1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an

96 1,2K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia Pù Mát – Con Cuông – Nghệ An
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Bích Hạnh
Trường học Vườn Quốc Gia Pù Mát – Con Cuông – Nghệ An
Chuyên ngành Kỹ thuật nhân giống thực vật
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 17,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể giâm hom và các chất kích thích ra rễ IBA, IAA và NAA đến rự hình thành rễ và tỉ lệ sống của hom Đỗ Quyên...52 4.3.2... Bảng 4.11: Bảng kiểm tra ảnh hưởn

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Nghiên cứu nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom 4

1.1.1 Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom 4

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 11

1.1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước 12

1.2 Nghiên cứu về loài hoa Đỗ quyên 13

1.2.1 Nguồn gốc, đặc điểm, phân loại hoa Đỗ quyên 13

1.2.2 Yêu cầu sinh thái của cây hoa Đỗ quyên 15

1.2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 20

1.2.4 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 22

1.3 Các nghiên cứu về ứng dụng cây hoa Đỗ quyên 24

1.3.1 Trên thế giới 24

1.3.2 Ở Việt Nam 25

1.4 Kết luận chung 26

Chương 2 MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 27

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

2.3 Nội dung nghiên cứu 27

2.4 Phương pháp nghiên cứu 28

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 28

2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 36

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 38

3.1 Điều kiện tự nhiên 38

3.1.1 Vị trí địa lý 38

3.1.2 Địa hình 38

3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng 39

Trang 2

3.1.4 Khí hậu, thủy văn 40

3.1.5 Đa dạng sinh học 42

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 45

3.2.1 Dân số 45

3.2.2 Lao động và tập quán 45

3.2.3 Văn hoá xã hội 46

3.2.4 Tình hình giao thông và cơ sở hạ tầng 47

3.3 Nhận xét đánh giá chung về điều kiện khu vực nghiên cứu 47

3.3.1 Thuận lợi 47

3.3.2 Khó khăn 47

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ 48

4.1 Điều tra, phân loại các loài Đỗ Quyên theo các nhóm chức năng và nhóm đánh giá 48

4.2 Mô tả đặc điểm hình thái, tình hình sinh trưởng của 5 loài Đỗ quyên phân bố tại Con Cuông 49

4.2.1 Đỗ quyên lá dài Rhododendron maddenii Hook 49

4.2.2 Đỗ quyên sim Rhododendron simsii Planch 49

4.2.3 Đỗ quyên lá rộng, Đỗ quyên chén Rhododendron sinofalconeri Balf 50

4.2.4 Đỗ quyên quang trụ Rhododendron tanastylum Balf 51

4.3 Nghiên cứu phương pháp nhân giống Đỗ Quyên bằng giâm hom 52

4.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể giâm hom và các chất kích thích ra rễ (IBA, IAA và NAA) đến rự hình thành rễ và tỉ lệ sống của hom Đỗ Quyên 52

4.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức giâm hom và chất kích thích đến chất lượng hom 67

Chương 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 77

5.1 Kết luận 77

5.2 Đề nghị 78

Trang 3

IAA : Indol axetic axit

IBA : Indo butyric axit

NAA : Naphtalen axit axetic

NST : Nhiễm sắc thể

VQG : Vườn Quốc Gia

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí các thí nghiệm giâm hom 31Bảng 2.2: Biểu theo dõi quá trình ra rễ của cành hom sau khi giâm 35Bảng 2.3: Biểu theo dõi tình hình sinh trưởng của hom Đỗ Quyên 35Bảng 2.4: Biểu thống kê tỉ lệ sống và tỉ lệ đạt tiêu chuẩn xuất vườn của

hom Đỗ Quyên 36Bảng 2.5: bảng sắp xếp các trị số quan sát trong phân tích phương sai 2

nhân tố m lần lặp 37Bảng 3.1: Một số yếu tố khí hậu đặc trưng khu vực nghiên cứu 41Bảng 4.1: Danh sách các loài Đỗ Quyên tại Pù Mát - Con Cuông - Nghệ An

48Bảng 4.2: Bảng phân loại theo các nhóm chức năng và nhóm đánh giá 48Bảng 4.3: Tỉ lệ ra rễ của hom Đỗ quyên Sim sau khi giâm 105 ngày 53Bảng 4.4: Bảng kiểm tra ảnh hưởng của công thức giá thể và loại thuốc

kích thích đến sự hình thành rễ của hom Đỗ Quyên sim 56Bảng 4.5: Bảng kiểm tra ảnh hưởng của công thức giá thể và loại thuốc

kích thích đến tỉ lệ sống của hom Đỗ Quyên sim 57Bảng 4.6: Bảng so sánh ảnh hưởng của công thức giá thể đến sự hình

thành rễ của hom Đỗ Quyên sim 58Bảng 4.7: Bảng so sánh ảnh hưởng loại thuốc kích thích đến sự hình

thành rễ của hom Đỗ Quyên sim 58Bảng 4.8: Bảng so sánh ảnh hưởng của công thức giá thể đến tỉ lệ sống

của hom Đỗ Quyên sim 59Bảng 4.9: Bảng so sánh ảnh hưởng loại thuốc kích thích đến tỉ lệ sống của

hom Đỗ Quyên sim 59Bảng 4.10: Tỉ lệ ra rễ của hom Đỗ Quyên Quang Trụ sau khi giâm 109 ngày 60

Trang 5

Bảng 4.11: Bảng kiểm tra ảnh hưởng của công thức giá thể và loại thuốc

kích thích đến sự hình thành rễ của hom Đỗ Quyên Quang trụ 64Bảng 4.12: Bảng kiểm tra ảnh hưởng của công thức giá thể và loại thuốc

kích thích đến tỉ lệ sống của hom Đỗ Quyên Quang trụ 64Bảng 4.13: Bảng so sánh ảnh hưởng của công thức giá thể đến sự hình

thành rễ của hom Đỗ Quyên Quang trụ 65Bảng 4.14: Bảng so sánh ảnh hưởng loại thuốc kích thích đến sự hình

thành rễ của hom Đỗ Quyên Quang trụ 65Bảng 4.15: Bảng so sánh ảnh hưởng của công thức giá thể đến tỉ lệ sống

của hom Đỗ Quyên Quang trụ 66Bảng 4.16: Bảng so sánh ảnh hưởng loại thuốc kích thích đến tỉ lệ sống

của hom Đỗ Quyên Quang trụ 66Bảng 4.17: Kết quả nghiên cứu về chất lượng của hom Đỗ Quyên Sim

cuối đợt thí nghiệm 67Bảng 4.18: Bảng kiểm tra ảnh hưởng của công thức giá thể và loại thuốc kích

thích đến chiều cao chồi trung bình/hom của hom Đỗ Quyên Sim 70Bảng 4.19: Bảng so sánh ảnh hưởng của công thức giá thể đến chiều cao

chồi trung bình/hom của hom Đỗ Quyên Sim 71Bảng 4.20: Bảng so sánh ảnh hưởng loại thuốc kích thích đến chiều cao

chồi trung bình/hom của hom Đỗ Quyên Sim 71Bảng 4.21: Kết quả nghiên cứu về chất lượng của hom Đỗ Quyên Quang

Trụ cuối đợt thí nghiệm 72Bảng 4.22: Bảng kiểm tra ảnh hưởng của công thức giá thể và loại thuốc

kích thích đến chiều cao chồi trung bình/hom của hom Đỗ Quyên Quang Trụ 75Bảng 4.23: Bảng so sánh ảnh hưởng của công thức giá thể đến chiều cao

chồi trung bình/hom của hom Đỗ Quyên Quang Trụ 75

Trang 6

Bảng 4.24: Bảng so sánh ảnh hưởng loại thuốc kích thích đến chiều cao

chồi trung bình/hom của hom Đỗ Quyên Quang Trụ 76

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Biểu đồ so sánh tỉ lệ ra rễ của hom giâm Đỗ Quyên Sim ở các

công thức thí nghiệm 55Hình 4.2: Biểu đồ so sánh tỉ lệ sống của hom giâm Đỗ Quyên Sim ở các

công thức thí nghiệm 55Hình 4.3: Biểu đồ so sánh tỉ lệ ra rễ của hom giâm Đỗ Quyên Quang Trụ

ở các công thức thí nghiệm 62Hình 4.4: Biểu đồ so sánh tỉ lệ sống của hom giâm Đỗ Quyên Quang Trụ

ở các công thức thí nghiệm 63Hình 4.5: Biểu đồ so sánh chiều cao chồi trung bình/hom của hom Đỗ

Quyên Sim ở các công thức thí nghiệm 69Hình 4.6: Biểu đồ so sánh chiều cao chồi trung bình/hom của hom Đỗ

Quyên Quang Trụ ở các công thức thí nghiệm 74

Trang 7

MỞ ĐẦU

Hoa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội ở nhiều nướctrên thế giới, đặc biệt ở các nước Á Đông Trồng hoa và chơi hoa là một thúvui tao nhã của mọi người, từ các bậc quyền quý đến các hộ dân nghèo.Những năm trở lại đây, nhu cầu về hoa trên thế giới ngày càng tăng về sốlượng và cả chất lượng Ở Nghệ An, với những điều kiện khí hậu, đất đaikhắc nghiệt không phù hợp cho việc trồng và phát triển các loại hoa, đặc biệt

ở các huyện vùng cao như: Con Cuông, Hòa Bình, Kỳ Sơn Tuy nhiên, từnăm 2001 đến nay, nghề trồng hoa ở Nghệ An đã được hình thành và pháttriển, mang lại thu nhập kinh tế cao cho nhiều doanh nghiệp, hộ gia đình vàcung cấp các sản phẩm có chất lượng cho thị trường trong và ngoài nước Cácloại hoa chất lượng cao như: Hoa ly, hoa hồng và các loài Lan bản địa đã dần

có tên tuổi, gắn liền với những vùng du lịch nổi tiếng

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, sự pháttriển ồ ạt của các ngành công nghiệp cùng với áp lực của sự gia tăng dân số

đã có nhiều tác động xấu đến các hệ sinh thái rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên.Nhiều loài động, thực vật quý, hiếm bị khai thác, săn bắn, xâm lấn nơi ở hoặcmôi trường sống bị ô nhiễm đã dẫn đến nguy cơ bị tuyệt chủng Hơn thế, cuộcsống của chúng ta ngày càng phát triển, công việc hằng ngày với những bậnrộn, lo toan làm cho khoảng cách giữa con người và tự nhiên dường như ngàycàng xa cách Cho dù vậy, thiên nhiên luôn cần thiết với mỗi chúng ta, bởi nó

là khởi nguồn của sự sống, sau những ngày làm việc mệt mỏi con người cần

có một thời gian nghỉ ngơi để hòa mình vào cuộc sống tự nhiên nó sẽ đem đếntình yêu và sức mạnh cho mọi người, đó chính là lý do giải thích về tầm quantrọng của du lịch sinh thái, một ngành kinh tế không thể thiếu trong cuộc sốnghiện đại Du lịch sinh thái là khâu kết nối giữa con người với tự nhiên và giữ con

Trang 8

người với nhau, sự hấp dẫn, lôi cuốn của nó chính là vẻ đẹp, sự hùng vĩ của thiênnhiên với những danh thắng, chim muông và những loài hoa đồng nội.

Địa bàn phố huyện Con Cuông trong đó có Vườn Quốc gia Pù mát cótính đa dạng sinh học cao với 1.297 loài thực vật, thuộc 607 chi và 160 họ của

6 ngành thực vật bậc cao có mạch, trong đó 37 loài nằm trong "Sách Đỏ ViệtNam" với 1 loài nguy cấp (E), 12 loài sắp nguy cấp (V), 9 loài hiếm (R), 3loài bị đe dọa (T), và 12 loài biết không chính xác, 20 loài được liệt kê trongDanh mục Đỏ của IUCN (2002) gồm 1 loài cấp (E), 3 loài cấp (V) và 16 loàicấp (R) Có độ tán che trên 70% với nhiều loại gỗ quý như Pơ Mu, Sa MộcQuế Phong, Trầm, Lát hoa, Kiền kiền… Hệ động vật gồm 1121 loài động vậtthuộc các nhóm thú, chim, bò sát, lưỡng cư, cá… trong đó gồm 132 loài thú

có vú, 361 loài chim, 53 loài bò sát, 33 loài lưỡng cư, 83 loài cá, 365 loàibướm ngày và 94 loài bướm đêm, với nhiều loài thú quý như: voọc, vượn đen

má trắng, hổ, bò tót, Đặc biệt, Sao La là loài động quý hiếm ở vùng nhiệtđới Pù Mát Phong phú về loại hình rừng, thảm động thực vật cùng với cácdanh thắng, di tích như: Thác Khe Kèm, Thác Bổ Bố (Vải trắng), Suối nướcmọc, Sông Giăng, Rừng Săng lẻ và nhất là 67 nghìn ha rừng thuộc Vườnquốc gia Pù Mát, hơn 6 nghìn ha thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống đãtạo cho Con Cuông một vẻ đẹp hùng vĩ của rừng xanh, với vẻ đẹp nguyênsinh không chút động chạm của bàn tay con người có sức hấp dẫn du kháchtrong và ngoài nước, Tài nguyên thực vật rừng nơi đây cũng rất đa dạng vềcông dụng với 16 nhóm công dụng chính như: Lấy gỗ, làm thuốc, cây bóngmát hoặc làm cảnh, làm rau ăn, lấy quả, cho nhựa mủ, cho ta nanh, cho tinhdầu, Đặc biệt, nhóm các loài cây Đỗ Quyên có nhiều giá trị công dụng khácnhau như trồng làm cây cảnh, làm nguồn dược liệu chữa bệnh hoặc có thểtrồng cây đường phố và trồng cảnh quan Hoa Đỗ quyên có giá trị kinh tế rấtcao, mỗi chậu hoa cảnh có giá từ vài trăm nghìn đến hàng triệu đồng

Trang 9

Đỗ quyên là một nhóm các loài cây cho hoa đẹp, đa tác dụng và có giátrị về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực nên được rất nhiều người ưa thích Chúng chỉphân bố tự nhiên ở những vùng núi cao, có khí hậu quanh năm mát mẻ, vì đây

là những loài cây của vùng Á nhiệt đới hoặc Ôn đới núi cao Ở Việt Nam, Đỗquyên thường có ở Sa Pa, Tam đảo, Bạch mã Chính nhờ sự đa dạng về giátrị và công dụng, nhiều loài Đỗ quyên có nguy cơ bị khai thác quá tải nên cóthể bị đe dọa tiêu diệt, do nhiều nguyên nhân khác nhau như: nhu cầu chơicây cảnh, nhu cầu làm dược liệu, và đặc biệt do thị trường Trung Quốc thumua rất lớn với giá cao nên người dân địa phương đã vào rừng thu hái tráiphép ngày càng nhiều Điều đó đã dẫn đến làm suy giảm số lượng và trữlượng loài Trong khi đó, việc nghiên cứu cơ bản về loài cây này còn rất hạnchế, rất có thể có loài sẽ bị tiêu diệt trước khi được nghiên cứu

Để thực hiện ngày càng tốt hơn công tác bảo tồn phát triển các loài cây

Đỗ Quyên và ngăn chặn các tổn thất đa dạng sinh học Đồng thời tạo hướngsản xuất hàng hóa những loài cây này phục vụ nhu cầu chơi cây cảnh, sử dụnglàm thuốc chữa bệnh, trồng cây cảnh quan, tăng thu nhập cho người dân địaphương và giảm áp lực của cộng đồng lên tài nguyên thiên nhiên VQG Pù Mát Xuất phát từ thực tế và yêu cầu của sản xuất và bảo tồn đa dạng sinh học

một số loài hoa Đỗ Quyên nên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa Đỗ quyên của Vườn Quốc gia Pù Mát – Con Cuông – Nghệ An”

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Nghiên cứu nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom

1.1.1 Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom

Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống đểcung cấp hạt hoặc hom cành cho trồng rừng trên quy mô lớn và cho các bướccải thiện giống theo các phương thức sinh sản thích hợp

Thực vật bậc cao có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản hữu tính(bằng hạt) và sinh sản sinh dưỡng (giâm hom, chiết ghép, nuôi cấy mô…) Đểgiữ được tính di truyền tốt của cây giống người ta thường dùng các phươngthức nhân giống sinh dưỡng Nhân giống sinh dưỡng dựa trên cơ sở phân bàonguyên nhiễm Đây là phương thức phân bào về cơ bản không có sự tái tổ hợpcủa chất liệu di truyền cho nên các cây mới được tạo ra vẫn giữ được đặc tínhvốn có của cây mẹ lấy vật liệu giống (Lê Đình Khả và cộng sự, 2003) [13]

Nhân giống bằng hom (cutting propagation): là một trong những

phương pháp nhân giống sinh dưỡng Đó là việc dùng một phần lá, một đoạnthân, đoạn cành, hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là cây hom, cây hom cóđặc tính di truyền như của cây mẹ

Sinh vật bậc cao được phát triển từ một tế bào hợp tử qua nhiều lần phânbào liên tiếp cùng với quá trình phân hoá các cơ quan Trong suốt quá trìnhphân bào số lượng (NST) của tế bào khởi đầu và tế bào mới được phân chia nhưnhau nên được gọi là phân bào nguyên nhiễm hay nguyên phân kết quả từ một

tế bào ban đầu cho hai tế bào con có số lượng NST cũng như cấu trúc và thànhphần hoá học giống như tế bào ban đầu (Lê Đình Khả và cộng sự, 2003) [13].Nhờ có quá trình nguyên phân mà khối lượng cơ thể cây con có thể tănglên, sau đó nhờ có quá trình phân hoá các cơ quan trong quá trình phát triển

Trang 11

cá thể mà tạo thành một cây con hoàn chỉnh Đây là quá trình đảm bảo chocây con duy trì tính trạng của cây mẹ.

Khả năng ra rễ của hom cũng phụ thuộc vào xuất xứ, có loại hom dễ ra

rễ có loại hom khó ra rễ, chồi đỉnh có khả năng ra rễ tốt hơn chồi nách, đặcbiệt là cành chồi vượtdễ ra rễ hơn cành lấy từ tán cây Mỗi loài cây có mộtloại hom phù hợp riêng, tuỳ từng loài mà lấy hom ở tuổi, vị trí nào cho phùhợp (Hoàng Thái Sơn, 1997) [20]

Nhân giống bằng hom dựa trên khả năng tái sinh hình thành rễ bất định củamột đoạn thân hoặc cành trong điều kiện thích hợp để tạo thành cơ thể mới

Rễ bất định là rễ được sinh ra ở bất kỳ bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của

nó, trong hom giâm và chiết điều quan trọng là quá trình hình thành rễ bất định

Có 2 loại rễ: Rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh

- Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưngchỉ phát triển khi bộ phận của thân được tách ra khỏi cây mẹ

- Rễ mới sinh: Là loại rễ sinh ra sau khi cắt và giâm hom Khi đó các tếbào chỗ bị cắt, bị tổn thương, và các tế bào dẫn truyền đã chết của mô gỗđược mở ra là giai đoạn các chu trình trao đổi chất và vận chuyển các chấttrong thân cây, dẫn đến dòng nhựa luyện được dẫn từ lá xuống đây bị dồn lạikhiến cho các tế bào phân chia hình thành mô sẹo, đây là cơ sở hình thành rễbất định (Lê Đình Khả, 2001) [12]

Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm 3 giai đoạn:

+ Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành lên một lớp tếbào bị thối trên bề mặt

+ Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia và hình thànhlớp mô mềm gọi là mô sẹo

+ Các tế bào vùng thượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu hình thành rễ.Mức độ hoá gỗ cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom Hom hoá gỗ nhiều,hay phần gỗ chiếm nhiều thì khả năng ra rễ kém Hiện tượng cực tính là hiện

Trang 12

tượng phổ biến trong giâm hom, do vây khi giâm hom phải đặt hom cho đúngchiều (Hoàng Thái Sơn, 1997) [20].

* Ưu điểm của giâm hom

- Hệ số nhân cao: Từ một cây mẹ, giống tốt có thể lấy được nhiều cànhhom để tạo ra nhiều cây con Trong khi chiết không cho phép lấy nhiều cànhtrên một cây (Mai Quang Trường và CS, 2007) [23]

- Giữ nguyên đặc tính cây mẹ, chất lượng và tính chống chịu ổn định:Trong giâm hom đặc tính di truyền, phẩm chất và tính trạng trội của cây mẹđược giữ nguyên Có khả ngăng khống chế số lượng đực hoá (Mai QuangTrường và CS, 2007) [23]

- Năng suất, sản lượng cao: Cây giâm hom hầu hết đều ra quả nhanhhơn cây trồng bằng hạt, vì nó hoàn thành diện tích tán lá cần thiết để ra hoasớm hơn (Mai Quang Trường và CS, 2007) [23]

* Nhược điểm của giâm hom

Giâm hom đòi hỏi kỹ thuật công phu, giá thành cao hơn nhân giống bằnghạt ( chi phí cao gấp 6 - 8 lần so với trồng bằng hạt) Hạn chế tuổi của cây mẹlấy hom (Mai Quang Trường và CS, 2007) [23]

* Ảnh hưởng của môi trường sống đến quá trình giâm hom

Thông thường người ta chia các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễcủa hom giâm thành 2 nhóm: Nhóm nhân tố nội sinh bao gồm những đặcđiểm di truyền của loài, của xuất xứ và của cá thể, vai trò của tuổi cây, tuổicành, vị trí cành và nhóm nhân tố ngoại sinh gồm các loại chất kích thích ra

rễ và các nhân tố ngoại cảnh như độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ, thời vụ giâm hom

Nhân tố nội sinh

-Đặc điểm di truyền loài

Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các loài đều có khảnăng ra rễ như nhau, tuỳ theo đặc điểm di truyền các loài cây khác nhau có tỉ

Trang 13

lệ ra rễ khác nhau Nanda (1970) đã dựa theo khả năng ra rễ để chia các loàicây gỗ thành các nhóm chính sau:

+ Nhóm các loài cây tương đối khó ra rễ gồm 26 loài trong đó có các

chi Morus sp, Ficus sp, Populus sp …

+ Nhóm các loài cây có khả năng ra rễ trung bình gồm 65 loài trong đó

có các chi Eucaluptus sp, Quercus sp …

+ Nhóm các loài cây dễ ra rễ gồm có 29 loài như một số loài thuộc các

chi Malus sp., Prunus sp., Pyrus sp … thuộc họ Rosaceae, và một số chi khác như Aesculus ps, Bauhinia sp …

Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang ý nghĩa tương đối vì có một sốloài ở nhóm 1, hoặc nhóm 2 vẫn dễ ra rễ như Gạo, Liễu sam, Vân sam … dovậy theo khả năng giâm hom có thể chia thực vật thành 2 nhóm chính là:+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom cành gồm các loài thuộc họ Dâu

tằm (Moraceae) như Dâu tằm, Sung… và họ Liễu (Salicaseae) như Sắn,

Mía… đối với nhóm này khi giâm hom không cần phải xử lý thuốc hom vẫn

ra rễ bình thường

+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt thì khả năng ra rễ của hom giâm bịhạn chế ở mức độ khác nhau Những loài cây dễ ra rễ như Sở đến 35 tuổi vẫn

có khả năng ra rễ 70 - 90% Những loài cây khó ra rễ như Mỡ (Manglietia

glauca) 5 tuổi vẫn chỉ ra rễ 14%, với nhóm này muốn có tỉ lệ ra rễ cao phải

dùng cây non và xử lý các chất kích thích ra rễ thích hợp (Lê Đình Khả vàcộng sự, 2003) [13]

- Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng cá thể

Do đặc điểm biến dị mà các xuất xứ và các cá thể khác nhau cũng có khảnăng ra rễ khác nhau Nghiên cứu cho Bạch đàn trắng Caman

(E.Camaldulensis) 4 tháng tuổi đã thấy rằng trong lúc xuất xứ Katherine có tỉ

lệ ra rễ 95% thì xuất xứ Gilbert River có tỉ lệ ra rễ 50%, còn xuất xứ NghĩaBình chỉ ra rễ được 35% (Lê Đình Khả và cộng sự, 2003) [13]

Trang 14

-Vị trí cành và tuổi cành lấy hom

Hom lấy từ các phần khác nhau trên thân cũng có khả năng ra rễ khácnhau Thông thường hom lấy từ cành ở tầng dưới dễ ra rễ hơn ở tầng trên.Cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành lấy từ tán cây, vì vậy người ta thường xử lýcho cây ra chồi vượt để lấy hom giâm (Lê Đình Khả và cộng sự, 2003) [13]

-Sự tồn tại của lá trên hom

Lá là cơ quan quang hợp tạo ra các chất hữu cơ cần thiết cho cây, đồngthời cũng là cơ quan thoát hơi nước để khuyếch tán các chất kích thích ra rễđến các bộ phận của hom Lá còn là cơ quan điều tiết các chất điều hoà sinhtrưởng ở hom giâm, vì thế khi giâm hom phải để lại một diện tích lá cần thiết,song diện tích lá quá lớn, quá trình thoát hơi nước mạnh sẽ làm cho hom bịhéo và có thể chết trước khi ra rễ Do vậy hom phải có 1 - 2 lá, và phải cắt bớtmột phần (chỉ để lại 1/3 - 1/2) diện tích lá (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [18]

-Kích thước hom: hom có đường kính lớn ra rễ tốt hơn hom có đường

kính nhỏ

- Tuổi cây mẹ lấy cành

Khả năng ra rễ của hom giâm không những do tính di truyền quy định

mà còn phụ thuộc rất lớn về tuổi cây mẹ lấy cành Thông thường cây chưa rahoa kết quả dễ nhân giống bằng hom hơn khi đã cho quả, những cây mẹ còntrẻ, sức sống mạnh mẽ, có năng lực phân sinh mạnh nên hom ra rễ tốt hơn.Cây càng già khả năng ra rễ của hom càng yếu Thậm chí ở một số loài cây khảnăng ra rễ chỉ tồn tại ở những cây 1 - 2 tuổi (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [18]

- Các chất điều hoà sinh trưởng

chất điều hoà sinh trưởng bao gồm các hoóc môn thực vật tự nhiên vànhững hợp chất hữu cơ được tổng hợp nhân tạo Người ta chia chất điều hoàsinh trưởng ra làm nhiều nhóm, mỗi nhóm có đặc trưng riêng của nó, trong đónhóm Auxin có tác động kích thích ra rễ mạnh nhất khi xâm nhập vào tế bàothực vật làm cho tính thấm của nguyên sinh chất và hô hấp tăng lên … thúc

Trang 15

đẩy sự ra rễ của thượng tầng dẫn đến sự thúc đẩy ra rễ của hom Tuy nhiên sựkích thích sinh lý của Auxin phụ thuộc chặt chễ vào nồng độ của nó trong tếbào Khi nồng độ quá cao thì tác động kích thích trở thành kìm hãm Do đóviệc chọn loại thuốc và nồng độ phù hợp cho từng loại cây là rất quan trọng

Các nhân tố ngoại sinh

Khả năng ra rễ của hom giâm chịu ảnh hưởng của các nhân tố ngoại sinhnhư điều kiện sinh sống của cây mẹ và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trìnhgiâm hom như mùa vụ, ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ và giá thể giâm hom

-Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành

Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành như điều kiện chiếu sáng, độ

ẩm không khí, độ ẩm đất có ảnh hưởng khá rõ đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm,nhất là hom lấy từ những cây non

-Giá thể hay môi trường giâm hom

Giá thể cũng góp phần vào thành công của giâm hom Các loại Giá thểgiâm hom thường dùng là mùn cưa để mục, xơ dừa băm nhỏ, đất tầng B, cáttinh …giá thể giâm hom tốt phải duy trì được ẩm độ trong thời gian dài vàkhông ứ nước, tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời phải sạch, không

bị nhiễm nấm và không có nguồn sâu bệnh, độ PH khoảng 6,0 – 7,0

-Thời vụ giâm hom

Thời vụ là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khảnăng ra rễ của hom giâm Một số loài cây có thể giâm quanh năm, song nhiềuloài có thời vụ giâm hom rõ rệt Theo Frison (1967) và Nesterov (1967) thìmùa mưa tỉ lệ ra rễ của hom giâm cao hơn so với các mùa khác, kết quả giâmhom tốt hay xấu thường gắn liền với các yếu tố như diễn biến khí hậu thời tiếttrong năm, mùa sinh trưởng của cây và trạng thái sinh lý của cành (Lê ĐìnhKhả và cộng sự, 2003) [13]

- Ánh sáng

Ánh sáng cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động sống của sinh vật, ánhsáng đóng vai trò sống còn trong việc ra rễ của hom giâm Không có ánh sáng

Trang 16

và không có lá thì hom không có hoạt động quang hợp, quá trình trao đổi chấtkhó xảy ra do đó hom khó ra rễ Trong thực tế ảnh hưởng của ánh sáng đếnviệc ra rễ của hom giâm thường mang tính chất tổng hợp theo kiểu phức hệánh sáng - nhiệt độ - ẩm độ (Lê Đình Khả và cộng sự, 2003) [13].

- Nhiệt độ

Nhiệt độ là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sống củasinh vật, là nhân tố quyết định đến tốc độ ra rễ của hom giâm (Pravdin, 1938)nhiệt độ quá thấp hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn mà không ra rễ, c ̣n nhiệt độ quácao sẽ làm tăng cường độ hô hấp, giảm tỉ lệ ra rễ của hom hoặc làm chết hom,đối với các loài cây nhiệt đới nhiệt độ không khí thích hợp nhất cho quá trìnhgiâm hom là từ 25ºC - 35ºC nhiệt đô giá thể cao hơn nhiệt độ không khí 3ºC -5ºC thì tỉ lệ ra rễ tốt hơn Nhiệt độ không khí trên 35ºC sẽ làm tăng tỉ lệ héo láảnh hưởng xấu đến quá trình giâm hom (Lê Đình Khả và cộng sự, 2003) [13]

- Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể

Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố hết sức quan trọng trongquá trình giâm hom Các hoạt động sống của cây đều cần nước Khi giâmhom mỗi loài cây đều cần một ẩm độ thích hợp, mất 15 - 20% độ ẩm homhoàn toàn mất khả năng ra rễ Độ ẩm giá thể thích hợp cho giâm hom là 50 -70% khi tăng ẩm độ lên 100% chỉ một số loài như Nerium oleander mới giữđược tỉ lệ ra rễ cao, các loài khác đều giảm rõ rệt hoặc không ra rễ (Lê ĐìnhKhả và cộng sự, 2003) [13]

- Các chất kích thích sinh trưởng

+Các Auxin: Auxin có tác dụng sinh lý rất nhiều mặt lên các quá trình

sinh trưởng của tế bào, hoạt động của tượng tầng, hiện tượng ưu thế ngọn,tính hướng của thực vật, sự sinh trưởng của quả và tạo quả không hạt, đặc biệt

là kích thích sự hình thành rễ của hom giâm, trong đó các Auxin được sửdụng nhiều nhất Các Auxin gồm 2 nhóm là Auxin tự nhiên, hiện nay có IAA(Indol axetic axit) và Auxin tổng hợp là IBA (Indo butyric axit), NAA

Trang 17

(naphtalen axit axetic) Trong nhân giống vô tính thì việc sử dụng auxin đểkích thích sự ra rễ là cực kỳ quan trọng và bắt buộc.

+ Xử lý hom bằng thuốc nước: Khi dùng thuốc nước để xử lý hom thì

nồng độ và thời gian sử lý có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ ra rễ của homgiâm Nồng độ thấp thì thời gian sử lý dài, nồng độ cao thì thời gian sử lýngắn Hiện nay có khuynh hướng sử dụng nồng độ cao 2.000ppm - 3.000ppm

để xử lý hom trong thời gian 3-4 giây đã gây lại hiệu quả ra rễ cho hom giâm

+ Xử lý bằng thuốc bột: Xử lý bằng thuốc bột là phương pháp đơn giản

dễ thao tác, tiện lợi cho sản xuất cây con với quy mô lớn Đối với từng loàicây, cần xác định rõ loại thuốc, nồng độ và thời gian xử lý thích hợp nhất.Trạng thái hom khác nhau (hom hoá gỗ yếu, hom nửa hoá gỗ hay hom đã hoágỗ) cũng yêu cầu nồng độ và thời gian xử lý thuốc khác nhau và điều này cầnđược quan tâm khi có kế hoạch xử lý một số lượng lớn hom cành cho sản xuất(Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [18]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Với tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu và khu vực

đã làm cho môi trường sống bị ô nghiễm, rừng bị suy giảm về diện tích vàchất lượng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sức khoẻ con người Đứng trướctình hình đó các nhà khoa học về lĩnh vực nông lâm nghiệp đặc biệt là sự đónggóp của các nhà khoa học lâm nghiệp đã và đang nỗ lực để tìm ra những phươngpháp tạo giống cây mới góp phần làm cho ngân hàng giống ngày càng đa dạng

Năm 1972 Bhatganr đã thử nghiệm giâm hom cây Tếch (Tectona

gramdis) trong một công thức thích hợp cho tỉ lệ ra rễ của hom giâm là 65,8%.

Cũng theo nghiên cứu của Bhatganr, Toski người Ấn Độ đã giâm hom chồiBạch đàn vào năm 1973 cho tỉ lệ ra rễ đạt 60% (Hoàng Thái Sơn, 1997) [20]

Và từ đầu thập kỷ 80 đến nay thì công tác nghiên cứu đã đạt được nhiềuthành công như các loài cây lá kim, lá rộng ở Châu Âu năm 1987 (đặc biệt là

các loài Betula, Querus, Sorubs và Salix), cây Tếch (Tectona gramdis, 1992)

Trang 18

Ở Đông Nam Á những năm gần đây việc nghiên cứu và sản xuất câyhom đã được tiến hành ở nhiều nước Trung tâm giống cây rừng Asean -Canada (ACLTSC) đã tổ chức thử nghiệm nghiên cứu giống hom từ nhữngnăm 1988, đây là nơi có cơ sở hạ tầng tốt nhất, thích hợp nhất cho công tácgiâm hom và đã thu được nhiều kết quả tốt với các loài cây họ đậu.

Tại Trung Quốc đã xây dựng được một quy trình công nghệ về sản xuấtcây con bằng cây mô hom cho hàng chục loài cây gỗ, cây ăn quả và cây cảnh.Vậy trải qua một quá trình nghiên cứu tìm tòi sáng tạo của các nhà khoahọc họ đã tạo ra những cây con giống đáp ứng được những yêu cầu thực tiễnđặc biệt việc tạo giống bằng cây mô hom đã mở ra một hướng đi mới đầytriển vọng trong công tác tạo giống cây trồng ở các nước trên thế giới

1.1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước

Những thành tựu trong nghiên cứu tạo giống cây trồng bằng phươngpháp giâm hom đã và đang được ứng dụng tại Việt Nam Song song với nócác nhà khoa học của chúng ta cũng không ngừng nỗ lực tìm ra những quytrình, phương pháp riêng cho việc giâm hom cây rừng nói chung và cây cảnhquan nói riêng Lần đầu tiên Việt Nam đã thử nghiệm giâm hom một số cây Bạchđàn, Thông …được tiến hành tại trung tâm nghiên cứu cây nguyên liệu giấy PhùNinh - Phú Thọ (nay đổi tên thành viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy)

Năm 1984, Nguyễn Ngọc Tân đã giâm hom thành công loài cây Mỡ từcây non hoặc từ chồi gốc cây trưởng thành, ông cho biết tỉ lệ ra rễ của homgiâm là 40% ở hom chưa hoá gỗ của cây Mỡ khi các hom này được xử lý vớithuốc 2,4 D, nồng độ 50 ppm trong 3 giây (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [18].Năm 1990, Nguyễn Hoàng Nghĩa nhân giống cây Sở (Camellia oleosa)bằng hom cành với tỉ lệ ra rễ của hom giâm là 80% Đến năm 1992 DươngMộng Hùng đã nhân giống Phi Lao bằng hom cành có tỉ lệ ra rễ lớn đạt tới76,6% (Hoàng Thái Sơn, 1997) [20]

Trang 19

Từ những năm 1990 trở lại đây, Lê Đình Khả cùng Phạm Văn Tuấn vàNguyễn Hoàng Nghĩa đã tiến hành nghiên cứu giâm hom các loài Bạch đàn(1990 - 1991), cây Sở (Lạng Sơn, 1990), Keo lá tràm và Keo lai (1995), câyBách xanh (1999), Pơ mu (Lâm Đồng, 1997), Thông đỏ (Ba Vì, 1995).

Trung tâm nghiên cứu cây rừng viện khoa học Việt Nam sau một thờigian nghiên cứu xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học côngnghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi đã sản xuất nhiềugiống cây lâm nghiệp có năng suất và chất lượng cao bằng phương pháp giâmhom, phục vụ cho công tác trồng rừng trong 4 năm 2007 - 2011 Tính đến naytrung tâm đã sản xuất được 650 triệu cây giống giâm hom và đã được trồngthử nghiệm trên 80 ha rừng nguyên liệu tại các tỉnh miền trung

1.2 Nghiên cứu về loài hoa Đỗ quyên

1.2.1 Nguồn gốc, đặc điểm, phân loại hoa Đỗ quyên

* Nguồn gốc: Hoa Đỗ quyên còn gọi là Thạch lựu núi, khái niệm hẹp

này có nghĩa là chỉ phân bố ở vùng núi phía nam lưu vực sông Trường giang,người ta cho rằng hoa Đỗ quyên có nguồn gốc từ Trung Quốc được phân bốnhiều ở các bờ nam và bắc các con sông lớn của Trung Quốc, vào năm 402sau công nguyên đã xuất hiện hoa Đỗ quyên, sử sách Trung Quốc có ghi lạithời đó Dê ăn lá Đỗ quyên bị chết; Thời đường ở Giang Tô đã trồng cây Đỗquyên và lưu truyền rằng Hoàng hậu Đường chinh thường đi thưởng thức hoa

Đỗ quyên vào ngày tết Người ngoại quốc lấy rễ cây hoa Đỗ quyên làm thuốcchữa bệnh Đến thời Minh có rất nhiều tài liệu ghi chép lại về hoa Đỗ quyênnhưng đến đời Thanh mới có một cuốn sách mô tả, tổng kết kinh nghiệm vềtập tính và cách trồng hoa Đỗ quyên Đến thời cận đại có 4 nhà học giả người

Mỹ đã 31 lần đến Trung Quốc thu lượm hoa trong đó có 1 phần hoa Đỗquyên Hiện nay ở Anh có một vườn hoa có đến 350 loài hoa Đỗ quyên củaTrung Quốc Trong một khu bảo tàng thực vật ở nước Anh có 1 cây hoa Đỗquyên được giữ làm tiêu bản gốc từ năm 1915, cây Đỗ quyên này có đường

Trang 20

kính là 2,6m, 280 năm tuổi theo vòng năm, sau này ở Anh đã khai thác sử dụngtài nguyên di truyền phong phú của Trung Quốc, Nhật Bản và châu âu để lai tạo

ra nhiều giống hoa Đỗ quyên mới, ngày nay mỗi gia đình ở nước Anh đều cóhoa Đỗ quyên, họ có từ 2-3 ha, thậm chí có gia đình có tới 10 ha Hoa đỗ quyên

ở Trung Quốc đã trở thành “ Hoa nở trong tường, hương thơm ngoài ngõ”

* Đặc điểm: Cây Đỗ quyên (Rhododendron) thuộc nhóm cây gỗ hay cây

bụi Lá đơn mọc cách, ít khi mọc đối hoặc mọc vòng, mép lá nguyên hoặc córăng cưa, không có lá kèm Hoa tự đơn lẻ hoặc chùm, tán hoặc viên chùy ởnách lá hoặc đầu cành, thường có 1 - 3 lá bắc Hoa lưỡng tính đều hoặc khôngđều Đài 4 - 5 cánh, hợp gốc, tràng hợp gốc, 4 - 5 cánh xếp lợp, đỉnh cánhtràng thường có vết lõm Nhị rời thường gấp đôi số cánh tràng, nhị 5 - 10, lộ

ra ngoài ống tràng, bao phấn 2 ô thường mở lỗ và có cựa Triền hoa trong nhị.Bầu trên 4 - 5 ô, đôi khi nhiều hơn Quả nang tách ô hoặc nứt vách

Đỗ quyên là một trong những loài hoa cảnh rất được ưa chuộng ở nhiềunước trên thế giới bởi vẻ đẹp dịu dàng của nó Cây có nguồn gốc ôn đới, mọcnhiều ở những vùng núi cao, thích hợp với khí hậu mát mẻ quanh năm Đỗquyên rất sợ nắng và nơi không thoát nước, Đỗ Quyên rất đa dạng phong phú

về chủng loại, kích cỡ và màu sắc Trên thế giới, đỗ quyên phân bố nhiều ở vùng

ôn đới Bắc Mĩ, vùng cao nguyên tiếp giáp Á - Âu và Đông Á, khá phổ biến ởNhật và Bắc Triều Tiên Hoa đỗ quyên cũng hay được nhắc đến trong các tácphẩm nghệ thuật như thi ca và hội họa Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc ỞViệt Nam, đỗ quyên có ở những vùng núi cao như Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo, Bạch

Mã, làng Trình Xuyên bên bờ sông Trà Lý phụ cận thành phố Nam Định

* Phân loại thực vật học hoa Đỗ quyên:

- Giới (regnum) : Plantae

- Ngành (division): Magnoliophyta

- Lớp (class): Magnoliopsida

- Bộ (ordo) : Ericales

Trang 21

- Họ (familia) : Ericaceae

- Chi : Rhododendron

- Tên thông thường : Đỗ quyên

- Tên khoa học : Rhododendron [3],[8],[11]

1.2.2 Yêu cầu sinh thái của cây hoa Đỗ quyên

1.2.2.1 Ánh sáng

Hoa Đỗ quyên là loại cây chiếu sáng dài, thông thường phải có điều kiệnchiếu sáng - không gian thì mới nở hoa, lúc sinh trưởng chế độ chiếu sángphải chọn lọc nhất định, các loài hoa Đỗ Quyên rất ưa nửa bóng, kỵ chiếusáng mạnh, ánh sáng trực xạ sẽ làm cho chức năng quang hợp của lá bị thayđổi dẫn đến hiện tượng héo sinh lý, nhất là khi độ chiếu sáng mạnh của mùa

hè nhiệt độ tăng đột ngột quá trình quang hợp sẽ bị ngừng trệ ảnh hưởng đếnhoạt động sinh lý bình thường thậm chí phá hoại chất diệp lục lá chuyển sangmàu nâu, xuất hiện hiện tượng lão hoá Mùa chiếu sáng mạnh nên đưa hoavào nơi giâm mát để chăm sóc như vậy thì sinh trưởng của cây mới bìnhthường, lá mới xanh nếu chiếu sáng quá nhiều lá mất màu xanh và bị khô Cácchủng loại hoa Đỗ Quyên khác nhau thì sức đề kháng với ánh sáng cũng khácnhau

1.2.2.2 Nhiệt độ

Hoa Đỗ Quyên là loài ưa mát không thích hợp với môi trường ánh sáng,nhiệt độ cao Nhưng các giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau yêu cầuđối với nhiệt độ cũng khác nhau , nhiệt độ cao hay thấp đều có liên quan rấtmật thiết đối với sinh trưởng phát triển của hoa Đỗ Quyên, ảnh hưởng trựctiếp đến quá trình ra chồi hoa và nụ hoa, là nhân tố quan trọng khống chế sự

ra hoa Sinh trưởng mạnh nhất của hoa Đỗ Quyên vẫn yêu cầu khí hậu mát mẻcủa mùa xuân và những mùa nhiệt độ cao sinh trưởng rất chậm, trong thời kỳ

ra hoa môi trường nhiệt độ cao hoa khó hình thành, thực tế chứng minh rằngtrong điều kiện chiếu sáng nhiệt độ từ 15-250c thì nụ hoa phát triển nhanh từ 1

Trang 22

chồi hoa thành 1 bông hoa nở trong 30 - 40 ngày , nhiệt độ thấp <150c thì hoa

nở mất 50 ngày, nhưng nhiệt độ >300c thì sinh trưởng hoa Đỗ Quyên và sự rahoa càng bị ảnh hưởng, có 1 số loài hoa Đỗ quyên ở nơi chiếu sáng mạnhnhiệt độ cao thì các lá sẽ nhỏ lại nụ hoa phát triển không đồng đều, nếu ởnhiệt độ <10oc hoa nở kéo rất dài 80 ngày không bị héo nếu nhiệt độ >200cthời gian sẽ ngắn hơn 40 ngày Do hoa Đỗ quyên sinh trưởng ở vùng cao nên

có khả năng chịu rét rất tốt thậm chí có loại hoa Đỗ quyên chịu được nhiệt độ

là âm 300c

1.2.2.3 Nước

Hoa Đỗ quyên trong quá trình phát triển có bộ rễ bé như tóc, phản ứngrất nhạy cảm đối với nước vừa sợ hạn vừa sợ úng chỉ cần cung cấp đủ lạikhông bị tích nước Hoa Đỗ quyên cũng yêu cầu rất nghiêm khắc với trữlượng nước, bình thường thì ưa nước hơi chua nếu như tưới nước hơi kiềm thì

sẽ làm cho đất chua biến thành kiềm thì sẽ ảnh hưởng đến hoa Trong đất có

độ chua tốt nếu tưới nước kiềm cho cây to, nhỏ sau 1 năm thì cây chết chonên để thoả mãn chất lượng nước cho hoa Đỗ quyên thì trước hết phải nắmchính xác chất lượng nước của địa phương để xác định có cần thiết phải cungcấp nước và xử lý nguồn nước hay không

Độ ẩm của không khí và đất đều ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triểncủa cây hoa Độ ẩm thích hợp thì cây hoa sinh trưởng, phát triển tốt ít sâubệnh, ra hoa đẹp, chất lượng hoa cao

Nước đóng vai trò quan trọng trong cơ thể thực vật Nước giữ vai tròquan trọng trong phân chia tế bào, khi có đầy đủ nước và môi trường thíchhợp, tế bào phân chia, phát triển thuận lợi cây sinh trưởng nhanh Khi thiếunước các quá trình sinh lý, sinh hóa trong cây hoa giảm, các hợp chất hữu cơđược tạo thành ít, cây còi cọc, phát triển kém Nếu sự thiếu nước kéo dài, câyhoa có thể khô héo và chết Nhưng, nếu quá nhiều nước, cây bị úng ngập, sinhtrưởng phát triển của cây cũng bị ngừng trệ Quá ẩm ướt, sâu bệnh phát triển

Trang 23

mạnh, hoa cho năng suất thấp, chất lượng hoa kém Mỗi loại hoa yêu cầu độ ẩmkhác nhau Hoa Đỗ quyên thuộc ôn đới yêu cầu độ ẩm đất thường khoảng 70 -90%, nếu khống chế ẩm độ thích hợp thì độ dài cành tăng thêm trung bình 8,2%.

1.2.2.4 Đất

Đất là một yếu tố môi trường quan trọng cơ bản nhất, là nơi nâng đỡ câytrồng, cung cấp nước, dinh dưỡng cơ bản và không khí cho sự sống của câyhoa Phần lớn các cây hoa yêu cầu đất tốt, nhiều mùn, tơi xốp, thoát nước, cókhả năng giữ ẩm, tầng canh tác dày

Nhìn chung hoa Đỗ quyên đều thích nghi và phát triển tốt trên nhữngloại đất trung tính và ít chua, rễ phân bố chủ yếu ở tầng đất 60 cm trở lên, một

số ít giống phân bố 1 m trở lên Mực nước ngầm > 40 m để tránh ảnh hưởngtới bộ rễ Đất trồng hoa Đỗ quyên phải đảm bảo đủ các yếu tố sau: Đất tơixốp, thoát nước, thông thoáng gió, nhiều mùn, đủ phân bón Độ pH khoảng từ

4 - 6 là phù hợp nhất

1.2.2.5 Nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây hoa Đỗ Quyên

Nhu cầu dinh dưỡng và đặc điểm hút dinh dưỡng của cây có liên quanđến nguồn gốc cây và giống Nhu cầu và tác dụng sinh lý của các nguyên tốkhoáng với hoa Đỗ Quyên có đặc điểm sau:

+ Nguyễn Như Hà [7], Nguyễn Ngọc Nông [21], Đạm (N): là nguyên tốquan trọng nhất của cây, nó là thành phần của axit amin, protein, axit nucleic,men, chất kích thích sinh trưởng, vitamin (chiếm khoảng 1-2% khối lượngchất khô) Cây có thể hút đạm dưới các dạng: NO3-, NO2-, NH4+, axit amin, Đạm ảnh hưởng rất lớn tới sản lượng và chất lượng hoa hồng, thiếu đạm câysinh trưởng chậm, phân cành yếu, cành, lá nhỏ, diệp lục tố ít, lá biến vàng, lágià và dễ bị rụng, rễ nhỏ dài và ít, cây thấp khả năng quang hợp giảm

+ Lân (P): tham gia vào thành phần quan trọng của axit nucleic và màng

tế bào, tạo thành ATP là vật chất mang và tải năng lượng Lân thường chiếm

từ 1 - 1,4% khối lượng chất khô của cây Cây hút lân dưới dạng H2PO4- và

Trang 24

HPO42-, lân có thể di chuyển trong cây, chủ yếu tập trung ở phần non Khithiếu lân thì phần già biểu hiện trước Lân cũng ảnh hưởng lớn đến phẩm chấtcây Thiếu lân dẫn tới tích lũy đạm dạng nitrat gây trở ngại cho việc tổng hợpprotein Cành, lá, rễ sinh trưởng chậm, cây thấp bé, lá có màu tím tối hoặc tím

đỏ ảnh hưởng đến tổng hợp chất tinh bột, hoa nở khó Nhiều lân quá sẽ ức chếsinh trưởng dẫn tới thừa sắt, lá biến vàng, ảnh hưởng tới sự hút sắt

+ Kali (K): không tham gia thành phần cấu tạo của cây, thường tồn tạitrong dịch bào dưới dạng ion Tác dụng chủ yếu của kali là điều tiết áp suấtthẩm thấu của tế bào, thúc đẩy quá trình hút nước và dinh dưỡng của cây Khiánh sáng yếu kali có tác dụng kích thích quang hợp, tăng sức đề kháng chocây Trong cây, kali di động tự do Nếu thiếu kali, sự sinh trưởng, phát dụccủa cây giảm sút, mép lá thiếu màu xanh, ngọn lá khô héo sau đó lan ra toàn

lá, các đốt ngắn lại, nụ hoa nhỏ và dễ trở thành hoa mù Kali là nguyên tố màcây hút nhiều nhất, (gấp 1,8 lần đạm), kali ít ảnh hưởng tới phát triển của cây

so với đạm và lân Tuy nhiên, thiếu kali cây sinh trưởng kém, thiếu nhiều ảnhhưởng tới việc hút canxi và magiê từ đó ảnh hưởng đến độ cứng của thân,cành và chất lượng hoa

+ Canxi (Ca): Chủ yếu tham gia vào sự tạo vách tế bào và hoạt chất củanhiều loại men, có tác dụng tới việc duy trì công năng của màng tế bào và duytrì cân bằng của môi trường bên ngoài Trong cây, canxi không di động tự do.Nếu thiếu canxi, phần bị hại trước tiên là chóp rễ sau đó đỉnh ngọn chồi bịxám đen và chết, quanh mép lá non xuất hiện những vết màu tím tối rồi lá khô

và rụng, nụ bị teo và rụng Canxi trong đất rất ít di chuyển, vì vậy phải bónlàm nhiều lần

+ Magie (Mg): tham gia vào hoạt chất của nhiều loại men và tham giavào thành phần của chất diệp lục Thiếu Mg ảnh hưởng tới quang hợp, mặtdưới và gân lá bị vàng; nếu thiếu nhiều quá, gân lá sẽ thâm đen, lá bị rụng

Trang 25

Mg còn tham gia vào quá trình tổng hợp protein và xúc tác cho một số loạimen Mg có thể di chuyển trong cây

+ Lưu huỳnh (S): tham gia vào quá trình hình thành protein Cây hút lưuhuỳnh dưới dạng SO4 Lưu huỳnh di động trong cây rất yếu Thiếu lưu huỳnhbiểu hiện ở phần non rõ hơn phần già, protein tạo thành ít, cây sinh trưởngchậm Thừa lưu huỳnh gây độc cho cây

+ Sắt (Fe): là thành phần của nhiều loại men có liên quan tới quang hợp.Nếu thiếu sắt, quang hợp sẽ giảm, lá non thiếu màu xanh Sắt không di độngđược trong cây, thiếu sắt trước hết biểu hiện ở các phần non Trong đất sắtthường tồn tại ở dạng Fe2O3, cây hút sắt ở dạng FeSO4 Nói chung trong đấtkhông thiếu sắt nhưng do có nhiều hợp chất sắt cây không hút được dẫn tớithiếu Khi hàm lượng axit phosphoric cao, sắt không hòa tan được, khi pHtrên 6,5 sắt cũng dễ bị kết tủa

+ Mangan (Mn): không phải là thành phần của diệp lục nhưng có quan

hệ chặt với sự hình thành diệp lục và quá trình quang hợp Nếu thiếu Mn,quang hợp sẽ giảm Mn làm tăng hoạt tính của rất nhiều loại men Trong cây,

Mn và sắt có tính đối kháng, nhiều Mn thì thiếu sắt, sắt quá nhiều thì thiếu

Mn Khi thiếu Mn, trên lá xuất hiện những vết vàng

+ Bo (Bo): có tác dụng rất quan trọng tới sự phân hóa hoa, tới quá trìnhthụ phấn, thụ tinh và sự phát dục của cơ quan sinh thực, đồng thời còn có tácđộng tới sự chuyển hóa và vận chuyển của đường Nếu thiếu Bo, phần chópngọn cây ngừng sinh trưởng, lá và cành hoa cong lại, đốt ngắn lại Nếu nhiều

Bo quá, mép lá biến thành màu nâu, các phần khác biến vàng

+ Kẽm (Zn): kích thích sự giải phóng CO2 trong diệp lục, kích thíchquang hợp Kẽm có liên quan đến sự hình thành kích tố sinh trưởng Nếuthiếu kẽm, chất kích thích sinh trưởng khó hình thành, ảnh hưởng tới sự sinhtrưởng của cây, đốt ngắn lại, lá và gân lá thiếu màu xanh sau đó chuyển vàng,trắng và chết khô

Trang 26

+ Đồng (Cu): có trong các Coenzyme, trong nhiều loại men oxidase,tham gia vào quá trình ôxi hóa khử trong cây Đồng có quan hệ rất chặt chẽvới việc hình thành chất diệp lục, quan hệ tới hiệu suất quang hợp đồng thờicòn tham gia vào quá trình trao đổi của đường và protein.

1.2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Theo Nguyễn Thị Thanh Hương, Trần Minh Hợi, Nguyễn Tiến Hiệp [8],

Lê Khả Kế [11], Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời [24], Đỗ quyên làmột nhóm các loài cây có hoa đẹp và được nhiều người ưa thích ở nhiều nướctrên thế giới với vẻ đẹp dịu dàng của nó Chúng chỉ phân bố tự nhiên ở nhữngvùng núi cao, có khí hậu quanh năm mát mẻ Với đặc điểm hoa to, màu sắcđẹp và đa dạng nên rất nhiều loài (đặc biệt trong chi Đỗ quyên -Rhododendron L.) được sử dụng trồng và là nguồn để tạo ra hơn 1000 loài laiđẹp dùng làm cây cảnh bán trên thị trường thế giới Đỗ quyên được coi lànhững loài hoa vương giả Chính vì mục đích đó, ở Châu Á, Châu Âu vàChâu Mỹ hàng nghìn loài hoang dại và lai đã được trồng trong các vườn giađình và nơi công cộng

Họ Đỗ quyên (Ericaceae) trên thế giới có chừng 107-111 chi với khoảng3400-3500 loài, phân bố rất rộng, đặc biệt tập trung tại vùng Himalaya, TâyNam Trung Quốc, vài nơi ở Châu Úc, Niu-Di-Lân và Nam Châu Phi Ở ViệtNam, họ này hiện gặp 12 chi với khoảng 91 loài Chi Đỗ quyên

(Rhododendron L.) có khoảng gần 40 loài, phân bố chủ yếu ở vùng núi cao

trên 1000m trong hệ sinh thái núi đá và đất

Chi Đỗ quyên, danh pháp khoa học: Rhododendron (từ tiếng Hy Lạp:rhodos, "hoa hồng", và dendron, "cây"), là một chi thực vật có hoa thuộc họThạch nam (Ericaceae) Đây là một chi lớn với khoảng 850-1.000 loài và hầuhết các loài đều có hoa rực rỡ Đỗ quyên là quốc hoa của Nepal Nhiều loài đỗquyên được trồng làm cây cảnh Một số loài có tác dụng chữa bệnh

Trang 27

Chi Đỗ quyên có đặc điểm là cây bụi và lớn (hiếm), những loài nhỏ nhấtcao chừng 10-100 cm, loài lớn nhất, R giganteum, được ghi nhận là cao tới

30 m Lá cây xếp theo hình xoắn ốc; kích thước lá có thể từ 1-2 cm tới hơn 50

cm, ngoại lệ là R sinogrande có lá dài 100 cm Đỗ quyên có thể là cây thườngxanh hoặc cây rụng lá theo mùa Ở một số loài, mặt dưới lá có phủ vảy hoặclông tơ Một số loài nổi tiếng vì hoa nở thành chùm lớn Có các loài vùng núi

có hoa và lá nhỏ, và một số loài nhiệt đới sống bám ở dạng tầm gửi

Đỗ quyên là chi có phân bố rất rộng, xuất hiện ở hầu khắp Bắc bán cầungoại trừ các vùng khô hạn, và trải dài xuống Nam bán cầu ở Đông Nam Á vàvùng bắc Australasia Độ đa dạng loài cao nhất được tìm thấy ở vùng núiHimalaya từ Uttarakhand, Nepal và Sikkim tới Vân Nam và Tứ Xuyên, ở cácvùng núi khác cũng có độ đa dạng cao như ở Đông Dương, Hàn Quốc, NhậtBản và Đài Loan Ngoài ra, có rất nhiều loài Đỗ quyên nhiệt đới gốc Đông Nam

Á và Bắc Úc Người ta đã ghi nhận 55 loài ở Borneo và 164 loài ở New Guinea.Tương đối ít loài hơn có tại Bắc Mỹ và châu Âu Người ta chưa tìm thấy đỗquyên ở Nam Mỹ hay châu Phi Ở Việt Nam có khoảng 30 loài Đỗ quyên

Cây Đỗ quyên (Rhododendron af) phân bố tự nhiên ở những vùng có khíhậu quanh năm mát mẻ, thuộc loài cây của vùng á nhiệt đới hoặc ôn đới Trênthế giới, Đỗ Quyên phân bố nhiều ở vùng ôn đới Bắc Mĩ, vùng cao nguyên tiếpgiáp Á - Âu và Đông Á, phổ biến ở Nhật Bản, Bắc Triều Tiên và Trung Quốc Theo Lê Trần Đức (1997) [6], Trần Hợp (1993) [10], hoa Đỗ quyên

Rhododendron, còn có tên Đỗ quyên ấn, hồng thụ ấn, thạch nam, thuộc họ

cùng tên Đỗ quyên Ericaceae, ngày nay với kỹ thuật hợp lai phổ biến rộng

rãi, không chỉ toàn một màu đỏ thắm mà tùy nơi còn mang nhiều sắc trắng,tím, tía, son qua hồng nhiệt, đỏ thẫm, đỏ gạch, đỏ hồng, đỏ xanh, đỏ cam, đỏvàng,… Nguồn gốc núi cao châu Á nhiệt đới (Nhật Bản, Trung Quốc,Myanmar, Nepal) ngày nay nó mọc hoang và được trồng khắp nơi, ở châu Á(Nhật Bản, Trung Quốc, Myanmar, Nepal), cũng như ở châu Âu, châu Mỹ Là

Trang 28

một cây trang trí rất được ưa thích, nó đã được pha giống thành hằng trăm loại

đủ cở lớn, nhỏ, đủ màu sắc lộng lẫy Hoa Rh simsii Planch (tức Rh indicumSweet var simsii Maxim, hay var ignescens Sweet, hay Azalea indica Sims.non LIAA) màu đỏ hồng, Rh kaempferi Planch màu đỏ cam tươi, Rh

obtusum Planch màu trắng, đỏ gạch, đỏ tía, đều thuộc chủng của Rh indicum

Sweet

Ở các nước như Nhật Bản, Trung Quốc người ta đã nhân giống thànhcông hầu hết tất cả các loài Đỗ quyên bằng phương pháp nhân giống giâmhom và gieo hạt Ngoài ra, họ đã tiến hành nhân giống bằng nuôi cấy mô tếbào từ hạt và chồi của cây Đỗ quyên Bên cạnh đó, họ đã tiến hành lai tạo cácloài Đỗ quyên với nhau để tạo ra các giống mới có giá trị thương mại cao

Đỗ Quyên là một trong những loài hoa trồng phổ biến nhất trên thế giới

và được ưa chuộng bởi sự đa dạng về chủng loại và phong phú về màu sắc.Chính vì thế, hoa Đỗ Quyên được nhiều nước trên thế giới trồng theo hướnghàng hóa đầu tư thâm canh cao và trở thành một ngành thương mại lớn Sảnxuất hoa đã mang lại những lợi ích to lớn cho nền kinh tế của các nước trồnghoa trên thế giới

1.2.4 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Những loài cây Đỗ quyên phân bố chủ yếu ở những vùng á nhiệt đới và

ôn đới Nó là những loài cây có giá trị làm cảnh rất được ưa chuộng ở nước ta

và trên toàn thế giới Hiện nay một số các nhà thực vật học và một số nhữngnhà làm vườn nổi tiếng của các nước đã tổ chức thành một Hiệp hội Đỗ quyênQuốc tế nhằm sưu tầm, nghiên cứu các biện pháp nhân giống và lai tạo cácloài Đỗ quyên để phục vụ cho các mục đích bảo tồn và cảnh quan ở nước tacác công trình nghiên cứu về Đỗ quyên còn rất ít, mới chỉ có một số nhà làmvườn ở Hà Nội và Đà Lạt, Thành phố Hồ Chí Minh, đang nghiên cứu thuầnhoá, nhân giống một số loài Đỗ quyên trong tự nhiên và cấy ghép lai tạo vớimột số loài nhập nội để phục vụ cho mục đích làm cảnh Các công trình

Trang 29

nghiên cứu khoa học về hoa Đỗ quyên còn hạn chế mới chỉ dừng ở mức độnghiên cứu phân loại và tính đa dạng về các loài Đỗ quyên Cụ thể mới cómột công trình nghiên cứu về đổi tên khoa học cho một số loài Đỗ quyên ởnước ta của TS Nguyễn Tiến Hiệp - Viện Sinh thái và Tài Nguyên Sinh Vật

và hiện nay đang nghiên cứu đánh giá các loài Đỗ quyên phân bố ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Đỗ quyên có ở Vườn Quốc gia Tam Đảo, Bạch Mã, Bà Nà,

Đà Lạt, Kon Tum cũng có rất nhiều hoa Đỗ quyên Thế nhưng, Đỗ quyên đặcbiệt và đẹp vẫn là ở SaPa Vườn quốc gia Pù Mát được coi là trung tâm củacác loài Đỗ quyên khác nhau đang trú ngụ Theo các nhà khoa học nghiên cứu

về thực vật dân tộc học và dược học thì Đỗ quyên là một trong những loài cây

đa tác dụng, có giá trị nhiều mặt Ngoài làm cảnh ra thì có một số loài dùng

để chữa bệnh như Đỗ quyên Mũi, Đỗ quyên Trên Đá, Đỗ quyên Hoa Đỏ.Những loài hoa Đỗ quyên có thể vừa làm cảnh, vừa là một vị thuốc chữabệnh, sống ở những độ cao khác nhau trong rừng nhiệt đới Pù Mát Sơn, trênđường lên đỉnh Fanxipăng Mùa chính của Đỗ quyên là thời gian sau Tết âmlịch Đó là thời gian để các loài Đỗ quyên đua nhau khoe sắc, rực rỡ đủ cácmàu, từ đỏ ối, đỏ nhạt, đến tím đậm, tím nhạt, rồi nhạt dần, nhạt dần về đếntrắng; rồi màu vàng, màu xanh nhạt, màu tím Đỗ quyên đẹp, sống ở độ cao từ800m so với mực nước biển trở lên Càng lên cao, Đỗ quyên càng có điềukiện phát triển và nở hoa với những màu sắc rất đằm thắm, dịu dàng, cánh hoanhư dày hơn [2]

Cho đến nay mới chỉ có một vài nghiên cứu thành công một số phươngpháp nhân giống vô tính (giâm hom) đối với một số loài dạng cây bụi cho hoađẹp và làm cảnh Những loài này hầu hết có nguồn gốc xuất xứ từ TrungQuốc và Nhật Bản, được nhân giống ở các khu vực chủ yếu như Đà Lạt, TamĐảo, Hà Nội, Nam Định Những nghiên cứu về phương pháp nhân giốnghữu tính (gieo hạt) không được quan tâm nhiều do các loài Đỗ quyên được du

Trang 30

nhập về Việt Nam thường không có khả năng cho quả, cây con sinh trưởngchậm nên hầu như chưa có nghiên cứu nào về phương pháp này ở Việt Nam.Hiện nay, tại Vườn Quốc gia Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) đã thuần dưỡng

và nhân giống thành công 6 loài hoa Đỗ quyên rừng quý hiếm bằng phươngpháp giâm hom Những loài này chỉ sống ở độ cao từ 800 mét trở lên, rất khó

di thực và thuần dưỡng khi đưa ra khỏi vùng phân bố tự nhiên Tại VườnQuốc gia Tam Đảo, các nhà khoa học mới phát hiện được 6 loại hoa Đỗquyên với các màu sắc khác nhau như: Đỏ, trắng, vàng, tím nhạt, đỏ nhạt,trắng hồng Hoa mọc từng chùm (6 hoa/chùm), bông to từ 5-6 cm, có mùithơm dịu Màu sắc của bông hoa và hương thơm đều khác lạ Đặc biệt mỗiloại hoa nở vào các tháng khác nhau, mùa hoa kéo dài quanh năm

1.3 Các nghiên cứu về ứng dụng cây hoa Đỗ quyên

1.3.1 Trên thế giới

Nghiên cứu về mặt ứng dụng, lá cây Đỗ quyên chứa đựng vitamin C.Lượng sinh tố có nhiều về mùa hè so với mùa đông, có nhiều ở chỗ có ánhnắng mặt trời so với trong bóng râm, tăng lên trước khi mặt trời mọc rồi giảmdần Ở phần để chiết chứa đựng nhiều flavonoid ở liều lượng 300 mg/kg chữabệnh viêm phế quản mạn tính rất hiệu nghiệm Nước chiết từ cây cung cấpmột chất thuốc có khả năng ức chế trùng VSH-II, những flavon glucosid ở lá

cây Rh anthopogonoid, cấu chất của anthorhododendrin hiệu nghiệm trong

cuộc trị liệu viêm phế quản Ở phần chiết nhiều cây đỗ quyên khác cũng cótính chất long đờm nhờ những chất farrerol, astragalin, kaempferol,scopoletin, hay ngừa ho nhờ hyperin và quercetin Chất quercetin nầy còn có

khả năng ức chế những hoại tử khối u ở đại thực bào Dầu lá cây Rh dauricum

chứa đựng flavon được dùng chữa ho hen và bệnh suyễn Dùng methanol chiết

lá thì được một chất thuốc làm giảm đau Chiết với ethanol 95%, cây Rh.

cephaluntum cung cấp một chất chromen có khả năng ức chế hoạt động của

5-lipoxygenase và được dùng chống viêm, dị ứng, hen suyễn [24] [27]

Trang 31

Nghiên cứu của R De Loose (1968) [37], Rễ cây Đỗ quyên Rh Simsii

chứa đựng những flavon như quercetin, kaempferol, hyperin cùng sitosterol.Bên cạnh acid amin, những kim loại Zn, Fe, Cu, Co, Se, Mn và Cr đã đượcxác định trong thân cây và rễ cây, lá cây, cùng với triterpen, flavononglycosid và chất phản oxy hóa "matteucinol", những flavonoid aglycon nhưquercetin, kaempferol đã được trích chiết làm rượu thuốc Jinjuan

Ở Nhật Bản, Nepal, Brazyl, Turkey và ngay ở châu Âu và châu Mỹ, các

loại hoa đỗ quyên Rh ponticum, Rh luteum chứa một chất độc, grayantoxin,

được ong hút về cùng nhựa hoa làm mật, ăn vào có thể bị nôn mửa, hôn mêhay huyết áp giảm xuống, nhịp chim chậm lại Chất độc nầy tác động lên cuộcgián phân bạch huyết bào con người Mang tên andromedotoxin, được phát

hiện ở Rh hunnewellianum hay acetylandromedol ở Rh chrysanthum, Rh.

campylocarpum và các hoa đỗ quyên khác cùng họ Đỗ quyên Ericaceae,

đồng thời tác dụng lên tim, nó còn kích thích da cùng các màng nhầy [30],

[31], [32]

1.3.2 Ở Việt Nam

Theo các nhà khoa học nghiên cứu về thực vật, dân tộc học và dược họcthì Đỗ Quyên là một trong những loài cây đa tác dụng, có giá trị về nhiều mặt,nhiều lĩnh vực Đa số các loài trong nhóm cho hoa rất đẹp, có thân dáng câythấp nhỏ vì thế có thể làm cảnh rất đẹp như: Đỗ quyên răng nhỏ, Đỗ quyênmao ngựa, Đỗ quyên hồng, Đỗ quyên lõm, Đỗ quyên loa kèn lớn, Một số loài

có thể dùng chữa bệnh như: Đỗ quyên mũi, Đỗ quyên trên đá, Bên cạnh đónhiều loài Đỗ quyên mộc cao khoảng 8-14m, cây cho hoa đẹp, cành lá xumxuê, xanh tốt quanh năm có thể trồng thành rừng tạo cảnh quan, hay trồng câyđường phố phục vụ cho thăm quan, du lịch rất phù hợp [10],[16]

Trong Đông y, đỗ quyên vị đắng tính bình, hơi độc vào can thận, có tácdụng dưỡng thận khí, bổ thận khu phong, trị âm suy, chân yếu lưng mỏi, phối

Trang 32

hợp với các vị khác như tật lê, hà thủ ô, ba kích, ngũ gia bì, thỏ ty tử (quả hạt

tơ hồng), uy linh tiên, chữa can thận hư, phong hàn thấp, chân tê yếu

Hoa đỗ quyên vị chua ngọt, tính ấm, có công dụng hòa huyết, trừ đàm,làm hết ngứa, được dùng để chữa các chứng phong thấp, thổ huyết,…

Lá đỗ quyên vị chua, tính bình, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, cầmmáu, chủ trị ung thũng, mụn nhọt, xuất huyết do chấn thương, dị ứng, viêmkhí phế quản,

Rễ đỗ quyên vị chua ngọt, tính ấm, có công dụng hòa huyết, trừ phongthấp, giảm đau; được dùng để chữa các chứng xuất huyết, kinh nguyệt khôngđều, băng lậu, trĩ xuất huyết, lỵ, viêm khớp, [2],[6]

1.4 Kết luận chung

Trên đây là một vài nét cơ bản về các công trình nghiên cứu về phươngpháp nhân giống vô tính các loài Đỗ Quyên bằng phương pháp giâm hom ởtrong và ngoài nước Thông qua các công trình nghiên cứu của các nhà khoahọc ta có thể nhận thấy lĩnh vực nghiên cứu việc nhân giống các loài hoa ĐỗQuyên bằng phương pháp giâm hom còn rất mới mẻ và phức tạp, rất cần sựquan tâm của các nhà khoa học

Thị trường về mua bán các loài Đỗ Quyên đã bắt đầu sôi động do đó việcnghiên cứu phương pháp nhân giống vô tính các loài Đỗ Quyên bằng phươngpháp giâm hom là bước ngoặt quan trọng trong việc bảo vệ rừng, đồng thời nócòn góp phần vào bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học

Trang 33

Chương 2 MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

* Về khoa học: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống

một số loài Đỗ quyên bằng phương pháp giâm hom tại vườn quốc gia Pù Mát

* Về thực tiễn: Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài hoa đỗ

quyên tại khu vực nghiên cứu, từ đó mở ra một hướng mới về việc sử dụngphát triển loài Đỗ quyên thành một loài cây cảnh có giá trị kinh tế và thẩm mỹcao phục vụ cho nhu cầu trong và ngoài nước

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Các loài Đỗ Quyên (Rhodendron) tại vườn

quốc gia Pù Mát

* Giới hạn nghiên cứu:

- Về địa điểm: Giới hạn ở huyện Con Cuông – Tỉnh Nghệ An

- Về nội dung:

+ Việc nghiên cứu tính đa dạng của các loài Đỗ Quyên Tại Vườn QuốcGia Pù Mát là rất phức tạp, đòi hỏi thời gian dài, nhiều phương tiện và kinh phílớn Vì vậy, trong đề tài tiến hành nghiên cứu theo phương pháp mẫu điển hình.+ Nghiên cứu Giâm hom Hai Loài đỗ quyên tại vườn là Đỗ quyên sim(Rhododendron simsii Planch) và Đỗ quyên quang trụ (Rhododendrontanastylum Balf)

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển của một số loài Đỗ quyêncủa VQG Pù Mát

Trang 34

- Nghiên cứu khả năng nhân giống 2 loài Đỗ quyên sim (Rhododendronsimsii Planch) và Đỗ quyên quang trụ (Rhododendron tanastylum Balf) bằngphương pháp giâm hom

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.4.1.1 Kế thừa tài liệu

- Tiếp thu có chọn lọc những tài liệu và những kết quả nghiên cứu cótrước về các vấn đề đa dạng thực vật đặc biệt là các loài hoa Đỗ quyên vàphương pháp nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom,

- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu

2.4.1.2 Điều tra thực địa

- Trên các tuyến điều tra điển hình: Kết hợp quan sát bằng mắt với việc

sử dụng thiết bị ống nhòm chất lượng cao nhằm xác định cấc loài Đỗ Quyênphân bố tự nhiên và thu mẫu tiêu bản phục vụ công tác phân loại, định tên cácloài Đỗ Quyên tại Pù Mát

- Trên những khu vực điểm điển hình: Thực hiện điều tra theo phươngpháp ô tiêu chuẩn điển hình cho các dạng địa hình cơ bản của vùng núi nhưkhu vực quanh đỉnh, thung lũng, khe suối Lập các ô tiêu chuẩn diện tích1.000 m2, tiến hành xác định và thu toàn bộ mẫu các loài Đỗ Quyên bắt gặptrong quá trình điều tra phục vụ công tác phân loại, định tên các loài ĐỗQuyên tại Pù Mát

- Dụng cụ thu mẫu: Cặp hay túi đựng mẫu, giấy báo, dây buộc, nhãn,kim chỉ, bút chì 2B, sổ ghi chép, cồn

- Phương pháp thu mẫu: Dùng túi Polyetylen (PE) để đựng mẫu Quá trìnhthu mẫu có sổ ghi chép riêng, nhãn, băng dính giấy có thể viết được và kéo cắtcành

Trang 35

- Thu mẫu: Mỗi mẫu được thu có đầy đủ các bộ phận, nhất là cành và lá.Mỗi loài thu từ 3 - 10 mẫu để vừa nghiên cứu các biến dạng của loài, vừa đểtrao đổi Các mẫu thu được trên cùng 1 cây đánh cùng một số hiệu mẫu.

- Xử lý và bảo quản mẫu: Sau 1 ngày lấy mẫu hiện trường, mẫu đượcđeo nhãn ngay Nhãn chỉ ghi số hiệu mẫu, còn các thông tin về mẫu được ghivào sổ ghi chép

- Bảo quản mẫu: Sau khi cắt tỉa qua mẫu, chúng ta dùng giấy báo bọcngoài rồi bó chặt lại và cho các bó mẫu vào túi PE cỡ lớn (mỗi túi có thể chứađược nhiều bó mẫu) Dùng cồn đổ cho thấm các tờ báo và buộc chặt lại đểchuyển về nơi có điều kiện sấy khô, cách làm này giúp giữ mẫu được tươi lâutrong vòng 1 tháng mà không cần phải sấy khô ngay Mục đích là để giết cácloại men làm rụng lá, hoa, quả

- Ép mẫu: Trước khi sấy mẫu, chúng ta ép phẳng mẫu trên giấy báo dàyđảm bảo phiến lá được duỗi hoàn toàn, không bị quăn mép, các bộ phận củahoa hoặc quả được mở hoặc bổ ra để tiện cho việc phân tích, ép và sấy mẫu.Tập mẫu ép giữa các lớp giấy báo dày và tấm alumin thoát nhiệt sẽ được bóchặt giữa đôi cặp ô vuông (mắt cáo) trước khi cho mẫu vào tủ sấy mẫu

- Sấy mẫu: Mẫu sau khi ép cần được sấy ngay, khi sấy cần chú ý để mẫudựng đứng nhằm giúp nước bốc hơi dễ dàng và mẫu chóng khô Hàng ngày,phải thay giấy báo mới giúp mẫu chóng khô

- Tẩm mẫu: Do mẫu được xử lý tẩm cồn vì vậy cần mở các bó mẫu đểcho cồn bốc hơi trước khi dùng báo mới ép mẫu lại nhằm hạn chế mùi khóchịu trong khi sấy

- Xác định và kiểm tra tên khoa học: Đồng thời với việc xử lý mẫu thànhnhững tiêu bản đạt yêu cầu, để tiến hành xác định tên loài chúng tôi phải dùngphương pháp chuyên gia, thực hiện theo trình tự gồm các bước như sau:

- So mẫu: Để có tên sơ bộ cho mẫu, tiến hành so sánh mẫu cần xác định với

bộ mẫu có sẵn tại phòng mẫu cây khô (tạm gọi là mẫu chuẩn) lưu giữ tại phòng

Trang 36

bảo tàng thực vật, trường Đại học khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia HàNội và Viện điều tra quy hoạch rừng Khi định tên khoa học, chúng tôi tiến hànhphân tích các mẫu dựa trên các đặc điểm của cành, lá, hoa và quả,…

- Xác định tên loài: Các tài liệu chính dùng trong quá trình xác định tênkhoa học loài gồm:

+ Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1991 – 1993, 1999 – 2000)

+ Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988)

+ Vân Nam thực vật chí (Trung văn)

+ Thực vật chí Đông Dương (Flore gélérale de l’ Indo-chine, H.Lecomte,

1907 - 1952)

+ Thực vật chí Cam-pu-chia, Lào, Việt Nam (Flore du Cambodge, duLaos et du Vietnam, Aubréville A et al, 1960 - 1997)

+ Flora of China và Flora of China – Illustration, 1994 – 2000

+ Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997).+ Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001 - 2003)

+ Kiểm tra tên khoa học: Khi đã có đầy đủ tên loài, tiến hành kiểm tra lạicác tên khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót

2.4.1.3 Nghiên cứu khả năng nhân giống Đỗ Quyên bằng phương pháp giâm hom

* Các công thức thí nghiệm

a) Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể giâm hom (ruột bầu) và các chất kích thích ra rễ đến khả năng nhân giống Đỗ quyên sim (Rhododendron simsii Planch) bằng pp giâm hom:

Mỗi thí nghiệm gồm 3 công thức giá thể giâm hom (đất tầng B (CT 1),50% đất tầng B + 50% cát vàng (CT 2), Cát vàng (CT 3)) với 3 loại kích thích

ra rễ (IBA, IAA và NAA) và 1 thí nghiệm đối chứng, mỗi công thức giâm 20cành, 3 lần nhắc lại, tổng số hom giâm trong mỗi thí nghiệm là 720 hom Thínghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB), gồm có tất cả 12 côngthức và 3 lần lặp lại Dùng cách rút thăm trong mỗi lần lặp để chọn được xuất

Trang 37

xứ tương ứng với từng ô Các công thức đồng đều về kích thước hom giâm vàcùng 1 thời vụ và các điều kiện chăm sóc.

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí các thí nghiệm giâm hom Lần lặp

- IBA : Indo butyric axit

- IAA : Indol axetic axit

- NAA : Naphtalen axit axeticCác chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:

- Tình hình ra rễ (%)

- Tỷ lệ hom sống (%)

- Tình hình sinh trưởng của cây hom tại vườn ươm (Hvn)

- Tỷ lệ đạt tiêu chuẩn xuất vườn (%)

Trang 38

b) Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể giâm hom (ruột bầu) và các chất kích thích ra rễ đến khả năng nhân giống Đỗ quyên quang trụ (Rhododendron tanastylum Balf) bằng pp giâm hom:

Các công thức thí nghiệm được bố trí như Thí nghiệm 1

* Điều kiện và qui trình thí nghiệm:

-Chuẩn bị thể nền: Nền được bố trí vào các hộp xốp có gờ có gờ cao

30cm, chiều rộng 1m, chiều dài 1m phía trên được chụp lồng sắt, phủ nilông

trắng Lồng có chiều dài 1m, rộng 1m, cao 0,8m và bố trí thành các ô tiêu

chuẩn để tiến hành thí nghiệm Yêu cầu giá thể đất tầng B, tơi xốp, thoáng khí

không chứa nguồn mầm bệnh, Cát vàng được sàng lọc bỏ sỏi và tạp vật, giáthể giâm hom được bố trí thành luống theo các công thức thí nghiệm Sau khihom ra rễ được chuyển sang bầu PE kích thước 711cm (ruột bầu được đóngtheo các công thức giá thể) xếp thành từng luống Luống được xây trong nhàgiâm hom, nhà giâm hom có mái tre bằng lưới đen với độ chiếu sáng 50%.Trước khi cắt hom 12 giờ chúng ta tưới thuốc tím đều và liên tục trên giá thể

ở nồng độ 0,1%, tưới sao cho thuốc tím thấm sâu đều xuống dưới nền khoảng4-5cm và tưới xung quanh gờ của luống, để diệt khuẩn, chống sâu bệnh hại.Trước khi cắm hom 30 phút ta tưới một lần bằng nước sạch

-Chuẩn bị hom

Chọn cây mẹ để lấy hom: Cây mẹ được chọn là những cây Đỗ Quyênsinh trưởng tốt và không bị sâu bệnh, tránh những cây mẹ già tuổi Vì côngviệc chọn hom rất quan trọng nó đóng vai trò quyết định đến sự thành côngcủa thí nghiệm nên sau khi chọn được cây mẹ tốt chúng ta tiến hành tỉa, cắtnhững cành gần gốc nhằm tạo chồi gốc mới làm vật liệu cho giâm hom Homchọn phải đồng đều, dài từ 10-15 cm và được lấy từ các chồi mọc gần gốc hoặcchồi vượt, còn màu xanh không quá già, quá non: Nếu hom quá già thì khả năng

ra rễ kém, nếu chọn hom quá non thì dễ bị mất nước dẫn đến héo rồi chết

Trang 39

- Dụng cụ:

 Dao sắc, kéo cắt cành

 Nước để phun lên lá giữ ẩm và làm mát

Biển ghi để phân biệt các công thức thí nghiệm.

 Chất điều hòa sinh trưởng để thúc đẩy quá trình ra rễ và tạo bộ rễ tốt hơn

- Xử lý hom: Hom được lấy về phải xử lý ngay không được để lâu

Tránh hiện tượng mất nước Hom lấy phải lành lặn, không dập, xước

Cắt hom một cách gọn sắc thường không nên cắt chính xác ngay bằng độdài của hom giâm mà nên cắt hơi dài một chút, rồi sau đó tỉa bỏ phần này, chỉnên lấy hom ngọn (một chồi), số lá để lại trên hom từ 3-4 lá, mỗi lá được cắttỉa chỉ để lại 1/3 phiến lá, tỉa bỏ phần dưới gốc hom để sao cho khi cắm homvào giá thể lá không bị chôn vùi nếu không thì lá này sẽ bị thối

Khi cắt hom xong ta phải nhúng ngay vào nước sạch để hom luôn tươi,tránh tình trạng mất nước và nguồn gây bệnh

Sau đó ngâm hom vào dung dịch Benlát (0,5%) trong 10-15 phút thì vớt

ra đặt vào khu giâm hom, sau khi tạo lỗ bằng que nhỏ (sâu 1,5-2cm) Ta chấmphần cắt của hom vào thuốc kích thích ra rễ

-Cắm hom và chăm sóc hom: Sau khi hom được sử lý cắm trực tiếp vào

giá thể, sâu 2cm Hom được chăm sóc trong lồng Polietylen với hệ thốngphun sương bằng dụng cụ bình phun thuốc trừ sâu

Trong quá trình chăm sóc hom giâm ươm cần thường xuyên theo dõi cácnhân tố môi trường:

+ Độ ẩm: Được duy trì ở mức cao tuỳ thuộc vào giai đoạn phát triển của hom

Trang 40

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ trong lồng PE phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độngoài trời, tưới nước có thể làm giảm nhiệt độ.

+ Ánh sáng: Ánh sáng trong lồng PE là ánh sáng tán xạ, hơn thế nữa ánhsáng này đã được giảm 50% khi đi qua lưới đen Ở giai đoạn đầu hom giâmcần ánh sáng, thời gian chiếu sáng ít và tăng dần về sau

- Tiến hành chăm sóc: Việc chăm sóc hom là giai đoạn đầu rất quan

trọng Trong giai đoạn này hom chưa thể hút nước nên phải thường xuyênphun ẩm, phải thường xuyên theo dõi nhằm có chế độ tới nước hợp lý: Nếuthời tiết râm mát cần tưới 4 lần/ngày, nếu thời tiết khô nóng cần tưới 6 lần/ngày.Mục đích nhằm làm cho lá hom luôn tươi và có nước đọng trên lá Nhưng nếutưới quá nhiều thì hom sẽ bị thối và chết Cứ sau 1 tuần thì phun Benlát 1 lần lêntrên mặt luống, thành luống, nilong và xung quanh khu vực giâm hom

Nhiệt độ là một trong những nhân tố quyết định đến tốc độ ra rễ của homgiâm, nên duy trì nhiệt độ nhà giâm từ 23-270C, nhiệt độ giá thể từ 22-340C

Phủ nilong trắng đục để nhận được ánh sáng một cách tốt nhất, nếu có lávàng rụng ta phải nhặt bỏ tránh là nơi ủ mầm bệnh

Khi muốn biết hom đã ra rễ hay chưa ta quan sát bộ phận lá xanh, cóchồi nhú thì có thể đã xuất hiện rễ, lúc này một tay lấy que bẩy nhẹ và tay kianâng đỡ đưa hom lên

* Theo dõi quá trình ra rễ của cành hom

Theo dõi trực tiếp ở tại vườn ươm tình hình ra rễ của hom giâm Quansát bằng mắt thường sự ra rễ của cây hom ở các ô thí nghiệm sau khi giâm vàghi chép theo mẫu biểu sau:

Ngày đăng: 07/08/2014, 14:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) (2003), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân (chủ biên)
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
2. Võ Văn Chi (1997), Từ điển cây thuốc Việt Nam. NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 1997
4. Võ Văn Chi, Trần Hợp (2002), Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ có ích ở Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi, Trần Hợp
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2002
5. Cục Lâm nghiệp (2007), Tuyển tập tài liệu về Quản lý và kỹ thuật giống cấy trồng lâm nghiệp Việt Nam, NXB Lao động và Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: cấy trồng lâm nghiệp Việt Nam
Tác giả: Cục Lâm nghiệp
Nhà XB: NXB Lao động và Xã hội
Năm: 2007
6. Lê Trần Đức (1997), Cây thuốc Việt Nam, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Lê Trần Đức
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1997
7. Nguyễn Như Hà (2006), Bón phân cho cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cho cây trồng
Tác giả: Nguyễn Như Hà
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
9. Phạm Hoàng Hộ (1999), Cây cỏ Việt Nam, Tập I-III, NXB Trẻ Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam, Tập I-III
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: NXB Trẻ Thành PhốHồ Chí Minh
Năm: 1999
10. Trần Hợp (1993), Cây cảnh, hoa Việt Nam, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cảnh, hoa Việt Nam
Tác giả: Trần Hợp
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1993
11. Lê Khả Kế (1969-1976), Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam, Tập I-VI, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam, Tập I-VI
Nhà XB: NxbKhoa học và Kỹ thuật
12. Lê Đình Khả (2001), “Cải thiện giống cây rừng”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện giống cây rừng
Tác giả: Lê Đình Khả
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
13. Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng (2003), “Giống cây rừng”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: G"iống cây rừng
Tác giả: Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng
Nhà XB: NxbNông nghiệp
Năm: 2003
14. Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích và Trần Cự (1997), “Nghiên cứu tạo chồi môi trường và giá thể giâm hom Bạch đàn trắng. Kết quả nghiên cứu chọn giống cây rừng”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tạo chồimôi trường và giá thể giâm hom Bạch đàn trắng. Kết quả nghiên cứuchọn giống cây rừng
Tác giả: Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích và Trần Cự
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
15. Ngô Kim Khôi (2008), “Thống kê toán học trong lâm nghiệp”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê toán học trong lâm nghiệp
Tác giả: Ngô Kim Khôi
Nhà XB: Nxb Nôngnghiệp
Năm: 2008
16. Vũ Tự Lập (1999), Địa lý tự nhiên Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý tự nhiên Việt Nam
Tác giả: Vũ Tự Lập
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
17. Đỗ Tất Lợi (1999), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: NXB Khoahọc và kỹ thuật
Năm: 1999
18. Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001), “Nhân giống vô tính và trồng rừng dòng vô tính”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống vô tính và trồng rừng dòng vôtính
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
19. Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997), Bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật rừng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật rừng
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
20. Hoàng Thái Sơn (1997), ‘‘Thử nghiệm giâm hom một số loài cây thân gỗ tại trường Đại học Lâm Nghiệp’’, Đề tài khoa học của sinh viên trường Đại học Lâm Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘‘Thử nghiệm giâm hom một số loài cây thân gỗtại trường Đại học Lâm Nghiệp’’
Tác giả: Hoàng Thái Sơn
Năm: 1997
21. Nguyễn Ngọc Nông (2009), Dinh dưỡng cây trồng, Bài giảng chương trình cao học trồng trọt, ĐHNL, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng cây trồng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nông
Năm: 2009
22. Phạm Chí Thành (1998), Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng
Tác giả: Phạm Chí Thành
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí các thí nghiệm giâm hom               Lần lặp - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí các thí nghiệm giâm hom Lần lặp (Trang 36)
Bảng 2.3: Biểu theo dừi tỡnh hỡnh sinh trưởng của hom Đỗ Quyờn - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Bảng 2.3 Biểu theo dừi tỡnh hỡnh sinh trưởng của hom Đỗ Quyờn (Trang 40)
Bảng 2.2: Biểu theo dừi quỏ trỡnh ra rễ của cành hom sau khi giõm - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Bảng 2.2 Biểu theo dừi quỏ trỡnh ra rễ của cành hom sau khi giõm (Trang 40)
Bảng 2.4: Biểu thống kê tỉ lệ sống và tỉ lệ đạt tiêu chuẩn xuất vườn  của hom Đỗ Quyên - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Bảng 2.4 Biểu thống kê tỉ lệ sống và tỉ lệ đạt tiêu chuẩn xuất vườn của hom Đỗ Quyên (Trang 41)
Bảng 2.5: bảng sắp xếp các trị số quan sát trong phân tích phương sai  2 nhân tố m lần lặp - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Bảng 2.5 bảng sắp xếp các trị số quan sát trong phân tích phương sai 2 nhân tố m lần lặp (Trang 42)
Bảng 3.1: Một số yếu tố khí hậu đặc trưng khu vực nghiên cứu Yếu tố - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Bảng 3.1 Một số yếu tố khí hậu đặc trưng khu vực nghiên cứu Yếu tố (Trang 46)
Bảng 4.3: Tỉ lệ ra rễ của hom Đỗ quyên Sim sau khi giâm 105 ngày Công - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Bảng 4.3 Tỉ lệ ra rễ của hom Đỗ quyên Sim sau khi giâm 105 ngày Công (Trang 58)
Hình 4.1: Biểu đồ so sánh tỉ lệ ra rễ của hom giâm Đỗ Quyên Sim  ở các công thức thí nghiệm - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Hình 4.1 Biểu đồ so sánh tỉ lệ ra rễ của hom giâm Đỗ Quyên Sim ở các công thức thí nghiệm (Trang 60)
Hình 4.2: Biểu đồ so sánh tỉ lệ sống của hom giâm Đỗ Quyên Sim ở các công thức thí nghiệm - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Hình 4.2 Biểu đồ so sánh tỉ lệ sống của hom giâm Đỗ Quyên Sim ở các công thức thí nghiệm (Trang 61)
Bảng 4.5: Bảng kiểm tra ảnh hưởng của công thức giá thể và loại thuốc kích thích đến tỉ lệ sống của hom Đỗ Quyên sim - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Bảng 4.5 Bảng kiểm tra ảnh hưởng của công thức giá thể và loại thuốc kích thích đến tỉ lệ sống của hom Đỗ Quyên sim (Trang 62)
Bảng 4.7: Bảng so sánh ảnh hưởng loại thuốc kích thích đến sự hình thành rễ của hom Đỗ Quyên sim - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Bảng 4.7 Bảng so sánh ảnh hưởng loại thuốc kích thích đến sự hình thành rễ của hom Đỗ Quyên sim (Trang 63)
Bảng 4.6: Bảng so sánh ảnh hưởng của công thức giá thể đến sự hình thành rễ của hom Đỗ Quyên sim - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Bảng 4.6 Bảng so sánh ảnh hưởng của công thức giá thể đến sự hình thành rễ của hom Đỗ Quyên sim (Trang 63)
Bảng 4.9: Bảng so sánh ảnh hưởng loại thuốc kích thích đến tỉ lệ sống của hom Đỗ Quyên sim - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Bảng 4.9 Bảng so sánh ảnh hưởng loại thuốc kích thích đến tỉ lệ sống của hom Đỗ Quyên sim (Trang 64)
Bảng 4.8: Bảng so sánh ảnh hưởng của công thức giá thể đến tỉ lệ sống của hom Đỗ Quyên sim - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Bảng 4.8 Bảng so sánh ảnh hưởng của công thức giá thể đến tỉ lệ sống của hom Đỗ Quyên sim (Trang 64)
Hình 4.3: Biểu đồ so sánh tỉ lệ ra rễ của hom giâm Đỗ Quyên Quang Trụ ở các công thức thí nghiệm - Thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp giâm hom một số loài hoa đỗ quyên của vườn quốc gia pù mát – con cuông – nghệ an
Hình 4.3 Biểu đồ so sánh tỉ lệ ra rễ của hom giâm Đỗ Quyên Quang Trụ ở các công thức thí nghiệm (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w