Trong các thành phần của rừng,cây gỗ là yếu tố quyết định sự phát sinh và hình thành các kiểu rừng, đồngthời là yếu tố đảm bảo cho tính đa dạng sinh vật của một hệ sinh thái rừng.Nghiên
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Quan điểm nhận thức về Đa dạng sinh học 4
1.2 Tính cấp thiết về vấn đề bảo vệ Đa dạng sinh học 6
1.3 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 8
1.3.1 Nghiên cứu về đa dạng phân loại 8
1.3.2 Đa dạng về hệ sinh thái và thảm thực vật 10
1.3.3 Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật 11
1.3.4 Nghiên cứu về phổ dạng sống 12
1.4 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 13
1.4.1 Đa dạng về phân loại 13
1.4.2 Đa dạng về hệ sinh thái và thảm thực vật 15
1.4.3 Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật 16
1.4.4 Nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật 19
1.5 Những nghiên cứu tại VQG Xuân Sơn 21
1.6 Tổng quan khu vực nghiên cứu 23
1.6.1 Vị trí địa lý 23
1.6.2 Địa hình – địa mạo 23
1.6.3 Khí hậu – thủy văn 24
1.6.4 Các nguồn tài nguyên 26
1.6.5 Thực trạng môi trường 28
1.6.6 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 28
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32
Trang 22.3 Nội dung nghiên cứu 32
2.4 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1 Phương pháp kế thừa 33
2.4.2 Phương pháp điều tra 33
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Tính đa dạng về thành phần cây gỗ 42
3.1.1 Đa dạng ở mức độ ngành 42
3.1.2 Đa dạng ở mức độ họ 43
3.1.3 Đa dạng ở mức độ chi 45
3.2 Đa dạng về dạng sống 46
3.3 Đa dạng về yếu tố địa lý 48
3.3.1 Đa dạng về yếu tố địa lý ở mức độ họ 48
3.3.2 Đa dạng về yếu tố địa lý ở mức độ chi 50
3.3.3 Đa dạng về yếu tố địa lý ở mức độ loài 51
3.4 Đa dạng về giá trị sử dụng 53
3.5 Tính đa dạng về quần xã cây gỗ 58
3.5.1 Các kiểu thảm thực vật trong vùng nghiên cứu 58
3.5.2 Tính đa dạng của cây gỗ trong một số quần xã thực vật 61
3.6 Các loài cây gỗ quý hiếm 64
3.7 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn nhóm cây gỗ 67
3.7.1 Những nguyên nhân gây suy thoái đa dạng nhóm cây gỗ 67
3.7.2 Một số biện pháp bảo tồn 69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
KẾT LUẬN 71
TỒN TẠI 72
KIẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nội dung
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng danh lục các loài thực vật 36
Bảng 2.2: Các giá trị của loài trong OTC 41
Bảng 3.1: Phân bố của các taxon trong các ngành của cây gỗ tại xã Xuân Sơn 42
Bảng 3.2: Bảng thống kê họ cây gỗ có từ 5 loài trở lên 44
Bảng 3.3: Bảng thống kê các chỉ số về số lượng loài/chi của cây gỗ 45
Bảng 3.4: Bảng thống kê các chi cây gỗ có từ 3 loài trở lên 46
Bảng 3.5: Thống kê phổ dạng sống của cây gỗ thuộc nhóm cây chồi trên 47
Bảng 3.6: Bảng các yếu tố địa lý các họ cây gỗ tại Xuân Sơn 49
Bảng 3.7: Bảng các yếu tố địa lý các chi cây gỗ tại Xuân Sơn 50
Bảng 3.8: Bảng các yếu tố địa lý các loài cây gỗ tại Xuân Sơn 52
Bảng 3.9: Đa dạng về giá trị của hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu 54
Bảng 3.10: Danh sách các họ có loài cây thuộc nhóm cây làm thuốc 55
Bảng 3.11: Danh sách các họ có loài thuộc nhóm cây ăn quả 56
Bảng 3.12: Danh sách các họ có loài thuộc nhóm cây làm cảnh 57
Bảng 3.13: Hệ thống các ô tiêu chuẩn trong các trạng thảm thực vật 61
Bảng 3.14: Danh sách các loài cây gỗ quí hiếm tại xã Xuân Sơn 66
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ sự phân bố của các taxon cây gỗ trong ngành 43Hình 3.2: Biểu đồ phổ dạng sống của cây gỗ tại Xuân Sơn 47Hình 3.3: Biểu đồ phổ các yếu tố địa lý của các loài cây gỗ tại Xuân Sơn
53Hình 3.4: Biểu đồ các nhóm công dụng của cây gỗ tại khu vực nghiên cứu
54
Trang 6MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Rừng là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của môi trường sinh thái.Ngoài những giá trị to lớn trên, hàng năm nghành Lâm nghiệp cũng đóng gópmột phần không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân, rừng luôn gắn liền với đời sốngcủa nhân dân cùng sự sống còn của tất cả các loài vật trên trái đất Tuy nhiên,trong những năm gần đây diện tích rừng trên thế giới nói chung và Việt Nam nóiriêng đang bị suy giảm một cách nhanh chóng, nguyên nhân chủ yếu là do conngười sử dụng nguồn tài nguyên rừng không hợp lý
Đứng trước những hiểm họa do việc mất rừng gây ra, trong những nămgần đây Đảng và Nhà nước ta đã thay đổi, bổ sung nhiều chính sách nhằm bảo
vệ nguồn tài nguyên vô cùng quý giá này Năm 1962 Chính phủ Việt Nam đãquyết định thành lập Vườn quốc gia đầu tiên ở nước ta đó là VQG CúcPhương Đây chính là cơ sở cho việc thành lập và phát triển hệ thống các KhuBTTN trên cả nước Tới nay ( 8/2010) đã có 126 khu bảo tồn được thành lậptrong đó có 27 Vườn quốc gia Đây là một bước ngoặt quan trọng nhằm bảotồn đa dạng sinh học ở Việt Nam [5] Trong đó đáng quan tâm nhất là nguồntài nguyên cây gỗ
Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về nhóm cây gỗ, trong đó đáng chú
ý là các nghiên cứu về tính chất cơ lý nhằm phục vụ cho công tác chế tác, sửdụng trong các lĩnh vực khác nhau, nhất là trong xây dựng Các nghiên cứu vềtính đa dạng nhằm thống kê, đánh giá giá trị của tập đoàn cây gỗ trong cácvùng, các khu vực sinh thái phục vụ cho việc thiết kế kinh doanh rừng, trong
đó đáng chú ý nhất là các nghiên cứu về tái sinh tự nhiên, cấu trúc rừng, xâydựng các mô hình rừng chuẩn…
Mặc dù có nhiều nghiên cứu đã thực hiện nhưng các nghiên cứu thườngchỉ tập trung ở một lĩnh vực nhất định, phục vụ cho mục đích của từng ngành
Trang 7nghề trong khai thác rừng Điều đó dẫn đến nhiều loài hay nhiều nguồn tàinguyên chứa đựng trong nhóm cây gỗ còn chưa được khám phá, trong khi rấtnhiều nhóm, loài đang ngày càng bị mất đi do khai thác của con người
Vườn quốc gia (VQG) Xuân Sơn được thành lập theo Quyết định số49/2002/QĐ-TTg, ngày 17/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ, là một trong 30VQG có trên lãnh thổ Việt Nam, là địa bàn không những có vị trí quan trọng
về an ninh quốc phòng, mà còn là hành lang giao lưu phát triển kinh tế nối liềnvùng Tây Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ Với diện tích tự nhiên là 33.687 ha bao gồmvùng lõi là 15.048 ha và vùng đệm là 18.639 ha trong đó diện tích rừng núi đá vôichiếm khoảng 10%, độ che phủ chiếm 60,5% VQG Xuân Sơn nằm trong dãy núiliên hoàn phía Đông Nam của dãy Hoàng Liên Sơn, là lá phổi xanh của Phú Thọ,
là rừng đầu nguồn của sông Bứa và các chi lưu của sông Đà, sông Hồng VQGXuân Sơn có nhiều hang động nổi tiếng, là vùng rừng núi có nhiều cảnh quan tựnhiên đa dạng kỳ thứ, làm nền tảng cho sự hình thành phát triển các nguồn tàinguyên thiên nhiên, trong đó có Đa dạng sinh học Đến nay chưa có cuốn sáchnào viết về đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen tại VQG Xuân Sơn
Xã Xuân Sơn thuộc VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ là một xã có thảmthực vật phong phú và đa dạng, nhưng cho đến này đã bị suy thoái và bị pháhủy, trong khi công tác điều tra đánh giá và thống kê tài nguyên thực vật cònchưa được thực hiện Tại đây có nguồn thực vật rất đa dạng nhưng chưa cónghiên cứu nào thống kê một cách cụ thể tính đa dạng cây gỗ tại đây Đặc biệt
xã Xuân Sơn nằm trong vùng lõi thuộc khu bảo tồn nghiêm ngặt của VQG
Xuân Sơn Xuất phát từ thực tế tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng cây gỗ và góp phần đề xuất một số biện pháp bảo tồn tại xã Xuân Sơn thuộc Vườn Quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ” Với mục đích
phục vụ điều tra đánh giá hiện trạng nhóm cây gỗ nhằm cung cấp nhữngthông tin phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững
Trang 81.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Thảm thực vật rừng có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng hộ và bảo vệcảnh quan, đặc biệt đối với các khu bảo tồn Trong các thành phần của rừng,cây gỗ là yếu tố quyết định sự phát sinh và hình thành các kiểu rừng, đồngthời là yếu tố đảm bảo cho tính đa dạng sinh vật của một hệ sinh thái rừng.Nghiên cứu tính đa dạng cây gỗ là cơ sở khoa học cho việc bảo tồn tính đadạng sinh học cũng như bảo vệ nguồn gen trong hệ sinh thái
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Góp phần xây dựng chiến lược bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệcác hệ sinh thái rừng và cảnh quan tại xã Xuân Sơn nói riêng và VQGXuân Sơn nói chung
- Đánh giá tiềm năng đa dạng sinh học và các yếu tố khác của cây gỗ tạikhu vực nghiên cứu phục vụ cho công tác bảo vệ, bảo tồn và khai thác sửdụng hợp lý phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội tại địa phương và các vùnglân cận
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm nhận thức về Đa dạng sinh học
Trên thế giới đa dạng sinh học đã được nghiên cứu từ lâu, tuy nhiên phảiđến những năm 1990 của thế kỷ 20 vấn đề này mới thực sự trở nên cấp thiết
và thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và nhiều quốc gia.Cho đến nay có nhiều khái niệm (định nghĩa) về ĐDSH đã được đưa ra Theo Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF, 1990) [21] ĐDSH là sựphồn thịnh của cuộc sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và
vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vôcùng phức tạp cùng tồn tại trong một môi trường Như vậy, ĐDSH được xemxét ở cả 3 mức độ: ĐDSH ở mức độ gen là sự khác nhau giữa các loài, giữacác quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như giữa các cá thể cùng chungsống trong một quần thể ĐDSH ở mức độ loài là gồm toàn bộ các sinh vậtsống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm.ĐDSH ở mức độ hệ sinh thái là sự khác nhau của các loài giữa các hệ sinhthái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại
Trong bản Công ước về bảo tồn ĐDSH được thông qua tại hội nghịthượng đỉnh tại Rio de Janeiro (Braxin, 1992) [9] định nghĩa “ĐDSH là tínhkhác biệt, muôn hình muôn vẻ về cấu trúc, chức năng và các đặc tính khácgiữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn bao gồm hệ sinh thái trên đất liền và các
hệ sinh thái dưới nước”
Ở trong nước theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [33] "ĐDSH là toàn bộcác dạng sống khác nhau của cơ thể sống trên trái đất gồm các sinh vật phâncắt đến động, thực vật ở trên cạn cũng như dưới nước, từ mức độ phân tửAND đến các quần thể sinh vật kể cả xã hội loài người Ông cho rằng khoahọc nghiên cứu về tính đa dạng đó gọi là ĐDSH”
Trang 10Trong cuốn "Kế hoạch hành động đa dạng Việt Nam", (1995) [9] đưa rađịnh nghĩa: "ĐDSH là tập hợp tất cả các nguồn sống trên hành tinh chúng ta,bao gồm tổng số các loài động, thực vật, tính đa dạng phong phú trong từngloài, tính đa dạng của các hệ sinh thái trong các cộng đồng sinh thái khácnhau hay là tập hợp của các loài sống ở các vùng khác nhau trên thế giới vớicác hoàn cảnh khác nhau" Trong định nghĩa này tác giả đã đề cập đến mức
độ đa dạng ở mức độ loài và hệ sinh thái, nhưng chưa đề cập đến mức đadạng gen (đa dạng di truyền)
Theo từ điển đa dạng sinh học và phát triển bền vững [15]: ĐDSH làthuật ngữ dùng để mô tả sự phong phú và đa dạng của giới tự nhiên Đa dạng
là sự phong phú của mọi cơ thể sống từ mọi nguồn, trong các hệ sinh thái trênđất liền, dưới biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái
mà chúng tạo nên
Các nhà khoa học của Viện Tài nguyên gen và thực vật quốc tế IPGRI[42] cho rằng: Đa dạng sinh học là sự biến dạng trong cơ thể sống và cácphức hệ sinh thái mà chúng sống
Như vậy, trên thế giới cũng như ở trong nước có nhiều định nghĩa khácnhau về ĐDSH Tuy có khác nhau nhưng đa số các tác giả đều thống nhất chorằng ĐDSH là sự khác biệt hay tính muôn hình muôn vẻ của thế giới sinh vậttrên toàn trái đất và được thể hiện ở 3 mức độ như sau:
- Đa dạng ở mức độ di truyền: Mỗi loài sinh vật và thậm chí trong một cá
thể của loài đều có phân tử AND đặc trưng cho loài Tính đặc trưng này đượcthể hiện qua số lượng và trình tự sắp xếp các nucleotit trong phân tử AND, quahàm lượng trong nhân tế bào và tỷ lệ giữa các cặp bazơ A+T/G+X Trật tự các
nu trong các gen có liên quan đến qui định các tính trạng và các đặc tính cơ thể.Trong quá trình tiến hóa của sinh vật từ thấp đến cao, hàm lượng AND trongcác tế bào cũng được tăng lên Đó là sự biểu hiện của đa dạng gen [31]
Trang 11- Đa dạng mức độ loài: Là phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng
các loài hoặc số lượng phân loài (loài phụ) trên trái đất, ở một vùng địa lý,trong một quốc gia hay một sinh cảnh nhất định Loài là một nhóm cá thểkhác biệt với các nhóm cá thể khác về mặt sinh học và sinh thái Các cá thểtrong loài có vật chất di truyền (giao phối, giao phấn) với nhau và các thế hệcon cái hữu thụ (có khả năng sinh sản tiếp) Vì vậy, tính đa dạng loài hoàntoàn bao trùm tính đa dạng di truyền và thường được coi trọng nhất khi đềcập đến tính ĐDSH
- Đa dạng ở mức độ sinh thái: Thể hiện bằng sự khác nhau của các kiểu
quần xã sinh vật tạo nên Quần xã sinh vật được xác định bởi các loài sinh vậttrong một sinh cảnh nhất định cùng các mối quan hệ qua lại giữa các cá thểtrong loài và giữa các loài với nhau Quần xã sinh vật cũng quan hệ với môitrường vật lý tạo thành một hệ sinh thái Hệ sinh thái là một cấu trúc và chứcnăng sinh quyển bao gồm các quần xã động, thực vật, các quần xã vi sinh vật,thổ nhưỡng (đất) và các yếu tố khí hậu Các thành phần này liên hệ với nhauthông qua các chu trình vật chất và năng lượng (chu trình sinh địa hoá) Caohơn nữa, định nghĩa này đã đề cập đến xã hội loài người đó là đa dạng cácloại hình văn hoá dân tộc Đây là một quan điểm mới được đề cập đến mangtính nhân đạo và sự công bằng xuất phát từ đạo đức, đó chính là câu trả lờicho một phần của câu hỏi vì sao phải bảo tồn ĐDSH
1.2 Tính cấp thiết về vấn đề bảo vệ Đa dạng sinh học
Rừng là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của trái đất nói chung vàcủa mỗi quốc gia nói riêng Ngoài chức năng cung cấp những lâm sản phục
vụ nhu cầu của con người, rừng còn có chức năng bảo vệ môi trường sinh thái
và rừng là nơi lưu giữ các nguồn gen động thực vật phục vụ cho cho các hoạtđộng sản xuất nông lâm nghiệp Rừng có được những chức năng đó là nhờ có
đa dạng sinh học ĐDSH là một trong những nguồn tài nguyên quí giá nhất, vì
nó là cơ sở của sự sống còn, thịnh vượng và tiến hoá bền vững của các loài
Trang 12sinh vật trên hành tinh chúng ta Nhưng hiện nay dân số thế giới tăng, nhu cầu
về lâm sản tăng dẫn đến khai thác rừng quá mức và không khoa học làm chodiện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng kéo theo suy giảm ĐDSH Chính vìvậy loài người đã, đang và sẽ phải đứng trước một thử thách, đó là sự suygiảm về ĐDSH dẫn đến làm mất trạng thái cân bằng của môi trường kéo theo
là những thảm họa như lũ lụt, hạn hán, lở đất, gió bão, cháy rừng, ô nhiễmmôi trường sống, các căn bệnh hiểm nghèo… xuất hiện ngày càng nhiều Tất
cả các thảm họa đó là hậu quả, một cách trực tiếp hay gián tiếp của việc suygiảm ĐDSH
Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của vùng ĐôngNam Á Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam,nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam là mộttrong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tínhĐDSH cao do có sự kết hợp của nhiều yếu tố
Tuy nhiên, tài nguyên rừng Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêmtrọng do nhiều các nguyên nhân khác nhau như nhu cầu lâm sản ngày càngtăng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quà mức, không đúng
kế hoạch, chiến tranh,… Theo số liệu mà Maurand P công bố trong công trình
“Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 Việt Nam còn khoảng 14,3triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ [44] Quátrình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt
từ năm 1976 -1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm diệntích rừng giảm đi 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha(1,7%/năm) và diện tích rừng giảm xuống mức thấp nhất là 9,2 triệu ha với độche phủ 27,8% vào năm 1990 (Trần Văn Con, 2001) Việc mất rừng, độ chephủ giảm, đất đai bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sông hồ bị bồi lấp, môitrường bị thay đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đờisống của nhiều vùng dân cư Mất rừng còn đồng nghĩa với sự mất đi tính đadạng về nguồn gen động thực vật
Trang 13Theo thống kê chính thức năm 2004, diện tích rừng đã tăng lên 12,3 triệu
ha với độ che phủ 37,3%, và đến tháng 12 năm 2007 diện tích rừng Việt Nam
đã tăng lên 12,8 triệu ha với độ che phủ 38,2% Nhưng hơn hai phần ba diệntích rừng của Việt Nam là rừng nghèo hoặc rừng đang phục hồi, trong khi đórừng giàu và rừng kín năm 2000 chỉ chiếm 3,4% và năm 2004 chiếm 4,6%tổng diện tích rừng Hầu như ở các vùng thấp không còn các khu rừng vớitính đa dạng còn nguyên vẹn
VQG Xuân Sơn được nhân dân Phú Thọ coi là lá phổi xanh của tỉnh bởi
lẽ cả tỉnh giờ đây chỉ còn Xuân Sơn là nơi có rừng tốt và giàu nhất Theo kếtquả điều tra bước đầu của một số cơ quan (Viện Điều tra Quy hoạch Rừng,Trường Đại học Lâm nghiệp, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, TrườngĐại học Sư phạm Hà Nội), VQG Xuân Sơn có giá trị cao về đa dạng sinh học,trong đó có nhiều loài động, thực vật quý hiếm đang bị đe dọa ở mức quốc gia
và toàn cầu Nhưng những nghiên cứu về tầng cây gỗ tại xã Xuân Sơn và một
số nội dung quan trọng chưa được thực hiện một cách có hệ thống, đó là đánhgiá đa dạng sinh học về các taxon phân loại một cách chính xác, yếu tố địa lýcấu thành hệ thực vật, công dụng và mức độ nguy cấp của các loài để từ đó đưa
ra các biện pháp bảo tồn thích hợp Để góp phần đánh giá tính đa dạng cây gỗ,làm cơ sở cho công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên cây gỗ trên vùng
nghiên cứu, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng cây gỗ và góp phần đề xuất một số biện pháp bảo tồn tại xã Xuân Sơn thuộc VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ”.
1.3 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
1.3.1 Nghiên cứu về đa dạng phân loại
Cho đến nay, vấn đề đa dạng sinh vật và bảo tồn nguồn tài nguyên đã trởthành chiến lược trên toàn thế giới Đã có nhiều tổ chức quốc tế ra đời vớimục tiêu nhằm hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và pháttriển đa dạng sinh vật trên phạm vi toàn cầu như: Hiệp hội Quốc tế Bảo vệ
Trang 14Thiên nhiên ( IUCN ), Chương trình Môi Trường Liên hợp quốc ( UNEP ),Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên ( WWF ), Viện Tài nguyên Di truyền Quốc
tế ( IPGRI ),… Loài người muốn tồn tại lâu dài trên hành tinh này thì phảixây dựng chiến lược phát triển một cách bền vững Bởi nhu cầu cơ bản và sựsống còn của con người phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên tự nhiên củatrái đất, nếu những tài nguyên đó bị mất đi hoặc giảm sút thì cuộc sốngcủa chúng ta và con cháu của chúng ta sẽ bị đe doạ nghiêm trọng Chúng
ta đã quá lạm dụng tài nguyên của trái đất mà không nghĩ đến các thế hệtương lai, nên ngày nay loài người đang đứng trước những hiểm họa khônlường Để tránh sự huỷ hoại các nguồn tài nguyên chúng ta phải tôn trọngquy luật tự nhiên
Vì vậy tháng 6 năm 1992 Hội nghị thượng đỉnh bàn về môi trường và đadạng sinh vật được tổ chức tại Rio de Janeiro ( Brazil ) có 150 nước ký vàoCông ước về đa dạng sinh vật và bảo vệ chúng Từ đó nhiều hội thảo dược tổchức nhằm thảo luận và có nhiều cuốn sách mang tính chất chỉ dẫn ra đời.Năm 1990 WWF đă cho xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng về đa dạngsinh vật ( The importance of biological diversity ) hay IUCN, IUNEP vàWWF (1996) [21] đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới ( Wold conservationstrategy ) Năm 1991 Wri, Wcu, WB, WWF xuất bản cuốn bảo tồn đa dạngsinh vật thế giới ( conserving the World’s biological diversity ) hoặc IUCN,IUNEP và WWF (1996) [21] xuất bản cuốn “Hãy quan tâm tới trái đất”( Caring for the earth ) Cùng năm Wri, IUCN và UNEP xuất bản cuốn chiếnlược đa dạng sinh vật và chương trình hành động Tất cả các cuốn sách đónhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn ĐDSH, làm nền tảngcho công tác bảo tồn và phát triển tương lai
Trên thế giới những nghiên cứu về thành phần loài đã được tiến hành từkhá lâu Ở Liên Xô (cũ) có các nghiên cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin(1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978)… Theo các tác giả
Trang 15thì mỗi vùng sinh thái khác nhau sẽ hình thành những kiểu thảm thực vật khácnhau Sự khác biệt này được thể hiện bởi thành phần loài, nhóm dạng sống,cấu trúc và động thái của thảm thực vật [29]
Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinhthái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét:Khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19năm thì có 60 họ, 134 chi và 167 loài [37]
1.3.2 Đa dạng về hệ sinh thái và thảm thực vật
- Có rất nhiều tác giả khác nhau đưa ra những lý luận riêng của mình vềphân loại rừng phục vụ cho đánh giá về đa dạng sinh thái Mỗi lý luận đềuđưa ra những cách thức phân loại riêng theo mục đích của tác giả như:
+ Phân loại rừng dựa theo cấu trúc và ngoại mạo: Đây là hướng cổ điển đượcnhiều tác giả áp dụng như A F Schimper (1903), A Aubréville (1949),UNESCO (1973) [47],… cơ sở phân loại của xu hướng này thường là đặc điểmphân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái kháccủa quần xã thực vật
Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhàkhoa học trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau Thái VănTrừng (1978) [38] cho rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trênmặt đất như một tấm thảm xanh Trần Đình Lý (1998) [27] cho rằng thảm thựcvật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thựcvật trên toàn bộ bề mặt trái đất Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ
rõ đối tượng cụ thể nào Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩakèm theo như: Thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn…
H.G Champion (1936) [14] khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - MiếnĐiện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: Nhiệt đới, Ánhiệt đới, Ôn đới và núi cao
Trang 16J Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ
và loạt quần hệ) Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng rừng nhiệt đới có 5 loạtquần hệ: Loạt quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh;loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngậpquanh năm
Maurand (1943) [44] nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chiathảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương
và vùng trung gian Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó
1.3.3 Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật
Các yếu tố cấu thành nên một hệ thực vật nào đó không chỉ khác nhau vềthành phần phân loại mà còn khác nhau về sự phân bố địa lý, nguồn gốc địa lý
và cả thời kỳ địa chất [33]
Phân tích các yếu tố địa lý thực vật là một trong những yếu tố quan trọngkhi nghiên cứu một hệ thực vật hay bất kỳ một khu hệ sinh vật nào để hiểubản chất cấu thành của nó làm cơ sở cho việc định hướng bảo tồn và dẫngiống vật nuôi, cây trồng Tập hợp các loài của một hệ thực vật có khu phân
bố ít nhiều giống nhau tập hợp lại thành một yếu tố địa lý Tập hợp tất cả cácyếu tố địa lý của hệ thực vật (tính %) là phổ các yếu tố địa lý của hệ thực vật
đó Mặc dù vậy, việc nghiên cứu các yếu tố cấu thành của hệ thực vật cũng rấtphức tạp và phải phụ thuộc vào khả năng, ý định của từng tác giả cũng nhưnguồn tài liệu cho phép Việc chia nhóm phân bố phải đảm bảo nguyên tắc mỗiyếu tố địa lý của hệ thực vật bao gồm tất cả các loài của hệ thực vật đó có khuphân bố ít nhiều giống nhau Các yếu tố địa lý này được chia thành 2 nhóm:Nhóm các yếu tố đặc hữu và nhóm các yếu tố di cư Các loài thuộc nhóm cácyếu tố đặc hữu thể hiện ở sự khác biệt giữa các hệ thực vật với nhau, còn cácloài thuộc nhóm các yếu tố di cư chỉ ra sự liên hệ giữa các hệ thực vật đó
Trang 171.3.4 Nghiên cứu về phổ dạng sống
Dạng sống là một đặc tính biểu hiện sự thích nghi của thực vật với điềukiện môi trường Vì vậy, việc nghiên cứu dạng sống sẽ cho thấy mối quan hệchặt chẽ của các dạng sống với điều kiện tự nhiên của từng vùng và biểu hiện
sự tác động của điều kiện sinh thái đối với loài thực vật
I K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: Thực vật thườngxanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trênmặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật cóthời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và pháttriển lâu năm G N Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp:Lớp cây nhiều năm và lớp cây hàng năm [30]
Raunkiaer (1934) [45] chọn vị trí của chồi nằm ở đầu trên mặt đất trongsuốt thời gian bất lợi trong năm để phân chia dạng sống thực vật Theo đó có
5 nhóm dạng sống cơ bản như sau:
(1)Phanerophytes (Ph): Nhóm cây có chồi trên mặt đất
a) Cây gỗ lớn cao trên 30m (Mg)
b) Cây lớn có chồi trên đất cao 8 – 30m (Me)
c) Cây nhỏ có chồi trên đất 2 - 8m (Mi)
d) Cây nhỏ có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na)
e) Cây có chồi trên đất leo quốn (Lp)
f) Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep)
g) Cây có chồi trên đất thân thảo (Hp)
h) Cây mọng nước (Succ)
(2) Chamaetophytes (Ch): Nhóm cây có chồi sát mặt đất
(3) Hemicryptophytes (He): Nhóm cây có chồi nửa ẩn
(4) Cryptophytes (Cr): Nhóm cây có chồi ẩn
(5) Therophytes (Th): Nhóm cây sống 1 năm
Trang 18Tác giả đã tính toán cho hơn 1.000 loài cây ở các vùng khác nhau trêntrái đất và tìm được tỷ lệ % trung bình cho từng loài, gộp lại thành phổ dạngsống tiêu chuẩn (ký hiệu SN)
1.4 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.4.1 Đa dạng về phân loại
Ngay từ thế kỷ XVIII, Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu vềthực của các tác giả người nước ngoài như: Loureiro (1790), Pierre (1879 –1907), Lecomte (1907) trong cuốn thực vật chí Đại cương Đông Dương vàcác tập bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng7.000 loài thực vật bậc cao có mạch [69] Theo Phạm Hoàng Hộ (1991 -1993) [16] hệ thực vật ở Việt Nam có 10.500 loài
Phan Kế Lộc (1970) đưa ra con số hệ thực vật miền bắc Việt Nam có5.609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ [24] Cũng tác giả (1998) đưa ra dẫn liệucho thấy số loài thực vật bậc cao có mạch đã biết là 9.653 loài, thuộc 2.011chi, 291 họ Nếu kể cả 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loàithực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc2.257 chi và 305 họ, chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số
họ của toàn thế giới Đồng thời cho biết hệ thực vật nước ta gồm các yếu tố
Trang 19của hệ thực vật Indonesia – Malaisia, Nam Trung Hoa, Ấn Độ - Trung vàNam Tiểu Á
Nguyễn Tiến Bân (1997) [2] trong cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biếtcác họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” đã mô tả khóa phân loại của 265 họ vàkhoảng 2.300 chi
Trong cuốn "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" [4] các nhà nghiêncứu đã đưa ra số liệu thống kê hệ thực vật Việt Nam gồm 368 loài vi khuẩn
lam (Tiền nhân - Procaryota ), 2.200 loài nấm (Fungi), 2.176 loài tảo (Algae),
841 loài rêu (Bryophyta), 1 loài khuyết lá thông (Psilotophyta), 53 loài thông đất (Lycopodiophyta), 2 loài cỏ Tháp bút (Equisetophyta), 691 loài dương xỉ (Polipodiophyta), 69 loài hạt trần (Gymnospermae), và khoảng 10.000 loài (trên 850 taxon dưới loài-phân loài, thứ, dạng, ) hạt kín (Angiospermae), đưa
tổng số loài thực vật Việt Nam lên gần 20.000 loài Cho đến nay, đây là danhlục thực vật đầy đủ nhất ở Việt Nam đã được cập nhật tên khoa học, tên đồngnghĩa cũng như phân bố của chúng ở Việt Nam và trên Thế giới
Ngoài những công trình trên, còn có nhiều công trình nghiên cứu về hệthực vật ở các vùng, khu vực hay các trong cả nước: Phan Kế Lộc (1978)[24]; Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) [3]; Lê Mộng Chân (1994) [7]; ĐỗTất Lợi (1995) [26]; Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 1998) [47, 48]
Để phục vụ công tác khai thác tài nguyên Viện Điều tra Quy hoạch Rừng đãcông bố 7 tập Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) [39] Trần Đình Lý vàcộng sự (1993) công bố 1.900 cây có ích ở Việt Nam; Võ Văn Chi (1997)công bố từ điển cây thuốc Việt Nam; Viện Dược liệu (2004) cho ra cuốn câythuốc và động vật làm thuốc
Trong vài thập kỷ vừa qua, các nhà khoa học đã bổ sung thêm nhiềuloài mới vào danh sách các loài của Việt Nam, trong đó có một số loài mớicho khoa học Trong giai đoạn 1993-2002, có 13 chi, 222 loài và 30 taxondưới loài đã được ghi nhận Có 2 họ, 19 chi và hơn 70 loài được ghi nhận mớicho hệ thực vật Việt Nam Trong đó có 3 loài mới cho khoa học thuộc ngành
Trang 20Hạt trần Tỷ lệ phát hiện loài mới nhiều nhất là họ Lan (Orchidaceae) với 3chi mới và 62 loài [40]
1.4.2 Đa dạng về hệ sinh thái và thảm thực vật
Về đa dạng quần xã thực vật trên phạm vi cả nước phải kể đến công trìnhnghiên cứu nổi tiếng của Thái Văn Trừng (1978) về thảm thực vật Việt Nam Dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể, tác giả phân chia thảm thựcvật Việt Nam thành các kiểu phụ, kiểu trái và thấp nhất là các ưu hợp Trongcác yếu tố phát sinh thì khí hậu là yếu tố phát sinh ra kiểu thực vật, còn cácyếu tố địa lý, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khu hệ thực vật và con người làyếu tố phát sinh của các kiểu phụ, kiểu trái và ưu hợp [38]
Đối với mỗi miền đều có những tác phẩm lớn: Ở miền Nam có côngtrình thảm thực vật nam Trung Bộ của Schmid (1974) Ngoài điều kiện khíhậu với chế độ thoát hơi nước khác nhau, các tiêu chuẩn phân biệt các quần
xã là sự phân hoá khí hậu, thành phần thực vật đai cao Tác giả phân các loàithuộc về hệ thực vật Malêzi ở đai thấp dưới 600m còn các loài thuộc hệ thựcvật Bắc Việt Nam – Nam Trung Hoa ở đai trên 1200m, từ 600 – 1200m đượccoi là đai chuyển tiếp Ở miền Bắc có công trình của Trần Ngũ Phương (1970)[30] đã chia các đai trên cơ sở độ cao, sau đó kiểu dựa vào điều kiện địa hình
và tính chất sinh thái, các kiểu khu vực dựa vào thành phần loài thực vật
Năm 1995, Nguyễn Vạn Thường xây dựng bản đồ thảm thực vật BắcTrung Bộ đã chia 4 vùng sinh thái căn cứ vào độ cao so với mặt nước biển: <700m nhiệt đới ẩm, < 700m là vùng nhiệt đới ẩm có nửa mùa khô, < 700mhơi khô không có mùa mưa rõ ràng và từ 800 – 1.500m nhiệt đới ẩm Có thểnói đó là sơ đồ tổng quát nhất về thảm thực vật Bắc Trung Bộ Việt Nam Mãiđến năm 1985, theo cách phân loại mới của UNESCO (1973) Phan Kế Lộc(1985) [25] đã vận dụng thang phân loại đó để xây dựng thang phân loại thảmthực vật Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ, 77quần hệ khác nhau
Trang 21Đối với các khu bảo tồn: Năm 1995, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự đãnghiên cứu các quần xã thực vật và xây dựng bản đồ thảm thực vật VQG CúcPhương, cùng năm đó có một số thông báo của Vũ Văn Dũng về các kiểuthảm thực vật ở Khu BTTN Vũ Quang của Nguyễn Đức Ngắn, Lê Xuân Ái vềcác kiểu thảm thực vật Côn Đảo, Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự về cáckiểu thảm thực vật VQG Nam Cát Tiên, Đỗ Minh Tiến về các kiểu thảm thựcvật VQG Tam Đảo, Bùi Văn Định, Cao Văn Sung, Phạm Đức Tiến về cáckiểu thảm thực vật VQG Ba Bể, “Đa dạng thực vật ở khu BTTN Na Hang,Tuyên Quang” (2006) [36]…
1.4.3 Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật
Thành phần của một hệ thực vật nào đó không chỉ khác nhau về số lượng
mà còn khác nhau về yêu tố địa lý [16]
Phân tích và đánh giá các yếu tố địa lý trước tiên phải kể đến các côngtrình của Gagnepain trong tác phẩm “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật ĐôngDương” Theo ông hệ thực vật Đông Dương có các yếu tố sau:
Yếu tố Trung Quốc 33,8%
Yếu tố Xích kim – Himalaya 18,5%
Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác 15,0%
Yếu tố đặc hữu bán đảo Đông Dương 11,9%
Yếu tố nhập nội và phân bố rộng 20,8%
Thái Văn Trừng (1978) [38] cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5%
số loài đặc hữu Nhưng khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ NamTrung Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khuphân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỷ lệ các loài đặchữu bản địa lên 50% (Tương tự 45,7% theo Gagnepain và 52,79% theo PócsTamás), còn yếu tố di cư chỉ chiếm tỷ lệ 39,0% (trong đó từ Malaysia –Indonesia là 15%, từ Hymalaya – Vân Nam – Qúi Châu là 10% và từ Ấn Độ -
Trang 22Miến Điện là 14%), các nhân tố khác theo tác giả chỉ chiếm 11% (7% nhiệtđới, 3% ôn đới và 1% thế giới), nhân tố nhập nội vẫn là 3,08%.
Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) căn cứ vào các khung phân loại của T Pócs(1965) [46] Ngô Chính Dật (1993) [35] đã xây dựng thang phân loại các yếu
tố địa lý thực vật cho hệ thực vật Việt Nam và áp dụng vào cho việc sắp xếpcác chi thực vật Việt Nam vào các yếu tố địa lý như sau:
1 Yếu tố toàn cầu
2 Yếu tố Liên nhiệt đới
4 Yếu tố nhiệt đới châu Á
4 - 1 Yếu tố Đông Dương – Malêzi
4 - 2 Yếu tố Đông Dương - Ấn Độ
4 - 3 Yếu tố Đông Dương - Himalaya
4 - 4 Yếu tố Đông Dương - Nam Trung Hoa
4 - 5 Yếu tố Đông Dương
5 Yếu tố ôn đới
5 - 1 Yếu tố Đông Á – Nam Mỹ
5 - 2 Yếu tố ôn đới Cổ thế giới
5 - 3 Yếu tố ôn đới Địa Trung Hải
5 - 4 Yếu tố Đông Nam Á
6 Yếu tố đặc hữu Việt Nam
6 - 1 Cận đặc hữu
6 - 2 Yếu tố đặc hữu miền Bắc - Trung
7 Yếu tố cây trồng
Trang 23Từ khung phân loại các yếu tố địa lý đó tác giả và cộng sự đã lần lượtxác định các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật một số VQG và KhuBTTN của nước ta: VQG Bạch Mã (2003), VQG Pù Mát (2004), Khu bảo tồnthiên nhiên (BTTN) Na Hang (2006).
Nguyễn Đức Ngắn (2004), đưa ra nhận xét cho rằng hệ thực vật VQGNúi Chúa có quan hệ thân thuộc với Khu hệ thực vật Malaixia - Indonexia,Khu hệ thực vật Ấn Độ - Miến Điện, Khu hệ thực vật á nhiệt đới và ôn đớivùng Himalaya - Vân Nam - Quý Châu (Trung Quốc), Khu hệ thực vật BắcViệt Nam - Nam Trung Quốc [28]
Từ Minh Tiệp (2000), khi nghiên cứu về hệ thực vật VQG Ba Bể chothấy hệ thực vật VQG Ba Bể có yếu tố Nhiệt đới châu Á chiếm tỷ lệ lớn nhất(61,62%), tiếp đến là yếu tố đặc hữu Việt Nam (chiếm 21,04%), yếu tố nhiệtđới châu Á - châu Úc và yếu tố chưa xác định mỗi yếu tố đều chiếm 2,79%,yếu tố cây trồng chiếm 2,42%, tiếp theo là yếu tố liên nhiệt đới (1,60%), cònlại các yếu tố khác không vượt quá 1% [32]
Nguyễn Gia Lâm (2003) [22], cho rằng hệ thực vật Bình Định gồmnhững loài có nguồn gốc phát sinh từ phía Bắc như Họ Dẻ, họ De, họ Chè,
họ Ngọc lan; những loài có nguồn gốc từ phía Nam lên gồm các loàithuộc họ Dầu, họ Tử vi, họ Gạo, họ Bứa
Ngô Tiến Dũng và cộng sự (2002) [13], đã nghiên cứu yếu tố địa lý thựcvật của hệ thực vật ở VQG YokĐôn Kết quả cho thấy Yếu tố toàn cầu (6loài), Yếu tố liên nhiệt đới (20 loài), Yếu tố nhiệt đới châu Á - Châu Mỹ (6loài), Yếu tố cổ nhiệt đới (5 loài), Yếu tố nhiệt đới châu Á - châu Úc (20 loài),Yếu tố nhiệt đới châu Á - châu Phi (9 loài), Yếu tố nhiệt đới châu Á (79 loài);Yếu tố Đông Nam Á (36 loài); Yếu tố nhiệt đới lục địa châu Á (52 loài); Lụcđịa Đông Nam Á (63 loài); Yếu tố bán đảo Đông Dương và Nam Trung Quốc(71 loài); Yếu tố Đông Dương (41 loài); Yếu tố ôn đới Bắc (không có loàinào); Yếu tố Đông Á - Bắc Mỹ (2 loài); Yếu tố ôn đới cổ thế giới (không có
Trang 24loài nào); Yếu tố ôn đới Địa Trung Hải - Châu Âu và châu Á (không có loàinào); Yếu tố Đông Á (12 loài); Yếu tố đặc hữu Việt Nam (27 loài) chiếm4,77% tổng số loài trong hệ; Yếu tố gần đặc hữu Việt Nam (28 loài); Yếu tốđặc hữu YokĐôn (43 loài); Yếu tố chưa xác định (46 loài) Tác giả kết luận,
hệ thực vật VQG YokĐôn hoàn toàn mang tính chất nhiệt đới chiếm trên97%, trong khi các yếu tố ôn đới rất thấp (2,4%) Nổi bật nhất là yếu tố nhiệtđới châu Á (chiếm 60,4%), tiếp sau là yếu tố đặc hữu (chiếm 17,3%), còn cácyếu tố khác không đáng kể
1.4.4 Nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật
Dạng sống là một đặc tính biểu hiện sự thích nghi của thực vật với điềukiện môi trường Vì vậy, việc nghiên cứu dạng sống sẽ cho thấy mối quan hệchặt chẽ của các dạng với điều kiện tự nhiên của từng vùng và biểu hiện sựtác động của điều kiện sinh thái đối với loài thực vật
Phổ dạng sống được biểu thị bằng một biểu thức cộng các nhóm dạngsống (tính theo %) Thông qua phổ dạng sống có thể biết được đặc tính sinhthái của hệ thực vật và Đây là cơ sở để thể so sánh về điều kiện sinh thái họccủa hệ thực vật ở vùng này với hệ thực vật ở vùng khác
Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như: Doãn NgọcChất (1969) nghiên cứu dạng sống của một số loài thực vật thuộc họ Hoàthảo Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng
cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểuđồng cỏ Savan, thảo nguyên [11]
Thái Văn Trừng (1978) cũng áp dụng nguyên tắc của Raunkiaer khi phânchia dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam [56]
Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bìnhcũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương phápcủa Raunkiaer Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá một sốdạng sống (a: ký sinh; b bì sinh; c dây leo; d cây chồi trên thân thảo) Tác
Trang 25giả không xếp phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản màchỉ coi đây là những dạng phụ [8].
Phan Nguyên Hồng (1991) [19] khi nghiên cứu hình thái thảm thựcvật rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: Cây gỗ(G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng câybụi (G/B), ký sinh (K), bì sinh (B)
Phạm Hồng Ban (1999) [1] nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinhthái tái sinh sau nương rẫy vùng Tây Nam Nghệ An, áp dụng khung phân loạicủa Raunkiaer để phân chia dạng sống, phổ dạng sống:
SB = 67,40Ph + 7,33Ch + 12,62He + 8,53Cr + 4,09Th
Nguyễn Thế Hưng (2003) khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong cáctrạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: Nhóm câychồi trên đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật;nhóm cây chồi sát đất có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1năm có 35 loài chiếm 10,80% [20]
Ngô Tiến Dũng (2002) [13] nghiên cứu về dạng sống của hệ thực vật ởVQG Yok Don dựa vào thang phân loại dạng sống của Raunkiaer đã lập đượcphổ dạng sống của thực vật Yok Don như sau:
SB = 71,73Ph + 1,41Ch + 7,77He + 4,59Cr + 6Th + 8,48 Chưa xác định
Vũ Thị Liên (2005) [23] phân chia dạng sống thực vật trong thảm thựcvật sau nương rẫy ở Sơn La theo thang phân loại của Raunkiaer Kết quả phổdạng sống như sau:
SB = 69,69Ph + 3,76Ch + 9,29He + 10,84Cr + 6,42Th
Nguyễn Nghĩa Thìn - Nguyễn Thị Thời (1998) [34] khi nghiên cứu đadạng thực vật có mạch vùng núi cao Sa Pa - Phan Si Pan, đã xây dựng đượcphổ dạng sống căn cứ trên dạng sống của thân cây như: C các loài cây thân
cỏ, Ch-Dl nhóm thân ngầm, đã xác định được 7 nhóm loài cây chính trên
Trang 26vùng Sa Pa - Pan Si Pan mang tính đặc thù điển hình của phổ dạng sống thựcvật trên vùng núi cao
SB=18,4ĐM+16,8TM+B +12DL + FS-Pl +1.1Bks + 18.2 Ch-Đl + 26.5C
1.5 Những nghiên cứu tại VQG Xuân Sơn
Vườn quốc gia Xuân Sơn là một vườn quốc gia nằm trên địa bànhuyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Với kiểu địa hình núi đá vôi đặc trưng Đượcchuyển từ Khu BTTN Xuân Sơn thành vườn quốc gia theo Quyết định củaThủ tướng chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 49/2002/QĐ-TTg ngày 17 tháng 4 năm 2002
Vườn quốc gia Xuân Sơn có diện tích vùng đệm 18.369 ha, trong đó diệntích vùng lõi là 15.048 hakhu vực bảo vệ nghiêm ngặt là 11.148 ha, phân khuphục hồi sinh thái kết hợp bảo tồn di tích lịch sử: 3.000 ha phân khu hànhchính, dịch vụ: 900 ha Điểm đặc trưng của Xuân Sơn là vườn quốc gia duynhất có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi (2.432 ha) Xuân Sơn được đánh giá
là rừng có đa dạng sinh thái phong phú, đa dạng sinh học cao, đa dạng địahình kiến tạo nên đa dạng cảnh quan
Sự đa dạng sinh vật tại VQG Xuân Sơn mới được nghiên cứu sơ bộ quamột số cuộc điều tra khảo sát của một số cơ quan như: Điều tra nghiên cứukhả thi thành lập khu BTTN Xuân Sơn năm 1990, do Chi cục Kiểm lâmVĩnh Phúc phối hợp với Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Tây Bắc thựchiện; Điều tra sơ bộ tài nguyên động vật và thực vật khu BTTN Xuân Sơnnăm 1998, do Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ, Phân viện Điều tra Quy hoạchrừng Tây Bắc, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Khoa sinh Đại học
sư phạm Hà Nội thực hiện; đặc biệt giai đoạn 2000 - 2001, Viện Sinh thái vàTài nguyên sinh vật đã tiến hành điều tra đánh giá hiện trạng tài nguyên sinhvật tại khu BTTN Xuân Sơn cho thấy về thực vật ngành Hạt trần gặp 5 họvới 6 loài trong đó có 3 loài quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam
(1996) (Tuế núi đá Cycas balansae Warb., Dẻ tùng sọc trắng hẹp
Trang 27-Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg., Kim giao - Nageia fleuryi (Hick.) De
Laub.) Những cây cho gỗ trong ngành Hạt kín (Magnoliophyta) bước đầu
đã thống kê được 130 loài, trong đó có những cây gỗ quý như táu mật
(Vatica tonkinensis A Chev.), trai (Garcinia fagraeoides A Chev.), lát hoa (Chukrasia tabularis A Juss.), nghiến (Excentrodendron tonkinense (Gagnep.) Chang), sến mật (Madhuca pasquieri H Lec.), sâng (Pometia pinnata Wang - Hsi), chò nâu (Dipterocarpus retusus Bl.), Chò chỉ (Parashorea chinensis), chò vẩy (Dysoxylum hainanense Merr.), trầm hương (Aquilaria crassna Pierre ex Lecome).
Tháng 10 năm 2002, Trung tâm Tài nguyên Môi trường thuộc Viện Điềutra Quy hoạch rừng phối hợp với Ban quản lý VQG Xuân Sơn và Chi cụcKiểm lâm Phú Thọ tiếp tục tổ chức một đợt khảo sát đa dạng sinh vật ở khuvực này và đã thu được kết quả: Về thực vật, đã thống kê được 726 loài thựcvật bậc cao có mạch thuộc 475 chi và 134 họ Như vậy số lượng loài thực vậttăng gấp đôi so với trước Trong các ngành thực vật đã ghi nhận được thìngành Ngọc lan - Magnoliophyta chiếm đa số (672 loài, 444 chi, 111 họ), sau
đó là ngành Dương xỉ - Polypodiophyta (42 loài, 21 chi, 15 họ); rồi đến ngànhThông đất - Lycopodiophyta (5 loài, 3 chi, 2 họ), ngành Thông - Pinophyta (5loài, 5 chi, 4 họ) và ít loài nhất là 2 ngành Quyết lá thông - Psilotophyta vàngành Cỏ tháp bút - Equisetophyta (1 loài, 1 chi, 1 họ) Những kết quả vừanêu mới chỉ là số liệu bước đầu cho toàn thể VQG Xuân Sơn, chưa có mộtthống kê cụ thể nào cho loài cây gỗ tại xã Xuân Sơn Do đó, việc xác địnhnghiên cứu đề tài về đa dạng cây gỗ tại xã Xuân Sơn thuộc VQG Xuân Sơncủa tôi là cần thiết và thiết thực cho công tác nghiên cứu bước đầu để đưa ranhững phương hướng bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học tại đây
* Nhận xét và đánh giá chung: Tóm lại, các công trình nghiên cứu đã
làm sáng tỏ phần nào cho chúng ta để hiểu biết về các vấn đề liên quan tới đadạng sinh học của thảm thực vật như về: Phân loại, dạng sống, yếu tố địa lý,
Trang 28giá trị tài nguyên hay công dụng và cấu trúc thảm thực vật Đây là nền móng
để nghiên cứu cho loài cây gỗ nói riêng
Những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên Thế giới và ởViệt Nam đều tập trung nghiên cứu và đánh giá thành phần loài ở một vùng
và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan vớiđiều kiện địa hình và khí hậu
Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau mà cho đến nay, những nghiêncứu một cách có hệ thống về cấu trúc thảm thực vật và các vấn đề ĐDSHcủa cây gỗ, khu vực cụ thể còn ít ỏi và tản mạn, hạn chế này gây khó khăncho thực tiễn sản xuất, cụ thể là: (i) chưa tìm ra đặc điểm, quy luật tái sinhtrưởng loài cây gỗ (ii) chưa có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả mong muốncho từng đối tượng cụ thể Đồng thời những kết quả vừa nêu chỉ là số liệubước đầu cho toàn thể VQG Xuân Sơn, chưa có một thống kê cụ thể nào choloài cây gỗ tại xã Xuân Sơn
1.6 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.6.1 Vị trí địa lý
Xuân Sơn là xã vùng sâu vùng xa, xã đặc biệt khó khăn của huyện TânSơn Với tổng diện tích tự nhiên là 656.005 ha Toạ độ địa lý: từ 21003’ đến
21012’ vĩ độ Bắc và từ 104051’ đến 105001’ kinh độ Đông
- Phía Đông giáp xã Xuân Đài
- Phía Tây giáp Phù Yên tỉnh Sơn La và huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình
- Phía Bắc giáp xã Đồng Sơn, Lai Đồng và Tân Sơn – huyện Tân Sơn
- Phía Nam giáp xã Kim Thượng – huyện Tân Sơn
1.6.2 Địa hình – địa mạo
Xã Xuân Sơn nằm trong một vùng đồi núi thấp và trung bình thuộc lưuvực sông Bứa, nơi kết thúc của dãy Hoàng Liên Sơn Vùng đồi núi thấp nàytoả rộng từ hữu ngạn sông Hồng sang đến tả ngạn sông Đà Sông Bứa và cácchi lưu của nó toả nhiều nhánh ra gần như khắp vùng Nhìn toàn cảnh, các
Trang 29dãy đồi núi chỉ cao chừng 600 - 700 m, hình dáng khá mềm mại vì chúngđược cấu tạo bởi các loại đá phiến biến chất quen thuộc Cao nhất là đỉnh Voi(1.386 m), tiếp đến là núi Ten (1.244 m) và núi Cẩn (1.144 m).Các thung lũngtrong vùng mở rộng và uốn lượn khá phức tạp Nhìn chung, địa hình trongkhu vực có những kiểu chính như sau:
- Kiểu núi trung bình: Hình thành trên đá phiến biến chất, có độ cao từ
700 - 1.368 m; chiếm tỷ lệ 10,4% diện tích tự nhiên Kiểu này phân bố chủyếu ở Xuân Sơn và các dãy núi đất xen kẽ Tác dụng xâm thực mạnh, độ dốc
suối của sông Bứa
- Kiểu địa hình núi thấp: Được hình thành trên đá trầm tích lục nguyênuốn nếp, tác dụng xâm thực, bóc mòn, thuộc địa hình này là các núi có độ cao
từ 300 - 700 m phân bố chủ yếu từ Nam, Tây Nam đến phía Bắc khu vực Núi
ở đây có hình dạng mềm mại, đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc trung bình chỉ 200,
có những thung lũng mở rộng hơn ở vùng núi phía Tây bắc
- Kiểu đồi: Có độ cao dưới 300 m, phân bố chủ yếu về phía Đông khuvực Có hình dạng đồi lượn sóng mềm mại được cấu tạo từ các loại đá trầmtích và biến chất hạt mịn, hiện nay đã được trồng chè xanh, chè san
- Thung lũng và bồn địa: Đó là những vùng trũng kiến tạo giữa núi Đây
là các thung lũng sông suối mở rộng, địa hình bằng phẳng, độ dốc rất thoải,trong đó có trầm tích phù sa rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp
1.6.3 Khí hậu – thủy văn
Trang 30Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc.Nhiệt độ trong các tháng này xuống dưới 200C, nhiệt độ trung bình tháng thấpnhất là tháng 1 Mùa nóng, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, nên thời tiếtluôn nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình trên 250C, nóng nhất là vào tháng
6 và 7 (280C) Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 40,70C vào tháng 6
- Chế độ mưa ẩm: Lượng mưa đạt mức trung bình từ 1.660 mm đến
1.826 mm Tập trung gần 90% vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10 hàngnăm); hai tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 và 9 hàng năm Mùa khôhạn từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; lượng mưa chỉ còn chiếm dưới 10%tổng lượng mưa trong năm, nhưng hạn hán ít xảy ra vì có mưa phùn (mỗi năm
có trên 20 ngày) làm hạn chế sự khô hạn trong mùa khô Tháng 12 và tháng 1
là những tháng hanh khô nhất và lượng bốc hơi cũng thường lớn hơn lượngnước rơi Độ ẩm không khí trong vùng bình quân đạt 86%, những tháng cómưa phùn thường độ ẩm không khí đạt chỉ số cao nhất Lượng bốc hơi khôngcao (653 mm/n) điều đó đánh giá khả năng che phủ đất của lớp thảm thực bìcòn cao, hạn chế được lượng nước bốc hơi, làm tăng lượng nước thấm, duy trìđược nguồn nước ngầm trong khu vực
- Một số hiện tượng thời tiết đáng chú ý:
+ Gió Tây khô nóng: Vùng này chỉ chịu gió Tây (khô và nóng) vào cáctháng 4, 5, 6, 7 Trong các tháng này nhiệt độ không khí có ngày lên tới 39 -
Trang 31+ Sương muối: Thường xuất hiện vào mùa Đông, những ngày nhiệt độ
đá vôi, mỗi đợt kéo dài vài ba ngày, ảnh hưởng rất lớn đến cây con, cây ănquả và cây lấy giống ra hoa kết quả vào thời điểm này
* Thuỷ văn
Hệ thống sông Bứa với các chi lưu của nó toả rộng ra khắp các vùng.Với lượng mưa khá dồi dào, trung bình năm từ 1.500 - 2.000 mm, lượng mưacực đại có thể tới 2.453 mm nhưng có năm chỉ đo được 1.414 mm
cực tiểu khoảng 6 - 7 l/s/km2 Lưu vực sông Bứa khá rộng Địa hình lưu vực lạithuận lợi cho việc xây dựng các hồ thuỷ lợi để phục vụ sản xuất nông nghiệp.Sông Bứa có hai chi lưu lớn, đó là sông Vèo bắt nguồn từ các vùng núi caophía Đông huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La) và sông Giày bắt nguồn từ các dãy núicao trung bình ở ranh giới giữa Phú Thọ và Hoà Bình Hai sông này hợp nhautại làng Kệ Sơn, rồi đổ vào sông Hồng tại Phong Vực Tổng chiều dài của sông
120 km, chiều rộng trung bình 200 m có khả năng vận chuyển lâm thổ sản từthượng nguồn về sông Hồng khá thuận lợi
1.6.4 Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
- Thổ nhưỡng: Được hình thành trong một nền địa chất phức tạp (cónhiều kiểu địa hình và nhiều loại đá mẹ tạo đất khác nhau) cùng với sự phânhoá khí hậu, thuỷ văn đa dạng và phong phú nên có nhiều loại đất được tạothành trong khu vực này Một số loại đất chính có nhiều giá trị trong khu vực:+ Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FH)
+ Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (F)
+ Đất rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi
+ Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng (DL):
Trang 32* Các loại tài nguyên khác
- Nước mặt: Có hệ thống các sông, suối, ao của xã rất ít phân bố tươngđối chưa đồng đều ở các thôn bản, trên địa bàn là nguồn cung cấp nước chủyếu cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Xong do các suối nhỏ hẹp, độdốc tương đối lớn, chênh lệch lưu lượng nước theo mùa Nhất là mùa khôthường gây hạn hán, ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
- Nước ngầm: Xã chưa có điều tra, khảo sát, đánh giá đầy đủ về trữlượng và chất lượng
Nhìn chung nguồn nước cung cấp chủ yếu hiện nay của xã là nước mặt,xong do tập quán sinh hoạt và sản xuất của người dân, gây nên chất lượngnước chưa tốt, cần phải xử lý trước khi sử dụng trong sinh hoạt Đồng thờicần bảo vệ phát triển rừng và môi trường để bảo vệ nguồn sinh thủy
- Tài nguyên rừng
Theo hiện trạng năm 2012 diện tích rừng của xã là: 5423,69 ha Dothuộc khu vực bảo vệ nghiêm ngặt nên rừng vẫn còn đa dạng các loài độngthực vật Tuy nhiên, trong quá trình thu hái không có kế hoạch nên cácnguồn tài nguyên này cũng đã suy giảm
- Tài nguyên nhân văn:
Tính tới 2012 dân số toàn xã là 1095 nhân khẩu và 274 hộ Dân cư củacác xóm này chủ yếu là 2 dân tộc chính: Dao (Mán) chiếm 65,42% và Mườngchiếm 34,43% dân số, chỉ có 4 khẩu người Kinh sinh sống tại đây
Là xã đặc biệt khó khăn của huyện Xong cấp ủy, chính quyền và nhândân địa phương đã thực hiện tốt phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đờisống mới trong các khu dân cư, góp phần vượt qua những khó khăn thử thách.Trong những năm gần đây, được sự đầu tư xây dựng cơ ở hạ tầng của huyện,tỉnh và trung ương Bộ mặt của xã ngày càng khởi sắc, bước đầu đã đạt đượcnhững thành tựu quan trọng trên mặt trận kinh tế - xã hội và văn hóa Giữvững an ninh trật tự - an toàn xã hội
Trang 331.6.5 Thực trạng môi trường
Trong quá trình khai thác sử dụng tài nguyên đất, tài nguyên nước, tàinguyên khoáng sản và tập quán sinh hoạt của người dân chậm đổi mới, đã gâyảnh hưởng đến môi trường sinh thái Trong một thời gian dài việc bảo vệ tàinguyên thiên nhiên và môi trường không được quan tâm đúng mức, dẫn đếnrừng bị khai thác cạn kiệt, các động thực vật quý hiến bị giảm sút đáng kể.Cân bằng sinh thái bị phá vỡ, ảnh hưởng tới nguồn nước, không khí và xóimòn đất, để đạt được sự bền vững trong tương lai, cần tiếp tục đẩy mạnh cácbiện pháp bảo vệ môi trường sinh thái Chú trọng phát triển nông, lâm, ngưnghiệp Có chính sách đầu tư và khuyến khích nhân dân trồng rừng và thayđổi nếp sống, sinh hoạt Giữ gìn môi trường vệ sinh: Xanh - Sạch - Đẹp trongtừng thôn (bản)
1.6.6 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
* Tăng trưởng kinh tế xã hội.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa bền vững và ổn định, sản xuất nôngnghiệp bị ảnh hưởng và chi phối bởi các yếu tố tự nhiên như thời tiết khắcnghiệt, dịch bệnh lây lan phát triển Cũng như sự đầu tư của Nhà nước thôngqua các chương trình, dự án còn chưa đồng bộ và hạn chế Tuy nhiên Đảng bộ
và nhân dân xã đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, không ngừng phấn đấuvươn lên và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nền kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Hoạt động chủ yếu
là sản xuất cây lương thực và chăn nuôi gia súc Trong cơ cấu kinh tế, sảnxuất nông nghiệp là chính chiếm tỷ trọng gần 90% tổng giá trị sản phẩm
* Khu kinh tế nông nghiệp.
- Ngành trồng trọt
Sản xuất nông nghiệp của xã chủ yếu là cây lúa là cây trồng chính, hàngnăm diện tích gieo trồng lúa đều đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra Theo kết quả
Trang 34điều tra (năm 2012) Diện tích lúa cả năm là 82ha, năng suất đạt 45 tạ/ha,trong đó lúa lai đạt 70 % Diện tích Ngô là 25,6 ha, năng suất đạt 36 tạ/ha, sảnlượng đạt 369 tấn Diện tích trồng sắn là 11 ha Diện tích trồng Lạc là 5,5 ha.Diện tích nương tuy thấp hơn sự thật nhiều, nhưng nếu cứ luân chuyển thìchắc chắn diện tích rừng bị chuyển đổi sẽ tăng nhanh.
- Ngành chăn nuôi
Chăn nuôi trong khu vực chưa được chú trọng đầu tư Thành phần đàngia súc, gia cầm còn tương đối đơn giản, chủ yếu là trâu, bò, lợn, gà Bìnhquân mỗi hộ gia đình có 2 trâu hoặc bò, 2 lợn, 7 - 8 gà hoặc ngan, vịt Tổngđàn trâu có 296 con, đàn bò có 301 con, đàn lợn có 2015 con, đàn dê có 51con, gia cầm có 6050 con
Giống chăn nuôi ở đây chủ yếu là các loại giống cũ cổ truyền, chậm lớn.Tuy nhiên, những loại này cho thịt rất ngon như lợn Mán, gà ri, vịt, ngan, Khi cải tạo vật nuôi tăng năng suất cần chú ý giữ lại những giống quý này;tuy chậm lớn nhưng trong tương lai chúng sẽ là những đặc sản hấp dẫn khách
du lịch Dịch vụ thú y trong khu vực chưa phát triển Hầu hết các xóm chưa
có cán bộ thú y hoặc cán bộ chưa qua lớp đào tạo chính quy Dịch bệnh vậtnuôi thường xuyên xảy ra
- Sản xuất lâm nghiệp
Tổng diện tích đất Lâm nghiệp toàn xã có 5423,69 ha Trong khu vựckhông có lâm trường, và không phải là vùng rừng sản xuất, bởi vậy sản xuấtlâm nghiệp ở đây chủ yếu là việc thu hái lâm sản tự phát của nhân dân.Trước đây lâm sản do người dân khai thác từ rừng là gỗ phục vụ làm nhà vàmột số loài động vật hoang dã dùng làm nguồn thực phẩm, đôi khi trởthành hàng hoá Từ khi thành lập Khu BTTN, đặc biệt là từ khi chuyểnhạng thành VQG thì hiện tượng săn bắt và khai thác gỗ đã giảm rất nhiều.Các lâm sản ngoài gỗ người dân thu hái chủ yếu là mật ong, song mây, sa
Trang 35nhân, lá cọ, các loài cây thuốc Tuy nhiên, trong quá trình thu hái không
có kế hoạch nên các nguồn tài nguyên này cũng đã suy giảm
Ngoài ra, người dân xã Xuân Sơn còn tham gia bảo vệ rừng, trồng rừngbằng cây bản địa do Ban quản lý VQG triển khai Hiện nay xã có 1 cán bộlâm nghiệp xã hợp đồng với Ban quản lý thực thi công tác theo dõi, quản lýbảo vệ rừng
- Thủy sản
Năng suất thấp chủ yếu là tự cung tự cấp
* Việc làm, thu nhập và đời sống
Theo các tiêu chí phân loại hộ gia đình quốc gia, toàn bộ các hộ gia đìnhtrong xã được xếp vào diện nghèo đói Thu nhập bình quân các hộ gia đìnhchưa đạt 700.000 đồng/năm Tại xã đang chỉ đạo các khu tích cực tuyêntruyền để bà con nhân dân cho con em đi xuất khẩu lao động hoặc tìm kiếmviệc làm
Tuy sống gần rừng có nhiều loại gỗ quý nhưng đồ đạc trong nhà ngườidân như bàn ghế, giường, tủ rất tạm bợ Theo người dân thì do cuộc sống cònthiếu thốn nên họ chỉ lo tìm đủ nguồn lương thực, thực phẩm Hầu hết các hộgia đình thiếu lương thực từ 1 tháng trở lên, nhiều hộ thiếu tới 4 - 5 tháng
* Nhận xét chung
Được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền trực tiếp là Huyện
ủy UBND huyện Tân Sơn và các phòng ban chức năng trong việc thực hiệncác nghị quyết chủ trương chính sách trong phát triển kinh tế - xã hội tại địaphương Tình hình chính trị, trật tự xã hội địa phương ổn định, an ninh giữvững, nhân dân ổn định tư tưởng phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã.Những thành tựu mà xã đã đạt được trong năm 2012 tạo động lực to lớn đểcán bộ nhân dân các dân tộc trong xã phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụphát triển kinh tế - xã hội năm 2013
Tuy nhiên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế có phát triển nhưng còn chậm, sảnxuất vẫn mang tính tự cung, tự cấp, trang trải, chưa mang tính hàng hóa, đời
Trang 36sống của người dân được cải thiện, nhưng không phải không còn có khó khăn.Kết hợp với trong những năm qua thời tiết diễn biến phức tạp nên nền kinh tếvẫn còn biến động quá nhiều đến giá cả, nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc thựchiện chỉ đạo và điều hành của UBND xã thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương
Do nhu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi phải có sự sắpxếp lại lao động và phân bố một cách hợp lý các nguồn lực để tạo ra một bướcphát triển toàn diện dân số phát triển, các nhu cầu về sản xuất và đời sống,cũng như các công trình xây dựng về: Giao thông, Thủy lợi, Dịch vụ vàThương mại, về sử dụng điện năng, các khu văn hóa - thể thao, khu dân cưngày càng cao Sẽ gây áp lực mạnh đối với đất đai Đó là việc xây dựngphương án quy hoạch sử dụng các loại đất để đáp ứng kịp thời các nhu cầuphát triển đó
Trang 37Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trên trạng thái rừng nguyên sinh và thứ sinh, trong đó đề tàigiới hạn nghiên cứu về đa dạng thực vật thân gỗ ở các kiểu thảm thực vật, đadạng các yếu tố địa lý và giá trị sử dụng của nhóm cây gỗ tại xã Xuân Sơnthuộc VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Tại xã Xuân Sơn thuộc VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ
Thời gian: Nghiên cứu tiến hành từ tháng 11/2012 đến tháng 7/2013
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu các yếu tố đa dạng về cây gỗ gồm các nội dung sau
- Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài
- Nghiên cứu tính đa dạng về dạng sống
- Nghiên cứu tính đa dạng về yếu tố địa lý
- Nghiên cứu tính đa dạng về giá trị tài giá trị sử dụng
- Nghiên cứu tính đa dạng về cấu trúc một số quần xã thực vật
- Các loài cây gỗ quí hiếm
- Đề xuất biện pháp bảo tồn cây gỗ tại khu vực nghiên cứu
Trang 382.4 Phương pháp nghiên cứu
- Kế thừa kết quả theo dõi về đặc điểm của chế độ mưa tại khu vựcnghiên cứu (Phân bố lượng mưa, cường độ mưa )
2.4.2 Phương pháp điều tra
Điều tra ngoài thực địa được thực hiên phương pháp điều tra theo tuyến
và ô tiêu chuẩn
Tuyến điều tra được xác định trên cơ sở bản đồ hiện trạng Tuyến điềutra có chiều dài ít nhất 1km; trên tuyến chính mở các tuyến phụ sang hai bên
để thu thập số liệu Các tuyến điều tra được xác định sao cho đi qua được tất
cả các trạng thái rừng trên địa bàn xã Tổng số đã thực hiện 4 tuyến: Cáctuyến 1 đi qua thôn Cỏi, thôn Lấp, hướng núi Ten và đi qua xóm Lạng
Ô tiêu chuẩn được bố trí dọc theo hai bên tuyến điều tra; ô tiêu chuẩn
pháp đại diện (mỗi trạng thái rừng thiết lập A = 6 ô)
Trên mỗi tuyến tiến hành điều tra tất cả các cây gỗ (đo D1.3 và Hvn)) nằm
ở phạm vi 10 m về hai phía
Trong ô tiêu chuẩn thu thập các số liệu về điều kiện lập địa (độ cao, độdốc, hướng phơi, đá mẹ thổ nhưỡng), số liệu về cây gỗ (cây có D1.3 >= 6cm)gồm chiều cao, đường kính thân Số liệu được ghi chép cho từng loài theomẫu Biểu 01 sau:
Trang 39BIỂU 01: PHIẾU ĐIỀU TRA CÂY GỖ
Thôn/bản……… xã Xuân Sơn huyện Tân Sơn Phú ThọTọa độ: ……… Độ cao so với mặt biển………
Vị trí địa hình……….Hướng phơi ………
Đá mẹ ……… Thổ nhưỡng ……… Trạng thái thảm thực vật: ……… Ngày…… tháng………năm……….Người điều tra: ………
TT Tên cây Tên khoa học D1.3 (cm) Hvn (m) Ghi chú
Chiều cao vút ngọn (HVN, m) được đo bằng thước Blumeleiss với độ chínhxác đến dm HVN của cây rừng được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởngcủa cây
Những cây chưa biết tên khoa học, thu mẫu tiêu bản để giám định tên.Thu mẫu tiêu bản được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu thực vậtcủa Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
+ Xác định và kiểm tra tên khoa học: Tiến hành phân loại từng họ, trong
họ phân từng chi Để tiến hành xác định tên loài, thực hiện theo trình tự gồmcác bước sau: Phân họ, chi Để làm được việc đó phải dùng phương phápchuyên gia, có như vậy mới giảm nhẹ được gánh nặng trong khâu xác địnhtên khoa học, so mẫu, xác dịnh tên loài Dựa vào một số tài liệu chính như:
Trang 40Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1991 – 1993; 1999 – 2000) [17]; Cây gỗRừng Việt Nam (1971 – 1988) [6].
+ Kiểm tra tên khoa học: Khi đã có đầy đủ tên loài, tiến hành kiểm tra lạicác tên khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót Điềuchỉnh khối lượng họ và chi theo hệ thống của Brummitt trong “Vascular PlantFamilies and Genera”(1992), điều trỉnh tên loài theo các tài liệu “Cây cỏ ViệtNam” của Phạm Hoàng Hộ (1999 – 2000), “Tạp chí sinh học – chuyên đềthực vật” (1994,1995,2004) và “ Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (2003– 2004) [4] và chỉnh tên tác giả theo tài liệu “Authors of Plant Names” củaBrummitt R.K và C E Powell (1992) [41]
+ Bổ sung thông tin: Việc xác định các thông tin về đa dạng sinh học củacây gỗ về dạng sống, yếu tố địa lý, về công dụng và tình trạng đe doạ, bảo tồnngoài các tài liệu trên, còn sử dụng các tài liệu khác như: 1900 cây có ích(Trần Đình Lý,1993); Sách đỏ Việt Nam (2007) [5]; Những cây thuốc và vịthuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi,1995) [26]; Tài nguyên thực vật Đông Nam châu
Á (PROSEA);Từ điển thực vật thông dụng (Võ Văn Chi,2003),…
+ Xây dựng bảng danh lục thực vật: Lập bảng danh lục cây gỗ theonguyên tắc xếp vần ABC đối với các họ, chi, loài và được căn cứ theo hệthống phân loại của Brummitt (1992) Trên cơ sở danh lục, căn cứ vào cáctiêu chuẩn của IUCN và Chính phủ Việt Nam (2006) [10], Nghị định số32/2006/NĐ-CP quy định về quản lý và Danh mục thực vật rừng, động vậtrừng nguy cấp, quý, hiếm từ rừng Việt Nam để lập danh lục các loài cây gỗquý hiếm
Danh lục ngoài tên khoa học và tên Việt Nam của các loài còn ghi tìnhtrạng bảo tồn trong sách đỏ và các thông tin khác gồm: dạng sống, yếu tố địa
lý và công dụng như mô hình ở Bảng 2.1
Bảng 2 1 Bảng danh lục các loài thực vật