo thứ tự giải thích đã được lựa chọn, cân nhắc

kĩ lưỡng, nhằm nhấn mạnh ý nghĩa, tình trạng phụ thuộc và tính thống nhấtcủa các hiện tượng được biểu hiện Như vậy, khi sử dụng bản đồ không chỉ

sử dụng mô hình kí hiệu mà còn phải sử dụng cả mô hình logic nữa Kíhiệu bản đồ dùng trong bản chú giải là ngôn ngữ phổ thông dùng cho mọiđối tượng đọc bản đồ

Những tính chất trên đây của bản đồ có khả năng phản ánh đầy đủthực tế giống như mô hình thực tế, chúng liên kết lại với nhau một cáchchặt chẽ đến mức có thể biết được một tính chất từ các tính chất khác Sựliên kết các tính chất của bản đồ tạo nên sức chứa thông tin trên bản đồ.Các nhà khoa học đã chứng minh rằng: sức chứa thông tin trên một trangbản đồ cao gấp hàng chục lần sức chứa thông tin của một trang in Lượngthông tin của một bản đồ được xác định bằng nội dung của nó, biểu hiệnkhông chỉ dưới dạng “trọng tải” của bản đồ trong các kí hiệu và phươngpháp biểu hiện, mà còn ở dạng tiềm tàng thông qua mối quan hệ giữa các

Trang 19

hiện tượng được biểu hiện (mối quan hệ tương hỗ, sự phụ thuộc, cấu trúc

và tình trạng…), chính nguồn thông tin tiềm tàng này đã đem lại nhiêuhứng thú hơn cả cho những người dạy và học Địa lí

Bản đồ Địa lí dùng trong nhà trường thường sử dụng nhiều màu sắcđẹp, nhiều kí hiệu tượng trưng gần gũi với đối tượng và nhiều kí hiệutượng hình gây hứng thú cho học sinh, tạo ra phản ứng tư duy nhanh khigiáo viên giảng bài Tính trực quan trong bản đồ được đánh giá rất cao, nóđược thực nghiệm xác nhận là có hiệu quả tri giác cao trong hoạt độngnhân thức của học sinh

+ Tính sư phạm của BĐGK

Hệ thống BĐGK bao gồm các loại bản đồ mang những đặc điểmkhác nhau, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Vị trí, chức năng vànhiệm vụ của mỗi loại bản đồ giải quyết một khâu hình thành kiến thứcĐịa lí cho học sinh Quá trình sử dụng sử dụng phối hợp các loại bản đồ

Trang 20

trong trường học sẽ hình thành hệ thống kiến thức bản đồ trong học sinh,giúp các em học tập bộ môn Địa lí có kết quả Đó là yêu cầu khách quanxuất hiện trong quá trình sử dụng bản đồ Phù hợp với điều đó, tính sưphạm của BĐGK thể hiện:

- BĐGK phù hợp với chương trình Địa lí của từng cấp học vàtừng lớp học, phù hợp với trình độ học sinh

- Nội dung bản đồ thể hiện chặt chẽ với sách giáo khoa Nóđược tổng quát hóa phù hợp với nộ dung Địa lí cơ bản của bài học, phục

vụ mục đích và nhiệm vụ học tập

- Lưới chiếu bản đồ (mạng lưới kinh và vĩ tuyến) cùng với tỉ

lệ là cơ sở khoa học để tính toán tọa độ, phương hướng, chiều dài và diệntích trên bản đồ

- Chữ trên bản đồ phải biểu hiện thống nhất trong các loại bản

đồ từ đầu cấp đến cuối cấp

- Trên các bản đồ phải thống nhất hệ thống kí hiệuvà phươngpháp biểu hiện mà học sinh đã quen biết, nhất là đối với những bản đồ tựnhiên và kinh tế

1.1.2.3 Phân loại bản đồ giáo khoa

BĐGK là loại bản đồ biểu hiện các điều kiện tự nhiên, xã hội vànguồn tài nguyên thiên nhiên, biểu hiện nền kinh tế quốc dân (kinh tếchung hoặc kinh tế ngành) và xét theo nội dung, theo các phương phápbiên vẽ, đáp ứng những đòi hỏi của chương trình, sách giáo khoa dạy họctrong nhà trường

BĐGK gồm các bản đồ địa lí chung và bản đồ địa lí chuyên đềnhưng có những đặc trưng riêng

Bản đồ địa lí chung gồm các bản đồ địa hình, bản đồ khái quát.Bản đồ chuyên đề gồm các bản đồ về địa lí tự nhiên, kinh tế - xã hội.Bản đồ chuyên đề là loại bản đồ:

Trang 21

* Một yếu tố hoặc một nhóm yếu tố có liên quan chặt chẽ vớinhau của bản đồ địa lí chung được nêu chi tiết hơn so với các yếu tố khác.

* Các yếu tố cơ sở nằm trong bản đồ địa lí chung

* Có nội dung chuyên môn (các xí nghiệp công nghiệp, nôngnghiệp…)

BĐGK rất đa dạng về nội dung và phương pháp biên vẽ Chúng cóthể bao quát tất cả những đặc điểm đặc trưng nhất của môi trường tự nhiên,bao quát mọi ngành kinh tế quốc dân hoặc có thể chỉ đóng khung ở mộtlĩnh vực tự nhiên, kinh tế nào đó

BĐGK được phân ra thành các nhóm theo mục đích, tỉ lệ, độ baoquát lãnh thổ, theo nội dung, theo đặc điểm sử dụng, theo phương pháp thểhiện, theo màu sắc… BĐGK có thể được phân loại theo sơ đồ hình 1.1

Nguồn: Lâm Quang Dốc Bản đồ giáo khoa NXB Đại học sư pham.

2003[4]

Hình 1.1 Sơ đồ phân loại bản đồ giáo khoa

Trang 22

+ Theo mục đích BĐGK được phân ra thành BĐGK dành cho giáoviên, BĐGK dành cho học sinh, bản đồ tuyên truyền – cổ động.

+ Theo tỉ lệ, chúng được chia thành bản đồ tỉ lệ lớn (lớn hơn hoặcbằng 1 : 200.000), tỉ lệ trung bình (từ nhỏ hơn 1 : 200.000 đến 1 :1.500.000) và tỉ lệ nhỏ (dưới 1 : 1.500.000)

+ Theo độ bao quát lãnh thổ có các bản đồ thế giới, các bản đồ báncầu, châu lục, đại dương và biển, các quốc gia Ngày nay các bản đồchuyên đề về không gian ngoài Trái Đất như các thiên thể (bản đồ cáctuyến bay của các con tàu vũ trụ, bản đồ Mặt Trăng và các hành tinhkhác…) cũng có ý nghĩa lớn đối với giảng dạy Thiên văn học

+ BĐGK còn có thể phân loại dựa theo các phương pháp biên vẽ(chấm điểm, nền chất lượng, vùng phân bố, bản đồ - biểu đồ…) hoặc theođặc tính sử dụng (treo tường và để bàn) , màu sắc (một màu, nhiều màu)

Việc phân chia BĐGK theo nội dung ra thành bản đồ địa lí chung,bản đồ dân cư, bản đồ kinh tế chung, rồi tiếp tục phân thành các bản đồ thểhiện một hoặc vài yếu tố nội dung của các bản đồ trên là hết sức quantrọng bởi vì nó phục vụ cho từng bài cụ thể

+ BĐGK theo nguyên tắc xây dựng được phân thành các kiểu bản

đồ phân tích, tổng hợp và phức hợp Trong các bản đồ phân tích, mỗi yếu

tố nội dung đều được thể hiện bằng một kí hiệu riêng Trong bản đồ tổnghợp thể hiện tập hợp các chỉ số của nhiều hiện tượng địa lí Trong bản đồphức hợp thể hiện đồng thời vài ban hiện tượng khác nhau, mỗi hiện tượngđược biểu hiện bằng một chỉ số riêng, các chỉ số đó là các chỉ số phân tíchhoặc tổng hợp

Một số loại BĐGK có tầm quan trọng đặc biệt trong dạy học địa líhiện nay:

+ Mô hình địa lý giáo khoa

Mô hình địa phương

Trang 23

Mô hình Trái Đất – Quả địa cầu+ BĐGK treo tường

+ Bản đồ trong sách giáo khoa

+ Atlat giáo khoa

+Bản đồ câm

Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, em chỉ chú trọng đề cập đếnloại BĐGK treo tường (chương trình Địa lí THPT ban Nâng Cao)

1.1.3 Lý thuyết Hệ thống

1.1.3.1 Khái quát về lý thuyết Hệ thống

Lý thuyết chung của các hệ thống là thuật ngữ được L FonBertalarffy đưa vào vốn từ vựng khoa học dùng để mô tả lý thuyết các hệthống mở và các trạng thái cân bằng động đề xuất năm 1933 tại trường đạihọc tổng hợp Chicago – Hoa Kì Từ lĩnh vực sinh học các nguyên tắc của

lý thuyết này được chuyển sang việc giải quyết những vấn đề kỹ thuật vàquản lý

Sự xuất hiện của "Lý thuyết chung của các hệ thống", một lý thuyếtthuộc dạng những quan điểm khoa học chung mang tính hình thức và phổquát, đã thúc đẩy mong muốn của công đồng khoa học muốn tiến tới phổquát hoá các công cụ nhận thức khoa học và tiến tới sự nhận được đặctrưng mang tính luận điểm của toàn bộ các phổ quát Một trong nhữngnhiệm vụ chính của tiếp cận này là làm rõ và phân tích các quy luật, cácquan hệ qua lại chung đối với các lĩnh vực khác nhau của hiện thực Dovậy cách tiếp cận hệ thống đã được sử dụng trong lý thuyết đã nêu mangtính chất liên ngành, bởi vì nó tạo ra cơ hội đem những quy luật và nhữngkhái niệm từ một lĩnh vực nhận thức sang một lĩnh vực khác

Trong chương trình xây dựng lý luận của mình ông đã chỉ ra nhữngnhiệm vụ cơ bản của nó

Trang 24

Thứ nhất, làm sáng tỏ những nguyên tắc và quy luật chunghành vi của các hệ thống, không phụ thuộc vào bản chất của các thành tố

và của các quan hệ giữa chúng

Thứ hai, xác lập những quy luật tương tự của khoa học tựnhiên nhờ tiếp cận hệ thống đối với các khách thể sinh học, xã hội

Thứ ba, tạo ra sự hợp thức khoa học hiện đại trên cơ sở làm rõtính tương đồng của các quy luật trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau

Các nhiệm vụ này dẫn đến sự thay đổi nội dung trên cơ sở nhữngquan niệm hệ thống (chỉnh thể), chức năng, cấu trúc Chính điều này đã tạo

ra những tiền đề phương pháp luận để hình thành hệ thống khái niệm mớivới nội dung xác định và với quan hệ đã cho một cách rõ ràng với nhữngchuyển đổi giữa chúng Tổ hợp các khái niệm hệ thống là bộ khung kháiniệm khởi điểm, tạo ra sơ đồ nguyên nguyên tắc của sự phân chia kháchthể

Hệ thống - khái niệm trung tâm biểu thị một tập hợp các phần tửtrong sự tương tác qua lại thể hiện tính chỉnh thể và tính chung của mình.Phần tử - đơn vị không thể chia nhỏ được nữa trong một phương thức phânchia đã cho, và nằm trong thành phần của hệ thống, việc có những mối liên

hệ giữa các phần tử sẽ dẫn đến sự xuất hiện trong hệ thống chỉnh thểnhững tính chất mới mà không có ở phần tử trong trạng thái riêng biệt Viđiều này,

Chỉnh thể - hình thức của tồn tại hệ thống với tư cách được xác địnhchặt chẽ, phản ánh sự độc lập của nó với các hệ thống khác

Tính chỉnh thể là tính thống nhất của hệ thống như một chỉnh thểđược các phần tử thể hiện trong sự tương tác qua lại thực tế của chúng Nó

là cơ sở ổn định của hệ thống

Quan điểm toàn thể: là quan điểm nghiên cứu của lý thuyết hệ thống

Trang 25

1 Khi nghiên cứu các sự vật và hiện tượng phải tôn trọng mối quan

hệ biện chứng giữa vật chất và tinh thần: vật chất có trước tinh thần, tinhthần tác động trở lại vật chất

2 Các sự vật, hiện tượng luôn tồn tại trong mối liên hệ qua lại với

nhau, luôn có sự tác động qua lại và chi phối lẫn nhau Sự tác động giữacác sự vật bao giờ cũng mang tính đối ngẫu, tính nhân quả

3 Các sự vật luôn vận động, không ngừng biến đổi cũng như môi

trường xung quanh nó

4 Động lực chủ yếu quyết định sự phát triển của các hệ thống nằm

bên trong hệ thống, do phần điều khiển của sự vật quyết định

Trong Lý thuyết Hệ thống, một hệ thống bao gồm các nhóm hoạtđộng hoặc các bộ phận có tương tác thường xuyên và phụ thuộc lẫn nhau

Có một số nguyên lý chung cho các hệ thống Ví dụ: Nguyên lý xem xét hệthống trong một môi trường cụ thể; khi đó, hệ thống là tập hợp các phần tử

có tương tác lẫn nhau, thể hiện trong mối quan hệ với các hệ thống kháctrong môi trường như một thể thống nhất

Một nguyên lý quan trọng khác của Lý thuyết Hệ thống là tính độngcủa “đường biên” hệ Khi tiến hành một công việc, chúng ta có thể phảitạm thời thu nhỏ hoặc mở rộng hệ thống (thu nhỏ hoặc mở rộng phạm vicông việc) đã xác định

Trong những năm gần đây, lĩnh vực tư duy hệ thống được phát triển

để cung cấp kỹ thuật nghiên cứu hệ thống theo cách “tổng thể”, bổ sungcho phương pháp “chia nhỏ” truyền thống Bằng cách đó, các tác giả của

Lý thuyết Hệ thống hiện đại hy vọng có thể mở rộng các phương pháp tiếpcận của khoa học tự nhiên sang khoa học xã hội

1.1.3.2 Ứng dụng của lí thuyết hệ thống

* Ứng dụng chung

Phạm vi ứng dụng của phương pháp phân tích hệ thống nói riêng,

Lý thuyết Hệ thống nói chung là rất rộng Nói chung đó là một phương

Trang 26

pháp khoa học để giúp xử lí những vấn đề phức tạp , khi có nhiều mốiquan hệ phải nghiên cứu, nhiều phương diện phải xem xét, nhiều yếu tố bấtđịnh phải tính đến, nhiều phương án khác nhau phải cân nhắc, so sánh, lựachọn, mà thông tin có được thì không đầy đủ như mong muốn Có thể chiacác vấn đề thực tế ra làm ba loại:

Thứ nhất là những vấn đề mang nhiều quan hệ định lượng có thểdiễn tả bằng ngôn ngữ toán học chặt chẽ, tức là những vấn đề có thể “hìnhthức hóa” được (còn gọi là những vấn đề “cấu trúc chặt”) Đối với loại nàythì vận trù học là công cụ áp dụng rất có hiệu quả

Thứ hai là những vấn đề mang nhiều quan hệ định tính, khó có thể

“hình thức hóa” được (các vấn đề “phi cấu trúc”) Đối với loại này thì toánhọc ở trình độ hiện nay chưa dùng được mấy mà chủ yếu phaiả dùng cáckhoa học khác, cùng với kinh nghiệm, trực quan của người hoạt động thựctế

Thứ ba là những vấn đề trung gian giữa hai loại trên, vừa có cảnhững yếu tố định lượng, tức là những vấn đề có thể “hình thức hóa”nhưng không hoàn toàn (các vấn đề “cấu trúc yếu”) Đây là loại khá phổbiến trong nhiều lĩnh vực kĩ thuật, kinh tế, tự nhiên, xã hội thì phươngpháp phân tích hệ thống thường rất thích hợp Ở đây, bằng cách kết hợpcác phương pháp toán học chính xác và kĩ thuật máy tính hiện đại với cácthủ tục phi hình thức khác nhau và kinh nghiệm thực tiễn của chuyên giagiữa các ngành hữu quan người ta có thể đạt tới những hiểu biết sâu sắc vềcác hiện tượng và tìm ra những giải pháp có hiệu quả mà bằng những giảipháp thông thường ngay cả với những người thông minh nhất cũng khónghĩ ra được

Đương nhiên cách phân biệt ba loại vấn đề như trên chỉ có ý nghĩatương đối vì toán học và kĩ thuật máy tính điện tử để xử lí thông tin ngàycàng phát triển thỉ khả năng nghiên cứu và xử lí các hiện tượng thực tếbằng các công cụ ấy càng tăng thêm

Trang 27

* Ứng dụng trong dạy - học Địa lí ở trường THPT

Bản thân khoa học Địa lí là một khoa học đa ngành (hai nhánh chínhtheo quan niệm của trường phái Địa lí Xôviết là: Địa lí tự nhiên và Địa líkinh tế - xã hội) Bộ môn Địa lí trong nhà trường phổ thông nói chung,trong trường THPT nói riêng phản ánh nội dung, cấu trúc của ngành khoahọc tương ứng Xét theo nội dung, có thể chia môn Địa lí ở trường THPTlàm hai mảng: Địa lí tự nhiên (Địa lí tự nhiên đại cương, Địa lí tự nhiênkhu vực, Địa lí tự nhiên Việt Nam) và Địa lí kinh tế - xã hội (Địa lí kinh tế

- xã hội đại cương, Địa lí kinh tế - xã hội khu vực, Địa lí kinh tế - xã hộiViệt Nam)

Do đặc thù môn học nên việc ứng dụng Lý thuyết Hệ thống vào dạyhọc Địa lí trong nhà trường THPT có nhiều thuận lợi và được chú trọng.Các nội dung dạy học Địa lí ở trường THPT, áp dụng Lý thuyết Hệ thống,được xâu chuỗi theo các mối liên hệ, sơ đồ hóa giúp cho việc học tập củahọc sinh được thuận lợi, hệ thống và khoa học Mỗi nội dung Địa lí (kiếnthức, kĩ năng kĩ xảo Địa lí) đưa ra đều được xác định mối quan hệ vớinhững nội dung đã học, sẽ học trong chương trình lớp học, cấp học Ví dụnhư, các kiến thức và kĩ năng bản đồ không chỉ được trang bị và rèn luyện

ở những bài học ở đầu chương trình Địa lí lớp 10 mà còn được bổ sung,rèn luyện liên tục ở các bài thực hành tiếp theo của chương trình Địa lí lớp

10, lớp 11 và lớp 12 Các nội dung này không lặp lại mà được xây dựngtheo cấu trúc vòng tròn đồng tâm nâng cao, tức là các nội dung này sẽđược nhắc lại với yêu cầu cao hơn đối với học sinh ở các bài sau, lớp saucủa chương trình

Việc vận dụng sáng tạo Lý thuyết Hệ thống vào dạy học Địa lí trongnhà trường THPT là vấn đề của từng giáo viên, tùy thuộc vào điều kiện cụthể của đơn vị giáo dục Tuy nhiên, trước hết Lý thuyết Hệ thống và ứngdụng của nó phải được nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc thì mới đemlại hiệu quả cao

Trang 28

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Việc sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí THPT

1.2.1.1 Ý nghĩa của bản đồ giáo khoa

- Ở trường phổ thông đang sử dụng rất nhiều đồ dùng dạy học Địa líkhác nhau như tranh ảnh, bảng biểu, băng hình, bản đồ, biểu đồ… nhưngquan trọng nhất trong số đó là BĐGK (trong đó đặc biệt là BĐGK treotường)

BĐGK là bộ phận khăng khít không thể tách rời môn học Địa lí vàLịch sử trong nhà trường phổ thông Bởi vì môn Địa lí và Lịch sử trongnhà trường chọn lọc và trình bày những tri thức Địa lí và Lịch sử bằngngôn ngữ tự nhiên, còn BĐGK phản ánh chúng bằng ngôn ngữ bản đồ Sựphối hợp giữa ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ bản đồ làm cho việc phảnánh thực tế Địa lí, Lịch sử sinh động hơn, đầy đủ hơn, giúp cho việc nhậnthức thực tế Địa lí và Lịch sử dễ dàng hơn Chính vì vậy, môn Địa lí vàLịch sử trong nhà trường luôn luôn gắn bó với BĐGK như hình với bóng

- BĐGK là công cụ duy nhất giúp thầy và trò có khả năng nhìn baoquát được các hiện tượng diễn ra trên một khoảng không gian rộng lớnkhông thể tri giác trực tiếp được

BĐGK mở rộng khái niệm không gian cho học sinh, cho phép các

em thiết lập mối quan hệ tương hỗ và nhân quả của các hiện tượng và cácquá trình trong tự nhiên và trong xã hội, phát triển óc tư duy logic và ócquan sát, hình thành cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, xâydựng tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc với Tổ quốc mình BĐGK

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành trong học sinh quyluật phân bố các đối tượng Địa lí, quy luật phân bố lực lượng sản xuất củamột đơn vị lãnh thổ (một vùng, một quốc gia…) nghĩa là BĐGK giúp chohọc sinh hiểu được trên lãnh thổ có cái gì, ở đâu và tại sao? BĐGK phảnánh đầy đủ về sự khai thác tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường,việc phát triển tổng hợp và chuyên môn hóa các ngành sản xuất, việc hoàn

Trang 29

thiện sự phân công lao động xã hội giữa các vùng kinh tế… BĐGK giúpcho giáo viên trình bày các mối liên hệ kinh tế nội, ngoại vùng phát triểnmối liên kết kinh tế giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thếgiới.

BĐGK là mô hình – hình ảnh kí hiệu tổng hợp đặc biệt, nó trình bàynhững đặc điểm không gian dứoi dạng tổng quát, trực quan và dễ hiểu, nóđược sử dụng không chỉ như những thành tựu nghiên cứu phân bố khônggian, tuyên truyền những thành tựu kinh tế trong công cuộc xậy dựng xãhội ở nước ta mà còn là công cụ quan trọng để dự báo và kế hoạch hóatrong tương lai

1.2.1.2 Việc sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí THPT

Bản đồ địa lí không thể thiếu trong công tác nghiên cứu khoa học,

nó là phương tiện nghiên cứu của các ngành khoa học về Trái Đất, lịch sử,văn hoá xã hội Bản đồ giúp các nhà khoa học tìm hiểu những quy luậtphân bố, sự lan truyền của các đối tượng, hiện tượng và những mối tươngquan của chúng trong không gian, cho phép phát hiện những quy luật tồntại và dự đoán con đường phát triển của chúng trong tương lai Bất cứ sựnghiên cứu địa lí nào cũng bắt đầu bằng bản đồ và kết thúc cũng bằng bản

đồ (bản đồ là Alfa và Ômêga của Địa lí) Trước, trong khi nghiên cứu, cácnhà nghiên cứu phải tìm hiểu địa phương, phân tích các đối tượng nghiêncứu trên bản đồ và sau khi nghiên cứu, nhưng kết mới được thể hiện trênbản đồ Như vậy, bản đồ địa lí luôn được xem là một tiêu chuẩn của pháttriển Địa lí

Trong dạy học Địa lí, bản đồ giữ vai trò rất quan trọng Bản đồ làkho tàng trữ các tri thức Địa lí đã tích luỹ được, là kênh hình của sách giáokhoa địa lí Bản đồ vừa là nội dung vừa là phương tiện đặc thù không thểthiếu trong dạy học địa lí Nếu như trong nghiên cứu địa lí một lãnh thổphải bắt đầu bằng bản đồ thì trong dạy - học địa lí, khi trình bày về mộtlãnh thổ, ngay từ những kiến thức đầu tiên như vị trí địa lí, hình dạng lãnh

Trang 30

thổ đến những đặc điểm địa lí khái quát nhất đều phải được chỉ ra trên bản

đồ Trên cơ sở cái “nền” đó, giáo viên đưa vào và khắc sâu những kiếnthức cho học sinh Vì thế, việc dạy - học địa lí, thiếu bản đồ là điều khôngthể chấp nhận

Ngày nay, bản đồ còn là một phương tiện có hiệu quả để phổ biếncác tri thức, nâng cao dân trí, cung cấp nhưng hiểu biết về khoa học TráiĐất, về các nước trên thế giới, về quê hương đất nước, từ đó giáo dục lòngyêu nước, yêu quý thiên nhiên, bảo vệ môi trường

“Nói một cách ngắn gọn bản đồ và các phần tử đồ hoạ khác tập hợpthành một trong ba mô hình truyền tin chủ yếu cùng với từ ngữ và nhữngcon số Vì chủ thể khác biệt của địa lí học, ngôn ngữ bản đồ là ngôn ngữkhác biệt của địa lí Vì vậy sự tinh tế khi đọc bản đồ và tổ hợp chúng cùngvới khả năng phiên dịch giữa những ngôn ngữ bản đồ, từ ngữ và nhữngcon số là cơ sở để nghiên cứu và thực hành địa lí học” (John Berchert)

Hiện nay, vấn đề sử dụng hiệu quả hệ thống BĐGK (trong đó cóBĐGK treo tường) trong dạy học Địa lí trong nhà trường THPT vẫn cònrất nhiều vấn đề, đặc biệt là ở các trường ở vùng sâu, vùng xa Với sự quantâm và tạo điều kiện của ngành Giáo dục – Đào tạo, hiện nay, hệ thốngBĐGK đã và đang được tăng cường trang bị cho các trường phổ thông(đặc biệt là các trường THPT) trên toàn quốc nhằm góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục phổ thông Tuy nhiên, do điều kiện khác nhau về nhiềumặt, việc sử dụng BĐGK trong dạy học ở các địa phương khác nhau cónhững tồn tại khác nhau nhưng nhìn chung hiệu quả chưa cao, đặc biệt là ởcác trường vùng sâu, vùng xa mặt bằng nhận thức của học sinh còn hạnchế bên cạnh nhiều khó khăn khác (cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy hoccủa nhà trường …)

Trang 31

1.2.2 Sự cần thiết của việc hệ thống hóa BĐGK treo tường trong dạy học Địa lí THPT

Bản đồ địa lí là những mô hình hình ảnh, phản ánh sự vật, hiệntượng, quá trình ở những không gian khác nhau, với những đặc điểm,tính chất, số lượng, chất lượng và cấu trúc khác nhau trên Trái Đất bằngngôn ngữ đặc biệt Bản đồ là phương tiện trực quan, nguồn trí thức quantrọng Qua bản đồ học sinh có thể nhìn bao quát những khu vực lãnh thổrộng lớn, xa xôi trên bề mặt Trái Đất mà họ chưa bao giờ có điều kiện điđến tận nơi để quan sát Vì không phải là môn học riêng ở trường phổthông nên những kiến thức về bản đồ phải dạy lồng vào các kiến thức địa lí

và ngược lại, từ kiến thức về bản đồ giúp học sinh hình thành những biểutượng, kĩ năng địa lí dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên

Hiện nay số lượng, chất lượng cũng như việc sử dụng BĐGK treotường trọng dạy – học Địa lí ở trường phổ thông còn chưa đáp ứng đượcnhu cầu và sự phát triển của yêu cầu dạy và học, đặc biệt là trong xu hướngdạy học lấy học sinh làm trung tâm đã và đang trở thành phương pháp tíchcực, hiệu quả và được coi trọng

Hệ thống hóa BĐGK treo tường là một việc làm cần thiết, là cơ sởcho việc chuẩn bị phương pháp, phương tiện dạy học của giáo viên nóiriêng, của quá trình dạy học nói chung

- Về mặt số lượng: Hệ thống hóa BĐGK treo tường giúp cho việcchuẩn bị kĩ về mặt số lượng, xác định được số bản đồ tối thiểu, số bản đồtối ưu cho mỗi tiết học, bài học, lớp học cũng như cho cả chương trình Địa

lí THPT

- Về mặt chất lượng: Hệ thống hóa BĐGK hoa treo tường về mặtchất lượng cùng với hệ thống hóa BĐGK treo tường về mặt số lượng giúpxác định phương pháp dạy học phù hợp cho mỗi hình thức tổ chức dạyhọc

Ngày đăng: 21/03/2013, 15:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Danh mục bản đồ giáo khoa năm 2008 - Nghiên cứu, hệ thống hóa bản đồ giáo khoa treo tường
Bảng 2.1. Danh mục bản đồ giáo khoa năm 2008 (Trang 36)
Hình 2.2. Sơ đồ hệ thống hóa bản đồ giáo khoa treo tường - Nghiên cứu, hệ thống hóa bản đồ giáo khoa treo tường
Hình 2.2. Sơ đồ hệ thống hóa bản đồ giáo khoa treo tường (Trang 40)
3.2.1. Sơ đồ hệ thống hóa - Nghiên cứu, hệ thống hóa bản đồ giáo khoa treo tường
3.2.1. Sơ đồ hệ thống hóa (Trang 40)
Bảng 2.2. Nhóm các bản đồ dùng chung- thế giới - Nghiên cứu, hệ thống hóa bản đồ giáo khoa treo tường
Bảng 2.2. Nhóm các bản đồ dùng chung- thế giới (Trang 43)
Bảng 2.3. Nhóm các bản đồ Địa lí khu vực - Nghiên cứu, hệ thống hóa bản đồ giáo khoa treo tường
Bảng 2.3. Nhóm các bản đồ Địa lí khu vực (Trang 46)
Bảng 3.3. Nhóm các bản đồ Địa lí Việt Nam - Nghiên cứu, hệ thống hóa bản đồ giáo khoa treo tường
Bảng 3.3. Nhóm các bản đồ Địa lí Việt Nam (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w