Thuyết kiến tạo màng, cơ chế hình thành biển Đông và các bồn dầu khí trên thềm lục địa miền nam Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I: THUYẾT KIẾN TẠO MẢNG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC BỒN TRẦM TÍCH LIÊN QUAN TRÊN
THỀM LỤC ĐỊA NAM VIỆT NAM 6
CHƯƠNG 1 : THUYẾT KIẾN TẠO MẢNG 5
I SỰ HÌNH THÀNH THUYẾT KIẾN TẠO MẢNG 7
II CƠ CHẾ DỊCH CHUYỂN CỦA CÁC MẢNG 12
III LỊCH SỬ CỦA SỰ DI CHUYỂN CÁC MẢNG : 21
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC BỒN TRẦM TÍCH LIÊN QUAN TRÊN THỀM LỤC ĐỊA MIỀN NAM VIỆT NAM 26
I QUÁ TRÌNH TÁCH GIÃN HÌNH THÀNH BIỂN ĐÔNG 26
II CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM VÀ CÁC BỒN TRẦM TÍCH ĐỆ TAM 29
III PHÂN CHIA CÁC BỒN TRẦM TÍCH Ở VIỆT NAM THEO QUAN NIỆM KIẾN TẠO MẢNG 34
PHẦN II: ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KIẾN TẠO ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ TÍCH TỤ DDẦU KHÍ TRONG CÁC BỒN TRẦM TÍCH TRÊN THỀM LỤC ĐỊA MIỀN NAM VIỆT NAM 40
CHƯƠNG 3 : BỒN TRŨNG CỬU LONG 37
I VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 37
II LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CẤU TRÚC KHU VỰC 39
III QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HYDROCARBON 41
IV CÁC HOẠT ĐỘNG KIẾN TẠO CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH BẪY CHỨA 43
Trang 2V ĐẶC TÍNH THẤM CHỨA CỦA ĐÁ MÓNG 47
VI ĐẶC ĐIỂM TẦNG CHẮN 49
VII MỎ BẠCH HỔ 50
VIII TIỀM NĂNG DẦU KHÍ BỒN TRŨNG CỬU LONG 57
CHƯƠNG 4 : BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN 59
I VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 59
II CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT 60
III LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT 64
IV HỆ THỐNG DẦU KHÍ BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN.…… …
65 V MỎ ĐẠI HÙNG 80
VI TIỀM NĂNG DẦU KHÍ BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN 78
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam chỉ mới được thành lập nhưng đã
khẳng định được vị thế của mình trong nền kinh tế quốc dân và trong cộng đồng
các nước sản xuất dầu khí trên thế giới Cho đến nay, Việt Nam đã khai thác hơn
130 triệu tấn dầu thô và 8.5 tỷ m 3
khí đồng hành
Hiện nay, chúng ta đang đẩy nhanh quá trình tìm kiếm – thăm dò dầu khí
trên khắp lãnh thổ Việt Nam Tiềm năng dầu khí của Việt Nam được tập trung
nhiều nhất là trên thềm lục địa miền Nam Việt Nam
Để quá trình tìm kiếm – thăm dò dầu khí được thuận lợi hơn, chúng ta cần
nghiên cứu kỹ về các bối cảnh kiến tạo hình thành nên các tích tụ dầu khí trên
thềm lục địa Việt Nam Trên cơ sở đó, chúng ta có thể hiểu rõ hơn quá trình hình
thành, di chuyển và tích tụ của hydrocarbon, từ đó đề ra những phương án khả
thi để việc tìm kiếm – thăm dò đạt hiệu quả hơn
Trên tinh thần nghiên cứu, tìm hiểu và tổng hợp các tài liệu về các vấn đề
nêu trên, được sự cho phép của Khoa Địa Chất trường Đại Học Khoa Học Tự
Nhiên cùng sự hướng dẫn trực tiếp của Thạc Sỹ Nguyễn Ngọc Thủy, tôi đã thực
hiện khoá luận tốt nghiệp với đề tài : “THUYẾT KIẾN TẠO MẢNG, CƠ CHẾ
HÌNH THÀNH BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC BỒN DẦU KHÍ TRÊN THỀM LỤC
ĐỊA MIỀN NAM VIỆT NAM”
Mục đích của đề tài này là :
Làm rõ cơ chế hình thành Biển Đông trên cơ sở thuyết kiến tạo
mảng
Sự ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo đối với sự hình thành và
tích tụ dầu khí trong các bồn trầm tích trên thềm lục địa miền Nam Việt Nam và
cụ thể là trong hai bồn Cửu Long và Nam Côn Sơn
Nội dung thực hiện :
Thuyết kiến tạo mảng
Quá trình hình thành Biển Đông và các bồn trầm tích liên quan
Trang 4 Ảnh hưởng của hoạt động kiến tạo đối với sự hình thành và tích tụ
dầu khí trong bồn trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn :
Góp phần trong việc xem xét mối quan hệ giữa kiến tạo Biển Đông
và các bồn dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam
Kết quả của đề tài là cơ sở tài liệu cho những nghiên cứu tiếp theo
về kiến tạo Biển Đông và các bồn dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam
Trang 5I SỰ HÌNH THÀNH THUYẾT KIẾN TẠO MẢNG
Theo quan niệm của học thuyết kiến tạo mảng, lúc đầu địa cầu chỉ gồm có
một khối lục địa rộng lớn Sau đó lục địa này vỡ thành từng nhiều mảnh, di
chuyển đi và cuối cùng đạt đến vị trí hiện tại Thật ra theo thuyết này thì toàn thể
bề mặt địa cầu là những mảng thạch quyển cứng rắn Một số mảng hoàn toàn là
vỏ đại dương, một số khác lại là vỏ lục địa hoặc vừa có vỏ đại dương vừa có vỏ
Trang 6lục địa Những mảng đó có thể tách rời xa nhau, va chạm với nhau hay cắm
xuống dưới mảng kia đã tạo ra nhiều kiến trúc rộng lớn, như sự thành tạo các dải
núi Thuyết kiến tạo mảng không phải được đa số mọi người tán đồng, nên các
nhà địa cầu học luôn luôn tìm ra các bằng chứng mới mẻ để chứng minh thuyết
này là đúng Thuyết dựa trên hai khái niệm là lục địa trôi và đáy biển trương nở
Mảng di chuyển ở mặt địa cầu là do lực lôi kéo của dòng đối lưu trong lớp manti
A Ý KIẾN BAN ĐẦU XUNG QUANH VẤN ĐỀ LỤC ĐỊA TRÔI:
Ý kiến về lục địa trôi ra đời cách đây khoảng 100 năm Lúc đầu, người ta
giải thích hố đại dương, các dải núi và các lục địa được thành lập từ những cuộc
đại biến xảy ra trong một thời gian ngắn Ý nghĩ hai lục địa tách ra rồi di chuyển
rất chậm, 100 triệu năm đi được 500 km, khi người ta ghi nhận được trên bản đồ
nhiều vùng bờ biển có thể lồng vào nhau một cách khít khao Đặc biệt là bờ biển
Phi Châu và Nam Mỹ Các dấu vết địa chất như các nhóm đất đá giống nhau, hoá
thạch giống nhau của các lục địa là do trước đây chúng dính liền nhau, sau đó
mới bị biển chia cắt
Trang 7Các vị trí có hoá thạch động thực vật trên các lục địa nằm tách xa nhau được
kết nối lại với nhau
* Alfred Wegener và thuyết lục địa trôi :
Thuyết kiến tạo mảng được khởi xướng cách đây hơn 40 năm, nó kế thừa
thuyết lục địa trôi, chính thuyết này là tiền đề của thuyết kiến tạo mảng Thuyết
lục địa trôi đã được Alfred Wegener công bố vào năm 1910 – 1930 Ông đưa vào
đó nhiều bằng chứng khoa học rất đặc sắc, kể cả thiên văn học
Theo ông lúc đầu Trái Đất chỉ gồm một lục địa duy nhất, được gọi là
SIÊU LỤC ĐỊA PANGEA Sau đó nó bắt đầu tách làm đôi, phần ở phía Nam
được gọi là Gondwana gồm có Nam Mỹ, Phi Châu, Nam Cực, Úc Châu và Ấn
Độ và phần ở phía Bắc được gọi là Laurasia gồm có lục địa Bắc Mỹ, Châu Âu và
Châu Á Laurasia là lục địa nằm phía Bắc xích đạo, còn Gondwana thì nằm
chếch về phía Nam Ngăn cách hai lục địa là biển Tethys Pangea bắt đầu di
chuyển cách đây khoảng 150 triệu năm vào kỷ Jurassic Nam Cực và Úc Châu,
Trang 8Ấn Độ và Phi Châu vỡ ra từ lục địa ban đầu Nam Mỹ bị vỡ ra từ Phi Châu trong
kỷ Cretaceous cách đây khoảng 100 triệu năm, và Greenland từ Bắc Âu cách đây
một vài triệu năm (một ghi nhận sai lầm của Wegener)
Để bảo vệ thuyết lục địa trôi Wegener đưa ra nhiều bằng chứng như :
- Đường bờ biển phía Tây Châu Phi dường như khớp với đường bờ biển
phía Đông Nam Mỹ
- Về mặt hoá thạch, có nhiều sinh vật giống nhau đều được tìm thấy ở hai
bờ lục địa hai bên Đại Tây Dương Ví dụ : một loài ốc sên sống ở Đức và Anh
được phát hiện ở Bắc Mỹ, mà chúng chỉ sống gần bờ Đại Tây Dương Loài ốc
sên này chỉ di chuyển được 5,4m/giờ nên chúng không thể nào vượt qua Đại Tây
Dương để đến Bắc Mỹ được
- Ngoài ra, Wegener còn tìm được nhiều bằng chứng về mặt cấu trúc địa
chất, khoáng sản, cổ địa lý… để chứng minh rằng trước đây các lục địa chỉ là
một
Sự khớp nhau giữa bờ biển và vùng nền cổ của Nam Mỹ và Châu Phi
Điểm yếu của thuyết lục địa trôi của Wegener là trình bày cơ chế của sự di
chuyển của các lục địa ở bề mặt địa cầu Ông đưa ra ý kiến sự di chuyển là do
nguyên nhân của lực Pohiflucht và lực kéo của thuỷ triều Pohiflucht được dịch
Trang 9từ tiếng Đức “sự di chuyển từ cực”, Wegener muốn trình bày rằng lục địa di
chuyển từ cực đến xích đạo là do lực ly tâm và gia tốc trọng lực, ở xích đạo gia
tốc trọng lực nhỏ hơn ở cực Sự di chuyển của Nam và Bắc Mỹ từ hướng Đông
sang Tây là do lực quay quanh trục của địa cầu và lực thuỷ triều Lực thuỷ triều
không đủ sức để mang các lục địa đi Ngoài ra, vật liệu trong manti không chảy
lỏng để lục địa nổi trên đó, như khối băng sơn nổi trong nước như ý của
Wegener
B ĐÁY BIỂN TRƯƠNG NỞ :
Từ năm 1950, những nghiên cứu địa chất – địa vật lý các đại dương phát
triển mạnh Và những nhà khoa học đã phát hiện những hệ thống các dãy sống
núi giữa đại dương
Vỏ đại dương đặc trưng bởi những dị thường từ dạng tuyến, chúng phân
bố gần như đối xứng ở hai bên sống núi giữa đại dương, chúng là các dải song
song xen kẽ dị thường từ âm và dương Các dải ở càng xa sống núi thì tuổi càng
già, ở ngay tại sống núi thì tuổi trẻ hơn cả
Sự phân bố tuổi của các dải từ ở sống núi giữa Đại Tây Dương
Trang 10Sự phân bố các dải dị thường từ như trên được F.J.Vine và D.H.Matthews,
1963 giải thích bằng hiện tượng tách giãn của đáy đại dương Vật chất của manti
mà thành phần chủ yếu là basalt, theo đới tách giãn xuyên lên và tràn sang hai
bên Chúng chịu ảnh hưởng của trường địa từ lúc bấy giờ nên sẽ bị từ hoá theo
hướng nhất định Số vật chất tràn lên sau sẽ đẩy số vật chất có trước ra hai bên
nên các dải dị thường ở càng xa trục tách giãn (trục rift) càng có tuổi cổ hơn Do
Trái Đất có những lần đổi hướng từ trường làm cho các dải xen kẽ thay đổi dấu
Hiện tượng đổi hướng từ của Trái Đất là một thực tế đã được chứng minh : dự
tính từ 76 triệu năm trở lại đây đã chuyển đổi 171 lần
Căn cứ vào thời gian thành tạo mỗi dải dị thường từ, khoảng cách của nó
đối với sống núi giữa đại dương người ta tính ra được tốc độ tách giãn Tốc độ
tách giãn của dãy Thái Bình Dương là 3 – 6 cm/năm, Đại Tây Dương và Ấn Độ
Dương là 1 – 2 cm/năm
Những dữ kiện từ ghi nhận được ở đáy đại dương đã làm vững chắc thêm
cho thuyết đáy biển trương nở Ngoài ra, những lỗ khoan của tàu Glomar
Challenger thực hiện cũng đóng góp thêm bằng chứng tốt khi phát hiện đá trầm
tích có tuổi càng già khi càng ra xa sống núi giữa đại dương
Trang 11Thuyết đáy biển trương nở
C MẢNG THẠCH QUYỂN :
Về số lượng các mảng, còn có những ý kiến chưa thống nhất Đa số cho
rằng có bảy mảng chính : mảng Bắc Mỹ, mảng Nam Mỹ, mảng Thái Bình
Dương, mảng Ấn Độ, mảng Châu Phi, mảng Nam Cực, mảng Âu Á
Trang 12Các nhà kiến tạo học cho rằng 7 mảng vẫn chưa đủ, người ta chia các
mảng lớn ra thành các mảng phụ
V.E.Khain có nêu ra 13 mảng nhỏ hơn : Ả Rập, Philippin, Cocos, Caribê,
Nazca, Scottia, Đông Dương, Egci, Anatoli, Joan de Fuca, Rivera, Trung Quốc,
Okhot
Các mảng kiến tạo chính trên thế giới
II CƠ CHẾ DỊCH CHUYỂN CỦA CÁC MẢNG
Nguyên nhân của sự dịch chuyển giữa các mảng là quá trình đối lưu ở
manti trên Nơi hai dòng đối lưu gặp nhau và chuyển động đi lên thì xảy ra quá
trình tách giãn và ngược lại, nơi hai dòng đối lưu gặp nhau và đi xuống thì xảy ra
quá trình hút chìm và va mảng
Trang 13Nguyên nhân sự dịch chuyển giữa các mảng
1 Kiến tạo ở ranh giới mảng phân kỳ của các mảng thạch quyển:
Ranh giới phân kỳ xuất hiện dọc theo trung tâm tách giãn – nơi hai mảng
dịch chuyển tách xa nhau, phần vỏ Trái Đất mới được hình thành bởi magma đi
lên từ manti Nơi tách giãn là ranh giới giữa hai mảng Có hai kiểu tách giãn :
- Tách giãn vỏ đại dương
- Tách giãn vỏ lục địa
a) Tách giãn vỏ đại dương : (rift đại dương)
Tách giãn vỏ đại dương được thể hiện bằng dãy núi giữa đại dương và
thường kèm theo thung lũng rift ở giữa Rift đại dương gắn liền với quá trình
mở rộng đáy đại dương
Các đới rift đại dương nằm ở phạm vi căng giãn của đại dương, dọc
theo nó có các dung nham nóng chảy phun ra ngoài, tạo ra lớp vỏ đại dương
Các đới căng giãn hiện tại trùng với sống núi giữa đại dương
Dọc theo các đới rift đại dương thường xuất hiện các chấn tâm động
đất nằm ở độ sâu 20 – 30 km
Trang 14b) Tách giãn vỏ lục địa : (rift lục địa)
Rift lục địa là những kiến trúc căng giãn có quy mô lớn trong phạm vi lục
địa Về mặt hình thái, rift lục địa có thể xem như những địa hào lớn và phức tạp
Dọc theo rift lục địa thường có động đất, núi lửa và dòng địa nhiệt cao
Rift phát triển ở lục địa trải qua các giai đoạn sau :
- Lục địa được nâng lên tạo vòm và sau đó tách ra
- Sau đó, lục địa tiếp tục tách ra thành tạo các cấu trúc sụt địa hào và ở
trung tâm thường có hoạt động núi lửa
- Sau khi các mảng lục địa tách ra, chúng bắt đầu trôi về hai phía của trung
tâm tách giãn Quá trình tách giãn tạo rift thường đi kèm với hoạt động phun trào,
đặc biệt là phun trào basalt
Rift lục địa và rift đại dương có chung một bản chất : Chúng là những đới
tách giãn Có những rift lục địa phát triển dần, mở rộng ra và trở thành rift đại
dương
Mảng vỏ lục địa là nơi bắt đầu xảy ra sự tách giãn để hình thành một ranh
giới mảng tách giãn
Khi sự tách giãn xuất hiện trong lục địa, nó hình thành rift lục địa Magma
từ lớp manti đẩy lớp vỏ lục địa và gây ra áp lực làm cho vỏ lục địa bị nứt nẻ và
tách ra Trong giai đoạn này xảy ra các hiện tượng magma phun trào và động đất
Trang 15Rift lục địa tiếp tục phát triển hình thành nên lớp vỏ đại dương mới và trở
thành rift đại dương
Đại Tây Dương là một ví dụ điển hình Đại Tây Dương được hình thành
khi hai mảng Bắc Mỹ và mảng Âu Á di chuyển theo hai hướng nghịch nhau Do
hai mảng di chuyển phân kỳ dẫn đến là đáy biển trương nở và đại dương ngày
càng lớn hơn Tốc độ trương nở trung bình khoảng 2,5cm/năm hoặc 25km/triệu
năm Sống núi giữa Đại Tây Dương được hình thành bởi sự đi lên của magma,
cao khoảng 2000m Ở hai bên sống núi giữa Đại Tây Dương tồn tại những vùng
núi lửa xuất hiện dọc theo những phần chìm dưới nước của đỉnh tách giãn
Sự phân kỳ giữa hai mảng Bắc Mỹ và mảng Âu Á
2 Kiến tạo ở ranh giới mảng hội tụ của các mảng thạch quyển:
Trang 16Khi vỏ đại dương mới được hình thành thì ở nơi khác vỏ đất sẽ bị phá huỷ
để đảm bảo rằng diện tích của trái đất không bị thay đổi Sự phá huỷ vỏ đất này
xảy ra dọc theo ranh giới hội tụ nơi các mảng di chuyển nghịch nhau và đôi khi
một mảng sẽ chìm xuống dưới mảng kia Những ranh giới mảng hội tụ có thể tạo
ra đới cuốn hút hoặc đới va chạm lục địa Những ranh giới mảng cuốn hút được
đặc trưng bởi các rãnh sâu, dòng hạ nhiệt, các đới Benioff, núi lửa andesite và
những cung đảo hoặc những vành đai núi lửa trẻ Các ranh giới va chạm lục địa
có những trận động đất tâm nông và tạo thành những vành đai núi trẻ ở phía
trong lục địa
Các đới Benioff :
Biểu hiện rõ nhất của đới hút chìm hiện nay là đới Benioff
Độ sâu của các đới Benioff phụ thuộc chủ yếu vào độ trưởng thành của
mảng thạch quyển đại dương Những nơi đới hút chìm Benioff sâu 600 – 700km
là những nơi vỏ đại dương bị hút chìm có tuổi 120 – 150 triệu năm (vành Tây
Thái Bình Dương); ngược lại, những nơi vỏ đại dương có tuổi trẻ hơn
Cretaceous, Palaeogen thì đới Benioff chỉ sâu 200 – 300 km, thậm chí còn nông
hơn nữa (vành Đông Thái Bình Dương)
Tốc độ hút chìm cũng ảnh hưởng tới độ sâu của đới Benioff Nếu tốc độ
hút chìm 9 – 10.5 cm/năm, vỏ đại dương có tuổi 80 – 40 triệu năm thì độ sâu đới
Benioff vẫn đạt tới 600 km Ngược lại, nếu tốc độ hút chìm 2 -3.5 cm/năm thì
dẫu vỏ đại dương có tuổi cổ 150 – 120 triệu năm thì độ sâu đới Benioff chỉ đạt
250 – 300 km
Hầu như tất cả đới Benioff cắm về phía lục địa, hoặc cắm vào mảng đại
dương có tuổi trẻ hơn
Sự hội tụ có thể xảy ra giữa mảng đại dương và mảng lục địa, hoặc giữa
hai mảng đại dương, hoặc giữa hai mảng lục địa
a) Mảng đại dương – lục địa
Trang 17Mảng lục địa tạo nên vùng va chạm với mảng đại dương và chờm lên đó,
trong khi đó do mảng vỏ đại dương có tỷ trọng lớn hơn mảng vỏ lục địa nên vỏ
đại dương có khuynh hướng chìm xuống dưới mảng vỏ lục địa, tạo nên đới hút
chìm Benioff Đá granite nhẹ của lục địa bị vỡ vụn tạo nên dải núi uốn nếp và đứt
gãy Một phần bị nóng chảy ở dọc theo đới hút chìm tạo ra magma trồi lên trên
mặt đất tạo nên núi lửa, thành lập các dải núi và cung núi lửa
Sự hội tụ giữa hai mảng vỏ đại dương và mảng vỏ lục địa
Bờ biển Nam Mỹ dọc theo hố Peru – Chile, mảng đại dương Nazca đang
đẩy vào và đang bị hút chìm dưới một phần mảng lục địa Nam Mỹ Mảng Nam
Mỹ đang được nâng lên tạo thành dãy Andes
Trang 18Sự hội tụ giữa hai mảng Nazca và mảng Nam Mỹ
b) Mảng đại dương – đại dương
Khi hai mảng đại dương hội tụ, thường thì một trong hai mảng sẽ bị hút
chìm xuống bên dưới mảng còn lại Và hố đại dương sẽ được hình thành trong
quá trình này Hố đại dương có độ sâu từ 7000 – 11000m, đây là những thung
lũng hẹp, chạy dài theo cung núi lửa Ở đây thường xảy ra hiện tượng động đất
Sự hội tụ của hai mảng vỏ đại dương cũng sẽ tạo nên cung đảo núi lửa với
magma có thành phần là basalt
Sự hội tụ giữa hai mảng vỏ đại dương
Trang 19c) Mảng lục địa – lục địa
Khi hai mảng lục địa hội tụ, do có cùng tỷ trọng nên giữa hai mảng không
xảy ra hiện tượng hút chìm, thì vỏ Trái Đất có khuynh hướng bị nhàu nát và bị
đẩy lên trên hoặc bị đẩy về một phía Quá trình nén ép mạnh mẽ sinh ra kiến trúc
biến dạng vô cùng phức tạp kèm theo tạo núi, xâm nhập, phun trào đồng tạo núi
và động đất
Sự hội tụ giữa hai mảng vỏ lục địa
Dãy Himalayan là một minh chứng tuyệt vời về sự hội tụ của hai mảng lục
địa Cách đây 50 triệu năm, do sự va chạm giữa mảng Ấn Độ và mảng Âu Á làm
cho mảng Âu Á bị ép thành nhiều nếp và gối lên mảng Ấn Độ Hậu quả là hình
thành dãy Himalayan và cao nguyên Tibetan Himalayan cao 8854m so với mực
nước biển, là ngọn núi cao nhất thế giới Còn cao nguyên Tibetan có độ cao trung
bình khoảng 4600m
Trang 20Vị trí dãy Himalayan và cao nguyên Tibetan
3 Mảng xê dịch trượt bằng : (transforming slide plate)
Khi hai mảng nằm cạnh nhau không va chạm vào nhau mà trượt dọc với
nhau, vỏ đất ở vùng cạnh nhau không có sự phá huỷ Sự biến dạng đã tạo ra
những đứt gãy biến dạng nằm giữa hai mảng
Đứt gãy San Andreas (California) là loại đứt gãy này Đứt gãy San
Andreas xuất hiện do hai mảng Thái Bình Dương và mảng Bắc Mỹ di chuyển
trượt dọc với nhau Đới đứt gãy San Andreas dài khoảng 1,300 km Hai mảng lục
địa ở hai bên đứt gãy đều di chuyển về Tây Bắc, nhưng sườn Tây Nam di chuyển
nhanh hơn Như vậy, trong vài triệu năm nữa thành phố Los Angeles thuộc mảng
Thái Bình Dương sẽ đến vị trí của thành phố San Francisco hiện nay và sau đó sẽ
đến vùng Alaska
Trang 21Hai mảng Thái Bình Dương và Bắc Mỹ di chuyển, đứt gãy San Andreas
III LỊCH SỬ CỦA SỰ DI CHUYỂN CÁC MẢNG :
Lịch sử của mảng di chuyển biểu hiện rõ ràng đã có từ cách đây 200 triệu
năm Tuy nhiên, cách đây nửa tỉ năm hay thời gian trước đó nữa, sự di chuyển
Trang 22của mảng không được xác định Các dữ kiện thu lượm được rất mơ hồ Hiện
tượng biến chất và sự chôn vùi của đá dưới vật liệu trầm tích đã làm phức tạp
hơn và xoá mờ các dấu vết địa chất
Sự hiểu biết về chu kỳ di chuyển của mảng chỉ mới được bắt đầu từ khi
siêu lục địa Pangea bắt đầu vỡ ra cách đây 200 triệu năm, còn từ đó trở về trước
thì rất mù mờ Các nhà khoa học dựa vào những dữ kiện địa vật lý, sự tiến hoá
của lớp manti và nhân của địa cầu đã gợi ra ý kiến dòng đối lưu hoạt động mạnh
trong manti Đó là nguyên nhân để mảng dịch chuyển, nhưng nó không có trong
giai đoạn đầu của địa cầu Nó bắt đầu hiện ra nhưng rất ít vào thời kỳ cách đây
1,5 tỉ năm Vậy kiến tạo mảng cũng được hình thành từ đây Mảng di chuyển gần
1 tỉ năm cách đây có thể được xác định rõ ràng , những ranh giới giữa hai lục địa
va chạm nhau như nền cổ Canada và nền cổ Châu Phi Một loại ranh giới khác
như hố đại dương nơi vỏ đại dương cắm xuống mảng lục địa cũng thấy xuất hiện
trong khoảng thời gian này Nhưng những sự kiến tạo núi sau đó đã phá hủy hay
làm mờ đi những ranh giới này
Nghiên cứu đá có tuổi cách đây 600 – 500 triệu năm ở lục địa Bắc Mỹ và
Châu Âu cho thấy trước đây chúng bị ngăn cách bởi một biển hẹp cạn Khoảng
500 triệu năm cách đây, biển bị thu hẹp hơn nữa và hai lục địa dính vào nhau
Hoạt động này kết thúc sau 100 triệu năm Kết quả sự va chạm đã tạo nên dãy núi
mà bây giờ nằm ở phía Bắc vùng Appalachian (Mỹ), cũng như ở Anh và Na Uy
Cách đây 250 – 300 triệu năm siêu lục địa Pangea mới hợp lại, phần Tây
Bắc Gondwana gồm có : bây giờ là Phi Châu, Trung Mỹ và phần Đông Nam
nước Mỹ va chạm với khối lục địa đã được thành tạo do sự dính vào nhau của
Bắc Mỹ cổ và lục địa Âu Châu cổ Kết quả là hình thành dãy núi phía Nam
Appalachian và Ouachita, kéo dài từ phía Nam Arkansas và Oklahoma đến tận
trung tâm Texas Trong khi đó khối cổ Siberia va chạm vào khối cổ Châu Âu tạo
ra lục địa Laurasia, với sự xuất hiện của dãy Ural ở vùng va chạm
Trừ một số chi tiết Pangea vỡ ra các mảnh tương tự như Wegener đã phác
họa trước đây Cuối Permian, Pangea là một siêu lục địa nằm ở Nam bán cầu Nó
Trang 23bắt đầu vỡ ra trong thời Triassic (cách nay khoảng 200 triệu năm) Nam Mỹ và
Phi Châu tách rời nhau sau khi tách khỏi khối Nam Cực Nam Mỹ di chuyển về
hướng Tây của Phi Châu và Nam Đại Tây Dương bắt đầu được thành lập Phi
Châu di chuyển về phía Bắc và lúc bấy giờ nằm giữa xích đạo Ấn Độ và Úc
Châu tách khỏi Nam Cực và di chuyển về hướng Bắc, hướng về vị trí hiện nay
Ấn Độ là một mảng lục địa rộng lớn bao phủ cả Ấn Độ Dương, thời bấy giờ có
biển Tethys cắt qua Nó va chạm với lục địa Á Châu Sự va chạm này xảy ra
chậm chạp và hiện vẫn còn tồn tại Cuối cùng lên đến đỉnh cao trong sự nhàu nát
và gãy đổ, dồn ép tạo nên dãy núi Himalayan Á Châu xoay chậm quanh trục,
Châu Phi thì di chuyển hướng về khối Trung Á Kết quả là nó ép vào Địa Trung
Hải Như vậy Đông Thổ Nhĩ Kỳ trở thành bản lề, vị trí bất ổn, nên hoạt động địa
chấn xảy ra thường xuyên
Nam Mỹ tách rời khỏi Phi Châu, nước biển tràn vào tạo ra Nam Đại Tây
Dương Như vậy rift rộng lớn mở rộng dần phía Bắc của biển này Trong thời
Cretaceous, dòng đối lưu hoạt động rất mạnh ở dưới thạch quyển, nguyên nhân
đã tạo ra sống núi giữa Đại Tây Dương nổi cao lên Sự nổi lên và mở rộng của
dãy núi này đã chiếm một thể tích to lớn của đáy biển, nên dời đi một khối lượng
nước biển khổng lồ lấn chiếm các vùng đất thấp, tạo ra các biển cạn Ví dụ biển
cạn từ vịnh Mexico và Texas đến miền Tây Canada Trầm tích tuổi Cretaceous
cũng được tìm thấy ở nhiều vùng thuộc Bắc Mỹ Như vậy vào Mesozoic thì Bắc
Đại Tây Dương được thành lập và liên tục được mở rộng Bắc Mỹ trôi về hướng
Tây Bắc xa dần Châu Âu và miền Tây Bắc Châu Phi, mà trước đó New York
nằm cạnh bờ biển Maroc (Châu Phi)
Lục địa cổ là phần còn sót lại sau khi ấn vào lớp manti, cũng như phần
nâng lên cao do phần chìm bên dưới nó Trái với lục địa có tuổi cổ, các vỏ đại
dương có tuổi trẻ hơn nhiều Đáy Đại Tây Dương và đáy của các đại dương khác,
tất cả được sinh ra trước khi siêu lục địa bắt đầu vỡ ra từng phần Đáy biển xung
quanh siêu lục địa Pangea cắm vào trong manti ở đới cắm Khảo sát các hoạt
động của mảng hiện tại, Đại Tây Dương có thể mở rộng 2cm/năm, Thái Bình
Trang 24Dương thì khép lại Miền Tây Nam California có thể trượt lên trên lục địa, Đông
Phi Châu có thể tách ra và di chuyển về phía Đông Bắc và Địa Trung Hải sẽ bị
thu hẹp lại Hồng Hải và rift Châu Phi sẽ trở thành đại dương như Đại Tây
Dương trong thời quá khứ
Chúng ta chưa biết chắc lực nào đã làm vỡ siêu lục địa Pangea Dòng đối
lưu trong lớp manti có lẽ là cơ chế di chuyển, nhưng có một điểm khó giải thích
là yếu tố nào đã khởi động dòng đối lưu Theo ý kiến của một số nhà khoa học,
sự di chuyển của mảng có liên hệ ít nhiều với nguyên nhân đi lên của dòng nóng
tỏa tia (plume) Nếu có sự cô đọng của nguyên tố phóng xạ ở nơi nào đó trong
manti, sẽ cung cấp nhiệt, vật liệu nóng di chuyển lên tạo thành dòng đá nóng đi
lên Vật liệu nguội sẽ chìm xuống thay thế chỗ vật liệu nóng đi lên Như vậy
dòng đối lưu được hình thành Tuy nhiên, hiện tại thì chúng ta cũng chưa hiểu rõ
ràng về dòng đá nóng đi lên này cũng như sự tồn tại của nó và dòng đối lưu
Trang 25Theo thuyết trôi dạt lục địa, siêu lục địa Pangea tách vỡ ra cách nay từ 200
đến 250 triệu năm thành những mảnh lục địa như ta biết hiện nay
Trang 26CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH BIỂN ĐÔNG
VÀ CÁC BỒN TRẦM TÍCH LIÊN QUAN
TRÊN THỀM LỤC ĐỊA MIỀN NAM VIỆT NAM
I QUÁ TRÌNH TÁCH GIÃN HÌNH THÀNH BIỂN ĐÔNG
Mảng Đông Nam Á là phần đuôi của mảng Âu Á về phía Đông Nam, bao
quanh bởi các đới hút chìm Myanmar, Indonesia và Philippine ở ranh giới hội tụ
của mảng Ấn – Úc với mảng Đông Nam A, và mảng Đông Nam Á với mảng vỏ
đại dương Thái Bình Dương
Mảng Ấn – Úc dịch chuyển thẳng đứng lên cắm vào mảng Đông Nam Á
dịch chuyển xuống tạo nên đứt gãy chờm nghịch và đồng thời là đứt gãy bình
Phía Đông Philippine là mảng vỏ đại dương Philippine tách khỏi mảng
Thái Bình Dương Ranh giới giữa mảng Đông Nam Á và mảng vỏ đại dương
Philippine là một đới hút chìm
Trong khối Đông Nam Á xuất hiện nhiều đứt gãy chia chúng thành nhiều
vi mảng :
- Đới đứt gãy Sông Hồng gắn kết giữa lục địa Indochina và Nam Trung
Hoa Đây là một đứt gãy trượt bằng
- Đứt gãy bình Three Pagoda xuất phát từ Thái Lan, chạy dọc theo biển
Vịnh Thái Lan
- Đứt gãy dọc theo con sông lớn nhất Myanmar nối với đứt gãy Sumatra
dịch chuyển về phía Bắc
Những đới đứt gãy này chia lục địa Đông Nam Á thành những vi lục địa:
Nam Trung Hoa, Indochina và Bắc Borneo dịch chuyển về phía Nam, còn lại là
những vi lục địa chưa được gắn kết rõ ràng, trong nó có những vùng có vỏ đại
dương như biển nội địa Biển Đông
Trang 27Biển Đông, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Nam giáp Kalimantan, phía
Đông giáp Philippine, phía Tây giáp Việt Nam Đây là một trong những biển rìa
lớn nhất nằm ở bờ Tây Thái Bình Dương chứa đựng nhiều tiềm năng về tài
nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu khí
Quá trình tách giãn hình thành Biển Đông :
Biến cố đặc trưng ảnh hưởng đến khu vực là sự hội tụ của các mảng lục
địa vào cuối Mesozoic muộn – đầu Cenozoic sau khi biến mất đại dương Tethys
Biển Đông được xem như một biển mở rộng do sự xô đẩy và xoay kéo của khối
Đông Dương tách khỏi mảng Âu Á dọc theo đứt gãy Sông Hồng khi xảy ra va
chạm của mảng Ấn Độ đối với lục địa Âu Á, do đới hút chìm Palawan gây nên
căng giãn làm bộc lộ vỏ đại dương Đó là nguyên nhân tạo lực tách giãn để hình
thành và mở rộng Biển Đông trong Eocene, Oligocene, và Miocene sớm
Palaeogen
Rìa lục địa Âu Á dịch chuyển về phía Đông của Borneo ngày nay và cuốn
hút vỏ đại dương của mảng Thái Bình Dương xuống bên dưới nó, tạo một biển
sau của cung đảo, gọi là Biển Đông cổ vào Palaeocene
Vào Eocene, khối Đông Nam Á bị đẩy tụt về phía Đông Nam từ mảng Âu
Á dọc theo hệ thống đứt gãy cổ và bị xoay theo chiều kim đồng hồ do sự va chạm
của mảng Ấn Độ với mảng Âu Á (cách đây 50 triệu năm)
Trong thời kỳ Oligocene, đới hút chìm phía Nam bể Biển Đông cổ tiếp tục
hoạt động Ứng suất căng giãn ở phía trước đới hút chìm làm đáy biển ở bể Biển
Đông cổ tách giãn theo hướng Bắc – Nam và tạo nên Biển Đông (cách đây 32
triệu năm) Trục tách giãn đáy biển phát triển lấn dần về phía Tây Nam và thay
đổi hướng từ Đông – Tây sang Tây Nam – Đông Bắc Khối Đông Dương tiếp tục
bị đẩy trôi xuống phía Đông Nam và tiếp tục xoay theo chiều kim đồng hồ
Neogen
o Miocene sớm : tốc độ đẩy trồi xuống Đông Nam cùng với tốc độ
xoay phải của khối Đông Dương chậm lại Quá trình tách giãn đáy biển tiếp tục
Trang 28tạo nên lớp vỏ mới ở Biển Đông Trong khi đó phần vỏ Biển Đông cổ ở phía
Nam lại bị hút chìm dưới cung đảo Kalimantan Quá trình tách giãn đáy biển theo
phương Tây Bắc – Đông Nam đã nhanh chóng mở rộng xuống Tây Nam và chấm
dứt vào cuối Miocene sớm (cách đây 17 triệu năm) do bể Biển Đông cổ ngừng
o Pliocence : là thời gian biển tiến rộng lớn và có lẽ đây là lần đầu
tiên toàn bộ vùng Biển Đông hiện tại nằm dưới mực nước biển
Đệ Tứ
o Pleistocene (cách đây 5 triệu năm) : sự tách giãn càng lớn, trục tách
giãn càng về phía Nam hơn Do ảnh hưởng tách giãn đã hình thành các bồn trầm
tích lún đáy nhanh, gọi là bồn nội mảng, chứa dầu khí như bồn Cửu Long, Nam
Côn Sơn, các bồn ở Vịnh Thái Lan Năng lượng thoát ra từ sự tách giãn đã thúc
đẩy sự chuyển hoá dầu khí nhanh hơn
Các hoạt động kiến tạo do quá trình tách giãn ảnh hưởng lớn đến quá trình
hình thành thềm lục địa Việt Nam cũng như các bồn trầm tích Đệ Tam trên thềm
lục địa và đặc biệt là các bồn chứa dầu khí Các quá trình kiến tạo này đã tác
động trực tiếp vào các quá trình hình thành, di chuyển và tích tụ dầu khí ở các
bồn trầm tích Đệ Tam
Trang 29II CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN THỀM
LỤC ĐỊA VIỆT NAM VÀ CÁC BỒN TRẦM TÍCH ĐỆ TAM
Thềm lục địa Việt Nam là phần rộng lớn nhất của rìa Tây Biển Đông Việt
Nam Thềm lục địa Việt Nam bao gồm các cấu trúc địa chất phức tạp trong đó
chủ yếu là các bể trầm tích Đệ Tam với hệ thống dầu khí hấp dẫn và đa dạng trên
rìa Tây Biển Đông Việt Nam Sự tiến hoá địa chất của thềm liên quan tới sự hình
thành và phát triển Biển Đông, đặc biệt từ cuối Mesozoic và trong suốt Cenozoic
1 Mở rộng lục địa vào Mesozoic và cố kết móng của các bể Đệ Tam
Các thành hệ cấu trúc trong móng của thềm lục địa là các phần kéo dài của
các đới cấu trúc từ đất liền và bị biến đổi do các quá trình địa động lực thời
Cenozoic Sự hội tụ của các lục địa Âu Á và Gondwana sau khi kết thúc đại
dương Mesozoic – Tethys vào Jurassic – Cretaceous đã làm cố kết móng của các
bể Đệ Tam Các hoạt động kiến tạo cuối Mesozoic đã liên kết các mảng lục địa
Trang 30trong đó có các đới biến chất trước Cambrian, các cấu trúc Palaeozoic và
Mesozoic
Trong móng thềm lục địa Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ chủ yếu là các
phức hệ xâm nhập nông và phun trào núi lửa từ trung tính đến acid và acid kiềm
kiểu cung hội tụ Mesozoic muộn Các cung xâm nhập nông và phun trào núi lửa
trung tính acid và acid kiềm đã được tạo ra do sự va chạm của các lục địa cuối
Mesozoic (58 – 178 triệu năm)
Quá trình tạo núi muộn dọc theo rìa Tây Biển Đông Việt Nam còn tiếp tục
tới đầu Cenozoic với sự hình thành các dãy núi và cung núi lửa á kiềm cạnh các
trũng trước núi Cretaceous – Palaeocene – Eocene
Trầm tích Palaeocene hầu như không phát hiện thấy ở thềm lục địa Việt
Nam Đây là thời kỳ san bằng kiến tạo mang tính khu vực, đó là kết quả của hoạt
động nâng lên và bị bóc mòn
Các thành tạo carbonat Palaeozoic và các phức hệ cung xâm nhập sâu hầu
như bị biến dạng và tạo nên những khối móng nhô cao vào cuối Đệ Tam và có
thể đầu Cenozoic, và đã trở thành những tầng chứa nứt nẻ và tạo nên các mỏ có
tiềm năng dầu khí rất lớn của các bể Đệ Tam
2 Tách giãn Oligocene và sự hình thành các bể trầm tích Đệ Tam
Khi hai mảng lục địa Ấn Độ và Âu Á va chạm nhau, khối Đông Dương
tách khỏi mảng Âu Á dọc theo đới đứt gãy Sông Hồng, và hệ quả của sự mở rộng
đó là sự hình thành Biển Đông Từ trung tâm tách giãn Biển Đông đã hình thành
hàng loạt các địa hào và bán địa hào hẹp nhưng rất sâu được lấp đầy bởi những
trầm tích vụn, thô có bề dày lớn Sự mở rộng đáy biển đã bắt đầu từ Đông Bắc
Biển Đông Việt Nam vào giữa Oligocene (khoảng 32 triệu năm) và xuống phía
Nam vào Oligocene muộn, kết thúc muộn nhất vào cuối Miocene sớm (17 triệu
năm) (Taylor và Hayes, 1983, Brias và nnk, 1993) Trên rìa Tây, hàng loạt các
địa hào, bán địa hào cũng được hình thành chủ yếu trong Oligocene, đó là các
trũng sâu của các bể Đệ Tam
Trang 31Các hoạt động tách giãn của Biển Đông đã mở ra các bồn trũng của thềm
lục địa và được ngăn cách bằng các đới nâng khu vực Trầm tích Oligocene đã
được thành tạo đồng thời với quá trình tách giãn và sụt lún
Trên thềm lục địa Đông Nam Bộ, các địa hào trong bể Cửu Long chịu sự
khống chế chủ yếu của hệ thống đứt gãy Đông Bắc – Tây Nam và ít khi là hướng
Đông Tây Còn ở bể Nam Côn Sơn, hệ thống đứt gãy quan trọng là Đông Bắc –
Tây Nam Hầu hết các địa hào Oligocene trên thềm lục địa Việt Nam được lấp
đầy bởi các trầm tích đầm hồ Quá trình biển tiến Oligocene đã hình thành các
trầm tích mịn, đó là các tầng giàu vật chất hữu cơ, nhiều nơi là đá sinh tốt của các
bể Đệ Tam
Đây là thời kỳ quan trọng của địa chất dầu khí, vào thời kỳ này, các tầng
sinh, chứa, chắn đã được hình thành ở hàng loạt các bể trầm tích Ở khu vực mỏ
Bạch Hổ, Rồng, Sư Tử các tập sét phủ trực tiếp lên đá móng chứa dầu nên chúng
còn đóng vai trò là tầng chắn
3 Sụt lún sau tách giãn và các bể Đệ Tam mở rộng trưởng thành
Mặt bất chỉnh hợp gần đỉnh Oligocene có nơi gần đáy Miocene có thể
tương ứng với sự thay đổi chế độ kiến tạo từ tách giãn sang sụt lún và oằn võng
trên rìa Tây Biển Đông Quá trình này dẫn đến sự hình thành lớp phủ mở rộng và
kê gối lên các tập đồng tách giãn trong các địa hào tạo thành bể Đệ Tam
Sự sụt lún sau tách giãn kèm theo sự mở rộng các địa hào về phía các gờ
nâng và liên kết các địa hào hình thành các bể Đệ Tam mở rộng Trong các bể Đệ
Tam trên thềm lục địa Việt Nam, các tập trầm tích Miocene bao trùm lên toàn bộ
diện phân bố của mỗi bể và đạt tới mức độ cân bằng trong quá trình trưởng thành
của bể Các trầm tích Miocene và các trầm tích Oligocene có độ rỗng thường từ
trung bình khá đến tốt Trong các pha oằn võng hoạt động đứt gãy chỉ giới hạn ở
các rìa bể, còn sự sụt lún nhiệt và sức nặng trầm tích oằn lõm đóng vai trò chính
trong sự hình thành các bể Đệ Tam Vào Miocene giữa, sự sụt lún cùng với sự
mở rộng đã tạo điều kiện cho biển tiến sâu vào các bể Đệ Tam Trong bể Nam
Côn Sơn, các trầm tích biển nông chiếm ưu thế Còn trong bể Cửu Long, các
Trang 32trầm tích từ châu thổ ngập biển đến trầm tích biển nông, ưu thế là trầm tích châu
thổ hủy hoại hay thiếu hụt Một số nơi các trầm tích sét châu thổ ngập biển và sét
– vôi có hàm lượng tổng carbon hữu cơ cao đã được chôn vùi trong đới thành đá
trong giai đoạn trưởng thành của các vật chất hữu cơ và trở thành tầng sinh có giá
trị
Các trầm tích vụn Miocene thường có độ rỗng tốt trừ một số nơi có độ
rỗng trung bình do bị xi măng carbonat hoá Do đá carbonat có độ rỗng cao nên
trở thành các đối tượng chứa lớn Trong giai đoạn này thành tạo chủ yếu là các
tầng chứa
4 Chuyển động nghịch đảo vào Miocene hình thành các bẫy cấu tạo
Do sự hút chìm của vi đại dương Biển Đông xuống dưới cung Luson –
Đài Loan theo máng sâu Manila đã đẩy cung Luson dịch chuyển về phía Tây tạo
các áp lực nén ép từ Miocene giữa và mạnh mẽ trong Miocene muộn Cuối
Miocene muộn, sự nén ép diễn ra phổ biến và mạnh mẽ trong các bể Đệ Tam và
đã dẫn tới sự hình thành các hệ đứt gãy nghịch và hàng loạt các cấu tạo vòm có
kích cỡ khác nhau từ rất lớn đến trung bình và nhỏ
Các pha nghịch đảo kiến tạo Miocene xảy ra không đồng đều trong các bể
Đệ Tam, ở bể Cửu Long là vào Miocene giữa và Nam Côn Sơn là Miocene
muộn Tuy nhiên, mặt bất chỉnh hợp cuối Miocene (5.5 triệu năm) đã đánh dấu
sự kết thúc pha nghịch đảo kiến tạo trên thềm lục địa Việt Nam vào cuối
Miocene Sự thay đổi trường áp lực đã dẫn đến sự hình thành một số cấu trúc
riêng biệt như các vòm nâng địa phương, các uốn nếp và đứt gãy nở hoa
Ở bể Cửu Long, giai đoạn giữa Miocene giữa đánh dấu pha nghịch đảo
kiến tạo sau khi tích tụ tập sét Rotalit và đã hình thành các bẫy cấu tạo trước thời
điểm đá mẹ bước vào cửa sổ tạo dầu Vì thế các bẫy cấu trúc đã đón được dầu
sinh ra từ các tầng đá mẹ Oligocene
Trang 33Trong khi đó, nhiều nơi trong bể Nam Côn Sơn, do các chuyển động
nghịch đảo xảy ra muộn hơn vào cuối Miocene muộn nên chỉ nhận được sự nạp
hydrocarbon trong pha di chuyển muộn hoặc các phần dầu tàn dư
5 San bằng cấu trúc và sự hình thành thềm lục địa
Vào thời kỳ Pliocence, hoạt động biển tiến bắt đầu ảnh hưởng và phát
triển rộng khắp khu vực Biển Đông
Các tập trầm tích Pliocence và Đệ Tứ phủ trên mặt bất chỉnh hợp gần đỉnh
Miocene khá bình ổn, hầu như không có biểu hiện của các hoạt động biến dạng,
uốn nếp và đứt gãy
Sự sụt lún rõ ràng và tăng nhanh chiều dày trầm tích Pliocence và Đệ Tứ
chủ yếu từ đới bờ đến sườn lục địa hiện tại Các trầm tích Pliocence – Đệ Tứ
được đặc trưng chủ yếu bởi các trầm tích vụn mịn với ít các lớp cát nằm trên mặt
gián đoạn với chiều dày tăng dần về phía trung tâm Phần lớn các tập trầm tích
này có độ phân giải song song Tuy vậy phần sườn ngoài của thềm thường là các
cấu trúc nêm lấn có sự tiến triển về phía biển của các châu thổ Các basalt
Pliocence – Đệ Tứ lộ ra trên một số đảo nổi và khá nhiều đảo ngầm trên thềm lục
địa Việt Nam
Trang 34III PHÂN CHIA CÁC BỒN TRẦM TÍCH Ở VIỆT NAM
THEO QUAN NIỆM KIẾN TẠO MẢNG
Dưới tác động mạnh mẽ của kiến tạo, các bồn trầm tích Việt Nam được
hình thành trong những bối cảnh kiến tạo không giống nhau, từ những thời kỳ địa
chất khác nhau Dưới quan điểm kiến tạo mảng có thể phân chia các nhóm bồn
trầm tích ở Việt Nam như sau :
1 Bồn trầm tích nơi rift hoá :
Biển Đông, nằm ngoài khơi bờ biển Trung Bộ nước ta, đã có hai giai đoạn
tách dãn Trong thời Cretaceous, Đông Dương – Borneo – Philippine, Hải Nam
nối liền với nhau tạo thành một lục địa duy nhất, gọi là Indosinia Trung Một đới
tách dãn đầu tiên xảy ra từ thời Palaeogen, nay Borneo đi về phía Nam, khiến cho
có một đáy đại dương ở phía Đông đảo Hải Nam Vào thời kỳ Miocene một đới
tách giãn thứ hai đã mở rộng Biển Đông thành một đại dương nhỏ, tạo ra một đới
cuốn hút nữa về phía Bắc Borneo (Kalimantan) Hiện nay, đới tách giãn này vẫn
còn hoạt động với vận tốc chậm
Bồn trầm tích Biển Đông ở phần lãnh hải Việt Nam có thể chia thành hai
vùng:
- Vùng Tây Biển Đông: nguồn cung cấp vật liệu từ những con sông lớn, vật
liệu lục nguyên là cơ bản
- Vùng Đông Biển Đông: vật liệu lục nguyên không lớn lắm, nhưng trầm
tích carbonat phong phú
2 Bồn trầm tích nơi cung magma :
Trường Sơn Việt Nam, đới uốn nếp Tây Bắc, đới uốn nếp Nam Bộ có
những trầm tích nằm vào đới cung đảo, là nơi vỏ đất va chạm mãnh liệt, phá huỷ
sâu đậm
3 Bồn trầm tích nơi phay đổi dạng :
a Bồn Sông Hồng:
Trang 35Trũng Sông Hồng – Vịnh Bắc Bộ đã từng là một đới cuốn hút, rồi một
phay đổi dạng và cuối cùng là một bồn trầm tích quan trọng có xâm nhập biển
vào thời cận sinh
Bồn Sông Hồng gồm có các lô: 103, 105, đến 110, 112, 113, 114, và 116
Bồn Sông Hồng, từ kết quả tìm kiếm thăm dò dầu khí, có thể xem như là một địa
hào trầm tích Cenozoic với chiều dày đạt tới 12 - 14 km và tiềm năng dầu khí rất
khả quan
b Bồn Phú Khánh:
Bồn Phú Khánh hình thành từ phay đổi dạng Quy Nhơn (do tách dãn Biển
Đông) và hiện tại là một bồn trầm tích biển sâu Ở phía Tây là triền lục địa, ở
phía Đông Nam ngăn cách với bồn Cửu Long bởi khối nâng Tuy Hoà
Bồn Phú Khánh bao gồm các lô :122 đến 126 có cấu trúc sụp lún, hình
thành trên những khối đá magma – biến chất trước Đệ Tam Vật liệu trầm tích
của bồn này đá mảnh vỡ chiếm ưu thế và những lắng đọng carbonat, phun trào
nhỏ từ Oligocene (Eocene?) cho đến Đệ Tứ trong môi trường lục địa, gần biển và
biển
Chiều dày trầm tích thay đổi từ hơn 10,000m ở trung tâm bồn cho tới nhỏ
hơn 500m ở dọc theo bờ Tây của bồn
4 Bồn trầm tích nội mảng :
Bồn Cửu Long, Nam Côn Sơn, Mã Lai – Thổ Chu hình thành do quá trình
rift hoá ngắn hạn
Khu vực vỏ lục địa bị lún chìm do các đứt gãy sụp trong quá trình rift hoá
ngắn hạn và phủ lên bằng trầm tích biển nông, do biển tràn từ Oligocene sớm lên
Trang 36móng đá trầm tích – xâm nhập – biến chất trước Eocene đã tạo nên triển vọng
dầu khí lớn
Cấu trúc thành lập bồn gồm có các đá móng granitoid, bị làm xốp, hang
hốc bởi các hoạt động nhiệt dịch cận sinh rất mạnh, do sự tách giãn đáy Biển
Đông gây ra từ Oligocene sớm tới nay Nó còn chịu ảnh hưởng của quá trình
phong hoá đá móng, sự co nhiệt độ của đá và tác động kiến tạo tạo ra các khe nứt
trong móng đá của các bồn này
Các địa hào do rift hoá ngắn hạn này được sự hỗ trợ rất lớn của nhiệt lưu
xuất phát từ đới tách giãn đó, khiến cho dầu khí đạt tuổi trưởng thành sớm (có
nơi khá già), tạo nên một loại dầu sánh đặc và khí khô
Móng đá có độ rỗng, độ thấm thứ cấp đã rút dầu và khí từ lớp đá cát thô
có tuổi trẻ hơn, đây là một trường hợp đặc biệt hiếm gặp trên thế giới
Trang 37PHẦN II
ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KIẾN TẠO
ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH
VÀ TÍCH TỤ DẦU KHÍ TRONG CÁC BỒN TRẦM TÍCH TRÊN
THỀM LỤC ĐỊA MIỀN NAM VIỆT NAM
CHƯƠNG 3 BỒN TRŨNG CỬU LONG
I VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Bồn trũng Cửu Long nằm phía Đông thềm lục địa Nam Việt Nam, trong
khoảng giữa 90 đến 110 vĩ độ Bắc đến 1090 kinh độ Đông, kéo dài dọc theo bờ
biển Phan Thiết đến cửa Sông Hậu, với diện tích châu thổ hiện tại là 400 ngàn
km2
Bồn trũng Cửu Long nằm gần các cảng lớn Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh
và các khu vực trọng điểm kinh tế, các khu công nghiệp là các cơ sở dịch vụ tốt
Trang 38cho công tác thăm dò khai thác dầu khí, rất thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở sử
dụng, chế biến các sản phẩm dầu khí nhƣ nhà máy tua bin khí, nhà máy phân
bón, nhà máy hoá lỏng khí, lọc dầu Bồn Cửu Long đƣợc đánh giá là có tiềm
năng dầu khí lớn nhất Việt Nam với khoảng 700 – 800 triệu m3
dầu Việc mở đầu phát triển dầu trong đá móng phong hoá nứt nẻ ở mỏ Bạch Hổ là sự kiện nổi bật
nhất, không những làm thay đổi phân bố trữ lƣợng và đối tƣợng khai thác mà còn
tạo ra một quan điểm địa chất mới cho việc thăm dò dầu khí trên thềm lục địa
Việt Nam
Trang 39II LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CẤU TRÚC KHU VỰC
Bể Cửu Long là một bể tách giãn, lịch sử phát triển bể trong mối liên quan
với lịch sử kiến tạo khu vực có thể chia thành 3 thời kỳ chính :
1 Thời kỳ trước tạo rift :
Đây là thời kỳ hình thành đá móng trước Đệ Tam
Từ Jurassic muộn đến Palaeocene là thành tạo đai magma mà ngày nay lộ
ra ở thềm lục địa Nam Việt Nam và nằm dưới các trầm tích Cenozoic ở bể Cửu
Long và Nam Côn Sơn Các đá magma chủ yếu là diorite, granodiorit của phức
hệ Định Quán với thành phần vôi kiềm, granite giàu kiềm của phức hệ Đèo Cả và
Cà Ná và các đá đai mạch, phun trào Rhyolite, andesite đi cùng Có số ít các
dạng đá cổ hơn cũng có mặt trong khu vực này và trong móng
2 Thời kỳ đồng tạo rift (Eocene – Oligocene) :
Các khối đứt gãy và các trũng trong bể Cửu Long được tạo nên bởi các
hoạt động đứt gãy từ Eocene tới Oligocene có liên quan đến quá trình tách giãn
Có nhiều đứt gãy định hướng theo phương Đông – Tây, Bắc – Nam, và Đông
Trang 40Bắc – Tây Nam Các đứt gãy chính điển hình là các đứt gãy thuận trườn thoải
cắm về Đông Nam Do kết quả của các chuyển động theo các đứt gãy chính này,
các khối cánh treo đã bị phá huỷ mạnh mẽ và xoay khối với nhau Quá trình này
đã tạo ra nhiều bán địa hào bị lấp đầy bằng các trầm tích tuổi Eocene – Oligocene
sớm Quá trình tách giãn tiếp tục phát triển làm cho bể lún chìm sâu hơn và tạo
nên hồ sâu trong đó đã tích tụ các tầng trầm tích sét hồ rộng lớn Ở vùng trung
tâm bể, nơi có các tầng sét hồ dày , mặt các đứt gãy trở nên cong hơn và kéo
xoay các trầm tích Oligocene Sự kết thúc hoạt động của phần lớn các đứt gãy và
bất chỉnh hợp ở nóc trầm tích Oligocene đã đánh dấu sự kết thúc thời kỳ đồng tạo
rift Trầm tích Eocene – Oligocene trong các trũng chính có thể đạt đến 5000m
3 Thời kỳ sau tạo rift (Miocene sớm – hiện tại) :
Quá trình tách giãn kết thúc và quá trình nguội lạnh diễn ra tiếp theo Các
hoạt động đứt gãy yêu vẫn còn xảy ra Các trầm tích Miocene dưới đã phủ chờm
lên địa hình Oligocene Hoạt động biển tiến đã tác động lên phần Đông Bắc bể,
trong khi đó ở phần Tây bể vẫn ở điều kiện lòng sông và châu thổ Tầng đá núi
lửa dày và phân bố rộng trong Miocene dưới ở phần Đông phụ bể Bắc có lẽ liên
quan đến sự kết thúc tách giãn đáy biển ở Biển Đông Vào cuối Miocene sớm
trên phần lớn diện tích bể Cửu Long, nóc trầm tích Miocene hạ, hệ tầng Bạch Hổ
được đánh dấu bằng biến cố chìm sâu bể với sự thành tạo tầng sét biển chứa
Rotalia rộng khắp và tạo nên tầng đánh dấu địa tầng và tầng chắn khu vực cho
toàn bể Vào Miocene giữa, môi trường biển ảnh hưởng lên bể Cửu Long ít hơn,
vào thời gian này, môi trường lòng sông tái thiết lập ở phần Tây Nam bể, ở phần
Đông Bắc bể các trầm tích được tích tụ trong điều kiện ven bờ Từ Miocene
muộn đến hiện tại, bể Cửu Long đã hoàn toàn thông với bể Nam Côn Sơn và
sông Mekông trở thành nguồn cung cấp trầm tích cho cả hai bể Các trầm tích hạt
thô được tích tụ ở môi trường ven bờ ở phần Nam bể và ở môi trường biển nông
ở phần Đông Bắc bể Các trầm tích hạt mịn hơn được vận chuyển vào vùng bể
Nam Côn Sơn và tích tụ tại đây trong điều kiện nước sâu hơn