Mục tiêu chung Xác định được một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây Keo lai nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng gỗ rừng trồng, làm cơ sở để phát triển mở rộng mô hình góp phầ
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.2.3.Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUÁT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 3
1.1.1 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng, phát triển của rừng trồng 3
1.1.2 Ảnh hưởng của giống đến năng suất rừng trồng thâm canh 4
1.1.3 Ảnh hưởng của phân bón đến năng xuất chất lượng rừng trồng 6
1.1.4 Ảnh hưởng của mật độ đến năng xuất chất lượng rừng trồng 7
1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 8
1.2.1 Các nghiên cứu về trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng 10
1.2.2 Nghiên cứu về cải thiện giống 12
1.2.3 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng.16 1.2.4 Ảnh hưởng của phân bón đến năng xuất và chất lượng rừng trồng 17
1.2.5 Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất và chất lượng rừng trồng 18
1.3 Những nghiên cứu về cây Keo lai (Acacia hybrids) 20
1.3.1 Đặc điểm cây Keo lai ( A Hybrids) 20
1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 25
1.4.1 Vị trí địa lý 25
1.4.2 Địa hình 26
1.4.3 Khí hậu thủy văn 27
1.4.4 Đất đai và tài nguyên 28
Trang 21.5 Thực trạng kinh tế - xã hội 30
1.5.1 Dân số và nguồn lao động 30
1.5.2 Thực trạng về thị trường 30
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33
2.3 Nội dung nghiên cứu 33
2.4 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1 Phương pháp kế thừa 33
2.4.2 Phương pháp điều tra 34
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 36
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng Keo lai.39 3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của D1.3 của cây Keo lai .40 3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ đến chiều cao vút ngọn của cây Keo lai .41
3.1.3: Ảnh hưởng của mật độ đến đường kính tán (Dt) của cây Keo lai 43
3.1.4: Ảnh hưởng của mật độ đến trữ lượng của cây Keo lai của rừng trồng Keo lai 5 năm tuổi ở Yên Lập - Phú Thọ 44
3.2 Ảnh hưởng của bón phân đến khả năng sinh trưởng và năng suất của rừng trồng Keo lai 47
3.2.1: Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng đường kính (D1.3) của cây Keo lai 47
3.2.2 Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng chiều cao (Hvn) của cây Keo lai 49
3.2.3 Ảnh hưởng của bón phân đến đường kính tán (Dt) của cây Keo lai 51
Trang 33.3 Ảnh hưởng của thời điểm trồng rừng và kỹ thuật thâm canh đến sinh
trưởng, năng xuất trồng Keo lai 54
3.3.1 Ảnh hưởng của thời điểm trồng rừng đến sinh trưởng chiều cao Hvn của cây Keo lai 56
3.4 Đề xuất các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng xuất và chất lượng trong trồng rừng keo thâm canh 60
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 62
Kết luận 62
Tồn tại và kiến nghị 62
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 64
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Bộ NN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của mật độ đến đường kính D1.3 của cây Keo lai 40 Bảng 3.2: Ảnh hưởng của mật độ đến chiều cao (Hvn) của cây Keo lai 42 Bảng 3.3: Ảnh hưởng của mật độ đến đường kính tán của cây Keo lai 43 Bảng 3.4: Bảng ảnh hưởng của mật độ đến trữ lượng của cây Keo lai của
rừng trồng Keo lai 5 năm tuổi ở Yên Lập – Phú Thọ 45 Bảng 3.5: Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng đường kính (D1.3) của
cây Keo lai 48 Bảng 3.6 : Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng chiều cao (Hvn) của
cây Keo lai 50 Bảng 3.7: Ảnh hưởng của bón phân đến đường kính tán (Dt) của cây Keo lai.
51 Bảng 3.8: Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng của rừng trồng Keo
lai sau 5 năm tuổi ở Yên Lập – Phú Thọ ( 2008 – 2013) 52 Bảng 3.9: Ảnh hưởng của thời điểm trồng rừng đến đường kính D1.3 của
cây Keo lai 55 Bảng 3.10: Ảnh hưởng của thời điểm trồng rừng đến chiều cao Hvn của
cây Keo lai 56 Bảng 3.11: Ảnh hưởng của thời điểm trồng rừng đến năng suất (M) của
cây Keo lai 58
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ sinh trưởng D1.3 của các công thức mật độ keo lai tuổi 5 40 Hình 3.2: Biểu đồ sinh trưởng Hvn của các công thức mật độ Keo lai tuổi 5 42 Hình 3.3: Ảnh hưởng của mật độ đến đường kính tán của cây Keo lai 44 Hình 3.4: Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ đến trữ lượng của cây Keo lai
của rừng trồng Keo lai 5 năm tuổi ở Yên Lập – Phú Thọ 45 Hình 3.5: Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng đường kính (D1.3) của
cây Keo lai 48 Hình 3.6 : Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng chiều cao (Hvn) của
cây Keo lai 50 Bảng 3.7: Ảnh hưởng của bón phân đến đường kính tán (Dt) của cây Keo lai
51 Hình 3.8: Biểu đồ tăng trưởng về trữ lượng cây đứng của các công thức
phân bón keo lai tuổi 5 53 Hình 3.9: Ảnh hưởng của thời điểm trồng rừng đến đường kính D1.3 của
cây Keo lai 55 Hình 3.10: Ảnh hưởng của thời điểm trồng rừng đến chiều cao Hvn của
cây Keo lai 57 Hình 3.11: Trữ lượng cây đứng của các công thức thí nghiệm thời điểm
và kỹ thuật trồng rừng tại Yên Lập - Phú Thọ 58
Trang 7Tỉnh Phú Thọ công tác trồng rừng đã được đẩy mạnh thông qua trương trình 327, dự án 5 triệu ha rừng của quyết định 661/BNN&PTNT về trồng cây Keo lai và Tỉnh Phú Thọ có nhà máy Giấy Bãi Bằng thuộc tổng công ty Giấy Việt Nam, vì vậy tổng diện tích rừng trồng Keo lai được tăng lên đáng kể mỗi năm Tổng diện tích trồng rừng mới chỉ riêng trong một Huyện Yên Lâp trung bình tăng lên khoảng 300ha đến 500ha Nguồn gỗ Keo ở tỉnh Phú Thọ không chỉ đáp ứng cho nhà máy giấy Bãi Bằng mà còn phục vụ cho thị trường trong
và ngoài nước chinh vì vậy nhu cầu đặt ra cho thị trường gỗ Keo là rất lớn.
Do đó, Cần phải nâng cao năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng để đáp ứng được yêu cầu trên chúng ta cần phải lựa chọn giống tốt, chủng loại cây trồng hợp lý bên cạnh đó điều kiện lập địa và áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp thì mới có được sản lượng gỗ tốt đáp ứng nhu cầu của thị
trường Chính vì vậy việc thực hiện đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của một số
biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh đến năng xuất gỗ rừng trồng Keo lai tại Yên Lập – tỉnh Phú Thọ” là hết sức cần thiết và cấp bách.
Trang 81.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Xác định được một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây Keo lai nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng gỗ rừng trồng, làm cơ sở để phát triển mở rộng mô hình góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu làm bột giấy ngày càng tăng của xã hội nói chung và nhu cầu sản xuất của Công ty giấy Bãi Bằng nói riêng.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định được ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây Keo lai đến năng xuất gỗ rừng trồng ở huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
- Bước đầu xác định được một số đặc điểm của gỗ Keo lai 5 tuổi trồng thâm canh ở Yên Lập – Phú Thọ nhằm phục vụ công nghiệp chế biến bột giấy.
- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng xuất và chất lượng
gỗ trong trồng rừng thâm canh
1.2.3.Ý nghĩa của đề tài
Bước đầu xác định được một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây Keo lai nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng gỗ rừng trồng, làm cơ
sở để phát triển mở rộng mô hình góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu ngày càng tăng của xã hội nói chung và nhu cầu sản xuất của Công ty giấy Bãi Bằng nói riêng.
Trang 9Chương 1 TỔNG QUÁT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
Trên thế giới vấn đề thâm canh rừng trồng đã được nghiên cứu bởi rất nhiều nhà khoa học Trồng rừng thâm canh là một hệ thống các biện pháp kỹ thuật bao gồm từ khâu chọn giống đến trồng rừng, chăm sóc rừng trồng, quản
lý bảo vệ rừng trồng cho đến khi khai thác sử dụng
1.1.1 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng, phát triển của rừng trồng
Kết quả nghiên cứu của tổ chức FAO 1994 [41] ở các nước vùng nhịêt đới đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng của rừng trồng đặc biệt là rừng trồng cây nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào 4 nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng thực bì.
Nghiên cứu của Laulie (1974) đã cho thấy đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về nguồn gốc và lịch sử phát triển điều này được thể hiện ở sự khác nhau về đặc điểm của các phẫu diện đất đó là độ dày tầng đất, cấu trúc vật lý hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ PH) và nồng độ muối Đây chính là nguyên nhân dẫn đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng trên các loài đất khác nhau là khác nhau Khi đánh giá khả năng sinh trưởng
của loài Thông Pinus patula ở Swzinland, Julian Evans (1992) [44] đã chứng
minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loại cây này có quan hệ khá chặt (R = 0,81) với các yếu tố địa hình và đất thông qua phương trình tương quan sau:
Y = -18,75 + 0,0544x3 - 0,000022m32 + 0,0185x4 + 0,049x5 + 0,5346x11
Trong đó:
Y: Chiều cao vút ngọn tại thời điểm 12 tuổi (m)
x3: Độ cao so với mặt nước biển (m)
Trang 10x4: Độ dốc chênh lệch giữa đỉnh đồi và chân đồi (%)
x5: Độ dốc tuyệt đối của khu trồng rừng (%)
x11: Độ phì của đất đã được xác định.
Cùng với đó Julian Evans cũng đã kết luận khí hậu có ảnh hưởng khá rõ đến năng xuất rừng trồng, đặc biệt là sự ảnh hưởng của tổng lượng mưa bình quân hàng năm, sự phân bố lượng mưa trong năm, lượng bốc hơi và nhiệt độ không khí.
Kết quả nghiên cứu của Pandey D (1983) [48] về loài Bạch đàn
Eucalyptus camaldulensis được trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau đã
cho thấy: nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10 - 20 năm thì năng suất chỉ đạt từ 5-10m3/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất có thể đạt tới 30m 3/ha/năm Kết quả này lại một lần nữa khẳng định điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau.
Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy việc xác định vùng trồng và điều kiện lập địa phù hợp với từng loại cây trồng là rất cần thiết và đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng của rừng trồng.
1.1.2 Ảnh hưởng của giống đến năng suất rừng trồng thâm canh
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm canh Mục đích của cải thiện giống cây rừng là nhằm không ngừng nâng cao năng xuất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác từ rừng trong sản xuất lâm nghiệp Việc chọn đúng các giống tốt, thích hợp với điều kiện tự nhiên và canh tác giúp cho người sản xuất thu được năng suất cao và
ổn định với phẩm chất tốt và mức chi phí sản xuất trên đơn vị sản phẩm thấp
Từ ngàn xưa người nông dân Việt Nam đã đánh giá cao vai trò của giiống Ngày nay giống vẫn được xem là một trong nhưng yếu tố hàng đầu trong việc không ngừng nâng cao nâng năng suất cây trồng giống cũng không thể vượt qua ngưỡng tiềm năng năng suất của nó chỉ có sự đột phá về giống mới có thể mang
Trang 11lại năng suất cao hơn Năm 1993, Bộ lâm nghiệp (nay lag Bộ nông nghiệp và PTNT) đã có Quyết định ban hành "Qui phạm xây dựng rừng giống và vườn giống", "Qui phạm xây dựng rừng giống chuyển hóa", trong đó qui định rõ các tiêu chuẩn về chọn lọc xuất xứ giống và cây giống cũng như các phương thức khảo nghiệm giống và xây dựng rừng giống, vườn giống (Lê Đình Khả, 2003) [16] Trong thực tiễn sản xuất đó cho thấy nhờ ứng dụng giống mới, năng suất
đó từng bước được nâng cao những đột phá về giống nhằm nâng cao năng suất cây trồng và có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh các mặt hàng về gỗ và phục vụ cho ngành công nghiệp giấy
từ đó góp phần ổn định kinh tế.
Mỗi giống cây trồng có tính thích nghi nhất định với từng điều kiện vùng sinh thái Do đó việc lựa chọn giống cây trồng thích hợp với từng vùng sản xuất điều kiện sinh thái, điều kiện canh tác vừa có vai trò rất quan trọng trong sản xuất Lâm nghiệp nhất là những nước công nghiệp hoá Lâm nghiệp Trên thế giới, người ta đã đặt trọng tâm và phát triển Lâm nghiệp trên quy mô công nghiệp hiện đại, bằng các phương pháp sinh học tối tân, họ đã sản xuất hàng loạt giống cây trồng mới, được chọn lọc và nhân giống, lai tạo ra những thế
hệ cây trồng nhiều ưu điểm, cải tạo gen thành những giống cây kháng sâu, bệnh giảm bớt chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian chăm sóc, tạo nên ưu thế vững chắc trong sản xuất cây Lâm nghiệp.
Việt Nam chúng ta đã có nhiều thành tựu quan trọng trong công tác chọn
và lai tạo giống, cũng như có những chương trình chuyển giao công nghệ sản xuất mới, tuyển lựa giống cây trồng, thúc đẩy tăng sản lượng Vấn đề quan trọng và trọng tâm là chọn giống, lai tạo, chọn đất trồng phù hợp trên quy mô công nghiệp hiện đại, chuyên nghiệp, bền vững Đồng thời cũng phải có cơ quan nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp cách chuyên môn, hiện đại.
Trang 12Trên thế giới đã có rất nhiều nước đi sâu nghiên cứu về vấn đề này điển hình là các nước: Công Gô, BRazin, Swazinland, Malaysi , Zim babew
Ở Công gô bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai (Eucalyptus hybrids) có năng xuất đạt tới 35m3/ha/năm ở giai đoạn 7 năm tuổi Tại Brazin bằng con đường chọn lọc nhân tạo đã chọn được giống Bạch đàn Eucalyptus grandis có năng xuất đạt tới 55m3/ha/năm sau 7 năm trồng (Welker 1986) [50]
Tại Swazinland cũng đã chọn được giống Thông Pinus patula sau 15 năm tuổi đạt năng xuất 19m3/ha/năm (Pandey 1983) [48]
Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống Bạch đàn Eucalyptus grandis đạt
từ 35m3 - 40m3/ha/năm, giống bạch đàn Europhylla đạt trung bình tới 55m3/ha/năm, có nơi lên tới 70m3/ha/năm (Campinhos và Ikemori 1988) [40]
1.1.3 Ảnh hưởng của phân bón đến năng xuất chất lượng rừng trồng
Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng rừng trồng, đặc biệt là
ở những nơi đất xấu Trên thế giới, việc áp dụng phân bón cho rừng trồng bắt đầu từ những năm 1950 Trong vòng 1 thập kỷ, diện tích rừng được bón phân
đã tăng lên 100.000ha/năm ở Nhật Bản, Thụy Điển và Phần Lan Đến năm
1980 diện tích rừng được bón phân trên thế giới đã đạt gần 10 triệu ha (Ngô Đình Quế 2004) [28] Về vấn đề này đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm và đi sâu nghiên cứu, điển hình là công trình nghiên cứu của Mello (1976) [46] ở Brazin tác giả cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công thức không bón phân, nhưng nếu bón NPK thì năng xuất rừng trồng có thể tăng lên trên 50% Một nghiên cứu khác của Schonau (1985) [51]
ở South Ajrica về vấn đề bón phân cho Bạch đàn Eucalyptus grandis đã kết luận công thức bón 150g NPK/gốc với tỷ lệ N:P:K = 3:2:1 có thể nâng chiều cao trung bình của rừng trồng lên gấp 2 lần sau năm thứ nhất Tại Colombia, Bolstand và cộng sự (1988) [39] cũng đã tìm thấy một vài loại phân có phản
Trang 13ứng tích cực đối với rừng trồng Thông Pcaribeae đó là Potassium, Phosphate, Boron và Magnesium Tại CuBa cũng với đối tượng là rừng Thông P caribeae khi nghiên cứu các công thức bón phân cho đối tượng này Herrero và cộng sự (1988) [43] đã kết luận bón phân Phosphate sau 13 năm trồng nâng cao sản lượng rừng từ 56m3/ha lên 69m3/ha.
Qua những nghiên cứu ta thấy rõ rằng phân bón đã mang lại những hiệu quả rõ rệt như nâng cao tỷ lệ sống, nâng cao chất lượng, sản lượng, tăng khả năng chống chọi với điều kiện không thuận lợi của môi trường để cây phát triển tốt hơn.
1.1.4 Ảnh hưởng của mật độ đến năng xuất chất lượng rừng trồng
Mật độ trồng rừng là một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh rất quan trọng nó ảnh hưởng tới năng xuất và chất lượng của rừng trồng rất lớn Mỗi loại cây trồng và mỗi mục đích kinh doanh khác nhau thì phải sắp xếp mật độ làm sao cho hơp lý nhất để đạt được hiệu quả cao nhất Với các nghiên cứu trên nhiều lập địa khác nhau điển hình là nghiên cứu của Julian
Evans( 1992) [44] khi nghiên cứu mật độ trồng rừng cho Bạch đàn E.
Deglupta ở Papua New Guinia đã bố trí 4 công thức mật độ trồng khác nhau
( 2.985c/ha : 1.680cây/ha : 1.075cây/ha : 750cây/ha) số liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ nhưng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ điều này có ý nghĩa là mật độ thấp tuy lượng tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng ở mật độ cao
Theo Nguyễn Huy Sơn và Hoàng Minh Tâm nghiên cứu về mật độ trồng rừng Keo lai 9,5 tuổi ở Quảng Trị cho ta thấy rằng
Trồng rừng thâm canh nhằm nâng cao năng suất và chất lượng rừng hiện nay là vấn đề được rất nhiều người quan tâm Các dòng Keo lai BV10, BV16
và BV32 là những giống tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận và được sử dụng
Trang 14để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến khả năng sinh trưởng cũng như năng suất rừng trồng sau 9,5 năm tuổi ở Đông Hà – Quảng Trị Với mật độ trồng ban đầu, phân bón lót và bón thúc năm thứ 2 có ảnh hưởng chưa rõ đến tỷ lệ sống của rừng trồng Keo lai 9,5 năm tuổi Vì ở giai đoạn 9,5 năm rừng trồng đã quá thành thục công nghệ so với mục tiêu kinh doanh gỗ nhỏ chu kỳ 7 năm, nên các cá thể trong quần thể có sự cạnh tranh nhau gay gắt về không gian dinh dưỡng dẫn đến hiện tượng tỉa thưa tự nhiên rất mạnh, tỷ lệ sống chỉ còn từ 44-60% so với mật độ trồng ban đầu Ở giai đoạn 9,5 năm tuổi, mật độ hiện tại có ảnh hưởng khá rõ đến khả năng sinh trưởng cũng như năng suất và chất lượng rừng, ở những công thức mật độ hiện tại thấp nhất từ 722-738 cây/ha thì có khả năng sinh trưởng D1,3 cao nhất
và đạt trung bình từ 17,22-17,49cm, số cây có D1,3≥18cm chiếm 43,75%, nhưng năng suất gỗ cây đứng lại không cao Ngược lại, ở những công thức có mật độ cao nhất từ 968-999 cây/ha thì cho năng suất gỗ cây đứng cao nhất, nhưng khả năng sinh trưởng D1,3 lại thấp nhất và tỷ lệ số cây có D1,3≥18cm khá thấp.
42,55-Từ các nghiên cứu trên cho ta thấy rằng mật độ ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng và khối lượng sản phẩm theo đó còn ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, vì vậy cần phải xác định rõ mục tiêu để bố trí mật độ cho có hiệu quả cao nhất.
1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Trong những năm gần đây hầu như trên các diện tích trồng rừng từ nhà nước tới các đơn vị kinh doanh tới những người dân trồng rừng đã chú ý tới việc bón phân cho cây trồng Tất cả đã thấy được hiệu quả của việc bón phân cho cây Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh quan trọng nhằm làm ổn định và nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng Trên thực tế cho thấy, bón phân cho rừng trồng đã mang lại những hiệu quả rõ rệt,
đó là nâng cao tỷ lệ cây sống, tăng thêm sức đề kháng của cây đối với các
Trang 15điều kiện bất lợi của môi trường khi mới trồng, tăng khả năng sinh trưởng và nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm rừng trồng.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của cây rừng,
về kỹ thuật bón phân cho trồng rừng, kinh nghiệm sản xuất và tập quán sử dụng phân bón tại các địa phương Đã có nhiều hướng dẫn kỹ thuật liên quan tới bón phân cho rừng trồng được xây dựng đề xuất ở nhiều qui mô, phạm
vi áp dụng khác nhau, bước đầu đã tạo cơ sở khoa học cho việc bón phân cho trồng rừng đó là về chủng loại, liều lượng phân bón và phương pháp bón phân Tuy nhiên, các hướng dẫn kỹ thuật đó còn có nhiều điểm bất cập Tóm lại là chưa thể hiện chi tiết về cơ sở bón phân cho từng loài cây và từng loại đất.
Nhiều nghiên cứu về phân bón cho trồng rừng đã nhận định: Đối với nhiều loài cây trồng rừng sản xuất, việc bón phân là vô cùng quan trọng vì đây cũng chính là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng.
Ta bón phân cho cây thường là 3 loại: Phân vô cơ, phân hữu cơ và phân
vi sinh.
Phân hữu cơ dễ sản xuất và chi phí thấp, nhưng loại phân này sự phân hủy chậm có thể không cung ứng kịp thời chất dinh dưỡng cho cây, và khó có thể áp dụng trên quy mô trồng rừng lớn Phân hữu cơ vi sinh có thành phần gồm than bùn N, P, K và các vi sinh vật có ích Loại phân này có tác dụng làm tăng hiệu quả của phân vô cơ do bản thân nó hấp thụ phân vô cơ, có khả năng ngăn cản quá trình rửa trôi hay keo hóa với hạt đất, ngăn cản sự tiếp xúc trực tiếp của phân khoáng với môi trường pH thấp giữ cho phân khoáng luôn
ở dạng dễ tiêu, ngoài ra vi sinh vật cộng sinh thúc đẩy hệ rễ hấp thụ chất dinh dưỡng dễ dàng hơn.
Đối với phân vô cơ, đặc biệt là phân phức hợp (NPK) có hiệu quả cung cấp dinh dưỡng toàn diện, có hiệu lực nhanh hơn phân hữu cơ vi sinh do đó
Trang 16giảm được công bón phân, tiện lợi cho bón phân trên diện rộng nhưng loại phân này lại có một nhược điểm là dễ bị rửa trôi Loại phân bón vô cơ được
áp dụng chủ yếu ở phía Bắc là phân NPK (5:10:3) Phân NPK (5:10:3) của nhà máy Suppe phốt phát và hóa chất Lâm Thao loại phân này dạng hạt, phân giải chậm, thích hợp cho nhiều loại cây trồng đặc biệt phù hợp với đất nghèo lân Loại phân này có tác dụng kích hoạt các vi sinh vật có ích trong đất như hình thành cộng sinh nấm rễ Mycorhiza và vi khuẩn cố định đạm Rhizobium, Phân NPK (5:10:3) thường được bón phối hợp với phân hữu cơ vi sinh để tăng hiệu lực của lân ở những nơi đất xấu và bạc mầu.
Dựa vào những đăc điểm của các loại phân đã nêu trên đề tài đã bố trí thí nghiệm bón lót phân và bón thúc vào năm thứ 2 với liều lượng có kết hợp các loại phân bón với nhau để nghiên cứu tìm ra công thức bón phân tốt nhất cho trồng rừng thâm canh cây Keo lai trên đất Feralit phát triển trên phiến thạch sét ở địa bàn tỉnh Phú Thọ nói riêng và khu vực Đông Bắc Bộ nói chung
1.2.1 Các nghiên cứu về trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng
Trồng rừng thâm canh là vấn đề trước đây có rất ít người quan tâm, song
do nguồn gỗ rừng tự nhiên không còn đáp ứng được nhu cầu về gỗ ngày càng tăng của xã hội Bên cạnh đó, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp nói chung ngày càng giảm do phải cắt chuyển sang sử dụng vào mục đích khác như mở rộng đất nông nghiệp, đất thổ cư, đường Hơn nữa, đất quy hoạch cho trồng rừng hầu hết là đất nghèo và xấu, vì thế trồng rừng thâm canh đã trở thành xu thế tất yếu trong sản xuất lâm nghiệp hiện nay, nhất là trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến bột giấy và ván nhân tạo.
Vào những năm 1980 bên cạnh các nước có lịch sử phát triển rừng theo hướng thâm canh như: Đức, Ý, Thuỵ Điển thì ở Việt Nam vấn đề này cũng bắt đầu được quan tâm và đưa ra thảo luận, điển hình là các tác giả Nguyễn Xuân Xuyên (1985), Phạm Chiến (1986), Vũ Đình Huề (1986), Phùng Ngọc
Trang 17Lan (1986) “Cơ cấu cây trồng rừng thâm canh trên quan điểm sản lượng ” Tạp chí Lâm nghiệp, Bộ Lâm nghiệp.
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [21] thâm canh rừng trồng là nhằm bảo vệ
và sử dụng triệt để các điều kiện về tài nguyên, khi hậu, đất đai, sinh vật và áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại có liên quan để nâng cao năng xuất rừng và hiệu quả kinh tế Thâm canh rừng đòi hỏi một hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tổng hợp liên hoàn từ khâu chọn loài cây trồng, chọn giống, kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, tỉa thưa dựa trên mô hình mật độ tối ưu cho đến đảm bảo tái sinh trong khai thác.
Theo Nguyễn Xuân Quát (1995) [27] trồng rừng thâm canh là một phương thức canh tác dựa trên cơ sở được đầu tư cao bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp và liên hoàn Các biện pháp được tăng cường đầu
tư đó phải tận dụng, cải tạo và phát huy được mọi tiềm năng của tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinh trưởng và phát triển của rừng trồng để thu được năng xuất cao, chất lượng sản phẩm tốt với giá thành hạ để cho hiệu quả lớn Đồng thời cũng phải duy trì và bồi dưỡng được tiềm năng đất đai và môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển trồng rừng ổn định, lâu dài và bền vững.
Kết quả bước đầu nghiên cứu của Nguyễn Huy Sơn với công trình nghiên cứu cấp Nhà nước giai đoạn 2001 – 2005 cho thấy có thể nâng cao năng xuất rừng trồng từ 20m3/ha/năm đến 36m3/ha/năm ở khu vực đông nam
bộ và dự đoán lên đến 30m3/ha/năm ở khu vực Đông Bắc Bộ tuy nhiên rừng trồng mới được 3 – 4 năm tuổi nên cần phải tiếp tục theo dõi thêm cho các năm cuối để có những kết luận chuẩn xác hơn nữa.
Trong các nghiên cứu của Đoàn Hoài Nam (2006) [24] khi đánh giá về rừng trồng thâm canh tại một số tỉnh Thái Nguyên, Quảng Trị, Gia Lai, Bình Dương đã chỉ ra rằng chi phí chung cho 01 ha trồng rừng thâm canh Keo lai cao gấp đôi so với đầu tư trong chương trình trồng rừng sản xuất theo Quyết
Trang 18định số 661/QĐ-TTg ngày 29/07/1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và
tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và gấp 1,5 lần so với phương thức trồng rừng bán thâm canh hoặc quảng canh Tuy nhiên, trên thực
tế trồng rừng thâm canh đã mang lại hiệu quả cao hơn so nhiều so với các phương thức trồng rừng khác Nếu trồng rừng bằng các loại cây mọc nhanh theo phương thức quảng canh thì chu kỳ kinh doanh thường dài trên 10 năm
mà năng xuất chỉ đạt 7-10m3/ha/năm, nhưng nếu trồng rừng thâm canh thì sau
từ 7-8 năm đã có thể khai thác gỗ với năng xuất đạt từ 25-30m3/ha/năm Điều này cho thấy vốn bỏ ra ban đầu được thu hồi sớm hơn, vòng quay nhanh hơn nên hiệu quả đầu tư vốn cũng cao hơn, thời gian thu hoạch sản phẩm được rút ngắn nên đất đai được giải phóng sớm để tiếp tục trồng rừng cho chu kỳ sau sớm hơn.
1.2.2 Nghiên cứu về cải thiện giống
Việc xây dựng các khu khảo nghiệm loài – xuất xứ cho một số cây chủ yếu đã được thực hiện ở một số lập địa chính trong cả nước Đó là các loài
Thông như Pinus caribaea (với cả ba thứ là Pinus caribaeae var.Hondurensis,
Pinus caribaea var.bahamensis và Pinus caribaea var.caribaea), Pinus oocarpa, Pinus kesiya, Pinus mercusii và các loài Thông khác Các loài Bạch
Đàn chủ yếu được khảo nghiệm là Bạch đàn trắng camal (Eucalyptus
camaldulensis), Bạch đàn trắng têrê (Eucalyptu tereticornis) Bạch đàn uro
(Eucalyptu urophylla), và các loài Eucalyptu grandis, Eucalyptu pelita,
Eucalyptu cloeziana, v.v…Đến nay chúng ta đã biết được một số xuất xứ có
triển vọng nhất của một số loài như Pinus caribaea var.hondurensis, Pinus
kesiya, Eucalyptus camaldulensis, Eucalyptu tereticornis, Eucalyptu urophylla,
v.v Đây là cơ sở cho việc xây dựng các chương trình trồng rừng Việt Nam (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng, 2003) [5].
Trong những năm 1980 bên cạnh việc tiếp tục xây dựng các khảo nghiệm loài – xuất xứ cho các loài Bạch đàn, một loạt khảo nghiệm cho các
Trang 19loài Keo vùng đồi thấp đã được xây dựng ở nhiều nơi trong nước Đó là các
loài Keo lá tràm (A.auriculiformis), Keo tai tượng (A mangium), Keo lá liềm (A.crassicarpa), Keo nâu (A.aulococarpa) và Keo quả xoắn (A.cincinnata).
Qua một thời gian khảo nghiệm đến nay chúng ta đã biết những loài có triển
vọng cho các chương trình trồng rừng là A.mangium, A.crassicarpa và
A.auriculiformi (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng, 2003) [5].
Từ năm 1993 khảo nghiệm cho hơn 10 loài Keo chịu hạn như A.tumida,
A.difficilis, A.torulosa, v.v… đã được xây dựng tại Tuy Phong (lượng mưa
700-800 mm/năm) thuộc tỉnh Bình Thuận và Ba Vì (lượng mưa 1650mm/năm) thuộc
tỉnh Hà Tây Các xuất xứ thuộc 25 loài Keo vùng cao như A.maernsii,
A.melanoxylon, v.v… cũng được xây dựng tại Đà Lạt (1600m trên mặt biển ) và
núi Ba Vì (600m trên mặt biển) và một số nơi khác (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng, 2003) [5].
Cũng trong thời gian này một bộ giống gồm 38 xuất xứ Phi lao
(Casuarina equisetifolia) đã được xây dựng ở vùng cát ven biển thuộc các
tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nam và Bình Thuận, gần đây là khảo
nghiệm xuất xứ cho Phi lao đồi (Casuarina junghuniana) tại Đà Nẵng và Ba
Vì (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng, 2003) [5].
Trong các năm 1994 - 1995 một loạt các khảo nghiệm xuất xứ cho các
loài Tràm như Melaleuca leucadendra, Melaleuca cajuputi, v.v… cũng được
xây dựng trên vùng đất ngập phèn ở một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng, 2003) [5].
Gần đây nhất là một số khảo nghiệm xuất xứ cho Xoan chịu hạn
(Azadirachtaindica) được xây dựng ở Ba Vì và Truy Phong (Lê Đình Khả và
Dương Mộng Hùng, 2003) [5].
Có thể nói, khảo nghiệm loài và xuất xứ ở nước ta được tiến hành tương đối chậm, song đã thực hiện cho nhiều loài cây trồng rừng chủ yếu trên các vùng sinh thái chính với một nhịp độ khá khẩn trương Từ đó đã xác định
Trang 20được một số xuất xứ có triển vọng nhất của một số loài, làm cơ sở cho các chương trình trồng rừng ở Việt Nam.
Đối với cây Keo, các khảo nghiệm giống để tìm ra một số loài Keo thích hợp cho trồng rừng ở vùng thấp và trung du ở Việt Nam (như Keo tai tượng
Acacia mangium , Keo lá tràm Acacia mangium và Keo lai) đã được nghiên cứu
và nhiều công trình đã được xuất bản Thông tin cho các loài Keo thích hợp cho vùng trung du và vùng cao đặc biệt là vùng núi phía Bắc là rất hạn chế
Các khảo nghiệm giống về các loài Keo đã có từ trước đến nay, gồm: Khảo nghiệm loài/xuất xứ Keo vùng thấp được tiến hành tại Đại Lải (Vĩnh Phúc), Ba vì Hà Nội (Hà Tây cũ), Đông Hà (Quảng Trị), Sông Mây (Đồng Nai), Bầu Bàng (Bình Dương) Khảo nghiệm này tập trung vào khảo nghiệm
5 loài Keo (Keo lá tràm A auriculiformis, Keo tai tương A.mangium, Keo lưới liềm A crassicarpa; Keo nâu A.aulacocarpa; Keo quả xoắn A.
cincinnata) có nguồn gốc giống từ Úc, Papua New Guinea và Indonexia với
nhiều xuất xứ khác nhau.
Khảo nghiệm Keo lai được tiến hành tại Ba Vì Hà Nội (Hà Tây cũ), Đại Lải (Vĩnh Phúc), Bình Thanh (Hòa Bình), Hàm Yên (Tuyên Quang), Đông
Hà (Quảng Trị), Quy Nhơn (Bình Định), Long Thành (Đồng Nai), Sông Mây (Đồng Nai).
Khảo nghiệm Keo vùng cao được tiến hành tại Đà Lạt (Lâm Đồng) có xuất xứ từ Úc.
Khảo nghiệm xuất xứ Keo chịu hạn được tiến hành tại Tuy Phong (Bình Thuận) và Ba Vì (Hà Tây).
Kết quả của các khảo nghiệm giống nêu trên trong suốt nhiều năm qua
đã chỉ ra được một số xuất xứ của các loài Keo có triển vọng ở vùng thấp của Việt Nam Trong đó các loài như Keo tai tượng, Keo lá tràm được đánh giá khả quan nhất Tuy nhiên, việc khảo nghiệm giống đã được triển khai ở phạm
vi rộng của cả 3 miền Bắc, Trung, Nam tuy nhiên chỉ tập trung ở một địa
Trang 21phương trọng điểm mà ở đó có đại diện của mạng lưới các trung tâm nghiên cứu giống cây rừng quốc gia thuộc Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Việt Nam Điểm hạn chế của các khảo nghiệm này chỉ dựa vào một số thí nghiệm tại một
số tỉnh đại diện cho các vùng miền (Bắc, Trung, Nam) của Việt Nam Trong khi đó, sự đa dạng và phức tạp của địa hình đặc biệt khu vực miền núi phía bắc
và tiểu khí hậu của từng tỉnh, thậm chí trong phạm vị từng huyện nên các kết quả của khảo nghiệm còn thiếu cơ sở khoa học và tính thuyết phục trong việc lựa chọn giống tốt còn hạn chế.
Hơn nữa, với Keo lai thì các khảo nghiệm các dòng lai được tiến hành
Ba Vì Hà Nội (Hà Tây cũ), Đông Nam Bộ, với khoảng 20 dòng Kết quả đã chỉ ra được một số dòng có triển vọng
Chất lượng giống là những yếu tố rất quan trọng trong trồng rừng thâm canh Giống tốt được cải thiện thì năng suất rừng được nâng cao Trong thực
tế cho thấy cây rừng nói chung chọn được giống tốt thì sản lượng gỗ có thể tăng từ 15 – 20% đối với giống lai đã được chọn lọc có thể tăng từ 40 – 90% so với giống bố mẹ Vì vậy cải thiện giống cây rừng nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác Trong năm 1993 Bộ NN&PTNT đã có quyết định ban hành “ Quy phạm xây dựng rừng giống và vườn giống” “Quy phạm xây dựng rừng giống chuyển hóa” trong đó quy hoạch rõ các tiêu chuẩn về chọn lọc xuất xứ giống và cây giống cũng như các phương pháp khảo nghiệm giống và xây dựng rừng giống.( Lê Đình Khả, 2006).
Bắt đầu từ những năm 1980 trở lại đây hoạt động cải thiện giống cây rừng mới được đẩy mạnh trong cả nước Các hoạt động trong thời gian đầu chủ yếu là khảo nghiệm loài và xuất xứ các loài cây trồng rừng chủ yếu là khảo nghiệm loài tại một số vùng sinh thái chính trong nước như Keo, Phi lao, Bạch đàn vào đầu những năm 1990 phát hiện ra giống Keo lai tự nhiên giữa Keo lá tràm và Keo tai tượng đã thúc đẩy các khảo nghiệm chọn lọc
Trang 22nhân tạo và nhân giống vô tính phát triển Trong những năm gần đây, trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, trung tâm phất triển lâm nghiệp Phù Ninh - Phú thọ thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam cùng một số cơ sở nghiên cứu khác đã nghiên cứu thành công giống nhân tạo cho các loại Keo, Bạch đàn và Thông (Lê Đình Khả, 2003) [16] trong hơn 10 năm gần đây công tác nghiên cứu giống đã đạt được những thành công đáng kể Đã có 4 dòng có năng xuất cao và thích hợp với nhiều vùng sinh thái và được Bộ NN&PTNT cộng nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia là: BV10, BV16, BV32, BV33 (Lê Đình Khả 1999)[17] Gần đây cũng có một số dòng được BNN &PTNT công nhận giống tiến bộ kỹ thuật TB3, TB5, TB6, TB12, BT1, BT7, BT11, BV71, BV73… ( Lê Đình Khả , 2006) )[12].
Lai giống nhân tạo giữa các cây trội đã được chọn lọc từ các xuất xứ có triển vọng cao nhất của Keo tai tượng và Keo lá tràm cùng một số Keo lai tự nhiên như BV10, BV16, BV32… đã được thực hiện trong các năm 1997 –
1999 Ba Vì Những tổ hợp lai này có sinh trưởng tương đối nhanh ,có thân cây thẳng, cành nhánh nhỏ, ngọn cây phát triển tốt đây chính là tiền đề phát triển gỗ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong nước cũng như xuất khẩu trong những năm tới.
1.2.3 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng
Nghiên cứu điều kiện lập địa là nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng sinh trường của thực vật rừng với các yếu tố của môi trường thông qua khí hậu, đất đai, địa hình nhằm tìm hiểu các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng và quyết định tới sự hình thành các kiểu quần thể thực vật khác nhau và năng suất sinh trưởng của chúng Đã có nhiều công trình nghiên cứu, điển hình là nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (1994) [32], khi đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ, tác giả đã căn cứ 3 nội dung cơ
Trang 23bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau đó là đơn vị sử dụng đất, tiềm năng sản xuất của đất và độ thích hợp của cây trồng.
Nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ, Phan Thế Dũng và Hồ Văn Phúc (2004) đã chỉ ra rằng Keo lai cho năng xuất khác nhau trên các điều kiện lập địa khác nhau Sau 7 năm trồng năng suất cao nhất đạt 33m3/năm/ha trên đất feralit đỏ vàng và trên đất khác đạt năng xuất khác nhau.
Như vậy trên các loại đất khác nhau thì khả năng sinh trưởng cũng khác nhau mặc dù được áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh như nhau nhưng trên đất đỏ feralit Keo lai sinh trưởng tốt hơn.
1.2.4 Ảnh hưởng của phân bón đến năng xuất và chất lượng rừng trồng
Phân bón là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh quan trọng nhằm làm ổn định, tăng năng suất và chất lượng rừng trồng Phân bón bổ xung dinh dưỡng cho đất và hỗ trợ cho cây trồng sinh trưởng nhanh trong giai đoạn đầu, làm tăng sức đề kháng của cây đối với các điều kiện bất lợi của môi trường.
Đối với việt nam đã có rất nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu điển hình có công trình nghiên cứu bón phân cho Keo lai ở Cẩm Qùy (Ba Vì) của Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh (1998) [18] Thí nghiệm được thực hiện trên đất feralit phát triển trên đá mẹ sa thạch có tầng đất mỏng (30 – 50cm) thí nghiệm được tiến hành với biện pháp thâm canh cày đất toàn diện và bón phân với 8 công thức khác nhau Kết quả là công thức bón phân phối hợp 2kg phân chuồng với 100gam phân themophotphat cho 1 gốc cây thì cho sinh trưởng tốt nhất tiếp theo đến công thức bón 1kg phân chuồng với 100g themophotphat cho 1 gốc cây Tác giả còn cho thấy rừng trồng Keo lai được bón lót 100g NPK/cây và bón thúc 100gNPK/cây vào năm thứ 2 cho lượng tăng trưởng cao hơn rừng chỉ bón lót khi trồng Như công trình nghiên cứu của Nguyễn Huy Sơn nghiên cứu bón phân cho Bạch đàn Urophylla ở Đại Lải
- Vĩnh Phúc năm 2006 [30] với 8 công thức thí nghiệm bón lót khác nhau và bón thúc năm thứ 2 vào đầu mùa mưa lặp lại như khi bón lót Sử lý thực bì và
Trang 24làm đất toàn diện bằng cơ giới, cày toàn diện sâu 25cm, cày rạch hàng sâu 40cm, sau 6 tháng trồng thu được kết quả cho thấy tỷ lệ sống các công thức thí nghiệm đều cao Sau 30 tháng tuổi tỷ lệ sống vẫn đạt từ 97,22 – 98,15% khả năng sinh trưởng của Bạch đàn Urophylla khá nhanh và rõ rệt rệt giữa các công thức thí nghiệm cả về đường kính lẫn chiều cao, sau 6 tháng tuổi đường kính gốc đạt từ 2,54 - 3,14cm và chiều cao đạt từ 1,87 - 2,06m; sau 30 tháng tuổi, đường kính ngang ngực đạt từ 6,32 - 7,23cm và chiều cao đạt từ 8,21 - 9,66m Kết quả nghiên cứu cho thấy, công thức bón phân tốt nhất thuộc về các công thức có mặt đồng thời cả phân NPK, vi sinh và vôi bột Cụ thể đối với nghiên cứu trên thì khi bón lót và bón thúc tốt nhất là ở công thức 100g NPK (5:10:3) + 200g vi sinh + 100g vôi bột Như vậy việc bón phân là rất cần thiết đối với trồng rừng và điều quan trọng nữa là phải xác định đúng loại phân, đúng thời vụ, đúng liều lượng Bón phân cho rừng trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh đã được nghiên cứu nhiều nhất Các tác giả đều kết luận rằng phân bón có ảnh hưởng khá rõ đến sinh trưởng của các loài cây trồng, đặc biệt là đối với các loài cây trồng rừng nguyên liệu
1.2.5 Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất và chất lượng rừng trồng
Nếu mật độ quá cao sẽ ảnh hưởng xấu tới khả năng sinh trưởng của cây trồng, nếu mật độ quá thấp sẽ lãng phí đất và tốn công chăm sóc Để tận dụng tối đa không gian dinh dưỡng thì việc xác định mật độ trồng rừng ban đầu có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm làm giảm chi phí trồng rừng và nâng cao năng suất rừng trồng như mong muốn
Mật độ trồng rừng là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất
và chất lượng của rừng trồng.Với những mục đích trồng rừng khác nhau và điều kiện lập địa khác nhau ta phải bố trí làm sao cho hợp lý mật độ để cho cây có điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt nhất
Để làm rõ vấn đề này, Phạm Thế Dũng và các cộng sự (2004) [7] khi đánh giá năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ, đã khảo sát trên
4 mô hình có mật độ trồng ban đầu khác nhau (952 cây/ha, 1.111 cây/ha, 1.142 cây/ha và 1.666 cây/ha) Kết quả phân tích cho thấy, sau 3 năm trồng
Trang 25cho năng suất cao nhất ở rừng có mật độ 1.666 cây/ha (21m3/ha/năm); năng suất thấp nhất ở rừng có mật độ 952 cây/ha (9,7m3/ha/năm) Tác giả đã khuyến cáo rằng đối với Keo lai ở khu vực Đông Nam Bộ nên bố trí mật độ ban đầu trong khoảng 1.111cây/ha - 1.666cây/ha là thích hợp nhất Đối với rừng trồng làm nguyên liệu giấy nên thiết kế mật độ trồng ban đầu là 1.428 cây/ha; rừng trồng phục vụ cho mục đích lấy gỗ nhỡ và nhỏ nên trồng với mật
độ 1.111 cây/ha.
Nguyễn Huy Sơn (2006) [30] về xác định mật độ trồng Keo lai thích hợp trên đất feralit phát triển trên phiến thạch sét ở Quảng Trị, Các thí nghiệm được bố trí với 3 công thức mật độ khác nhau (1.330 cây/ha, 1.660 cây/ha, 2.500 cây/ha) Kết quả phân tích cho thấy sau 1 năm trồng tỷ lệ sống khá cao, đạt từ 98,15 - 100%, sau 2 năm tỷ lệ sống ở các công thức thí nghiệm có giảm nhưng vẫn đạt từ 91,67 - 93,52% Khả năng sinh trưởng tốt nhất ở công thức mật độ 1.660cây/ha và kém nhất ở công thức mật độ 2.500 cây/ha.
Với các quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh cung cấp nguyên liệu giấy ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã qui định mật độ trồng cho một số loài Thông, Keo lá to và Bồ đề là từ 1.200 - 1.500 cây/ha; Bạch đàn là 1.000
cây/ha; Qui trình trồng rừng thâm canh Bạch đàn E.urophylla cũng qui định
mật độ trồng từ 1.110 - 1.660 cây/ha; Qui phạm kỹ thuật trồng rừng Tếch qui định trồng thuần loài từ 2.000 - 2.500 cây /ha, trồng xen có thể trồng từ 1.000
- 1.250 cây/ha (Vụ KHCN&CLSP, 2001).Mật độ trồng các loại Keo từ 1.110
- 1.660 cây/ha (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2005) [3]
Với những quy trình quy phạm đã quy định cho các loại mật độ cụ thể cho mốt số loại trồng rừng thâm canh và đã áp dụng có hiệu quả tương đối cao nhưng cũng chưa ổn định.
Ngoài ra đặc điểm gỗ cũng chịu ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật gây trồng cũng như điều kiện lập địa, đồng thời liên quan chặt chẽ tới các sản phẩm hàng hoá Cấu tạo gỗ là yếu tố chủ yếu nhất ảnh hưởng đến tính chất
gỗ Cấu tạo và tính chất liên quan mật thiết với nhau, cấu tạo có thể xem là biểu hiện bên ngoài của tính chất Những hiểu biết về cấu tạo gỗ là cơ sở để
Trang 26giải thích bản chất các hiện tượng sản sinh trong quá trình gia công chế biến
và sử dụng gỗ (Lê Xuân Tình 1998) [33] Gần đây đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, điển hình là nghiên cứu của Lê Đình Khải (1999) [19] về tiềm năng bột giấy của một số dòng Keo lai ở nước ta, nghiên cứu đã chỉ ra rằng
gỗ Keo lai có tỷ trọng trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm, có khối lượng gấp 3 - 4 lần so với giống bố mẹ Ở giai đoạn 4-5 tuổi, tỷ trọng gỗ của Keo lai trung bình khoảng 0,455g/cm3, trong khi đó Keo tai tượng là 0,414g/cm3, keo lá tràm là 0,469 g/cm3 Các dòng Keo lai được lựa chọn có
tỷ trọng gỗ và tính chất co rút của gỗ khác nhau, trong đó các dòng BV32, BV33 có tỷ trọng cao nhất, dòng BV16 gỗ không bị nứt khi phơi khô Cũng với kết quả nghiên cứu về tiềm năng sử dụng gỗ Keo lai và những điều cần lưu ý trong trồng rừng.
1.3 Những nghiên cứu về cây Keo lai (Acacia hybrids)
1.3.1 Đặc điểm cây Keo lai ( A Hybrids)
* Đặc điểm khoa học
Giới (regnum): Thực vật (Plantate)
Bộ (ordo): Đậu (Fabales)
Họ (familia): Đậu (Fabaceae)
Phân họ (subfamilia): Trinh nữ (Mimosoideae)
Chi (genus): Keo (Acacia)
Loài (species): Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis)
Cây Keo lá tràm và cây Keo tai tượng được nhập vào nước ta từ những năm 1960 nhưng mãi đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước Cây Keo lai được chấm phá đầu tiên vào năm 1972 bởi 2 nhà khoa học Hepbum và Ghim tháng một quần thụ ven biển vùng Sabah, Malaysia Nam 1976, M.Tham đã
kết luận thông qua việc thụ phấn chéo giữa Keo tai tượng (Acacia mangium)
và Keo lá tràm (A auriculifonnis) sẽ tạo ra được cây Keo lai có sức sinh
trưởng nhanh hơn cầy bố mẹ Kết luận trên cũng đã được xác nhận bởi kết quả nghiên cứa của Pedley năm 1987 Sau đó hàng loạt các công trình nghiên
Trang 27cứu của các nhà khoa học khác về năng lực sản xuất hạt giống, chất lượng gỗ, đặc tính di truyền, sự ra hoa kết quả của Keo lai vv đã được công bố rộng rãi.
Cho đến nay, Keo lai đã được khẳng đinh là loài cây có khả năng chịu đựng được khô hạn, tăng trưởng nhanh và ưu việt hơn Keo lá tràm kể cả trên đất cát nghèo dinh dưỡng Việc đẩy mạnh trồng rừng phòng hộ và rừng kinh tế bằng keo lai vô tính nhằm thay thế dần cây keo lá tràm để tạo ra các quần thể rừng trồng chất lượng cao, trước hết là đối với dự án trồng rừng 661 trong đó Keo lai giữ vai trò là cây tiên phong đang là giải pháp hữu hiệu của lâm nghiệp nước ta trong trồng rừng Acacia hiện nay
* Đặc điểm hình thái: Keo lai là sự kết hợp giữa Keo tai tượng (Acacia
mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) Keo lai là cây gỗ nhỡ
thường xanh cao tới 20-30m, đường kính có thể đạt tới 60 – 80cm Thân tròn thẳng, tám rộng phân cành thấp, vỏ màu xám nâu nứt dọc Cây con dưới một tuổi lá kép lông chim hai lần, cây trưởng thành lá đơn hình trái xoan dài hoặc hình ngọn giáo, đầu tù men thao cuống, phiến lá dày nhẵn bông, có 3 – 5 gân dọc gắn song song chụm lại ở đuôi lá, các gân nhỏ song song xen giữa các gân chính Hoa tự bông dài mọc lẻ hay mọc tập trung ở nách lá hay ở đầu cành Hoa đều lưỡng tính mẫu 4, tràng hoa màu vàng, nhị hoa thường vươn dài ra ngoài hoa Quả đậu xoắn, hạt hình trái xoan, hơi dẹt, màu đen Rễ cây mọc rộng có nhiều nốt sần cố định đạm
* Đặc điểm sinh thái :
Keo lai là cây mọc nhanh ở vùng Đông Nam Bộ sau 5 năm tuổi Keo lai
có khả năng sinh trưởng nhanh cả về đường kính và chiều cao, đường kính trung bình có thể đạt tới 12.8cm và chiều cao trung bình có thể đạt tới 16.9m Keo lai loài cây ưa sáng, sống được ở nơi nhiệt độ bình quân là 220C tối thích
là 24 - 280C và giới hạn là 400C, lượng mưa 1500 - 2500mm/năm Đất đai chủ yếu trồng trên các loại đất Feralit tầng dày tối thiểu 75cm, đất phù sa cổ, đất xám bạc màu…Mùa ra hoa quả gần như quanh năm (Lê Mộc Châu và Vũ Văn Dũng, 1999)
Trang 28* Phân bố địa lý: Keo Lai đã xuất hiện trong các rừng Keo Tai tượng vào đầu những năm 1990 ở một số vùng nước ta, sau đó được gây trồng để lấy giống ở Ba Vì, Hà Tây Ở nước ta cây Keo lai được gây trồng rộng rãi trên toàn quốc những năm gần đây Cây mọc hầu hết các dạng đất thích hợp nhất
là từ Quảng Bình trở ra.
* Giá trị kinh tế: Keo lai thuộc họ đậu nên có tác dụng cải tạo đất tốt,
chống xói mòn Gỗ thẳng màu trắng có vân, có lõi giác phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt Kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mỹ nghệ, hàng xuất khẩu Gỗ cho nhiệt lượng cao có thể sử dụng làm củi hoặc than chạy máy Cây có hình dáng đẹp có thể trồng làm rừng phong cảnh.
Kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Quang (2002) tại đề mục "Xác định lập địa phục vụ trồng rừng công nghiệp cho một số vùng sinh thái ở Việt Nam" thuộc đề tài khoa học KC 06.05.NN "Nghiên cứu các giải pháp công nghệ phát triển nguyên liệu gỗ cho xuất khẩu", cho thấy Keo lai phân bố ở 1o
vĩ nam đến 18o vĩ nam độ cao so với mặt biển từ 0 - 600m, lượng mưa trung bình năm > 800mm, chế độ mưa: Mưa mùa hè, mùa khô kéo dài 0-7 tháng, nhiệt độ trung bình năm > 20oc, nhiệt độ tháng nóng nhất 37oc, nhiệt độ tháng lạnh nhất 6oc, nhiệt độ tối thấp từ 0 - 6oc.
Loài Keo lai không kén chọn loại đất, chúng có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau: Đất Acid, đất granit, feralit, đất xám, đất đỏ, đất bồi tụ, đất nhiệt đới, đất thoát nước tốt, đất chua, đất nông, đất sét pha, thịt nặng, cấu tượng đất: Trung bình, nặng, độ thoát nước tự do, úng theo mùa, phản ứng đất, đất chua, đặc biệt chịu được trên đất bạc màu, có thể chịu được úng và có khả năng cố định đạm.
So với đặc điểm khí hậu và đất đai ở vùng Đông Bắc nói chung và khu vực tỉnh Phú Thọ nói riêng thì cây Keo lai hoàn toàn phù hợp, có khả năng sinh trưởng phát triển tốt và đặc biệt khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng sẽ cho năng xuất cao.
Trang 29Ở Việt Nam cây Keo lai tự nhiên được Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn và các cộng sự thuộc Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (RCFTI) phát hiện đầu tiên tại Ba Vì và vùng Đông Nam Bộ vào năm 1992 Tiếp theo đó, từ năm
1993 cho đến nay Lê Đình Khả và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về cải thiện giống cây Keo lai, đồng thời đưa vào khảo nghiệm một số giống keo lai
có năng xuất cao tại Ba Vì được ký hiệu là BV Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh cũng chọn lọc một số dòng được ký hiệu là KL.
Lê Đình Khả và cộng sự (1993, 1995, 1997, 2006) [12, 13, 14, 15 ] khi nghiên cứu về các đặc trưng hình thái và ưu thế lai của Keo lai đã kết luận Keo lai có tỷ trọng gỗ và nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa hai loài bố
mẹ Keo lai có ưu thế lai về sinh trưởng so với Keo tai tượng và Keo lá tràm, điều tra sinh trưởng tại rừng trồng khảo nghiệm 4-5 năm tuổi ở Ba Vì (Hà Tây cũ) cho thấy Keo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo tai tượng từ 1,2 đến 1,6 lần
và cao từ 1,3 - 1,8 lần về đường kính, gấp 2 lần về thể tích Tại Sông Mây (Đồng Nai) ở rừng trồng sau 3 năm tuổi Keo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo lá tràm 1,3 lần về chiều cao, 1,5 lần về đường kính Một số dòng vừa có sinh trưởng nhanh vừa có các chỉ tiêu chất lượng tốt đã được công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật là các dòng BV15, BV10, BV16, BV32, BV33 Khi nghiên cứu sự thoái hoá và phân ly của cây Keo lai, Lê Đình Khả (1997) [11] đã khẳng định: Không nên dùng hạt của cây Keo lai để gây trồng rừng mới Keo lai đời F1 có hình thái trung gian giữa hai loài bố mẹ và tương đối đồng nhất, đến đời F2 Keo lai có biểu hiện thoái hoá và phân ly khá rõ rệt, cây lai F2 sinh trưởng kém hơn cây lai F1 và có biến động lớn về sinh trưởng.
Do đó để phát triển giống Keo lai vào sản xuất thì phải dùng phương pháp nhân giống bằng hom hoặc nuôi cấy mô từ những dòng Keo lai tốt nhất đã được công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật.
Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Rufelds (1988) GanE và SimboomLiang(1991) các tác giả đã chỉ ra rằng Keo lai xuất hiện lá giả sớm hơn Keo lá tràm ở cây con lá giả đầu tiên
Trang 30của Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4 – 5 Keo tai tương thường xuất hiện ở lá thứ 8 - 9 còn ở Keo lai thì thường xuất hiện ở lá thứ 5 - 6 Bên cạnh
đó là sự phát hiện về tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở các bộ phận sinh sản (Bowen, 1981) [38].
Theo nghiên cứu Rufelds (1987) [49] thì không tìm thấy một sự sai khác nào đáng kể của Keo lai so với các loài bố mẹ Các tính trạng của chúng đều thể hiện tính trung gian giữa hai loài bố mẹ mà không có ưu thế lai thực sự Tác giả đã chỉ rằng Keo lai hơn Keo tai tượng về độ tròn đều của thân, có đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành tự nhiên khá hơn Keo tai tượng, song độ thẳng thân, hình dạng tán lá và chiều cao dưới cành lại kém hơn Keo tai tượng Tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu Pinso Cyril và Robert Nasi (1991) [47] thì trong nhiều trường hợp cây Keo lai có xuất sứ ở Sapa vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng Về ưu thế lai thì có thể có nhưng không bắt buộc vì có thể bị ảnh hưởng của cả 02 yếu tố di truyền lẫn điều kiện lập địa Nghiên cúu cũng cho thấy rằng sinh trưởng của Keo lai tự nhiên đời F1 là tốt hơn, còn từ đời F2 trở đi cây sinh trưởng không đều và trị số trung bình còn kém hơn cả Keo tai tượng Khi đánh giá về các chỉ tiêu chất lượng của cây Keo lai Pinso và Nasi (1991) [47] thấy rằng độ thẳng của thân, đoạn thân dưới cành, độ tròn đều của thân đều tốt hơn bố mẹ và cho rằng Keo lai rất phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại
* Nhận xét chung
Tóm lại: Từ các công trình nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng cho một số loài cây trồng rừng nguyên liệu ngày càng tăng Đặc biệt đã có rất nhiều nghiên cứu khá sâu và khá toàn diện về cây Keo lai trong trồng rừng thâm canh nói riêng Tuy nhiên trên mỗi lập địa khác nhau thì kỹ thuật thâm canh cung phải khác nhau và các công trình nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh rừng trồng cũng chỉ mới nghiên cứu sâu trong những năm gần đây, thời gian theo dõi chưa được dài các kết quả cũng chỉ là bước đầu
Trang 311.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.4.1 Vị trí địa lý
Hình 1.1 Vị trí huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ
Trang 32Yên Lập là huyện miền núi ở phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm thành phố Việt Trì khoảng 70 km, phía Đông giáp huyện Cẩm Khê và huyện Tam Nông, phía Tây giáp huyện Văn Chấn (Yên Bái), phía Nam giáp huyện Thanh Sơn, Tân Sơn , và phía Bắc giáp huyện Hạ Hoà.
1.4.2 Địa hình
Yên Lập là huyện miền núi cao, địa hình đa dạng và phức tạp, có nhiều dãy núi cao, độ dốc lớn, hệ thống suối, khe, ngòi hẹp và dốc lại phân bố không đều làm cho địa hình bị phân cách mạnh Địa bàn huyện có thể phân thành 3 tiểu vùng chính
- Tiểu vùng 1: các xã vùng hạ huyện (vùng thấp): là vùng địa hình núi thấp, đồi cao gồm các xã Minh Hoà, Đồng Lạc, Ngọc Đồng, Ngọc Lập, Phúc Khánh phù hợp cho phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm (Chè) và cây nguyên liệu giấy, đồng thời sản xuất chế biến vật liệu xây dựng Tuy nhiên, do địa hình phân cách nên việc phát triển hệ thống thuỷ lợi gặp nhiều khó khăn.
- Tiểu vùng 2: các xã vùng Trung huyện (vùng giữa) gồm các xã Xuân Viên, Xuân Thuỷ, Hưng Long, Đồng Thịnh, Thượng Long, Thị trấn Yên Lập Đây là vùng thung lũng được tạo bởi hai sườn núi cao phía Đông và Tây Đất được hình thành do bồi tụ trong qúa trình phong hoá có thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt trung bình và thịt nặng, phù hợp cho phát triển sản xuất cây lương thực (Lúa, Ngô) theo hướng chuyên canh và thâm canh cao.
- Tiểu vùng 3: Các xã vùng Thượng huyện, gồm Mỹ Lung, Mỹ Lương, Lương Sơn, Xuân An, Nga Hoàng và Trung sơn Đây là vùng địa hình bị phân cách mạnh, một số khu vực đồi núi có độ dốc cao trên 25°, về mùa mưa thường xảy ra lũ quét, về mùa khô lại hay bị hạn Trong tiểu vùng có một số khoáng sản và một vài điểm danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử Do vậy tiểu vùng này phù hợp với phát triển lâm nghiệp với các loại cây lấy gỗ và
Trang 33cây đặc sản có giá trị kinh tế cao; phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp; phát triển dịch vụ du lịch và có thể khai thác quặng sắt ở Lương Sơn, Xuân An.
1.4.3 Khí hậu thủy văn
Yên Lập nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 22,5°C, cao nhất 39°C và thấp nhất 4-5°C Có hai mùa chính: Mùa đông lạnh và khô hạn, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau với nhiệt độ trung bình 14,2°-18°; mùa hè nóng và mưa nhiều, kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9 với nhiệt độ trung bình 28-30°C Lượng mưa trung bình năm là 1.570
mm Độ ẩm trung bình trong năm là 86-89%, cao nhất lên đến 90% vào tháng 7.8 và thấp nhất xuống đến 62% thường vào tháng 12 hàng năm.
Chế độ thuỷ văn phụ thuộc vào cấu tạo địa hình Mực nước trong các suối, khe, ngòi, hồ chưá nước trong địa bàn huyện lên xuống thất thường, đột ngột phụ thuộc vào các trận mưa lớn trong mùa mưa Mực nước tại các suối hàng năm là +25,45m, mực nước lũ lịch sử từng đạt đến +56,62 m Hàng năm thường xảy ra lũ ống gây ngập lụt cục bộ, có thể kéo dài đến 2 ngày tuỳ thuộc vào từng trận mưa lớn.
Trên địa bàn Huyện không có sông chảy qua, chủ yếu có các suối nhỏ đổ
ra ngòi (Ngòi Lao, Ngòi Giành) Ngòi Lao bắt nguồn từ Mũi Kim (tỉnh Yên Bái) chảy qua địa phận các xã Mỹ Lung, Mỹ Lương Ngòi Giành bắt nguồn từ Nghĩa Tâm (tỉnh Yên Bái) chảy qua địa phận các xã Trung Sơn, Xuân An, Xuân Viên, Lương Sơn, sang xã Phượng Vĩ (huyện Cẩm Khê) rồi
đổ ra Sông thao
Nhìn chung, chế độ khí hậu và thuỷ văn trên địa bàn tương đối khắc nghiệt, gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và cho đời sống của người dân trong Huyện.
Trang 341.4.4 Đất đai và tài nguyên
Tổng diện tích tự nhiên của Yên Lập trong giai đoạn 2010 - 2011 là 43783,65ha, chiếm 13,41% diện tích tự nhiên của tỉnh Phú Thọ Trong tổng diện tích đất tự nhiên năm 2012, đất nông nghiệp là 38460,65ha chiếm 84,07% Trong tổng diện tích đất nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp là 8277,19ha chiếm 22,79%; đất lâm nghiệp là 29678,02ha chiếm 76,09% và đất nuôi trồng thuỷ sản là 408,17ha chiếm 1,1% Trong diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm là 4334,19 ha, chỉ chiếm 51,7% (và chiếm 9,9% tổng diện tích đất tự nhiên), còn lại là đất trồng cây lâu năm Đất phi nông nghiệp của Huyện có 3582,83ha, chiếm 7,38% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất ở là 3582,83ha; đất chuyên dùng là 656,09ha, chủ yếu là đất quốc phòng an ninh với 1196,47ha và đất dùng vào mục đích công cộng 777.19
ha Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp chỉ có 82,34 ha, chiếm 3,98% diện tích đất chuyên dùng (và chỉ chiếm 2,55% diện tích đất phi nông nghiệp)
Đất chưa sử dụng của Huyện còn khá nhiều 3739,31 ha, chiếm 8,55% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất bằng có 260,1 ha, còn lại chủ yếu là đất đồi núi chưa sử dụng
Với quỹ đất như trên, huyện Yên Lập có nhiều thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt là cây lâm nghiệp và cây công nghiệp lâu năm Quỹ đất chưa sử dụng còn nhiều, có thể đáp ứng nhu cầu mở rộng quỹ đất chuyên dùng để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội trong Huyện trong tương lai.
Trang 35Biểu 1.1: Tình hình đất đai của huyện Yên Lập năm 2010 - 2011
chuyên dung
Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Yên Lập
Trên địa bàn huyện Yên lập có 19 mỏ và điểm quặng với trữ lượng không nhiều, nằm rải rác ở các xã trong huyện, trong đó có 10 mỏ đá (ở xã Phúc Khánh, Ngọc Lập, Xuân Thuỷ, Mỹ Lung, Mỹ Lương, Trung Sơn); 2 mỏ than bùn (ở Thị trấn Yên Lập và xã Nga Hoàng); 3 mỏ quặng sắt (ở Lương Sơn, Xuân Thuỷ và Thị trấn Yên Lập); 3 mỏ chì kẽm (ở Đồng Thịnh, Phúc Khánh); 1 mỏ chì bạc (ở Thượng Long) Ngoài ra, trên địa bàn Huyện còn có một số khoáng chất công nghiệp, khoáng sản làm vật liệu xây dựng như Đolomit, Pirit, cát, sỏi ) Với nguồn khoáng sản này, Huyện có tiềm năng phát triển công nghiệp khai thác khoáng sản qui mô nhỏ trong tương lai nhằm
Trang 36phục vụ cho nhu cầu đời sống nhân dân trong Huyện nói riêng và phát triển kinh tế đất nước nói chung.
Nguồn nước ngầm trong địa bàn có trữ lượng nhỏ, chủ yếu được khai thác tự phát trong các khu dân cư để đáp ứng nhu cầu dân sinh, chưa được quản lý sử dụng một cách có hiệu quả.
1.5 Thực trạng kinh tế - xã hội
1.5.1 Dân số và nguồn lao động
Năm 2010, Yên Lập có số dân là 83.525 người, trong đó nữ 42.029 người, chiếm 50,66% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân trong giai đoạn 2007-20010 là 1,117%/năm Mật độ dân số năm 2010 là 190 người/Km², là huyện thưa dân thứ hai của tỉnh Phú Thọ Trong địa bàn huyện có 13 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Mường chiếm khoảng 70%, dân tộc Dao chiếm khoảng 3%, dân tộc Kinh chiếm khoảng 17%, còn lại là các dân tộc khác Nguồn lao động của huyện có 44.940 người, chiếm 54,16% tổng số dân trong huyện Nguồn lao động cơ bản có chất lượng không đồng đều, sản xuất chủ yếu dựa vào thói quen, kinh nghiệm; áp dụng khoa học công nghệ còn hạn chế Một bộ phận lao động trình độ văn hoá thấp khó tiếp cận kiến thức mới phục vụ sản xuất và đời sống Hiện có khoảng 1000 lao động đang đi làm việc ở nơi khác Đời sống của người dân trong huyện còn rất khó khăn Số hộ nghèo năm 2010 là 8572 hộ, chiếm 42,2% tổng số hộ trong toàn Huyện Đây
là một khó khăn, thách thức lớn cho Huyện trong phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ quy hoạch và trong những năm tiếp sau
1.5.2 Thực trạng về thị trường
Với vị trí địa lý xa trung tâm đô thị lớn, hệ thống giao thông, nhất là giao thông nội bộ chưa phát triển nên khả năng giao lưu hàng hoá của Yên Lập với các địa phương khác trong tỉnh và với các tỉnh khác trong vùng còn nhiều hạn chế Đây là một bất lợi lớn cho huyện trong phát triển kinh tế Tuy nhiên, nếu
hệ thống giao thông được nâng cấp thì khả năng tiếp cận thị trường của huyện
Trang 37sẽ được tăng cường, cơ hội cho phát triển sản xuất hàng hoá được mở rộng sẽ góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống của nguời dân
Ngoài ra, với quy mô dân số dự kiến sẽ tăng dần và đạt khoảng 97.385 người vào năm 2020, cùng với mức thu nhập ngày càng được cải thiện thì sức mua của người dân trong huyện cũng tăng lên Đây cũng là một tiềm năng lớn cho sự phát triển kinh tế của huyện.
* Nhận xét chung
Những thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
- Quỹ đất đai dồi dào, đặc biệt là đất chưa sử dụng còn nhiều, cho phép phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp (đặc biệt là kinh tế đồi rừng) và đáp ứng nhu cầu đất cho phát triển các lĩnh vực phi nông nghiệp.
- Tài nguyên thiên nhiên nhất là rừng khá phong phú cho phép khai thác các sản phẩm từ rừng và trồng rừng, cho phép phát triển công nghiệp chế biến gắn với phát triển nông, lâm nghiệp và phát triển công nghiệp khai thác đá, sắt qui mô nhỏ.
- Môi trường không khí trong lành cùng với một số phong cảnh thiên nhiên khá đẹp và bản sắc đa văn hoá các dân tộc Mường, Dao… là điều kiện thuận lợi cho pháp triển du lịch sinh thái - văn hoá trong tương lai.
- Nguồn lao động dồi dào, người dân hiền hoà, cần cù chịu khó, cho phép đáp ứng nhu cầu phát triển về mặt số lượng
Những khó khăn đối với phát triển kinh tế - xã hội
- Vị trí địa lý hẻo lánh, địa hình chia cắt nên giao thương hạn chế, khó thu hút đầu tư vào phát triển các lĩnh vực phi nông nghiệp, đặc biệt là các ngành dịch vụ.
- Địa hình tương đối phức tạp, cùng với chế độ khí hậu - thuỷ văn khắc nghiệt gây không ít khó khăn cho phát triển sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân.
Trang 38- Nguồn lao động chất lượng không đồng đều, số lao động có trình độ chuyên môn cao còn hạn chế Đại bộ phận dân cư là đồng bào dân tộc thiểu số nên mặt bằng dân trí nói chung còn thấp, trình độ canh tác chưa cao.
- Cơ sở hạ tầng nhất là hạ tầng giao thông tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
- Tài nguyên khoáng sản ít nên tiềm năng phát triển công nghiệp hạn chế.
- Trình độ quản trị doanh nghiệp và trình độ quản lý nhà nước nói chung trên địa bàn còn hạn chế do chưa có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin, khoa học công nghệ và các thị trường lớn.
- Công nghệ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhìn chung còn ở trình độ thấp, sản phẩm tạo ra chưa có tính cạnh tranh cao trên thị trường.
- Kinh tế chủ yếu vẫn dựa vào nông, lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ mới chỉ phát triển chủ yếu ở khu vực trung tâm huyện và trung tâm cụm xã Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng giá trị sản xuất nhỏ nên vẫn dựa vào nguồn vốn ngân sách là chính.
- Các thiết chế văn hoá - xã hội còn nghèo nàn, trình độ của đội ngũ cán
bộ văn hoá - thông tin còn hạn chế.
Trang 39Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Giống cây Keo lai tự nhiên (Acacia Hybrids) là kết quả lai giữa Keo tai tượng (A.Magium) và Keo lá tràm (A.auriculifomis) Cây con được nhân
giống bằng phương pháp dâm hom gồm hỗn hợp các dòng BV5 , BV10, BV33.
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên đất Feralit phát triển trên phiến thạch sét tại huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ.
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Các thí nghiệm được bố trí tại huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2012 đến tháng 10/2013.
2.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng Keo lai
- Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng rừng trồng Keo lai
- Ảnh hưởng của thời điểm trồng rừng và kỹ thuật thâm canh đến sinh trưởng của rừng trồng Keo lai
- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng
gỗ trong trồng rừng thâm canh.
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa
Đề tài sử dụng phương pháp kế thừa (kế thừa mô hình thí nghiệm) kết hợp với phương pháp điều tra trên các ô tiêu chuẩn (OTC) định vị ngoài hiện
Trang 40trường để thu thập những số liệu cần thiết Diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 500m2 đảm bảo dung lượng mẫu (n) từ 32 - 49 cây/ÔTC, lặp lại 3 lần theo các
ô tiêu chuẩn đã được định vị Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học có sự trợ giúp của máy tính, ứng dụng phần mền Excel 5.0 (Ngô Kim Khôi, 1998) [20] và STSS 10.0 (Nguyễn Hải Tuất, 2003) [34].
2.4.2 Phương pháp điều tra
3/ Công thức 3: 100g NPK + 200g Vi sinh + 50g Vôi bột
4/ Công thức 10: Không bón phân (Đối chứng)
Các yếu tố khác như: cây giống, phương pháp xử lý thực bì và làm đất,