nước Châu Âu đã nghiên cứu và bước đầu đưa ra những ý kiến về xây dựng cácbăng xanh cản lửa và đai xanh phòng cháy rừng trên đó có trồng các loài cây lárộng; ở Nga đã thiết lập những băn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cháy rừng là một thảm họa thiên tai gây tổn thất to lớn, nhanh chóng về kinh tế
và môi trường sinh thái Nó tiêu diệt gần như toàn bộ các giống loài trong vùng bịcháy, thải vào khí quyển khối lượng lớn khói bụi cùng với những khí gây hiệu ứng nhàkính như CO, CO2, NO v.v… Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giatăng quá trình biến đổi khí hậu trái đất và các thiên tai hiện nay Ảnh hưởng của nókhông những tác động đến một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến khu vực và toàn cầu.Trong vài thập kỷ gần đây, biến đổi khí hậu với những đợt nắng nóng kéo dài, bấtthường đã làm cho cháy rừng trở thành thảm họa ngày càng nghiêm trọng Mặc dùcông tác phòng cháy, chữa cháy rừng ngày càng hiện đại nhưng cháy rừng vẫn khôngngừng xảy ra, thậm chí ngay cả ở những nước phát triển nhất Đấu tranh với cháy rừngđang được xem là một trong những nhiệm vụ cấp bách của thế giới để bảo vệ cácnguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống
Ở Việt Nam mỗi năm xảy ra hàng trăm vụ cháy thiêu hủy hàng ngàn ha rừng, gâythiệt hại lên đến hàng trăm tỷ đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái,…Theo báo cáo của Cục Kiểm Lâm từ năm 2005 - 2012, ở nước ta xảy ra 6.412 vụ cháyrừng, gây thiệt hại 42.607 ha, hàng năm Nhà nước phải giành một nguồn kinh phí khálớn cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) (chỉ tính riêng năm 2005, CàMau đã chi 6,5 tỷ đồng, Kiên Giang 2,4 tỷ đồng, Lâm Đồng 6 tỷ đồng, Gia Lai 1,4 tỷđồng,…) [1], [6], [7] Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều vụ cháy rừng gâynhiều tổn thất lớn về kinh tế, môi trường Năm 2002, Vụ cháy rừng Tràm ở Vườn QuốcGia U Minh Thượng và U Minh Hạ làm thiệt hại trên 5.200 ha rừng, chi phí cho công tácchữa cháy lên tới 7 - 8 tỷ đồng; năm 2007, tỉnh Yên Bái cháy 643 ha rừng, Lai Châucháy 230 ha,… Chỉ tính riêng đến tháng 3 năm 2007, cả nước bị cháy 512 ha, trong đó
có 237 ha rừng trồng phòng hộ Hiện nay, nước ta có hơn 333.000 ha rừng dễ cháy và rất
dễ cháy thuộc 114 vùng trọng điểm, trong đó có 35.000 ha là rừng trồng [7]
Rừng là một nguồn tài nguyên quan trọng đối với Việt Nam cũng như bất cứquốc gia nào trên thế giới, là nguồn sống của người dân và có vai trò quan trọng đối vớinền kinh tế và môi trường sinh thái: giữ đất, giữ nước, chống xói mòn rửa trôi, Bảo
vệ nguồn nước cho sinh hoạt, cho các hoạt động công nghiệp, tạo không khí trong lànhcho sự sống của con người, góp phần hạn chế thiên tai lũ lụt, Rừng cung cấp nguyên,
Trang 2vật liệu cho các ngành: chế biến lâm sản, ngành xây dựng, công nghiệp khai thác than,hoạt động du lịch, cung cấp các lâm sản quý Đặc biệt rừng có vai trò quan trọngtrong chiến lược thế trận quốc phòng toàn dân góp phần đảm bảo ổn định chính trị, trật
tự an toàn xã hội Vì vậy, cháy rừng với quy mô và mức độ thiệt hại nghiêm trọng đãtrở thành mối quan tâm không chỉ của những người làm lâm nghiệp hay những ngườisống gần rừng, có cuộc sống gắn bó với rừng mà của cả những nhà khoa học, nhữngnhà quản lý của nhiều ngành nhiều cấp và toàn xã hội Nhận thức được vấn đề đó,trong những thập kỷ qua Đảng và Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm đến công tácPCCCR từ việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đến việc tăng cườngthực hiện các biện pháp cấp bách về công tác PCCCR nhằm hạn chế đến mức thấp nhấtthiệt hại do cháy rừng gây ra
Huyện Sa Pa có tổng diện tích tự nhiên 68.329 ha, đất quy hoạch cho lâm nghiệp50.596,79 ha, đất có rừng 46.059,69 ha, đất trống là 4.537,1 ha, trong đó rừng đặcdụng 20.976 ha, rừng phòng hộ 19.126,47 ha, rừng sản xuất 10.494,11 ha, tỷ lệ che phủrừng đến 31/12/2012 đạt 67% Sa Pa là một trong những huyện có tỷ lệ che phủ rừngcao nhất tỉnh Lào Cao Đây cũng là nơi thường xảy ra cháy rừng hơn so với các huyệnkhác trong tỉnh, nguyên nhân chủ yếu là do người dân tự ý mang lửa vào rừng, đốtnương làm rẫy, không tuân thủ quy trình PCCCR Theo thống kê từ năm 2005 trở lạiđây trên địa bàn huyện Sa Pa xảy ra 25 vụ cháy rừng làm thiệt hại 813,95 ha rừng,trong đó rừng tự nhiên bị cháy là 782,9 ha, rừng trồng cháy là 31,1 ha; đặc biệt là vụcháy rừng năm 2010 và đầu năm 2012 tại Vườn Quốc gia Hoàng liên Sa Pa làm thiệthại hơn 700 ha rừng Có thể thấy số lượng các vụ cháy rừng ở huyện Sa Pa tuy khônglớn nhưng mức độ ảnh hưởng và tác động rất lớn, đặc biệt là trong 3 năm gần đây.Hiện nay, huyện Sa Pa đã chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền luật bảo vệ rừng,
tổ chức ký cam kết thực hiện nội quy, quy chế PCCCR nâng cao nhận thức của ngườidân và chủ rừng Tuy nhiên, số vụ cháy rừng vẫn tiếp tục xảy ra và có tính chất gia tăngtrước tình hình biến đổi khí hậu khác thường, nguy cơ xảy ra cháy rừng tại các khu vựcrừng giáp ranh giữa các huyện trong tỉnh và tỉnh Lai Châu là rất cao, hiệu quả của côngtác PCCCR chưa cao, do đó đã gây thiệt hại nhiều về tài nguyên rừng, kinh tế và môi
trường Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng cháy và chữa cháy rừng tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” đặt ra là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 32 Mục tiêu của đề tài
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề xuất được các giải pháp PCCCR cho huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, trong đóxác định được các công việc ưu tiên và các giải pháp làm giảm nguy cơ cháy rừng
4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
- Cháy rừng là một hiện tượng diễn ra phức tạp dưới ảnh hưởng tổng hợp củanhiều nhân tố Nghiên cứu PCCCR có nhiều nội dung, đòi hỏi đầu tư công sức vàkinh phí lớn Trong khuôn khổ luận văn này với những hạn chế nhất định về thờigian và điều kiện nghiên cứu, đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu hiện trạng tài nguyênrừng và tình hình thực hiện các biện pháp PCCCR trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnhLào Cai Liên quan tới vật liệu cháy, đề tài chỉ giới hạn trong việc xác định khốilượng thảm khô (vật rơi rụng) và sinh khối cây bụi, thảm tươi dưới tán rừng Đây làmột trong những cơ sở quan trọng để xây dựng phương án PCCCR phù hợp, sát vớitình hình thực tế ở địa phương
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cháy rừng là một hiện tượng phổ biến, thường xuyên xảy ra trên thế giới nóichung và ở Việt Nam nói riêng, nhiều khi nó là những thảm họa khôn lường, gâythiệt hại to lớn về người và tài nguyên rừng cũng như tài sản của người dân sốnggần rừng, Vì vậy, nghiên cứu phòng cháy chữa cháy rừng và giảm thiểu nhữngthiệt hại do nó gây ra đã được đặt ra như một yêu cầu cấp bách của thực tiễn vớihoạt động nghiên cứu khoa học Những nghiên cứu về PCCCR đã được tiến hành từnghiên cứu định tính đến định lượng, nhằm tìm hiểu bản chất của hiện tượng cháyrừng và mối quan hệ giữa các yếu tố gây ra cháy với nhau và với môi trường xungquanh, từ đó đề ra những giải pháp PCCCR phù hợp Tuy nhiên, với sự phức tạp vàkhác nhau về trạng thái rừng cũng như các điều kiện tự nhiên khác mà quy luật ảnhhưởng của các nhân tố đến cháy rừng và giải pháp PCCCR cũng không hoàn toàngiống nhau ở các địa phương
Vì vậy, mỗi khu vực, mỗi quốc gia thường phải tiến hành nghiên cứu trongđiều kiện cụ thể của mình để xây dựng được những giải pháp PCCCR có hiệu quảnhất Có thể điểm lại một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoàinước như sau
1.1 Tổng quan nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Nghiên cứu về phòng cháy, chữa cháy rừng trên thế giới được bắt đầu vào thế
kỷ 20, thời kỳ đầu chủ yếu tập trung ở các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ,Nga, Đức, Thụy Điển, Canada, Pháp, Úc v.v sau đó là ở hầu hết các nước có hoạtđộng lâm nghiệp Có thể chia 5 lĩnh vực chính của nghiên cứu PCCCR: bản chấtcủa cháy rừng, phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng, các công trình PCCCR,phương pháp chữa cháy rừng, và phương tiện chữa cháy rừng
1.1.1.1 Nghiên cứu về bản chất của cháy rừng
Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng, cháy rừng là hiện tượng ôxy hóacác vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao, nó xảy ra khi có mặt đồng thời của
3 thành tố là nguồn nhiệt, ôxy và vật liệu cháy Tùy thuộc vào đặc điểm của các yếu
tố nêu trên, cháy rừng có thể được hình thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy
Trang 5yếu đi (Brown A.A,1979; Chandler C., Cheney P., Thomas P., Trabaud L., WiliamsD., 1983) [22], [23] Vì vậy, về bản chất những biện pháp phòng cháy rừng chính lànhững biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng ngăn chặn và giảmthiểu quá trình cháy.
Các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng như sau:
(1) - Cháy dưới tán cây hay cháy mặt đất rừng: là trường hợp chỉ cháy mộtphần hay toàn bộ lớp cây bụi, cỏ khô và cành rơi lá rụng trên mặt đất;
(2) - Cháy tán rừng: là trường hợp lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang táncây khác;
(3) - Cháy ngầm: là trường hợp xảy ra khi lửa lan tràn chậm, âm ỉ dưới mặtđất, trong lớp thảm mục dày hoặc than bùn Trong một đám cháy rừng có thể xảy ramột hoặc đồng thời hai ba loại cháy trên và tùy theo loại cháy rừng mà người ta đưa
ra những biện pháp phòng và chữa cháy khác nhau (Brown A.A,1979; Gronquist R.,Juvelius M., Heikkila T., 1993; Mc Arthur A.G., Luke R.H.,1986; Timo V.Heikkila; Roy Gronquist; Mike Jurvelius, 2007) [22], [25], [28], [31]
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sựhình thành và phát triển của cháy rừng là thời tiết, loại rừng và hoạt động kinh tế -
xã hội của con người Thời tiết đặc biệt là lượng mưa (Lm), nhiệt độ không khí (Tkk),
độ ẩm không khí (Wkk) và tốc độ gió (Vg) ảnh hưởng quyết định đến tốc độ bốc hơi
và độ ẩm vật liệu cháy (Wvlc) rừng qua đó ảnh hưởng đến khả năng bén lửa và lantràn đám cháy Loại rừng ảnh hưởng tới tính chất vật lý, hóa học, khối lượng vàphân bố của vật liệu cháy qua đó ảnh hưởng đến loại cháy, khả năng hình thành vàtốc độ lan tràn của đám cháy và hoạt động kinh tế - xã hội của con người như: sảnxuất nương rẫy, săn bắn thú rừng và du lịch sinh thái,… đều có ảnh hưởng trực tiếpđến mật độ và phân bố nguồn lửa khởi đầu của các đám cháy Phần lớn các biệnpháp phòng cháy rừng đều được xây dựng trên cơ sở phân tích đặc điểm 3 yếu tốtrên trong hoàn cảnh cụ thể ở địa phương (Laslo Pancel Ed, 1993; Richmond R.R,1976) [27], [30]
1.1.1.2 Nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng
Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định mối liên hệ chặt giữa điều kiện thờitiết mà quan trọng nhất là lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm vật liệu cháy vàkhả năng xuất hiện cháy rừng Vì vậy, hầu hết các phương pháp dự báo nguy cơ
Trang 6cháy rừng đều tính đến đặc điểm diễn biến hằng ngày của lượng mưa, nhiệt độkhông khí, độ ẩm không khí (Chandler C, 1983; MiBbach K, 1972) [23], [29] Ởmột số nước khi dự báo nguy cơ cháy rừng (DBNCCR) ngoài căn cứ vào yếu tố khítượng còn căn cứ vào một số yếu tố khác; chẳng hạn, ở Đức và Mỹ sử dụng thêm độ
ẩm của vật liệu cháy (Brown A.A, 1979), ở Pháp tính thêm lượng nước hữu hiệutrong đất và độ ẩm của vật liệu cháy, ở Trung Quốc có bổ sung thêm cả tốc độ gió(Vg), số ngày không mưa và lượng bão hòa (Lbh),… Cũng có sự khác biệt nhất địnhkhi sử dụng các yếu tố khí tượng để DBNCCR; chẳng hạn: ở Thụy Điển và một sốnước ở bán đảo Scandinavia sử dụng độ ẩm không khí thấp nhất và nhiệt độ khôngkhí cao nhất trong ngày; trong khi đó, ở Nga và một số nước khác lại dùng nhiệt độkhông khí và độ ẩm không khí lúc 13 giờ (Brown A.A, 1979) [22] Năm 1920, hệthống cháy rừng ở Mỹ được đưa ra sử dụng và cho đến nay, nó đã được cải tiếntương đối hoàn chỉnh Hệ thống này, căn cứ chủ yếu vào mối quan hệ giữa nhiệt độkhông khí, độ ẩm không khí và độ ẩm vật liệu cháy để dự báo khả năng cháy rừngcho các loại vật liệu cháy khác nhau trên cơ sở phân loại vật liệu cháy ra các nhómchính và kết hợp quan sát điều kiện khí tượng, địa hình, độ ẩm vật liệu cháy từ đóđưa ra mô hình dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng và quy mô đám cháy (BrownA.A, 1979) [22] Trong những năm gần đây, ở Trung Quốc đã nghiên cứu phươngpháp cho điểm các nhân tố ảnh hưởng đến NCCR, trong đó có cả những yếu tố kinh
tế - xã hội và NCCR được tính theo tổng số điểm của các yếu tố (AsianBiodiversity, 2001) [20] Mặc dù, có những nét giống nhau nhưng đến nay, vẫnkhông có phương pháp DBNCCR chung cho cả thế giới mà ở mỗi quốc gia, thậmchí ở mỗi địa phương người ta vẫn nghiên cứu xây dựng phương pháp riêng Ngoài
ra, vẫn còn rất ít phương pháp DBNCCR có tính đến nhân tố kinh tế - xã hội và loạirừng Đây có thể là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả và hiệulực của phòng cháy rừng (PCR) ngay cả ở những nước phát triển
1.1.1.3 Nghiên cứu về công trình phòng cháy rừng
Kết quả nghiên cứu của thế giới đã khẳng định hiệu quả của các loại băng cảnlửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mương ngăn cản cháy rừng (GronquistR., Juvelius M., Heikkila T., 1993) [25] Người ta đã nghiên cứu tập đoàn cây trồngtrên băng cản lửa, trồng rừng hỗn giao và giữ nước ở hồ đập để làm giảm nguy cơcháy rừng Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều chuyên gia về lửa rừng ở một số
Trang 7nước Châu Âu đã nghiên cứu và bước đầu đưa ra những ý kiến về xây dựng cácbăng xanh cản lửa và đai xanh phòng cháy rừng trên đó có trồng các loài cây lárộng; ở Nga đã thiết lập những băng cây xanh chịu lửa khép kín với kết cấu nhiềuloài cây, tạo thành nhiều tầng để ngăn lửa cháy từ ngoài vào các khu rừng thông,bạch đàn, sồi,… Các nước khác tiến hành nghiên cứu vấn đề này, rất sớm và cónhiều công trình nhất vẫn là Đức, Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ, Mỹ, Canada,Nhật Bản và Trung Quốc,… (Phạm Ngọc Hưng, 2001) [12].
Nhìn chung, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu hiệu quả của nhiềukiểu công trình phòng cháy rừng Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa đưa ra được phươngpháp xác định tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình đó Những thông số kỹ thuậtđưa ra đều mang tính gợi ý và luôn được điều chỉnh theo ý kiến của các chuyên giacho phù hợp với đặc điểm của mỗi loại rừng và điều kiện địa lý, vật lý địa phương
1.1.1.4 Nghiên cứu về biện pháp phòng và chữa cháy rừng
Việc nghiên cứu các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng người ta chủ yếuhướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa:
(1)- Giảm nguồn lửa bằng nhiều cách: Tuyên truyền vận động không mang lửavào rừng, dập tắt tàn lửa sau khi dùng lửa, thực hiện các biện pháp dọn vật liệu cháytrên mặt đất thành băng, đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách đámcháy với phần rừng còn lại;
(2)- Đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn ẩm đểgiảm khối lượng vật liệu cháy trong rừng hoặc đốt theo hướng ngược với hướng lantràn để cô lập đám cháy Các công trình nghiên cứu về đốt trước làm giảm vật liệucháy đã được nhiều nước áp dụng ngay từ đầu thế kỷ XX Các nước tiến hànhnghiên cứu vấn đề này, rất sớm và có nhiều công trình nhất là Đức, Mỹ, Nga,Canada và Trung Quốc,… Đối tượng rừng được đưa vào đốt trước làm giảm vậtliệu có cả rừng tự nhiên và rừng trồng Thường các chủ rừng đốt theo đám ở nhữngdiện tích rừng có nhiều vật liệu cháy, có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùacháy, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng cháy lan đến khu rừng lân cận (BrownA.A,1979; Gronquist R., Juvelius M., Heikkila T., 1993; Mc Arthur A.G., LukeR.H.,1986) [22], [25], [28] Năm 1968, Stoddard - một trong những người đầu tiên
đề xuất ý kiến đốt rừng có kế hoạch nhằm giảm nguy cơ cháy, tăng sản lượng gỗ vàchim thú Năm 1968, Morris đã cho thấy, việc đốt cỏ gà Cynodon dadyion vào cuối
Trang 8mùa đông, đầu mùa xuân có tác dụng như bón phân làm tăng sản lượng sinh khối.
Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay, có một số nước đi đầu trong lĩnh vực lửarừng của thế giới như: Australia, Mỹ, Nga, Canada, Indonexia, Thái Lan,… đã cónhiều nghiên cứu và đưa ra được những quy trình đốt trước cho các khu rừng trồngthuần loài có nguy cơ cháy cao Biện pháp đốt trước có điều khiển đã được sử dụngtương đối phổ biến và được coi là biện pháp quan trọng trong công tác quản lý lửarừng ở những nước này Năm 1993, có một số tác giả người Phần Lan đã đưa ra cácvấn đề về khối lượng, độ ẩm vật liệu cháy, thời tiết, diện tích, địa hình và các vấn đề
về kinh phí, tổ chức lực lượng một cách khá toàn diện trong đốt trước có điều khiểncho các vùng rừng trọng điểm cháy dựa trên nghiên cứu về đặc điểm nguồn vật liệucháy và việc đốt thử trên những diện tích rộng lớn (Gronquist R., Juvelius M.,Heikkila T., 1993) [25]
(3)- Dùng chất dập cháy để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn cáchvật liệu cháy với ôxy không khí (nước, đất, cát, hóa chất dập cháy v.v…)
Nhìn chung, các nghiên cứu về vấn đề này, thường được tiến hành nhiều ở cácnước đang phát triển, như: Đức, Mỹ, Nga, Úc, Canada, Trung Quốc,… Còn cácnước đang phát triển trong đó có Việt Nam chủ yếu là nghiên cứu, áp dụng nhữngcông trình này, để phù hợp với điều kiện mỗi nước Vì vậy, cần có những nghiêncứu thực tế áp dụng cho công tác PCCCR ở mỗi quốc gia và mỗi địa phương
1.1.1.5 Nghiên cứu về phương tiện phòng cháy và chữa cháy rừng
Những năm gần đây các phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng được quantâm nghiên cứu, đặc biệt là phương tiện dự báo, phát hiện đám cháy, thông tin vềcháy rừng và phương tiện dập lửa trong các đám cháy
Các phương pháp dự báo đã được mô hình hóa và xây dựng thành những phầnmềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của công tác dự báo Việc ứngdụng viễn thám và công nghệ GIS đã cho phép phân tích dược những diễn biến thờitiết, dự báo nhanh chóng và chính xác khă năng xuất hiện cháy rừng và phát hiệnsớm lửa rừng trên vùng rộng lớn Những thông tin về khả năng xuất hiện cháy rừng,nguy cơ cháy rừng và biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng hiện nay được truyềnqua nhiều kênh khác nhau đến các lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng và cộngđồng dân cư như hệ thống biển báo, thư tín, đài phát thanh, báo địa phương và trungương, vô tuyến truyền hình, các mạng máy tính v.v…
Trang 9Những phương tiện dập tắt đám cháy rừng được nghiên cứu theo cả hướngphát triển phương tiện thủ công như cào, cuốc, dao, câu liêm đến các loại phươngtiện cơ giới như cưa xăng, máy kéo, mát gạt đất, máy đào rãnh, máy phun nước, náyphun bọt chống cháy, máy thổi gió, máy bay rải chất chống cháy và bom dập lửa v.v…Mặc dù các phương tiện chữa cháy rừng đã được nghiên cứu và phát triển ởmức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp ngay cả ở nhữngnước phát triển có hệ thống phòng cháy, chữa cháy rừng hiện đại như Mỹ, Úc, Nga,
… Trong nhiều trường hợp việc khống chế các đám cháy vẫn không hiệu quả Vìvậy, đã có những nghiên cứu về đặc điểm xã hội của cháy rừng và những giải pháp
xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng (Cooper, 1991) Hiện nay, các giải pháp xãhội phòng cháy, chữa cháy rừng chủ yếu được tập chung vào tuyên truyền, giáo dụctác hại của cháy rừng, nghĩa vụ của công dân trong việc phòng cháy, chữa cháyrừng, hình phạt dối với người gây cháy rừng Trong thực tế còn ít những nghiên cứu
về ảnh hưởng của thể chế và chính sách quản lý sử dụng tài nguyên, chính sách chia
sẻ lợi ích, những quy định của cộng đồng, những phong tục, tập quán, nhận thức vàkiến thức của người dân đến cháy rừng Cũng còn rất ít nghiên cứu về nguyên nhâncháy rừng do hậu quả sinh thái của sự phát triển kinh tế xã hội gây nên, về nhữnggiải pháp lồng ghép hoạt động phòng cháy, chữa cháy rừng với hoạt động phát triểnkinh tế và bảo vệ môi trường khác Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng giải phápkinh tế xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng
1.1.2 Ở Việt Nam
1.1.2.1 Nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng
Công tác DBNCCR ở Việt Nam được bắt đầu từ năm 1981 Tuy nhiên, trongthời gian đầu chủ yếu áp dụng phương pháp dự báo của V.G Nesterop (Ngô Quang
Đê, Lê Đăng Giảng, Phạm Ngọc Hưng, 1988) [8] Đây là phương pháp đơn giản,cấp nguy hiểm của cháy rừng được xác định theo giá trị khí tượng tổng hợp (P)bằng tổng của tích số giữa nhiệt độ và độ chênh lệch bão hòa của không khí lúc 13giờ hàng ngày kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 3mm Theo kết quả nghiêncứu Phạm Ngọc Hưng (1988) [11] cho thấy, phương pháp của V.G Nesterop có độchính xác cao hơn nếu tính giá trị P kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 5mm.Ngoài ra, trên cơ sở phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa số ngày khô hạn liên tục(H) (số ngày liên tục có lượng mưa dưới 5mm) với chỉ số P, tác giả Phạm Ngọc
Trang 10Hưng, (2004) [13] đã đưa ra phương pháp DBNCCR theo số ngày khô hạn liên tục.Ông căn cứ vào số ngày khô hạn liên tục cho các mùa khí hậu trong năm xây dựngmột bảng tra cấp nguy hiểm cháy rừng Tuy nhiên, khi nghiên cứu về tính thích hợpcủa một số phương pháp DBNCCR ở miền Bắc Việt Nam, tác giả Bế Minh Châu(2001) [4] đã khẳng định phương pháp DBNCCR theo chỉ tiêu P và H có độ chínhxác thấp ở những vùng có sự luân phiên thường xuyên của các khối không khí biển
và lục địa hoặc vào các thời gian chuyển mùa Trong những trường hợp này, thìmức độ lên hệ của chỉ tiêu tổng hợp P và chỉ số ngày khô hạn liên tục H với độ ẩmvật liệu cháy dưới tán rừng và tần suất xuất hiện của cháy rừng rất thấp Từ 1989 -
1991, dự án tăng cường khả năng phòng cháy, chữa cháy rừng cho Việt Nam củaUNDP, Cooper A N, (1991) [24] đã nghiên cứu, soạn thảo phương pháp DBNCCRtheo chỉ tiêu khí tượng tổng hợp P của V G Nesterop nhưng thêm yếu tố gió; chỉtiêu P của V G Nesterop sẽ được nhân với hệ số là: 1.0, 1.5, 2.0 và 3.0, nếu tốc độgió tương ứng là: 0 - 4, 5 - 15, 16 - 25 và trên 25 km/giờ Tuy nhiên, đến nay chỉtiêu vẫn đang ở trong giai đoạn thử nghiệm
Võ Đình Tiến (1995) [18] đã đưa ra phương pháp DBNCCR cho từng thángtại Bình Thuận theo 6 yếu tố: nhiệt độ không khí trung bình, lượng mưa trung bình,
độ ẩm không khí, tốc độ gió, số vụ cháy rừng, lượng người vào rừng (tất cả đều lấygiá trị trung bình) Tác giả đã xác định được cấp nguy hiểm với cháy rừng cho từngtháng trong cả mùa cháy Đây là chỉ tiêu có tính đến cả yếu tố thời tiết và yếu tốkinh tế - xã hội liên quan đến nguy cơ cháy rừng (NCCR) Tuy nhiên, vì căn cứ vào
số liệu khí tượng trung bình năm nên cấp dự báo của tác giả chỉ thay đổi theo thờigian của lịch mà không thay đổi theo thời tiết hàng ngày Vì vậy, nó mang ý nghĩacủa phương pháp xác định mùa cháy nhiều hơn là DBNCCR Kết quả nghiên cứuVương Văn Quỳnh (2005) [17] đưa ra phương pháp dự báo phát hiện sớm cháyrừng cho khu vực U Minh và Tây Nguyên Các kết quả cũng chỉ ứng dụng cho cáckhu vực nói trên, chưa được ứng dụng rộng rãi cho cả nước
Nhìn chung, đến nay nghiên cứu về phương pháp DBNCCR ở Việt Nam cònrất mới mẻ, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của trạng thái rừng, kiểu rừng, đặcđiểm tiểu khí hậu và yếu tố kinh tế, xã hội có ảnh hưởng tới cháy rừng cho mỗi địaphương Ngoài ra, hiện vẫn chưa áp dụng được một cách hiệu quả kỹ thuật của tin
Trang 11học, viễn thám và các phương tiện truyền thông hiện đại vào dự báo, phát hiện sớm
và thông tin về cháy rừng
1.1.2.2 Nghiên cứu về các công trình phòng cháy rừng
Hiện còn rất ít những nghiên cứu về hiệu lực của các công trình PCR; mặc dù,trong các quy phạm PCR có đề cập đến tiêu chuẩn của các công trình phòng cháynhư: đưa ra một số loài cây trồng sử dụng tạo băng xanh cản lửa phòng cháy, songphần lớn đều được xây dựng trên cơ sở tham khảo tư liệu nước ngoài và kinhnghiệm, chưa có khảo nghiệm đầy đủ trong điều kiện Việt Nam (Đặng Vũ Cẩn,Hoàng Kim Ngũ, Phạm Ngọc Hưng, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão, 1992) [2].Các công trình PCR ở nước ta chủ yếu xây dựng đường băng trắng và đườngbăng xanh cản lửa hạn chế cháy lan mặt đất, cháy lướt trên ngọn cây rừng TheoPhạm Ngọc Hưng (2001) [12], đường băng xanh được trồng cùng với việc trồngrừng trong năm trên những diện tích rừng có độ dốc 25 độ Đối với đai cây xanhxung quanh các điểm dân cư, xung quanh những vùng đất sản xuất nông nghiệp,…nằm ở trong rừng và ven rừng Đai rừng phòng cháy có chiều rộng từ 20 - 30m, nếuxây dựng theo đường phân khoảnh thì chiều rộng đai rừng chỉ cần từ 15 - 20m là
đủ Thường những đường băng cản lửa lợi dụng những chướng ngại vật tự nhiênnhư: sông, suối, hồ nước, đường mòn, đường dông, những công trình nhân tạo(đường sắt, đường giao thông, đường điện cao thế, đường vận xuất, đường vậnchuyển,…) để làm băng Trong những trường hợp này, đường băng thường chỉ xâydựng dọc theo hai bên đường bằng một hoặc hai vành đai cây xanh cản lửa, có bềrộng từ 6 - 10m Những loài cây được giới thiệu đưa vào trồng thành băng hoặc đaixanh cản lửa tại nhiều địa phương ở nước ta như sau:
- Cây Tống quá sủ (Alnus nepalensis): Ưa khí hậu á nhiệt đới, thường trồng ở
vùng núi cao dọc theo biên giới Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng
- Cây Dứa bà (Agave americara): Chịu nước quanh năm, có khả năng ngăn
cháy lan mặt đất, có thể trồng rộng rãi nhiều nơi, như: Lâm Đồng, Quảng Ninh,…
- Cây Vối thuốc răng cưa (Schima superb Gardn et Champ): Cây cao, thân
thẳng, mọc nhanh tiên phong trên đồi trọc hoặc tái sinh sau nương rẫy,… phân bốnhiều ở miền Đông Bắc, cây có tác dụng ngăn lửa tốt cho rừng thông
- Cây Me rừng (Phyllanthus emblica L): Loại cây bụi, thân chứa nhiều nước,
mọc nhiều ở vùng đồi núi trọc nên có thể chọn làm đai vản lửa ở nơi đồi trọc
Trang 12- Cây Thẩu tấu (Aporosa microcalyx Hassk): Cây bụi hoặc cây nhỏ, mọc phổ
biến ở đồi trọc, bãi hoang, nới rừng nghèo kiệt, phân bố vừng Bắc Bộ và Trung Bộ
- Cây Đỏ ngọn (Cratoxylon pruuolium Dyer): Cây cao cỡ 6 - 10m, vỏ khi già
xốp có nhiều vảy, có khả năng phòng cháy, cây thường gặp ở các tỉnh Lạng Sơn, HàBắc, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh
- Cây Dâu da đất (Baceaerea sapida Mull - Arg.): Là loại cây nhỡ, mọc rải rác
trong rừng thứ sinh tập trung ở vùng trung du Bắc Bộ và Trung Bộ
- Cây Keo tai tượng (Acacia mangium Wild): Là loài cây có thể trồng ở hầu
hết khắp nơi trên nhiều loại đất; cây có tán khép kín, thường trồng ở đồi núi ở cáctỉnh Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Quảng Nam, QuảngNgãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Kon Tum, Gia Lai,…
và có khả năng tạo ra đai xanh khép kín nhiều tầng, tẩng trên là Keo tai tượng, tầngdưới là 1 số ít cây bụi thường xanh, tạo nên môi trường râm ẩm, có khả năng ngănngừa lửa cháy lan từ ngoài vào rừng và ngăn cháy lướt trên ngọn cây rừng
- Một số loài cây trồng trên kênh mương tạo băng cản lửa ở rừng tràm vùng
đồng bằng sông Cửu Long bao gồm: Dứa (thơm), Dừa nước (Nypa fruticans Wurb), Chuối, Đào lộn hột (điều) (Anacardium occidentale L).
- Một số loài cây keo thuộc họ đậu mọc nhanh, xanh quanh năm, có tác dụng
cản lửa, tạo môi trường râm, ẩm, cải tạo đất tốt như: Keo dậu (Leacaena leucocepha De wit.), Keo gai, Keo philippin,… dùng để trồng đai cây xanh ở vùng
đồi núi và vừng rừng Tràm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, miềnBắc rất tốt
1.1.2.3 Nghiên cứu về giải pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng
Biện pháp KTLS là một trong những yêu cầu bắt buộc ngay khi tiến hành quyhoạch, thiết kế trồng rừng và trong suốt quá trình kinh doanh lợi dụng rừng Một sốnghiên cứu về biện pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng (KTLSPCR) chủ yếuhướng vào:
(1) - Trồng rừng hỗn giao nhiều loài để hạn chế thực bì là tầng cây bụi và lớpthảm tươi sinh trưởng và phát triển Trước đây, các công trình nghiên cứu chủ yếutập trung vào một số ít các loài cây như: Bạch đàn liễu, Mỡ, Bồ đề, Thông nhựa,Thông đuôi ngựa,… Gần đây, cùng với những tiến bộ về nghiên cứu giống câyrừng, các tác giả đã tập trung nhiều vào các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên
Trang 13liệu giấy như: Keo lai, Keo tai tượng, Bạch đàn urophylla, Thông caribe,… Cáccông trình nghiên cứu quan trọng có thể kể đến là nghiên cứu phương thức trồngrừng hỗn giao cũng được nhiều tác giả quan tâm nhiều Cụ thể: Phùng Ngọc Lan(1991) [14] đã gây trồng rừng trồng hỗn giao Thông đuôi ngựa, Keo lá tràm, Bạchđàn trắng ở Núi Luốt - Xuân Mai Nguyễn Hữu Vĩnh, Phạm Thị Huyền, NguyễnQuang Việt (1994) [19] đã nghiên cứu cơ sở khoa học của phương thức trồng rừnghỗn giao giữa loài Bạch đàn trắng và Keo lá tràm, có kết luận: Keo lá tràm và Bạchđàn trắng là cây ưa sáng ngay từ khi mới trồng, sinh trưởng nhanh; song mức độ ưasáng, tốc độ sinh trưởng và các đặc tính sinh vật học khác nhau của chúng khônggiống nhau; Keo lá tràm là cây họ đậu, hệ rễ có nhiều nốt sần, do đó bước đầu cóthể khẳng định cây Bạch đàn trắng và cây Keo lá tràm có thể trồng hỗn giao vớinhau; đến năm thứ 3, phương pháp hỗn giao cách tổ trong hang làm cho các chỉ tiêusinh trưởng của cây Keo lá tràm và cây Bạch đàn tốt hơn phương pháp hỗn giao vớicác loài khác Theo kết quả nghiên cứu Trần Nguyên Giảng (1985) [10] thí nghiệmtrồng rừng hỗn giao trên đối tượng đất trống, trọc sau khí phá rừng để trồng câylương thực, đất phát triển trên nền đá vôi; thực bì gồm cỏ là xen cỏ tranh, lau, gănggai,… Tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm với mật độ 3.300 cây/ha làm
áo che phủ; khi keo được 2 tuổi, tác giả đã đưa vào trồng 10 loài cây lá rộng bản địalà: Lát hoa, Sấu, Nhội, Giổi, Kim giao, Trám trắng, Gội trắng, Muồng đỏ, Lim xẹt
và giữa hai hàng keo theo phương pháp hỗn giao các loài theo hàng, cự ly 2m x 2m.Trong thời gian qua, các loài cây bản địa được trồng nhiều và đã được nhiều tác giảchú ý nghiên cứu đến; cụ thể: Nguyễn Bá Chất (1994) [3] nghiên cứu cơ cấu câytrồng và xây dựng quy trình hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ yếuphục vụ Chương trình 327/CT-CP, sau đó là Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng củaChính phủ Trong thời gian qua, nhiều tác giả đã nghiên cứu và thử nghiệm trồngrừng hỗn giao ở nhiều vùng bằng nhiều loài cây với phương thức trồng khác nhau.Tuy nhiên, các kết quả vẫn còn tản mạn, chưa được đúc kết, đánh giá và chưa được
áp dụng vào thực tiễn sản xuất; mặt khác, việc tìm chọn cấu trúc, loài cây, phươngthức trồng và thời điểm hỗn giao cũng rất phức tạp Việc gây tạo rừng hỗn giao làmong muốn của nhiều nhà lâm học đã và đang nỗ lực nghiên cứu thí nghiệm tạo racác lâm phần hài hòa, ổn định, bền vững về sinh thái và có giá trị cao về kinh tế
Trang 14(2) - Đốt trước vật liệu cháy là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy trongrừng bằng cách chủ động đốt những vật liệu dễ cháy trong các khu rừng có nguy cơcháy cao vào thời gian trước mùa khô, nhưng có sự điều khiển của con người đểkhông gây cháy rừng và hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của lửagây ra Tuy nhiên, biện pháp này cho tới nay vẫn chưa được áp dụng phổ biến rộngrãi ở nước ta Việc tiến hành đốt trước khá phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều kinhnghiệm và phải được chuẩn bị chu đáo cả về lực lượng, phương tiện dập lửa (BếMinh Châu, Phùng Văn Khoa (2002)) [5].
Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu thửnghiệm về biện pháp đốt trước nhằm giảm khối lượng vật liệu cháy Cụ thể: PhóĐức Đỉnh (1996) [9] đã thử nghiệm đốt trước vậy liệu cháy dưới tán rừng thông non
2 tuổi tại Đà Lạt (Lâm Đồng) Tác giả cho rằng, ở rừng thông non nhất thiết phảithu gom vật liệu cháy vào chính giữa các hàng cây hoặc nơi trống để đốt, chọn thờitiết đốt để ngọn lửa âm ỉ, không cao quá 0,5m có thể gây cháy tán cây rừng PhanThanh Ngọ (1996) [16] đã thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới tán rừng thông 8tuổi ở Đà Lạt (Lâm Đồng); tác giả cho rằng, với rừng thông lớn tuổi không cần phảithu gom vật liệu cháy trước khi đốt mà chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc về chọnthời điểm và thời tiết thích hợp để đốt và có thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy chomột số loại rừng ở địa phương khác, trong đó có rừng khộp ở Đắc Lắk và Gia Lai.Tác giả Thái Thành Lượm (1996) [15] đã áp dụng biện pháp đốt trước để xúc tiếntái sinh rừng tràm bằng cách đốt trực tiếp có kiểm soát đúng thời điểm, chia thànhnhiều lần đốt để giảm bớt độ che phủ, kích thích hạt giống nảy mầm nhanh, hìnhthành lớp cây tái sinh dưới tán rừng
Năm 1986, Bộ Lâm Nghiệp nay là Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn
đã đưa ra quy định tạm thời về điều kiện đốt trước vật liệu cháy có điều khiển dướitán rừng thông Các vấn đề cần chú ý trước khi tiến hành đốt trước vật liệu cháyrừng được đưa ra dựa trên kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về lửa rừng ViệtNam Vì vậy, vẫn còn một số hạn chế như một số nghiên cứu nêu trên
Qua thực tiễn hoạt động và đức kết kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực lửarừng trong thời gian từ năm 2001 - 2004, Phạm Ngọc Hưng và Bế Minh Châu đãtiến hành đánh giá kết quả thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng(PCCCR) ở Việt Nam, từ việc tham khảo các công trình nghiên cứu đã được áp
Trang 15dụng trên thế giới và trong nước Các tác giả đã cho rằng, một trong những biệnpháp PCR quan trọng là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng biện pháp đốttrước có điều khiển Trên cơ sở đó, tác giả đã tổng hợp các vấn đề liên quan và cáchtiến hành đốt trước vật liệu cháy áp dụng cho Việt Nam một cách khá toàn diện.Tuy nhiên, do đặc điểm khí hậu của các khu vực rất khác nhau nên việc áp dụng cáckết quả này vẫn còn nhiều hạn chế.
Có thể nói rằng, những công trình nghiên cứu về biện pháp PCR ở nước ta cóthể xem ba công trình thử nghiệm đốt trước nguồn vật liệu cháy dưới tán rừng củacác tác giả cho đối tượng rừng thông ở Tây Nguyên và rừng Tràm ở vùng Tứ giácLong Xuyên là tiêu biểu nhất Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa định lượng được hiệuquả của đốt trước vật liệu cháy để giảm nguy cơ cháy rừng cũng như lượng hóa cáctác động của đốt trước vật liệu cháy đến hoàn cảnh sinh thái và năng suất rừngtrồng Vì vậy, tính thuyết phục của biện pháp đốt trước vật liệu cháy rừng chưa cao
- Trong nước nghiên cứu về PCR bắt đầu từ năm 1981, có nhiều phương phápDBNCCR khác nhau, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của các trạng thái rừng,đặc điểm tiểu khí hậu và những yếu tố kinh tế - xã hội có liên quan ảnh hưởng tới
Trang 16cháy rừng ở địa phương Đối với các công trình PCR hiện nay, còn rất ít nghiên cứu
về hiệu lực các công trình cũng như phương pháp PCR Song các công trình này,được xây dựng dựa vào tài liệu nước ngoài là chính Đối với các biện phápKTLSPCR có nhiều mô hình trồng rừng hỗn giao giữa các loài cây trồng và có thểxem ba công trình thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy rừng là tiêu biểu nhất Tuynhiên, các tác giả vẫn chưa định lượng được hiệu quả cũng như xác định được ảnhhưởng của đốt trước vật liệu cháy đến hoàn cảnh sinh thái và năng suất rừng, tínhthuyết phục của biện pháp đốt trước vật liệu cháy rừng chưa cao
Hiện nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về PCCCR ở huyện Sa Pa,tỉnh Lào Cai Trong quá trình xây dựng và thực hiện phương án PCCCR của Sa Pangười ta chưa bố trí được hợp lý các công trình PCCCR, hoặc tăng cường đượcnhững trang bị cần thiết và tổ chức được lực lượng PCCCR hợp lý ở các khu vựckhác nhau trong địa bàn huyện, Điều này đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của các
hoạt động PCCCR của địa phương Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng cháy và chữa cháy rừng tại huyện Sa
Pa, tỉnh Lào Cai” nhằm giảm thiểu nguy cơ cháy rừng ở địa phương và hoàn thiện
giải pháp KTLS PCR là hết sức cần thiết
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Sa Pa là huyện vùng núi cao của tỉnh Lào Cai, có diện tích tự nhiên 68.329,09
ha, chiếm 10,70% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, có tọa độ địa lý: Từ 22007’04’’đến 22028’46’’ vĩ độ Bắc và từ 103043’28’’ đến 1040 04’15’ kinh độ Đông, cóphạm vi ranh giới như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Bát Xát - tỉnh Lào Cai;
- Phía Nam giáp huyện Văn Bàn - tỉnh Lào Cai;
- Phía Đông giáp TP Lào Cai và huyện Bảo Thắng - tỉnh Lào Cai;
- Phía Tây giáp huyện Tân Uyên, Tam Đường - tỉnh Lai Châu
Huyện Sa Pa có 18 xã, thị trấn, trong đó thị trấn Sa Sa là trung tâm huyện lỵ,nằm trên trục Quốc lộ 4D từ Lào Cai đi Lai Châu, cách thành phố Lào Cai 35 km vềphía Tây Nam
1.2.1.2 Địa hình
Trang 17Sa Pa có địa hình phức tạp, hiểm trở chia cắt mạnh thành nhiều hệ dông, khelớn nhỏ, độ dốc đất có rừng rất lớn từ 25 - 600 Độ cao trung bình so với mặt nướcbiển khoảng 1.600m, ảnh hưởng trực tiếp tới công tác PCCCR, huy động lực chữacháy rừng gặp nhiều khó khăn.
1.2.1.3 Khí hậu
Khí hậu Sa Pa mang đặc trưng chung của khí hậu khu vực Hoàng Liên Sơn,hầu như quanh năm duy trì tình trạng ẩm ướt Mùa đông thường mưa dai dẳngnhiều ngày Nhiệt độ trung bình là 15,2 oC Lượng mưa trung bình là 7,5 mm Trongnăm, có 6 tháng khô hạn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Độ ẩm trung bình là87.6 %, độ ẩm năm thấp nhất bình quân là 49,6 % Số giờ nắng trung bình là 3,8giờ, số giờ nắng năm cao nhất bình quân là 9,4 giờ Trong mùa khô hanh thườngkèm theo sương muối, mưa tuyết, mưa đá và gió Ô Quý Hồ là nhân tố chính gây
chết thực bì hàng loạt, khô nỏ rất dễ xảy ra cháy rừng (Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn Sa Pa năm 2012).
1.2.1.4 Thủy văn
Sa Pa có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mưa lớn, địa hình phân cắt mạnh tạo ramạng lưới sông suối khá dày, bình quân khoảng 0,7-1,0 km/km2, có dạng cành cây vàvuông góc, hệ thống sông suối nhỏ và chủ yếu xâm thực sâu Với hai hệ thống suốichính là hệ thống suối Đum và hệ thống suối Bo
- Hệ thống suối Đum có tổng chiều dài khoảng 50 km, bắt nguồn từ vùng núicao phía Bắc dãy Hoàng Liên Sơn được phân thành hai nhánh chính và phân bố ởhầu hết các xã phía Bắc và Đông Bắc gồm các xã Sa Pả, Trung Chải, Tả Phìn vớitổng diện tích lưu vực khoảng 156 km2
- Hệ thống suối Bo có chiều dài khoảng 80 km, bắt nguồn từ các núi cao phíaĐông Nam dãy Hoàng Liên Sơn với diện tích lưu vực khoảng 578 km2 chạy dọctheo sườn phía Đông và Đông Nam của dãy Hoàng Liên Sơn gồm các xã San Sả
Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ, Nậm Cang, Nậm Sài, Thanh Phú, Suối Thầu,Thanh Kim và Bản Phùng Các suối hầu hết có lòng hẹp, dốc, thác ghềnh nhiều, lưulượng nước thất thường và biến đổi theo mùa Vào mùa khô các suối thường cạn
1.2.1.5 Đất đai, thổ nhưỡng
Trang 18Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Sa Pa là 68.329,09 ha, trong đó có79,07 % diện tích đã được khai thác đưa vào sử dụng cho các mục đích Việcchuyển đổi cơ cấu sử dụng đất của 3 nhóm chính cụ thể:
+ Đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao (chiếm 96,21%diện tích đất đang sửdụng và 76,09% tổng diện tích tự nhiên)
+ Đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ còn thấp trong cơ cấu sử dụng đất củahuyện (chiếm 3,84% diện tích đang sử dụng và chiếm 3,0% tổng diện tích tự nhiên).+ Đất chưa sử dụng được khai thác đưa vào sử dụng tương đối triệt để trongnhững năm qua nhưng vẫn còn 14.300,16 ha, chiếm 20,93% tổng diện tích tự nhiên
Phần diện tích này cần được tiếp tục đưa vào sử dụng trong những năm tới (Nguồn: Phòng tài nguyên và Môi trường Sa Pa năm 2012).
1.2.1.6 Tài nguyên rừng
Tính đa dạng sinh học của Sa Pa:
- Về Động vật: Có hệ động vật phong phú và da dạng cao, theo thống kê có
555 loài động vật có xương sống, trong đó có 60 loài động vật quý hiếm ghi trongsách đỏ Việt Nam (1992); 33 loài trong danh lục đỏ IUCN/2004; 05 loài chim đặchữu cho Việt Nam và 25 loài chim khác đặc hữu cho vùng núi cao Hoàng liên sơn
- Về thực vật: Hệ thực vật Phan Si Păng mang đặc trưng các yếu tố thực vật Ánhiệt đới và ôn đới của ba luồng thực vật đó là: Vân Nam-Hymalaya; Bắc ViệtNam-Nam Trung Hoa và luồng thực vật Ấn Độ-Malaysia Bước đầu đã thống kêđược 2.343 loài thực vật có mạch thuộc 1.020 chi và 256 họ; có số loài thực vật đặchữu, quí hiếm có 149 trên tổng số 2.343 loài, chiếm 25% số loài thực vật đặc hữucủa Việt Nam; số loài thực vật quí hiếm trong sách đỏ Việt Nam là 133 loài; sách
đỏ thế giới là 34 loài Những loài thực vật quí hiếm đặc trưng đó là: Pơ Mu, Báchxanh, Thông đỏ, Vân sam Hoàng liên, Đinh, Dẻ Tùng, Sến, Vù Hương, Chò Chỉ,Lát Hoa, Tam Thất, Đẳng Sâm, Đỗ Trọng
- Diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp 50.596,79 ha, đất có rừng 46.059,69
ha, đất trống là 4.537,1 ha, trong đó rừng đặc dụng 20.976 ha, rừng phòng hộ19.126,47 ha, rừng sản xuất 10.494,11 ha, tỷ lệ che phủ rừng đến 31/12/2012 đạt67%: Rừng đặc dụng: Rừng đặc dụng trên địa bàn huyện Sa Pa thuộc Vườn quốcgia Hoàng Liên quản lý, diện tích rừng tự nhiên 20.400,86 ha; Rừng phòng hộ:Rừng phòng hộ thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện quản lý, diện tích rừng tự
Trang 19nhiên 15.174,4 ha; Rừng sản xuất: 6.875,46 ha Diện tích rừng sản xuất chủ yếu làrừng bảo vệ của cộng đồng thôn bản, diện tích rừng tự nhiên 4.218,84 ha;
Trang 201.2.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế - xã hội
1.2.2.1 Tình hình dân số, lao động, thành phần dân tộc và phân bố dân cư
Dân số toàn huyện Sa Pa tính đến năm 2012 là 57.152 người, 10.975 hộ, trong
đó Nữ 28.223 người chiếm 49,38% tổng số dân Dân số thành thị là 9.715người/2.715 hộ, chiếm 17%
Lực lượng lao động toàn huyện 29.875 người, chiếm 52,27 %, trong đó thànhthị là 6.012 người, nông thôn 23.863 người Nhìn chung lực lượng lao động phân bốkhông đều, lực lượng đông nhưng lao động có chuyên môn kỹ thuật thấp, một sốlao động còn thiếu việc làm, năng suất lao động chưa cao, tập quán sản xuất còn lạchậu như thả rông gia súc, sản xuất nương rẫy quảng canh, luân canh còn phổ biến
… Đây là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng cháy rừng, phá rừng, lấnchiếm rừng, làm suy giảm về diện tích, nguồn tài nguyên và suy thoái đất đai
Sa Pa là một huyện miền núi với 7 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất
là dân tộc Hmông chiếm 54,9%, dân tộc Dao 25,5%, dân tộc Kinh 13,6%, dân tộcTày 3%, dân tộc Giáy 1,6%, dân tộc Xá Phó 1,2%, dân tộc Thái 0,2% Dân cư phân
bố trong 17 xã và một thị trấn gồm 95 thôn, bản với 6247 hộ Tổng dân số 37272người, tỷ lệ tăng dân số 2,84%, mật độ dân số 54,9 người/km2 Trong mỗi thôn bảnlại có sự phân hóa theo các đặc điểm sinh thái của các tộc người Nhóm Dao - Giáy
- Xá Phó sống tập trung trên đai cao 700 - 1500 m, nhóm Mông cư trú trên đai cao
700 - 2000 m, còn nhóm Tày - Thái cư trú ở độ cao dưới 700m, sống tập trung ởmột số xã phía nam huyện như Bản Hồ, Nậm Sài, Thanh Phú là vùng thung lũngbằng phẳng có nhiều ruộng nương dễ sinh sống Người Kinh cư trú ở phần lớn chỗbằng phẳng, dọc theo hai bên đường và nhiều ở thị trấn
Mật độ dân số phân bố không đều giữa các xã trong huyện, giữa nông thôn vớithành thị Các dân tộc chung sống đan xen nhau, tuy nhiên mỗi dân tộc có tập quánsinh hoạt riêng tạo nên sự phong phú đa dạng trong văn hóa Sa Pa, đây chính làđiểm hấp dẫn không nhỏ đối với du khách đặc biệt đối với du khách nước ngoàitrong việc tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Người dân sống chủ yếu phụthuộc vào rừng và những ngành nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, mâytre đan… Dân tộc Kinh cư trú chủ yếu ở trị trấn Sa Pa, sống bằng nghề nông nghiệp
và dịch vụ thương mại (Nguồn: Niên giám thống kê huyện Sa Pa năm 2012).
Trang 211.2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Từ năm 2005 đến nay nền kinh tế của huyện Sa Pa được duy trì, ổn định vàphát triển với nhịp độ tăng trưởng cao, là huyện có tốc độ phát triển kinh tế và thungân sách đứng thứ 2 của tỉnh (sau thành phố Lào Cai) Cơ cấu kinh tế đang chuyểndịch theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp và giảm dần tỷ trọng nông,lâm nghiệp và thuỷ sản Với lợi thế lớn nhất của huyện Sa Pa là tiềm năng phát triểnkinh tế du lịch, nguồn thu từ dịch vụ du lịch đã đóng góp chủ yếu vào sự tăngtrưởng kinh tế của huyện Bên cạnh đó tài nguyên đất màu mỡ, thích hợp với pháttriển trồng rau, hoa cao cấp và cây ăn quả
Tính đến cuối năm 2012 thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn huyện Sa
Pa là 6,5 triệu đồng/người/năm Nguồn thu nhập chính từ sản xuất nông lâm nghiệp,lâm sản phụ dưới tán rừng là thảo quả và từ các dịch vụ du lịch Trình độ dân trí củamột bộ phận dân cư còn thấp nhất là ở phụ nữ, trẻ em nhiều người còn chưa biếttiếng phổ thông, chưa hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở.Tập quán canh tác nông lâm nghiệp còn lạc hậu, đồng bào vẫn còn dùng lửa đốt dọnthực bì để làm nương rẫy gây cháy lan nên ảnh hưởng lớn tới công tác PCCCR
1.2.2.3 Hệ thống giao thông
Hiện nay huyện Sa Pa có các tuyến đường bộ Quốc lộ 4D chạy từ thành phốLào Cai qua huyện Sa Pa đi Lai Châu, đoạn qua địa bàn huyện dài 35 km đã đượcđầu tư nâng cấp; Tỉnh lộ 155 đoạn qua địa bàn huyện xuất phát từ ngã ba Ô Quí Hồđến Tả Giàng Phình dài 20 km, đi Bản Xèo Bát Xát; Các tuyến huyện lộ: Từ Thịtrấn Sa Pa đi các xã vùng hạ huyện đã được nâng cấp đổ bê tông và giải nhựa Hệthống mạng lưới giao thông từ các xã đi các thôn bản đang được sửa sang và mởtheo chương trình xây dựng nông thôn mới Nhìn chung, hệ thống giao thông trênđịa bàn huyện được phân bố tương đối hợp lý, các xã đều có đường ô tô đến trungtâm xã Tuy nhiên một số xã, thôn bản đi lại khó khăn nhất là vào những ngày mưa
1.2.2.4 Y tế
Trên địa bàn huyện có 01 Bệnh viện (105 giường bệnh); 05 Phòng khám đakhoa (50 giường bệnh); 18/18 xã thị trấn đều có trạm Y tế xã (90 giường bệnh).Hàng năm huyện đều làm tốt công tác chăm sóc sức khỏa cho nhân dân, công tác y
tế dự phòng và phòng chống các tệ nạn xã hội nên không có dịch bệnh xảy ra diệnrộng trên địa bàn Có 5,6 % xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế
Trang 221.2.2.5 Giáo dục và đào tạo
Huyện có 65 trường học các cấp, trong đó: Mầm non, mẫu giáo: 20 trường,
190 lớp học, với 4034 học sinh và 312 giáo viên; 22 trường tiểu học, 19 trườngtrung học cơ sở, 4 trường trung học phổ thông; trong đó, đạt chuẩn: Mầm non 02trường, tiểu học 10 trường, trung học cơ sở 6 trường Nhìn chung, hệ thống các cấptrường học khá hoàn chỉnh Tuy nhiên, cơ sở vật chất của ngành giáo dục toànhuyện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, trang thiết bị cung cấp cho các trường cònthiếu và lạc hậu; đội ngũ giáo viên giỏi, có chuyên môn cao, có tâm huyết với nghề
còn ít do đó chất lượng đào tạo chưa cao (Nguồn: Niên giám thống kê năm 2012)
1.2.3 Nhận xét và đánh giá khu vực nghiên cứu
- Sa Pa có địa hình núi cao, dốc lớn, bị chia cắt mạnh, các khu vực có rừng lại
ở xa khu dân cư nên việc đi lại rất khó khăn dẫn đến việc phát hiện ra cháy rừngcũng như việc tuần tra kiểm soát, tiếp cận đám cháy, huy động lực lượng, phươngtiện và chỉ huy chữa cháy gặp nhiều khó khăn Thời tiết ngày càng diễn biến phứctạp khô hanh, nắng nóng kéo dài kèm theo sương muối, mưa đá, mưa tuyết nhiềulàm chết hàng loạt thực bì dẫn đến làm tăng khối lượng vật liệu cháy trong rừng do
đó nguy cơ cháy rừng là rất lớn Vào mùa khô hanh gió Tây Nam, còn gọi là gió ÔQuý Hồ, thổi mạnh ảnh hưởng rất lớn đến công tác PCCCR của các xã vùng trọngđiểm cháy rừng khu vực thượng huyện
- Diện tích đất có rừng trên địa bàn lớn chiếm 67,1 % diện tích tự nhiên, cáctrạng thái rừng giàu IIIa1, IIIa2, IIIa3 phân bố ở các khu vực xa khu dân cư, giaothông đi lại tới các vùng rừng này rất khó khăn, dốc, nhiều thác gềnh rất khó kiểmsoát được các hoạt động du lịch, đốt lửa sưởi ấm, đốt than, đun nấu trong rừng Mặc dù một số diện tích đã được giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình nhưnghiệu quả còn hạn chế (việc vệ sinh rừng làm giảm lượng vật liệu cháy, làm đường băngcản lửa trên diện tích rừng giao khoán bảo vệ chưa được thực hiện đầy đủ, đồng bộ vàomùa khô hanh) do đó tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao
- Dân số trên địa bàn huyện Sa Pa chủ yếu là dân tộc thiểu số, sống phụ thuộcchủ yếu vào sản xuất nông lâm nghiệp Tập quán canh tác nương rẫy còn lạc hậuchủ yếu là phát, đốt nương rẫy không có kiểm soát nên ảnh hưởng lớn đến công tácPCCCR
Trang 23- Hàng năm vào thời điểm sau tết Nguyên đán đồng bào dân tộc ở các xã đốtnương làm rẫy Trong khi thời điểm này thời tiết nắng nóng, khô hanh kéo dài, gió
to nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao
- Trên địa bàn toàn huyện Sa Pa nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội đã cóbước phát triển, trường học, trạm xá, đường giao thông, thuỷ lợi, cấp nước sinh hoạt
đã được đầu tư xây dựng, tu sửa Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp các chỉ tiêuđều tăng vượt kế hoạch, tỷ lệ hộ nghèo giảm, tỷ lệ người lao động có việc làm tăng,thu nhập của người dân tăng, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi
- Tình hình kinh tế xã hội phát triển làm cho áp lực đối với rừng giảm Tuynhiên, đặc thù của Sa Pa chủ yếu dân tộc thiểu số, giao thông đi lại tới các thôn, bảncòn khó khăn, trình độ dân trí của một bộ phận dân cư còn hạn chế Tập quán canhtác nông lâm nghiệp còn lạc hậu vẫn phổ biến đốt phát dọn thực bì để làm nươngrẫy gây cháy lan nên ảnh hưởng lớn tới công tác PCCCR Việc khai thác sử dụnglâm sản, săn bắn động vật, chăn thả gia súc còn bừa bãi, tuỳ tiện ảnh hưởng tới chấtlượng rừng Sa Pa là huyện du lịch, hàng năm du khách đến với Sa Pa rất lớn cáchoạt động du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, dã ngoại ảnh hưởng tới rừng vàcông tác PCCCR Một số chính quyền cơ sở xã còn chưa nhận thức được tầm quantrọng của công tác PCCCR nên còn chủ quan, lơ là không chỉ đạo sát sao, chưa coitrọng tính phòng ngừa trong công tác PCCCR Việc chuyển đổi mục đích sử dụngđất của các công trình thuỷ điện làm giảm một phần diện tích đất sản xuất nôngnghiệp của nhân dân, làm giảm đáng kể sản lượng lương thực tạo áp lực lớn đối vớirừng và đất lâm nghiệp do phát sinh nhu cầu khai phá đất sản xuất nương rẫy, ảnhhưởng trực tiếp đến công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR
Trang 24Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng và đặc điểm vật liệu cháy tại huyện Sa
Pa, tỉnh Lào Cai
- Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội đến công tácPCCCR trên địa bàn huyện Sa pa, tỉnh Lào Cai
- Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa bàn huyện
Sa Pa, tỉnh Lào Cai
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệmtrong công tác PCCCR tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả PCCCR tại huyện Sa Pa, tỉnhLào Cai
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Vật liệu cháy và những tính chất của nó có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến cháyrừng Theo kết quả của nhiều nghiên cứu thì những tính chất của vật liệu quyết địnhđến khả năng bắt lửa và duy trì cháy rừng là độ ẩm, thành phần hoá học (tinh dầu,chất tro), kích thước, khối lượng và phân bố không gian v.v Tính chất vật liệu cháycũng như đặc điểm về khối lượng, kích thước và phân bố không gian của nó đượcquyết định bởi đặc điểm sinh học của cây rừng, tình trạng sinh trưởng, phát triển và
Trang 25sự phân bố của chúng theo không gian trong hệ sinh thái Các trạng thái rừng có đặcđiểm vật liệu cháy khác nhau sẽ có nguy cơ cháy rừng khác nhau Vì vậy, khinghiên cứu đề tài sẽ tiếp cận theo các trạng thái rừng cụ thể.
Tuy nhiên, cho đến nay vì ảnh hưởng xã hội đến cháy rừng là vấn đề tươngđối phức tạp và ít được nghiên cứu, các yếu tố này đang có sự thay đổi khôngngừng dưới ảnh hưởng của di cư tự do, của việc thực hiện các chương trình và dự
án phát triển, và sự tuyên truyền giáo dục của Nhà nước Vì vậy, trong đề tài nàyviệc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội được xem như một nhómyếu tố tham khảo khi đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy chữa cháyrừng trên địa bàn huyện
Các bước nghiên cứu cụ thể của đề tài được thể hiện qua sơ đồ 2.1 dưới đây:
Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài
Do thời gian nghiên cứu của đề tài ngắn, địa bàn nghiên cứu rộng với nhiềutính đặc thù khác nhau, vì vậy cách tiếp cận chủ yếu của đề tài là kế thừa các thôngtin, số liệu đã có
Thu thập các thông tin, số liệu
đã có
Khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu, lựa chọn địa điểm điều tra
Hiện trạng rừng tại khu vực nghiên cứu
Thực trạng công tác PCCCR những năm
Trang 26Trong quá trình nghiên cứu, quan điểm lịch sử sẽ được quán triệt Đề tàikhông chỉ quan tâm đánh giá công tác PCCCR hiện tại mà sẽ xem xét nó trong quátrình lịch sử từ trong quá khứ đến hiện tại (giai đoạn từ năm 2005 đến nay) cũngnhư những dự đoán có thể xảy ra trong tương lai.
Mỗi kiểu rừng, mỗi khu vực có đặc điểm riêng, có các yếu tố ảnh hưởng khácnhau đến cháy rừng, vì vậy khi nghiên cứu đề tài sẽ tiếp cận theo các kiểurừng/dạng rừng và theo các khu vực cụ thể
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Đề tài kế thừa các thông tin và số liệu sau:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai: Các số liệuliên quan về địa hình, khí hậu, thuỷ văn, Dân số, dân tộc, thu nhập của người dân,tình hình khai thác sử dụng lâm sản, săn bắn động vật rừng để từ đó phân tíchnhững tác động, ảnh hưởng của các nhân tố đó như thế nào, mức độ ảnh hưởng đếncông tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn
- Báo cáo đánh giá về hiện trạng diện tích, chất lượng rừng khu vực nghiêncứu Căn cứ kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp hàng năm của hạtKiểm lâm huyện Sa Pa để thu thập các thông tin về đánh giá hiện trạng về tàinguyên rừng: tập trung vào phân tích các trạng thái rừng, mức độ dễ cháy của cácloại rừng; khối lượng vật liệu cháy trên địa bàn
- Thu thập số liệu các báo cáo sơ kết, tổng kết, đánh giá về công tác PCCCRtrên địa bàn huyện Sa Pa do Chi cục Kiểm lâm Lào Cai, hạt Kiểm lâm huyện Sa Pacung cấp Các số liệu về cơ cấu tổ chức nhân lực, các trạm bảo vệ rừng, cơ sở vậtchất, trang thiết bị, kinh phí, con người của huyện; sự phối hợp PCCCR như thếnào; hiệu quả PCCCR (số vụ cháy, thiệt hại), vai trò của các bên có liên quan, Từ
đó đánh giá thực trạng công tác PCCCR trên địa bàn
- Thông tin về tình hình cháy rừng ở khu vực nghiên cứu được thu thập qua sốliệu thống kê hàng năm của Chi cục Kiểm lâm Lào Cai, hạt Kiểm lâm huyện Sa Pa,
từ năm 2005 đến nay Căn cứ số liệu về số vụ cháy rừng trên địa bàn, phân tíchnguyên nhân gây cháy, diện tích, loại rừng xảy ra cháy, công tác chỉ huy chữa cháy,huy động lực lượng, phương tiện tham gia và công tác hậu cần cho chữa cháy để từ
đó rút ra kinh nghiệm và bài học trong phòng và chữa cháy rừng Đặc biệt là thông
Trang 27qua các vụ cháy lớn đề tài tập chung phân tích về đặc điểm loại rừng, cách thức tổchức huy động lực lượng, phương tiện, công tác chỉ huy chữa cháy và đảm bảo hậucần cho công tác chữa cháy để từ đó đánh giá công tác phòng cháy chữa cháy trênđịa bàn
- Tìm ra nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm trong phòng và chữa cháyrừng của địa phương
2.2.2.2 Phương pháp điều tra thực địa
Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) để thuthập thông tin về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng như: công tác chuẩn bị, sốlần cháy rừng, nguyên nhân cháy rừng, phương tiện PCCCR, nguồn lực, kinh phí,…Quá trình điều tra được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc theomẫu phiếu đã được soạn sẵn với những câu hỏi mở (Bộ câu hỏi phỏng vấn xem phụlục 1 và 2) Quá trình điều tra được tiến hành qua các bước sau đây:
Bước 1: Làm việc với cán bộ quản lý cấp tỉnh để nắm được tình hình chung về
công tác PCCCR trên địa bàn tỉnh lào Cai, trong đó có huyện Sa Pa, đặc biệt là về cácchính sách và biện pháp chỉ đạo trong PCCCR, hiệu quả của các giải pháp đã áp dụng;những khó khăn, tồn tại hiện nay, Tổng số người phỏng vấn 10 người (xem phụ lục 3)
Bước 2: Trên cơ sở kết quả bước 1, tiến hành làm việc với các đơn vị quản lý
và sản xuất có liên quan trên địa bàn huyện như Hạt Kiểm lâm, Phòng Kinh tế
huyện, UBND các xã, Ban quản lý rừng phòng hộ, Vườn Quốc gia Hoàng Liên Nộidung làm việc tập trung vào các vấn đề sau đây:
+ Diễn biến diện tích, phân bố tài nguyên rừng trên địa bàn huyện;
+ Tình hình tổ chức, triển khai công tác PCCCR; các biện pháp kỹ thuật đangđược áp dụng
+ Các chính sách và giải pháp PCCCR
+ Số lượng các vụ cháy rừng và thiệt hại
+ Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến cháy rừng
+ Những khó khăn, tồn tại trong PCCCR
Số lượng phỏng vấn 20 người (xem phụ lục 4)
Bước 3: Phỏng vấn các hộ gia đình sống trong khu vực gần rừng: Tiến hành
chọn ra 40 hộ gia đình để phỏng vấn, là những người dân sống gần rừng có tham gia
và hiểu biết về PCCCR Nội dung phỏng vấn tập trung làm rõ các nguyên nhân dẫn
Trang 28tới cháy rừng, sự tham gia của địa phương vào công tác PCCCR, những khó khăn,…(xem phụ lục 5)
2.2.2.3 Phương pháp điều tra vật liệu cháy
Điều tra Vật liệu cháy được thu thập bằng phương pháp điều tra trên các ô tiêuchuẩn điển hình tạm thời theo các trạng thái rừng IIIa1, IIb, IIa, Ic, Mỗi trạng thái
bố trí 01 Ô tiêu chuẩn (OTC) Đối với rừng trồng đề tài tập trung điều tra chủ yếucho 2 cấp tuổi/loài với các loài cây Sa Mộc thuần loại và hỗn giao Sa Mộc + Tốngquá sủ trên địa bàn với đối tượng đã có trữ lượng, tuổi từ 3 năm trở lên; mỗi loạirừng trồng bố trí 01 OTC/cấp tuổi (tổng số OTC rừng trồng là 4)
Diện tích ô tiêu chuẩn đối với rừng tự nhiên là 1000 m2, đối với rừng trồng là
500 m2,trên mỗi OTC lập 5 ô dạng bản có diện tích 25m2 phân bố ở góc và giữa các
ô tiêu chuẩn để xác định sinh khối cây bụi thảm tươi và thảm khô (Mẫu phiếu điềutra VLC xem phụ lục 6)
Trên các ô dạng bản điều tra khối lượng của thảm khô bằng cách thu gom toàn
bộ cành khô, lá rụng, hoa quả khô rụng; điều tra thảm tươi bằng cách chặt toàn bộcây bụi, thảm tươi và xác định sinh khối của vật liệu cháy bằng cân
Để quy đổi lượng vật liệu cháy xác định ở hiện trường thành lượng khô củachúng (xác định độ ẩm VLC), trên mỗi OTC của từng trạng thái lấy 0,5 kg/ 01 mẫu
về phân tích độ ẩm vật liệu cháy bằng cách sấy VLC ở 105oC tại phòng thí nghiệm từ
6 đến 8 giờ đến khối lượng không đổi
kê các cơ hội lớn bên ngoài; 4) Liệt kê các thách thức (các đe dọa) quan trọng bênngoài; 5) Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả chiếnlược SO vào ma trận; 6) Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kếtquả của chiến lược WO vào ma trận; 7) Kết hợp điểm mạnh bên trong với tháchthức (mối đe dọa) bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược ST; 8) Kết hợp điểm yếubên trong với nguy cơ bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược WT vào ma trận
Trang 29Mục đích kết hợp trong 4 bước cuối cùng là để đề ra các chiến lược khả thi cóthể chọn để thực hiện
- Xử lý các số liệu về hiện trạng tài nguyên rừng trên máy tính bằng các phầnmềm như: SPSS, Excel
- Các kết quả phân tích trên sẽ được tổng hợp để đưa ra những đề xuất, giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại khu vựcnghiên cứu
- Dựa vào số liệu đã thu thập tại khu vực nghiên cứu, tôi tiến hành tổng hợp vàphân tích số liệu để đánh giá được thực trạng công tác PCCCR giai đoạn 2005 đếnnay theo từng nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 30Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng tài nguyên rừng và đặc điểm vật liệu cháy tại
Sa Pa, tỉnh Lào Cai
3.1.1 Khái quát tài nguyên rừng huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Căn cứ Kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp của hạt Kiểm lâmhuyện Sa Pa, hiện trạng rừng trên địa bàn huyện được tổng hợp tại bảng 3.1 sau:
Bảng 3.1 Bảng hiện trạng đất đai tự nhiên khu vực nghiên cứu
Loại đất, loại rừng Tổng diện tích (ha) Phân theo chức năng sử dụng
Trang 31Hiện trạng phân bố tài nguyên rừng và đặc điểm vật liệu cháy là 2 trong sốnhững yếu tố có ảnh hưởng lớn đến nguy cơ cháy rừng Hiện nay, toàn huyện có50.596,79 ha rừng và đất rừng chiếm 74,01% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đórừng đặc dụng 20.976,21 ha, rừng phòng hộ 19.126,47 ha, rừng sản xuất 10.494,11
ha, độ che phủ rừng đạt 67% năm 2012
Rừng tự nhiên 39.794,1 ha, được chia theo các trạng thái xem bảng 3.2 như sau:
Bảng 3.2 Diện tích rừng tự nhiên chia theo các trạng thái
5.13 6
2.50
4 601
17.02 6
1.38
6 130
(Nguồn: Hạt Kiểm lâm huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, 2012)
Qua bảng 3.1 và bảng 3.2 cho thấy: rừng gỗ 38.278,51 ha chiếm 83,1% diệntích rừng tự nhiên, trữ lượng khoảng 4.629.309 m3; còn lại là rừng tre nứa 1.386,09
ha và rừng núi đá 130 ha chiếm 16.9% diện tích rừng tự nhiên
Trang 32+ Tổng diện tích rừng gỗ tự nhiên là 38.278,51 ha, trong đó đặc dụng19.958,24 ha chiếm 52,14%; phòng hộ 14.532,21 ha, chiếm 37,96%; còn lại là rừngsản xuất 3.788,06 ha, chiếm 9,9%.
+ Diện tích rừng giàu 13.012,1 ha chiếm 32,67% diện tích rừng tự nhiên trữlượng khoảng 3.292.061 m3; rừng trung bình 5.315,74 ha chiếm 12,9% diện tíchrừng tự nhiên, trữ lượng khoảng 790.903 m3, tập trung chủ yếu ở rừng đặc dụng vàrừng phòng hộ đầu nguồn, phân bố ở các xã Bản Hồ, Tả Van, San Sả Hồ, Lao Chải,Nậm Cang, Nậm Sài
+ Rừng nghèo (IIIa1) có diện tích 2.503,99 ha, trữ lượng khoảng 187.799 m3phân bố ở các xã còn lại và một phần ở Vườn quốc gia Hoàng liên Sa Pa Đây làloại rừng đã bị khai thác kiệt, còn lại những cây ít có giá trị kinh tế như Vàng anh,
Mỡ Sa Pa, Dung lá nhỏ, Vối thuốc, Đỗ quyên, Kiêu Hùng, Cáng lò… Vật liệu cháynhiều cành khô, lá rụng và lớp thảm mục
+ Rừng phục hồi (IIa, IIB) có diện tích 17.626,72 ha, chiếm 44,3% tổng diệntích rừng tự nhiên, có trữ lượng 358.544 m3, đây là loại rừng mới phục hồi saunương rẫy (IIa), sau khai thác kiệt (IIb), thành phần cây gỗ chủ yếu là cây ưa sáng,mọc nhanh, vật liệu cháy là cành khô, lá rụng, cây bụi, thảm tươi, độ ẩm vật liệucháy về mùa khô thấp, khối lượng vật liệu cháy nhiều, nguy cơ cháy cao Tập trungchủ yếu ở các xã: Bản Hồ, Bản Khoang, Bản Phùng, San Sả Hồ, Trung Chải, TảPhìn, Suối Thầu, Nậm Sài, Sa Pả…
+ Rừng tre nứa có diện tích 1.386,09 ha, trữ lượng khoảng 9.425 tấn, loại rừngnày tập trung chủ yếu ở các xã vùng lõi và một phần vùng đệm Vườn quốc giaHoàng liên, Vật liệu cháy ngoài cành khô, lá rụng, còn có cây chết, gốc khô, vật liệucháy ở mặt đất khá nhiều nguy cơ xẩy ra cháy là rất cao và nguy hiểm cho các khurừng gỗ ở phía trên dãy Hoàng liên Sơn
- Rừng trồng 6.265,59 ha, tổng trữ lượng khoảng 143.507 m3 trong đó:
+ Có trữ lượng: 5.740,30 ha, loài cây chủ yếu: Sa Mộc, Tống quá sủ, vối thuốc + Chưa có trữ lượng: 525,29 ha, loài cây chủ yếu, Sa Mộc, Tống quá Sủ, De,
Mỡ, Táo Mèo, (Chi tiết trữ lượng các loại rừng xem phụ lục 7).
Kết quả tổng hợp diện tích rừng trồng cụ thể tại bảng 3.3 như sau:
Bảng 3.3 Tổng hợp diện tích rừng trồng huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Trang 33(Nguồn: Hạt Kiểm lâm huyện Sa Pa, Lào Cai năm 2012)
Qua bảng 3.3 cho thấy diện tích rừng trồng phân bố ở hầu hết các xã trên địabàn huyện, rừng trồng phòng hộ 3.077.62 ha, rừng trồng sản xuất 2.656,62 ha, còn
lại là rừng trồng đặc dụng 531.35 ha (Chi tiết rừng trồng phân theo chức năng xem phụ lục 8).
Rừng trồng tập trung nhiều ở các xã Trung Chải, Thị trấn, Sa Pả, Bản Khoang,San Sả Hồ, Tả Van và đều là những khu rừng nằm trong vùng trọng điểm có khảnăng cháy cao Chi tiết rừng trồng chia theo loài cây xem bảng 3.4 như sau:
Bảng 3.4 Tổng hợp diện tích rừng trồng theo loài cây
Trang 34(Nguồn: Hạt Kiểm lâm huyện Sa Pa, Lào Cai, năm 2012)
Qua bảng 3.3 và bảng 3.4 cho thấy, rừng trồng chủ yếu là rừng đã có trữlượng, loài cây chủ yếu là thuần loài Sa Mộc 1.738,4 ha chiếm 27,74% tổng diệntích rừng trồng; hỗn giao Sa Mộc + Tống quá sủ 4.220,56 ha, chiếm 67,36% tổngdiện tích rừng trồng; còn lại các loài cây trồng khác có diện tích không đáng kể306,89 ha, chiếm 4,9% tổng tích rừng trồng
- Đất trống cỏ tranh, lau lách và cây bụi 4.537,10 ha, đặc trưng là trạng thái Ic1.958,94 ha, chủ yếu nằm trên đất rừng sản xuất xen kẽ với các khu rừng trồng, rừng tựnhiên tái sinh, thảm thực bì nhiều, khi xẩy ra cháy thì khả năng cháy lan là rất cao.Qua nghiên cứu đặc điểm phân bố của các trạng thái rừng trên địa bàn tác giảnhận thấy, hầu hết diện tích các trạng thái rừng đều có nguy cơ cháy cao Đặc biệt làrừng tự nhiên cây gỗ ở khu vực Vườn quốc gia Hoàng liên trạng thái IIa, IIIa1 vàcác trạng thái IIa ở các xã ngoài vùng đệm Rừng trồng phân bố hầu khắp trên địabàn các xã, tập trung nhiều ở Thị trấn, Trung Chải, Sa Pả, Bản Khoang, San SảHồ , có khối lượng Vật liệu cháy nhiều, nguy cơ xẩy ra cháy là rất cao
* Một số đặc điểm khác của tài nguyên thực vật tại Sa Pa
Căn cứ vào vào sách đỏ Việt Nam (2007), sách đỏ thế giới (2000) căn cứ vàodanh sách thực vật trong nhóm IA, IIA ban hành kèm theo Nghị định Số:32/2006/NĐ-CP Dựa vào 5 cấp tiêu chuẩn đánh giá mức độ quý hiếm của các loàiđộng thực vật của tổ chức bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế(I.U.C.N) đề ra và Việt Nam sử dụng trong sách đỏ Việt Nam, các cấp đánh giá:
Trang 35Nguy cấp- Viết tắt EN (Endangered)
Sắp nguy cấp- Viết tắt VU (Vulnerable)
Hiếm- Viết tắt R (Rare)
Bị đe doạ- Viết tắt T ( Threatened)
Thiếu dữ liệu- Viết tắt K (Isuppciently Known) Danh sách các loài bị đe doạ căn cứ vào danh lục thực vật quý hiếm đã điềutra được ở khu vực nghiên cứu cho thấy: 61 loài cây thực vật quý hiếm trên tổng số
891 loài chiếm 7,2% số loài cây của khu vực có trong sách đỏ Việt Nam, sách đỏThế giới và trong Nghị định 32 của Chính phủ Trong số 61 loài quí hiếm này, sốloài thực vật quý hiếm trong sách đỏ thế giới là 17 loài nhưng trong đó chỉ có 8 loàithuộc loại quí hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam còn lại 9 loài là những loài thựcvật ít giá trị về lâm sản hay vai trò sinh thái quần thể mà Việt Nam chưa xếp hạng
và chưa đưa vào sách đỏ Việt Nam là: Chò nâu, Côm lá bàng, Cây Mọ, Chùm bao,
Hà Nu, Mạ sa lá to, Trường Sâng, Cha Cấu – Bách tán Đài loan Những loài hiếmquý đặc trưng của khu vực là Pơ mu, Đinh, Sến, Cha cấu, Vù hương, Chò chỉ, Láthoa, Hoàng Liên, Bình vôi, Củ Dòm, những loài cây quí hiếm cần có sự bảo vệ đặcbiệt sẽ làm tăng giá trị của hệ thực vật và vai trò của công tác bảo vệ và phát triểntài nguyên rừng của cơ sở
(Nguồn: Vườn quốc gia Hoàng liên, hạt Kiểm lâm huyện Sa Pa năm 2012).
3.1.2 Đặc điểm vật liệu cháy
Tính chất và sự phân bố của vật liệu cháy ở trong rừng ảnh hưởng quyết địnhđến sự phát sinh, phát triển của đám cháy Sinh khối hay khối lượng của VLC là một trongnhững điều kiện quan trọng ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng lan tràn của đám cháy Dovậy, để làm giảm cường độ đám cháy là giảm thiểu khối lượng vật liệu cháy
Kết quả điều tra về khối lượng Vật liệu cháy ở một số trạng thái rừng đượctổng hợp ở bảng 3.5
Bảng 3.5 Bảng sinh khối Vật liệu cháy ở các trạng thái rừng
Trang 36Sa mộc + TQ Sủ tuổi 9 với 7,9 tấn/ha, thấp nhất là trạng thái rừng trồng Sa Mộctuổi 6 với 6,7 tấn/ha.
Đối với vật liệu cháy tươi: Ở các trạng thái rừng tự nhiên khác nhau khốilượng vật liệu cháy tươi cũng khác nhau Trạng thái IIIa1 có khối lượng vật liệucháy lớn nhất là 22,3 tấn/ha, thấp nhất là trạng thái rừng IIa có khối lượng là 17,1tấn/ha Ở các trạng thái rừng trồng khối lượng vật liệu cháy tươi có sự khác nhaukhông lớn, cao nhất là trạng thái rừng trồng SM+TQS tuổi 9 với 13,4 tấn/ha, thấpnhất là rừng trồng Sa Mộc tuổi 6 với 11,5 tấn/ha
Nhìn chung tổng khối lượng vật liệu cháy ở các trạng thái rừng là khá lớn, lớnnhất là trạng thái rừng IIIa1 với 32,85 tấn/ha, thấp nhất là trạng thái rừng trồng SaMộc tuổi 6 với 18,2 tấn/ha
Thành phần các loại vật liệu cháy chủ yếu đối với rừng tự nhiên là các loàicây: Trúc tăm, Dương xỉ, Tóc tiên, cỏ chỉ, Mâm xôi, Rau đắng, Sim đất…; các loạivật liệu cháy rừng trồng: Cà gai, Sa Nhân cóc, Dương xỉ, Ké hoa đào, Mua, Cúc taitrâu, tế guột…
Độ ẩm VLC là nhân tố quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bénlửa và xuất hiện đám cháy, duy trì ngọn lửa và tốc độ lan tràn của đám cháy Độ ẩmVLC càng thấp thì khả năng bén lửa càng cao, tốc độ lan tràn của đám cháy càng
Trang 37nhanh Độ ẩm VLC ảnh hưởng lớn đến khả năng cháy rừng nhất là vào thời điểmmùa khô hàng năm
Sau khi lấy mẫu xử lý sấy để xác định độ ẩm VLC ở các trạng thái rừng tạithời điểm điều tra, kết quả xác định độ ẩm VLC xem bảng 3.6 như sau:
Bảng 3.6 Độ ẩm Vật liệu cháy ở các trạng thái rừng
Độ ẩm vật liệu cháy cao nhất là trạng thái rừng tự nhiên IIIa1 có độ ẩm VLC
là 21,46% Vì ở trạng thái rừng IIIa1 có tiểu hoàn cảnh rừng tốt và có nhiều tầng câycao, độ che phủ của lớp cây bụi thảm tươi tương đối lớn, lớp cây bụi thảm tươi vớithành phần loài phong phú với nhiều loài cây khác nhau (Chi tiết tổng hợp khốilượng VLC sau khi sấy xem phụ lục 9)
Ngoài ra, nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy độ ẩm không khí và độ ẩm đất ởcác trạng thái rừng tự nhiên thường cao hơn rừng trồng, vì vậy vật liệu cháy ở dướicác trạng thái rừng đó cũng thường cao hơn
Tại thời điểm thí nghiệm hầu hết các trạng thái rừng trên địa bàn huyện Sa Pađều có khả năng cháy, khối lượng VLC tương đối lớn, nguy cơ cháy là cao Do vậy,những trạng thái này vào thời điểm mùa hanh khô nếu không có những biện phápquản lý, bảo vệ theo dõi kịp thời thì nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn
3.2 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến cháy rừng trên địa bàn huyện Sa pa, tỉnh Lào Cai
Trang 383.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên
Qua khảo sát, đánh giá các yếu tố tự nhiên tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai cho thấy
có những yếu tố thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới công tácphòng cháy, chữa cháy rừng của huyện Kết quả phân tích như sau:
3.2.1.1 Vị trí địa lý, phạm vi ranh giới
* Thuận lợi: Ranh giới dễ xác định ngoài thực địa và trên bản đồ; Có tuyến
đường quốc lộ 4D và các tuyến tỉnh lộ 155, huyện lộ chạy qua địa bàn các xã là điềukiện thuận lợi cho công tác tổ chức tuần tra canh gác, phát hiện lửa rừng; Đồng thời
tổ chức cơ động lực lượng ứng cứu, chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra ở các địabàn trong huyện
* Khó khăn: Địa bàn huyện rộng với tổng diện tích tự nhiên 68.329 ha; Giáp
ranh với nhiều địa phương trong tỉnh (huyện: Văn Bàn, Bát Xát, Bảo Thắng, thànhphố Lào Cai) và tỉnh Lai Châu (huyện: Tam Dường, Tân Uyên), nguy cơ cháy rừnglan từ địa phương khác sang là rất cao; Khó kiểm soát được việc sử dụng lửa ởtrong rừng, ven rừng và phát hiện sớm cháy rừng
3.2.1.2 Địa hình
* Thuận lợi: Địa hình có sự phân hóa mạnh Phần lớn các đỉnh núi có độ cao
trung bình từ 2000-2500 m, nơi có bình độ thấp nhất phía Sa Pa là xã Bản Hồ có độcao là 380m, có nhiều thung lũng bậc thang làm cho các hoạt động sản xuất nươngrẫy ở các khu vực này giảm, nguy cơ cháy rừng thấp; Địa hình phức tạp, độ dốc lớn
Độ dốc trung bình phổ biến từ 20-30o, có nơi tới 40o và dốc đứng Điều này làmgiảm áp lực vào rừng, đặc biệt là các hoạt động sử dụng lửa ở các khu vực này
* Khó khăn: Khó quản lý ranh giới; Công tác tuần tra kiểm soát lửa rừng gặp
khó khăn, việc xây dựng các biện pháp phòng cháy, công trình phòng cháy, đặc biệt
là công tác chữa cháy rừng cực kỳ khó khăn khi có cháy rừng xảy ra ở các khu vựcrừng này; Sự phân hóa về độ cao, độ dốc là nhân tố gây nên sự phân hóa về điềukiện thời tiết, thổ nhưỡng, thảm thực vật rừng, đây là khó khăn cho công tác phòngcháy, chữa cháy rừng trên địa bàn toàn huyện
3.2.1.3 Khí hậu, thuỷ văn
* Thuận lợi: Sa Pa nằm sát chí tuyến trong vành đai Á nhiệt đới Bắc bán cầu,
có khí hậu ôn đới lạnh với hai mùa điển hình Mùa hè mát mẻ, mưa nhiều, một đặctrưng của khí hậu Sa Pa là hầu như quanh năm ở tình trạng ẩm ướt, nguy cơ xảy racháy rừng thấp (trừ 6 tháng khô hạn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau);
Trang 39Địa hình phân cắt mạnh tạo ra mạng lưới suối khá dày, bình quân khoảng 1,0 km/km2, có dạng cành cây và vuông góc, hệ thống sông suối nhỏ và chủ yếuxâm thực sâu Với hai hệ thống suối chính là hệ thống suối Đum và hệ thống suối Bo,tạo độ ẩm cho thảm thực vật rừng, làm giảm nguy cơ cháy rừng.
0,7-* Khó khăn: Mùa đông lạnh giá, ít mưa kéo dài từ tháng 11 năm trước đến
tháng 4 năm sau Đây là thời điểm khô hạn kéo dài, nguy cơ cháy rừng xảy ra cao;Các suối hầu hết có lòng hẹp, dốc, thác ghềnh nhiều, lưu lượng nước thất thường vàbiến đổi theo mùa Vào mùa khô các suối thường cạn, do đó khó khăn cho công tác
đi lại và cung cấp nước cho công tác chữa cháy rừng khi có cháy xảy ra
Nguy cơ cháy rừng ở Sa Pa có liên quan chặt chẽ đến điều kiện khí hậu, thờitiết hanh khô kéo dài, độ ẩm không khí càng cao, lượng mưa thấp thì càng dễ xảy racháy rừng Vì vậy, đề tài tiến hành phân tích đặc điểm của các nhân tố nhiệt độ, độ
ẩm, lượng mưa ở tại địa phương
+ Nhiệt độ không khí:
Nhiệt độ không khí là một trong những yếu tố khí tượng quan trọng nhất ảnhhưởng đến cháy rừng Ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình bốc và thoát hơi nước củavật liệu cháy, làm cho vật liệu cháy nhanh khô và sớm đạt trạng thái bén lửa trongđiều kiện tự nhiên
Để phản ánh sự biến đổi của nhiệt độ không khí trung bình theo thời gian cáctháng trong năm từ năm 2005 đến 2012 tại trạm khí tượng thủy văn huyện Sa Pa, đềtài xây dựng biểu đồ miêu tả diễn biến của nhiệt độ trung bình và nhiệt độ tối caotrung bình như thể hiện ở biểu đồ hình 3.1
Trang 40Hình 3.1 Biểu đồ nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tại Sa Pa
Qua hình 3.1 cho thấy nhiệt độ trung bình các khu vực biến đổi rất rõ nét theothời gian trong năm, cực đại của nhiệt độ đều xảy ra vào các tháng 3, 4, 5 Trongnhững tháng này nhiệt độ trung bình một số nơi lên đến 20oc, chênh với nhữngtháng thấp nhất trung bình từ 5-7oc
Nhiệt độ tối cao trung bình của các tháng cũng biến đổi mạnh trong năm, caonhất là vào tháng 3, 4, 5 Đây là thời kỳ ít mưa, nắng nóng gay gắt, gió mùa TâyNam thổi mạnh (gió Ô quí hồ) làm cho nhiệt độ không khí những tháng này caonhất, độ ẩm không khí xuống thấp nhất, làm cho vật liệu cháy nhanh khô, cây rừngsinh trưởng, phát triển kém, cằn cỗi, làm tăng nguồn vât liệu cháy Từ đó tăng nguy
cơ cháy rừng trong thời gian này
+ Lượng mưa và độ ẩm không khí:
Lượng mưa và độ ẩm không khí ảnh hưởng trực tiếp tới độ ẩm vật liệu cháy và
độ ẩm đất, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến mức độ và nguy cơ cháy rừng
Số liệu thống kê về lượng mưa (R) và độ ẩm tương đối không khí trung bình(W) cho thấy sự biến đổi của lượng mưa và độ ẩm không khí giữa các tháng trongnăm Thể hiện ở hình 3.2
tháng