Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Trang 11.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất và nước là hai nguồn tài nguyên quý giá của nhân loại vì nó là cội
nguồn của sự tồn tại, nguồn gốc của mọi sự sống trên trái đất Đối với nông
nghiệp đất là tư liệu sản xuất đặc biệt Cùng với đất, nước là yếu tố hàng đầu để
sản xuất nông nghiệp Trong sản xuất nông nghiệp ông cha ta đã có câu “Nhất
nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”
Mối quan hệ giữa đất, nước và cây trồng luôn mật thiết với nhau Cây
trồng sinh trưởng, phát triển được là nhờ các yếu tố nước, chất dinh dưỡng, nhiệt
độ, ánh sáng, không khí, trong đó nước có vai trò đặc biệt ở chỗ nó vừa có khả
năng điều hoà các yếu tố còn lại vừa phát huy tác dụng của chúng làm cho cây
trồng phát triển
Tuy nhiên tài nguyên nước phân bố không đồng đều trong không gian và
thời gian, chưa đáp ứng với yêu cầu nước của cây trồng trong hệ thống luân
canh, chưa phù hợp với tốc độ phát triển của sản xuất nông nghiệp Vì vậy việc
tưới, tiêu nước là biện pháp kỹ thuật nhằm phát huy tốt nhất hiệu quả việc sử
dụng nguồn tài nguyên đất Hơn nữa, ngày nay khoa học kỹ thuật ngày càng
được áp dụng rộng rãi trên đồng ruộng, cơ cấu cây trồng thay đổi theo hướng
công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn, nhiều giống mới có yêu
cầu thâm canh cao, lượng nước yêu cầu lớn, nhiều loại cây trồng có giá trị hàng
hoá cao được đưa vào sản xuất dẫn đến nhu cầu nước của từng hệ thống cây
trồng, từng công thức luân canh cũng thay đổi so với trước Để đáp ứng đủ nước
theo yêu cầu thâm canh tăng vụ các công trình thuỷ nông phục vụ tưới, tiêu chưa
đáp ứng được đầy đủ yêu cầu trên Hay nói cách khác là áp lực về năng xuất cây
trồng lên một đơn vị diện tích canh tác phụ thuộc vào việc tưới, tiêu chủ động
hay không
Trang 2Nhưng do hệ thống thuỷ lợi qua quá trình sử dụng, khai thác từ lâu đã xuống
cấp, cộng với công tác quản lý và sử dụng nước tưới không tốt (cả trên kênh và
trên mặt ruộng) đã làm cho lượng nước sử dụng cho một ha gieo trồng rất lớn,
dẫn đến thuỷ lợi phí nông dân phải trả cho các công ty trong vụ xuân là 300 kg
thóc/ha và vụ mùa 250 kg thóc/ha Ngoài ra nông dân phải trả thêm cho hợp tác
xã trong vụ xuân là 90 kg thóc/ha và vụ mùa là 70 kg thóc/ha (Đoàn Doãn Tuấn
và đồng nghiệp năm 1996) Đặc biệt sau nghị định 64 CP, trên một thửa ruộng
của hợp tác xã trước kia, nay đã có nhiều hộ nông dân cùng canh tác với nhiều
giống và thời vụ khác nhau đã làm cho việc sử dụng nước ngày càng lãng phí,
mặc dù nhu cầu nước của cây lúa chỉ khoảng 3.600-3.800 m3/ha, mà nước tưới
thực tế biến động 3.570 - 5.246 m3/ha tuỳ theo lượng mưa của từng vụ [3]
Bên cạnh đó, hầu hết các công trình thuỷ nông có quá trình khai thác kém
hiệu quả và hệ số dẫn nước kênh mương ở mức thấp nên việc sử dụng nước
ngày càng lãng phí, sự mất cân đối trong thu chi của các công ty, xí nghiệp thuỷ
nông khiến nhà nước phải trợ cấp một lượng kinh phí đáng kể Do vậy, việc
đánh giá hoạt động của hệ thống thuỷ nông là rất cần thiết, giúp cho việc quản lý
nguồn tài nguyên đất và tài nguyên nước một cách có hiệu quả
Ninh Giang là huyện nằm trong vùng lúa trọng điểm của tỉnh Hải Dương,
kết quả chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ sang ô thửa lớn đã tác động mạnh
mẽ tới quá trình phát triển theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn Là huyện thuần nông nên công tác thuỷ nông có vai trò quan
trọng trong việc khai thác tiềm năng đất đai
Mặc dù hệ thống thuỷ nông đã được đầu tư xây dựng và tu bổ thường
xuyên nhưng vẫn còn một số tồn tại và bất cập Khả năng chống úng, hạn chưa
cao, đa số công trình đã xây dựng từ năm 1963, tiến độ thực hiện kiên cố hoá
kênh mương đạt ở mức thấp Những tồn tại này đã gây khó khăn cho công tác
tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, chưa đáp ứng được nhu cầu thâm canh
tăng vụ Đánh giá sự hoạt động của hệ thống, đưa ra các giải pháp cải tạo nâng
Trang 3trực tiếp của thầy giáo, PGS Ts Nguyễn Văn Dung, giảng viên khoa Đất và Môi
trường - Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thuỷ nông phục vụ kế
hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương”
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Nghiên cứu, phân tích, đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thuỷ
nông huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương Phát hiện những tồn tại và đề xuất
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ của hệ thống đối với công tác kế
hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010
1.2.2 Yêu cầu
Các tài liệu, số liệu và thông tin trong công tác điều tra phải đầy đủ, chính
xác, trung thực phản ánh đúng thực trạng hoạt động của hệ thống thuỷ nông
huyện Ninh Giang
Đánh giá hiện trạng phải dựa trên cơ sở định tính, định lượng và khoa học
Đề xuất những giải pháp, kiến nghị trên cơ sở thực trạng hệ thống, phù
hợp với điều kiện địa phương, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống
phục vụ tốt cho kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010
Trang 4Hệ thống thuỷ nông được hiểu là tập hợp các công trình thuỷ lợi có liên
quan với nhau để tưới và tiêu cho các loại cây trồng trong lưu vực phục vụ của
hệ thống Công trình thuỷ lợi bao gồm hồ chứa nước, trạm bơm, đập, cống, kênh
mương, kè đê Như vậy thuỷ nông được hiểu là thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông
nghiệp Tuy nhiên, thuật ngữ thuỷ nông hiện nay được hiểu rộng hơn, không chỉ
là tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn cấp nước cho cả sinh hoạt,
công nghiệp, thuỷ sản v.v nhưng nhiệm vụ tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông
nghiệp phải là nhiệm vụ chính
2.1 Tình hình sử dụng nước
2.1.1 Tình hình sử dụng nước trên thế giới
Nước bao phủ ba phần tư bề mặt trái đất, nước cũng chiếm ba phần tư
cấu tạo các mô sinh vật Trữ lượng nước trên trái đất có hạn và chu trình nước
tiếp diễn liên tục từ dạng đặc sang dạng lỏng, chuyển sang dạng khí và ngược
lại Trong tổng lượng nước của trái đất chỉ có 3% là nước ngọt, trong đó chỉ có
0,3% là sẵn sàng dùng được cho chúng ta Hiện nay, ở nhiều vùng trên thế giới
vào những thời điểm nhất định, có tình trạng thiếu nước vì con người không
chỉ cần có nước mà nước phải đủ, đảm bảo về chất lượng, đúng lúc và đúng
chỗ
Trong tự nhiên nước được luân chuyển theo một chu trình bay hơi và
ngưng tụ liên tục gọi là chu trình thuỷ văn, nhờ đó mà nước tham gia vào chu
trình phát triển của tất cả các hệ sinh thái Theo tính toán lượng nước mưa hàng
năm trên trái đất khoảng 105.000 km3, trong dó khoảng 1/3 thấm vào đất, tích
đọng ở ao hồ và hình thành dòng chảy ra sông, 2/3 còn lại trở lại khí quyển Tổng
lượng nước trên trái đất khoảng 1,4 tỷ km3 nhưng 96,5% là nằm ở đại dương
Nguồn nước ngọt mà con người có thể dùng được chỉ khoảng 2,53% tổng lượng
nước toàn trái đất, còn lại đóng băng ở hai cực trái đất Trong khi lượng mưa chủ
yếu lại rơi trên đại dương, trung bình năm khoảng 990 mm, lục địa trung bình
Trang 5hoang mạc dưới 120 mm/năm [5] Từ đó cho thấy nước là một thứ tài nguyên
phân bố không đều, nhìn chung trên toàn thế giới từ một xứ khô cằn sang một
vùng nhiệt đới lượng nước có thể biến đổi từ 1 - 1000
Nguồn nước trên trái đất chúng ta không phải là vô tận Vì vậy từ xa xưa tổ
tiên loài người đã thấy được tầm quan trọng của nước và tìm cách cải tạo dòng
nước tự nhiên, sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất: ở Ai Cập 5000 năm trước
công nguyên con người đã xây dựng những đập giữ nước trên sông Nile, Trung
Quốc 4000 năm trước đã xây dựng kênh đào tới 700 dặm, Ấn Độ cách chúng ta 20
thế kỷ đã có nhiều công trình chứa nước tưới cho lưu vực sông Indus
Cho đến vài thập kỷ gần đây, nhờ hệ thống thuỷ nông mà diện tích đất
được tưới tăng tương đối ổn định Năm 1972 diện tích đất được tưới của thế giới
là 176.420.000 ha, năm 1982 tăng lên là 215.253.000 ha, năm 1987 là
227.108.000 ha Trong đó chỉ riêng khu vực Châu Á diện tích đất được tưới năm
1972 là 113.888.000 ha, năm 1982 là 135.297.000 ha, năm 1987 là 142.301.000
ha, năm 1992 là 181.533.000 ha và Trung Quốc là nước có diện tích đất được
tưới lớn nhất trong khu vực và trên thế giới, diện tích đất được tưới năm 1992 là
49.030.000 ha, đến nay con số này là trên 5 triệu ha Cùng với sự tiến bộ về
khoa học kỹ thuật và áp lực về an ninh lương thực của toàn nhân loại, diện tích
đất được tưới không ngừng tăng, đây là điều đáng mừng cho ngành nông nghiệp
thế giới
Ngày nay việc sử dụng nước của con người không ngừng tăng lên do dân số
tăng, đầu thế kỷ 20 dân số toàn cầu là 1,6 tỷ người nhưng đến cuối năm 1999 đã đạt
6 tỷ, tăng 3,75 lần, điều này đã khiến cho nước dùng cho công nghiệp tăng 20 lần,
nước dùng cho nông nghiệp tăng 7 lần, nước cho sinh hoạt tăng 10 lần Ngoài sự
gia tăng dân số khiến nhu cầu sử dụng nước gia tăng còn có các nguyên nhân khác
như cách sống của con người thay đổi cần sử dụng nhiều nước hơn, nhất là nhu cầu
nước sạch cung cấp cho các thành phố lớn Trên thế giới có hơn 100 quốc gia và
Trang 6bị bệnh tật có liên quan đến ô nhiễm nước
Có thể nhận thấy rằng trong những năm gần đây, để phát triển ngành nông
nghiệp hầu hết Chính phủ các nước trên thế giới đều rất chú trọng đến công tác thuỷ
lợi, cả về đầu tư xây dựng hệ thống và tổ chức quản lý khai thác, sử dụng các công
trình Ở những nước phát triển đầu tư các công trình thuỷ lợi hoàn chỉnh, (tưới, tiêu
chủ động), các nước đang phát triển xây dựng các công trình thuỷ lợi đầu mối có tính
chất trọng điểm, các công trình có sự tham gia của cộng đồng, tư nhân tự bỏ vốn xây
dựng công trình Đa dạng hoá các hình thức đầu tư và quản lý các công trình thuỷ lợi
tất cả phục vụ nền nông nghiệp phát triển bền vững
2.1.2 Tình hình sử dụng nước ở Việt Nam
Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam gắn liền với sự
hình thành của hệ thống đê điều, hệ thống kênh rạch chống lũ, hàng ngàn năm
mở mang vùng đất mới, phát huy mặt lợi, hạn chế mặt hại của nước để tồn tại và
phát triển Cũng nhờ lợi thế đó, một nền văn minh lúa nước đã hình thành từ
hàng nghìn năm trước ở vùng đồng bằng Sông Hồng và di cư vào đồng bằng
Sông Cửu Long 300 năm trước đây
Là một quốc gia có nguồn tài nguyên nước phong phú với mức bình quân
trên đầu người hiện nay là 12.000m3/năm, nhưng 2/3 lượng nước nói trên lại phát
sinh từ lãnh thổ các nước khác ở thượng lưu, như thượng lưu khu vực sông Hồng,
trung và thượng lưu khu vực sông MêKông Vì thế lượng nước qua lãnh thổ Việt
Nam phụ thuộc một phần vào tình hình khai thác và sử dụng nước của các nước
trên Do địa hình bị chia cắt bởi nhiều dãy núi song song và do chế độ mưa không
đồng nhất nên dòng chảy phân bố không đều trên lãnh thổ
Vùng đồng bằng sông Cửu Long có tổng lượng dòng chảy là 507,8 tỷ m3,
trong đó 95% lượng nước từ bên ngoài lãnh thổ chảy vào, lượng nước qua vùng
chiếm 61% quỹ nước mặt của toàn lãnh thổ Tuy lượng nước phong phú nhưng
vẫn còn hai hạn chế cho sự phát triển của một số vùng thuộc đồng bằng sông
Trang 719% quỹ nước của quốc gia Bình quân ở Bắc Bộ mỗi ha hàng năm có 13.900
m3 nước trong đó 8.940 m3 được phát sinh trong lãnh thổ (64%) Dung tích các
hồ chứa ở Bắc Bộ đã đạt trên 8 tỷ m3 nước Hầu như trên các sông vừa và nhỏ
trong vùng đều đã có các hồ chứa hoặc các công trình cấp nước làm tăng dòng
chảy và lượng dòng chảy trong mùa kiệt [14]
Vùng Bắc Trung Bộ là vùng đứng thứ 3 về tiềm năng nguồn nước với
lượng nước trung bình nhiều năm là 83,4 tỷ m3 chiếm 9,4% quỹ nước quốc gia
trong đó có 11,9 tỷ m3 từ bên ngoài đổ vào Lượng dòng chảy tháng kiệt nhất chỉ
chiếm 1,3% lượng dòng chảy cả năm nên ở Bắc Trung Bộ cũng được xây dựng
nhiều hồ chứa nhỏ để tăng cường lượng dòng chảy vào mùa kiệt [14]
Vùng Nam Trung Bộ có tiềm năng nước mặt 59,5 tỷ m3, bình quân có
12.000m3/ha trong năm Do chiều dài sông ngắn và dốc, các sông có nguồn từ
Đông Trường Sơn chảy thẳng ra biển nên trong vùng này khó có điều kiện xây
dựng các hồ vừa và lớn [14]
Vùng Tây Nguyên chủ yếu là sông Sêsan và sông Serepok có tổng dòng
chảy của cả hai sông là 27,8 tỷ m3 trong đó lưu vực sông Sesan có tiềm năng
nguồn nước mặt là 12.000 m3/ha/năm, cao hơn lưu vực sông Serepork (7.540
m3/ha/năm) Hiện trên sông Sesan đã xây dựng thuỷ điện Yaly có dung tích
điều tiết 700 triệu m3 Trên sông Serepok chưa có hồ chứa nước lớn nhưng có
rất nhiều hồ chứa nhỏ tưới cho lúa và cây công nghiệp như cà phê, tiêu, cao su
[14]
Vùng Đông Nam Bộ có lượng nước đến hàng năm là 36,6 tỷ m3, trong đó
chỉ có 4 tỷ m3 chảy vào lãnh thổ Campuchia Lượng dòng chảy đến trung bình
năm là 10.200 m3/ha, trong đó 9.100 m3/ha là do phát sinh tại chỗ Do lượng
mưa càng giảm theo độ cao bề mặt lưu vực nên càng về phía ven biển và phía
Nam của vùng thì lượng dòng chảy do mưa tại chỗ giảm Hiện nay trong vùng
đã có nhiều hồ chứa với dung tích 4.800 triệu m3 để điều tiết nước tưới và cung
Trang 8Tuỳ thuộc vào quá trình phát triển xã hội trong từng giai đoạn mà các phương
tiện, biện pháp khai thác tài nguyên nước cũng khác nhau Thời gian đầu người
ta chỉ biết sử dụng nguồn nước có sẵn của tự nhiên, sau đó biết đào giếng, đào
ao để lấy nước sử dụng cho sản xuất và đời sống Cùng với quá trình phát triển
của xã hội, khoa học công nghệ với các phương thức khai thác tài nguyên nước
cũng được phát triển theo hướng hiện đại và hiệu quả Quá trình khai thác tài
nguyên nước gắn liền với quá trình hình thành và phát triển hệ thống công trình
các cấp và hình thức quản lý tương ứng qua từng thời kỳ
* Thời kỳ phong kiến
Thế kỷ IX, nhân dân ta đã xây dựng được công trình kiên cố là đê bao
thành Đại La với chiều dài 8.500 m, cao 6 m Thế kỷ X (983), nhân dân Thanh
Hoá đã đào đắp sông Đồng Cỏ, Thái Hoà, dưới thời Lý Thái Tôn đào sông Đan
Nãi Thời Trần Thái Tông (năm 1231) đào sông Hào và sông Trầm Năm 1390
đào sông Thiên Đức (sông Đuống ngày nay) Khi xã hội phong kiến nước ta
bước vào thời kỳ suy tàn, các công trình thuỷ nông ít được xây dựng, hạn hán lũ
lụt xảy ra liên tục [21]
* Thời kỳ Pháp thuộc
Thời kỳ này, thực dân Pháp xây dựng hơn 10 công trình thuỷ nông, các
công trình này chủ yếu phục vụ các đồn điền của Pháp như hệ thống sông Cầu,
hệ thống sông Liễu Sơn [21]
* Sau năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Đảng các công trình thuỷ nông đã được
phục hồi nhanh chóng Đến năm 1956, nhân dân ta đã đào đắp công trình 27
triệu 90 vạn m3 để tưới cho 1 triệu 56 vạn ha Đến năm 1959 đã tiếp tục đào đắp
84 triệu 86 vạn m3 để tưới cho 1 triệu 90 vạn ha Đáng chú ý, hệ thống đại thuỷ
nông Bắc Hưng Hải ra đời đã góp phần làm thay đổi nước trên đồng ruộng của
tỉnh Hải Hưng cũ Năm 1958, khi chưa có hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải,
Hưng Yên cấy hai vụ với diện tích 209.925 ha, thu hoạch được 162.885 tấn thóc
Năm 1959, nhờ có hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải, Hưng Yên cấy hai vụ với
Trang 9xuất thêm được vụ đông và dần trở thành vụ sản xuất chính Các công trình thủy
lợi đã tạo điều kiện và khả năng thâm canh cao trong sản xuất, kết quả thể hiện
rõ nhất là năng suất, sản lượng cây trồng đã được tăng lên không ngừng qua các
năm [11]
Trong ba năm phát triển kinh tế (1958 - 1960), ngoài việc xây dựng hệ
thống đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải, Nhà nước còn xây dựng một số trạm bơm
loại vừa như Thuỵ Phương, Gia Thượng Hà Nội, Tây và Nam Nghệ An [21]
Dưới ánh sáng Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IV, Nhà nước và nhân
dân đầu tư vốn và sức lực vào xây dựng các công trình thuỷ nông như Trịnh Xá,
Kim Đôi Hà Bắc, HTTN Nam Sông Mã - Thanh Hóa; Các hồ chứa nước suối
Hai, Đại Lãi, Cẩm Ly; Các trạm bơm như La Khê (Hà Tây), Hồng Vân
Phong trào thi đua làm thuỷ lợi nhỏ năm 1964 - 1965 đã động viên đông
đảo quần chúng nhân dân xây dựng mạng lưới công trình tưới, tiêu rộng khắp
đồng ruộng [21]
Những công trình xây dựng từ những năm 1955 - 1970, có năng lực thiết
kế tưới nước hơn gấp ba lần so với năng lực của các công trình xây dựng dưới
thời Pháp thuộc, bị phá hoại do chiến tranh mà Nhà nước đã khôi phục lại Đến
năm 1970, 60% diện tích đất canh tác đã có công trình thuỷ lợi Trong đó, đồng
bằng Bắc Bộ khoảng 80%, Trung du và khu 4 cũ gần 60%, miền núi gần 30%
Các công trình thuỷ lợi ra đời với việc tưới, tiêu chủ động nên năng suất lúa
trong thời gian này đạt 2 - 3 tấn/ha/vụ
Đến nay thuỷ lợi Việt Nam đã hình thành 75 hệ thống thuỷ lợi lớn và vừa,
750 hồ chứa nước lớn và vừa, trên 10.000 hồ chứa nhỏ, 2.000 trạm bơm điện lớn
và vừa, có công suất 450 MW, 30 vạn máy bơm với năng lực thiết kế tưới cho 3
triệu ha đất canh tác; Tiêu cho trên 1,4 triệu ha đất tự nhiên ở các tỉnh Bắc Bộ;
Ngăn mặn 70 vạn ha, cải tạo 1,6 triệu ha đất chua phèn ở đồng bằng Sông Cửu
Long Riêng diện tích trồng lúa được tưới chiếm 80% tổng diện tích lúa trong cả
Trang 10cây ăn quả
2.2 Vai trò thủy nông đối với sản xuất nông nghiệp
Trong “Luật Tài nguyên nước” được Quốc hội thông qua năm 1998, việc
bảo vệ tài nguyên nước đã được khẳng định, điều đó chứng tỏ nước có vai trò
quan trọng trong đời sống và sản xuất
Nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống sinh vật, đối với cây
trồng nó là yếu tố quyết định sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Trong
cây nước chiếm tới 3/4 trọng lượng, trong chất nguyên sinh hàm lượng nước
chiếm tới 90% Nước tham gia các quá trình trao đổi chất, là nguyên liệu để thực
hiện quá trình quang hợp, nước là phương tiện vận chuyển các chất trong cây,
đảm bảo trạng thái có lợi cho sự sinh trưởng Nói cách khác nước vừa tham gia
cấu trúc nên cơ thể thực vật, vừa quyết định các biến đổi sinh hoá và các hoạt
động sinh lý trong cây cũng như quyết định sự sinh trưởng, phát triển của cây
Chính vì vậy nước được xem là yếu tố sinh thái quan trọng nhất đảm bảo và
quyết định năng xuất cây trồng
Trong suốt đời sống của cây, nước lúc nào cũng cần thiết để thay thế
lượng nước mất đi Nhưng ở những thời kỳ khác nhau thì cây cần lượng nước
không giống nhau Ở bất kỳ thời kỳ sinh trưởng nào của cây nếu thiếu nước đều
gây ảnh hưởng xấu, nhưng có một thời kỳ thiếu nước sẽ gây tác hại nghiêm
trọng đến năng suất và chất lượng sản phẩm thu hoạch của cây - thời kỳ đó gọi
là thời kỳ khủng hoảng nước của cây hay thời kỳ nhạy cảm với sự thiếu hụt
nước [12] Ở thời kỳ này cây tiêu thụ nước với hiệu suất tích luỹ chất khô cao
nhất và nước đóng vai trò quyết định năng suất cuối cùng Ví dụ đối với cây lúa
giai đoạn làm đòng, trổ bông và phát triển hạt cho đến khi lúa chín tức là thời kỳ
tích luỹ chất khô, nếu ở giai đoạn này thiếu nước sẽ gây nên hiện tượng lem lép
hạt
Ngoài ra chúng ta còn thấy rõ tác dụng của nước đối với việc cải tạo các
Trang 11Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả của tưới, tiêu mang lại không thể
phủ nhận Tổng kết thực tế của Vụ quản lý và khai thác công trình thuỷ lợi cho
biết: ở nước ta tưới, tiêu cho lúa có thể tăng sản lượng lên 20%- 30% Nhờ có
các công trình thuỷ lợi, chúng ta đã chế ngự được thiên nhiên, hạn chế được
những tác hại do thiên tai như lũ lụt, hạn hán Từ xa xưa ông cha ta đã biết làm
thuỷ lợi như quai đê lấn biển, thau chua, rửa mặn, tạo nên những làng, xã, những
huyện mới như: Tiền Hải - Thái Bình, Kim Sơn - Ninh Bình
Nhờ sử dụng nước tưới từ các công trình thuỷ lợi, các sản phẩm nông
nghiệp được sản xuất với chi phí thấp, khả năng cạnh tranh cao, sản xuất trên
diện tích lớn; Tăng trưởng sản xuất ổn định, nguồn lực sản xuất nông nghiệp
như lao động, đất đai được khai thác và sử dụng một cách hợp lý; Đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia, phát triển nông nghiệp cân đối và bền vững
Trang 12nông nghiệp còn cấp nước đầy đủ và ổn định cho sinh hoạt và phát triển tiểu thủ
công nghiệp, các khu công nghiệp ở thị xã, thành phố Nhiều công trình thuỷ lợi,
hồ đập chứa nước tạo ra cảnh quan môi trường rất lý tưởng để khai thác nuôi
trồng thuỷ sản, phát triển du lịch Có công trình thuỷ lợi sử dụng nước rất độc
đáo đã góp phần tạo nên kỳ quan thế giới như vườn treo Babilon
Nhu cầu về nước là rất lớn và không thể thay thế, đặc biệt đối với các
quốc gia, các vùng sản xuất nông nghiệp Trong nền kinh tế mở hiện nay, nông
nghiệp nông thôn đang có nhiều đổi mới, đời sống nhân dân ổn định và từng
bước nâng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong quá trình sản xuất của
nhân dân thì công tác thuỷ lợi ngày càng trở nên quan trọng và thường xuyên
được quan tâm
Ở Việt Nam, yêu cầu nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ
trọng 80-90% tổng lượng nước dùng, có vai trò quyết định đối với năng suất, sản
lượng cây trồng, nhất là lúa nước [7] Vai trò của nước đối với cây trồng được xếp
ngang hàng với 3 yếu tố quan trọng là phân - cần - giống Ông cha ta cũng đã
khẳng định vai trò của nước qua câu “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”
Theo Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc tưới tiêu nước cho lúa
hợp lý góp phần làm tăng năng suất từ 17-25% [15] Kết quả nghiên cứu của Cục
quản lý và Khai thác công trình thủy lợi ở nước ta đã chỉ ra tưới, tiêu cho lúa góp
phần làm tăng năng suất từ 20-30% Ở Trung Quốc, kết quả nghiên cứu cho thấy
nếu đảm bảo đủ nước tưới cho lúa sẽ làm tăng sản lượng 30% [18]
Theo nghiên cứu của bộ môn Thuỷ nông - Trường Đại học Nông nghiệp I
- Hà Nội, yêu cầu nước cho tưới ải vùng Gia Lâm - Hà Nội thay đổi từ 1.700
đến 2.500 m3/ha
Trang 13dưỡng vụ lúa xuân 1994 của hệ thống kênh tưới Kênh Đông - Trạm bơm Văn
Giang - Hải Dương: Lượng nước bình quân: Tưới ải: 2.600 m3/ha, tưới dưỡng:
4.700 m3/ha
Theo Nguyễn Văn Dung - 1998 [3], thời kỳ tưới ải và tưới dưỡng 3 năm
(1996 - 1998) ở trạm bơm La Khê - Hà Tây:
Vụ Mùa: - Tưới ải: 2.038 - 2.657 m3/ha
- Tưới dưỡng: 1.619 - 1.787 m3/ha
Vụ Xuân: - Tưới ải: 3.582 - 5.133 m3/ha
- Tưới dưỡng: 4.117 - 5.246 m3/ha
Ở nước ta, do địa hình phức tạp, khí hậu thay đổi theo mùa nên hàng năm
lượng dòng chảy 80% tập trung vào mùa mưa, còn lại 20% tập trung vào mùa
khô, nhưng nhu cầu dùng nước trong nông nghiệp thì ngược lại, mùa mưa yêu
cầu nước tưới 20%, mùa khô yêu cầu 80% [25], [1] Ngoài ra nước tưới làm
thay đổi môi trường sinh thái và có tác động không nhỏ đến hoạt động của con
người
Nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp được cung cấp từ nguồn tự
nhiên thông qua hệ thống công trình thủy lợi Để khai thác tốt công trình thuỷ
lợi cần phải có một cơ chế tổ chức quản lý hệ thống phù hợp
Tình trạng khô hạn, lũ lụt xảy ra và tác hại của nó đối với con người đã
thể hiện tác động hai mặt của nước đối với sản xuất và đời sống xã hội Con
người với vai trò chủ thể, cần phải nhận thức rõ tác động xấu của nước để có
biện pháp điều chỉnh và hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng xấu đối với sản
xuất và đời sống
Thủy lợi được hiểu là những hoạt động liên quan đến ý thức của con
người trong quá trình khai thác sử dụng tài nguyên nước để phục vụ cho lợi ích
của mình Để đảm bảo việc khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên nước,
cần phải có nhân, vật, lực để xây dựng, quản lý, khai thác các công trình thủy lợi
Trang 14với sản xuất và đời sống Các công trình thủy lợi có tác dụng ngăn nước, giữ
nước, điều tiết dòng chảy theo ý đồ của con người Đối với nông nghiệp, tác dụng
của thủy lợi thể hiện thông qua hoạt động tưới, tiêu nhằm đáp ứng nhu cầu sinh
trưởng, phát triển của cây trồng, vật nuôi và là một trong những yếu tố quan trọng
quyết định đến năng suất cây trồng
Ngoài những tác dụng đối với sản xuất và đời sống, các công trình thủy
lợi còn có tác dụng trong việc bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái và mở ra
những điều kiện cho phát triển một số ngành kinh tế mới như du lịch, nuôi trồng
thủy sản, giao thông Như vậy, có thể thấy rằng ngoài vai trò đối với cây trồng,
các công trình thủy lợi xét trên các phương diện khai thác khác nhau còn có tác
dụng nhiều mặt và hiệu quả ngày càng khả quan
2.3 Hiện trạng hoạt động của một số hệ thống thuỷ nông ở nước ta
2.3.1 Hiện trạng hoạt động
Ở nước ta, hầu hết các công trình thuỷ nông được đầu tư xây dựng từ
những năm 60 của thế kỷ trước, trải qua nhiều năm sử dụng đã xuống cấp, công
suất thực tế không đảm bảo so với yêu cầu, đó là điều dễ nhận thấy
Theo thống kê trong 15 năm trở lại đây, hiệu quả phục vụ tưới, tiêu của hệ
thống thủy lợi đạt kết quả thấp Trong phạm vi toàn quốc, hệ thống tưới mới chỉ đạt
được 1.261.901 ha trong tổng số 2.065.062 ha, đạt 62,7 % năng lực thiết kế Trong
rất nhiều nguyên nhân dẫn tới kết quả hoạt động của hệ thống tưới thấp có nguyên
nhân quản lý nước mặt ruộng không khoa học [22] Hơn nữa vụ đông xuân năm
2005, cả nước có kế hoạch gieo cấy 2,9 triệu ha lúa, nhưng khi cân đối khả năng
nguồn nước và năng lực các công trình thủy lợi hiện có chỉ đảm bảo tưới cho 2,7
triệu ha lúa Đây là vấn đề cần được các ngành, các cấp quan tâm, chủ động tìm
giải pháp đối phó nhằm hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất do hạn hán gây ra (Nông
nghiệp nông thôn Việt Nam 28/3/2005)
Theo ông Ngô Văn Toán giám đốc công ty khai thác công trình thuỷ lợi
Trang 15lắp đặt từ những năm 1960-1970 Các máy bơm do Liên Xô cũ và một số nước
Đông Âu chế tạo nay đã hết hạn sử dụng “Các bảng điện, tủ điều khiển, động
cơ của máy đều lão hóa Trục bơm nước lạc hậu đến nỗi chẳng tìm ra thiết bị
thay thế, buộc chúng tôi phải hàn vá chắp nối trục cũ rất thủ công” Ông Toán
đánh giá hệ thống này chỉ tận dụng 60% nguồn nước thủy triều và nước xả từ hồ
Hòa Bình, còn lại đành để trôi ra biển
Trong hệ thống thủy lợi Bắc bộ, ngoại trừ sông Hồng và Thái Bình, các
sông còn lại đều bị bồi lắng Đầu tháng 2-2006 khi mực nước sông Hồng tại Hà
Nội xuống 1,6m thì các sông nhỏ gần như biến thành mặt ruộng, dòng chảy
không hề tồn tại Đơn cử sông Sắt, sông Châu Giang (chảy qua hai tỉnh Hà Nam,
Nam Định) bị bồi lắng với độ dày từ 0,8-1,3 m
Theo ông Phạm Xuân Sử, cục trưởng Cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, thừa nhận tất cả công trình thủy lợi ở đồng bằng sông
Hồng đều xuống cấp Hằng năm, ngành thủy lợi thu thủy lợi phí được 500 tỷ
đồng nhưng phải trả cho ngành điện, trả lương gần 20.000 công nhân quản lý,
vận hành Số kinh phí dành cho duy tu, cải tạo, nâng cấp công trình còn lại rất ít
Theo đánh giá, các công trình thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp mới khai thác được
60 - 65% năng lực thiết kế Cá biệt có công trình mới khai thác được trên 30%
năng lực, việc nâng cao hiệu quả khai thác các công trình thêm 20% sẽ tạo ra
một tiềm năng mới với công suất tưới khoảng 600.000 ha
Trang 16T
Tên CTKTCTTL
Tên
hệ thống
Loại hình công trình
Năng lực phục vụ
(ha)
% so với thiết kế
4 Bắc Hưng Hải Bắc Hưng Hải Tự chảy 77.298 52
5 Nam Thái Bình Nam Thái Bình Tự chảy 44.973 88
(Nguồn: thống kê của Trần Phương Diễm - tạp chí viện Thủy Lợi năm 2000)
Theo thống kê của Trần Phương Diễm - 2000 [2], năng lực phục vụ nông
nghiệp của một số hệ thống thuỷ nông khác nhau, có công trình đạt trên 80% so
với thiết kế tưới như công trình Sông Cầu, Kẻ Gỗ; Công trình đạt hiệu quả thấp
50 - 60% như Bắc Hưng Hải, Phù Ninh, Núi Cốc (Bảng 2.1)
Theo thống kê của Viện Khoa học thuỷ lợi - 1995 [16], diện tích đất được
tưới trên các khu vực ở nước ta vẫn đạt thấp Bên cạnh đó, do đặc điểm thời tiết,
khí hậu của các khu vực khác nhau làm ảnh hưởng rất lớn đến nông nghiệp Khu
vực Bắc Trung Bộ diện tích tưới đạt thấp nhất chỉ 36,7%, trong khi đó đồng
bằng Sông Hồng đạt gần 80% diện tích so với thiết kế Một trong những chỉ tiêu
đánh giá hoạt động của hệ thống thủy nông là lượng nước tưới cho cây trồng
(chủ yếu là lúa) mà hệ thống có khả năng cung cấp
Như vậy, các công trình thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp mới chỉ khai thác
được 52 - 98% năng lực thiết kế Cá biệt công trình thuỷ nông Bắc Hưng Hải
với loại hình công trình tưới tự chảy mới khai thác được 52% năng lực Ngoài ra
có các công trình hoạt động rất tốt như hồ Kẻ Gỗ loại hình công trình hồ chứa
đạt 93% năng lực, hệ thống thuỷ lợi Đông Anh đạt 97%, hệ thống thuỷ nông
Sông Cầu đạt 98%
Bảng 2.2 Thực tế khai thác và thiết kế về tưới của các hệ thống thuỷ nông phục
Trang 17Đồng bằng Sông Hồng 661.000 524.000 79,2
(Nguồn: Tuyển tập kết quả khoa học và công nghệ 1994 - 1999, (tập 2), NXB Nông nghiệp, Hà Nội)
Theo thống kê của viện thuỷ lợi, thực tế khai thác về tưới cho sản xuất
nông nghiệp khác nhau giữa các vùng: Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích
tưới thiết kế là 1.128.000 ha, diện tích thực tưới 781.000 ha, năng lực phục vụ
thực tế đạt 69,2% Đồng bằng sông Hồng có diện tích tưới thiết kế là 661.000
ha, diện tích thực tưới là 524.000 ha năng lực phục vụ thực tế đạt 79,2%, cao
hơn so với vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Bắc Trung Bộ (36,7%)
Nguyễn Văn Dung - 1999 [3]: Hệ thống tưới La Khê - Hà Tây là hệ thống
tưới, tiêu bằng trạm bơm điện, hệ thống được đưa vào sử dụng năm 1963 Theo
nhiệm vụ thiết kế, hệ thống phải đảm bảo tưới, tiêu cho 4 huyện thị với tổng
chiều dài kênh chính là 33 km
- Diện tích được tưới của hệ thống:
+ Vụ mùa năm 1997 diện tích được tưới là 5.595 ha trong đó tưới chủ
động là 2.294 ha chiếm 44%, bán chủ động là 1.231 ha chiếm 19% và tạo nguồn
là 2.070 ha chiếm 37%
+ Vụ xuân năm 1998 diện tích tưới là 5.617 ha trong đó tưới, tiêu chủ
động là 2.581 ha chiếm 45,95%, bán chủ động là 1.123 ha chiếm 19,99%, tạo
nguồn là 1.913 ha chiếm 34,06%
- Lượng điện tiêu thụ của hệ thống: Đối với chủ động toàn vụ năm 1997 là
318,54 kwh/ha, bán chủ động là 509,67 kwh/ha, tạo nguồn là 637,08 kwh/ha Vụ
mùa năm 1998 chủ động toàn vụ là 230,50 kwh/ha, bán chủ động là 368,08
kwh/ha, tạo nguồn là 461,0 kwh/ha
Nguyễn Đức Tình [24 ] - hệ thống thuỷ lợi hồ EAKAO, diện tích tưới
thiết kế của hệ thống là 1.900 ha, diện tích thực tưới của hệ thống chỉ đạt
Trang 18tưới của công trình Kết quả thu thuỷ lợi phí của hệ thống tương đối thấp chỉ đạt
43,9% - 47,4% so với kế hoạch thu Chi phí hàng năm của hệ thống luôn ở mức
cao hơn so với tổng doanh thu, tỷ lệ thu chi ở mức thấp nhất và không ổn định
Năm 2001 tỷ lệ thu chi của hệ thống là 55,6% và năm 2002 là 64,9%
Hoàng Anh Đức [6] - hệ thống tưới kênh Đông (trạm bơm Văn Giang)
Công trình đầu mối của trạm bơm gồm 2 cụm máy bơm Cụm máy bơm kênh
Tây gồm 4 máy, công suất mỗi máy là 250 kw với lưu lượng là 8.100 m3/h, tưới
cho 4.477 ha Cụm máy kênh Đông có 3 máy, công suất mỗi máy là 200 kw với
lưu lượng là 7.000 m3/h, tưới cho 3.290 ha Thời kỳ tưới ải với số giờ bơm là
1.441h, lượng điện tiêu thụ của hệ thống là 223.286 kwh và tổng lượng nước đạt
6.508.632 m3, tưới tự chảy qua trạm bơm di động cấp 2 tổng lượng nước là
2.559.103,08 m3, lượng điện tiêu thụ là 17.654,886 kwh Thời kỳ tưới dưỡng với
thời gian bơm là 1.454h, lượng điện tiêu thụ là 228.155 kwh, tổng lượng nước
cung cấp là 10.936.181 m3 và 4.399.874,80 m3 nước tương ứng với lượng điện
tiêu thụ là 109.996,870 kwh đối với tưới tự chảy qua trạm bơm di động cấp 2
Hàng năm, sau khi xí nghiệp quyết toán thu chi, tổng chi luôn vượt so với tổng
thu do đó Nhà nước vẫn phải bù lỗ Tỷ lệ thu chi của hệ thống chỉ đạt 74,8%
năm 1993 và 77,3% năm 1994
Hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải nằm giữa đồng bằng Sông Hồng có
diện tích tự nhiên 200.230 ha, bao gồm địa giới của 4 tỉnh Hưng Yên, Hải
Dương (thành phố Hải Dương, Bình Giang, Thanh Miện, Cẩm Giàng, Gia Lộc,
Ninh Giang, Tứ Kỳ), Bắc Ninh (Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài), Hà
Nội (Gia Lâm, Long Biên) Hệ thống được bao bọc bởi 4 con sông lớn với
chiều dài chảy qua hệ thống khá dài, Sông Đuống ở phía Bắc (67km), Sông
luộc ở phía Nam (72 km), Sông Thái Bình phía Đông (73 km), Sông Hồng ở
phía Tây (57 km)
Hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải là hệ thống thuỷ nông liên tỉnh lớn ở
Trang 19chiêm xuân, từ 20 tháng 1 đến 10 tháng 2 nếu mực nước sông Hồng tại cống
Xuân Quan bình quân đạt +1,94 m kết hợp với việc lấy nước trữ sớm từ ngày 05
tháng 1, lấy nước ngược qua Cầu Cất - Cầu Xe - An Thổ, đồng thời nạo vét khơi
thông dòng chảy các kênh dẫn cấp 2 theo thiết kế thì đảm bảo đủ nước phục vụ
sản xuất nông nghiệp Nếu vào tháng 1, tháng 2 mực nước tại Xuân Quan thấp
hơn 1,94 m thì tình hình cung cấp nước gặp khó khăn, cụ thể hạn vụ chiêm xuân
các năm 1998, 2003, 2004 phải lấy nước ngược qua cống Cầu Cất - Cầu Xe - An
Thổ chiếm đến 40 - 50 % tổng lượng nước yêu cầu do mực nước tại Xuân Quan
chỉ đạt +1,54 m Mực nước thấp nhất tại Xuân Quan ngày 30/01/2005 chỉ đạt
+1,26 m, Kênh Cầu +0.86 m, Bá Thuỷ +0,66 m, tại Neo +0,58 m thấp hơn mực
nước trung bình nhiều năm từ 30 - 40cm nên các trạm bơm hoạt động không đạt
hiệu quả Hiện nay do hệ thống kênh mương bị bồi lắng, các trạm bơm bị xuống
cấp nên việc cung cấp nước thường không kịp thời vụ, đặc bệt những năm gần
đây do sự điều tiết của hồ Hoà Bình Năm 2005 và 2006 việc cung cấp nước
cho vụ Đông Xuân gặp rất nhiều khó khăn Theo thống kê diện tích hạn
trong vùng hàng năm khoảng 33.000 - 36.000 ha, tuy toàn bộ diện tích được
gieo cấy nhưng phải kéo dài thời gian gieo cấy, chậm thời vụ nên ảnh hưởng
đến năng suất cây trồng và ảnh hưởng đến các vụ khác
Trang 20vùng đó là vùng bơm trực tiếp ra sông ngoài 51.800 ha (tiêu ra sông luộc 20.677
ha, tiêu ra sông Đuống 1.500 ha, tiêu ra sông Thái Bình 29.410 ha), vùng tiêu
qua Cầu Xe - An Thổ 140.245 ha trong đó tiêu bằng động lực 77.550 ha, tiêu tự
chảy 62.695 ha Hiện nay do sự biến động và thay đổi của khí tượng thuỷ văn,
sự xuống cấp của công trình, sự hạn chế trong đầu tư và quản lý khai thác, sự
tăng mực nước ở các cửa tiêu Cầu Xe - An Thổ nên một số diện tích bị úng, một
số vùng tiêu tự chảy nay phải tiêu bằng động lực, diện tích úng trong vùng lớn
nhất là năm 2004 với 62.062 ha, năm 2003 là 13.365 ha, năm 2005 là 7.032 ha
Hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải cũng như các hệ thống thuỷ nông khác
của nước ta đã được xây dựng từ nhiều năm trước, hiện nay nhiều công trình đã
xuống cấp, kênh mương bị bồi lắng, các trạm bơm sử dụng đã lâu bị hư hỏng
cần phải nâng cấp, sửa chữa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước
trong tình hình mới
2.3.2 Tài chính trong quản lý thủy nông
Nhìn chung, thủy lợi phí có thể đủ khôi phục chi phí về hoạt động và vận
hành Hầu hết các nước trong những năm gần đây mới tiến hành thu thuỷ lợi phí,
chủ yếu ở vùng thiếu nước Ví dụ, Indonexia đưa ra phí dịch vụ thủy lợi (ISF)
mãi tới năm 1987 để khôi phục chi phí hoạt động và bảo hành những cơ sở hạ
tầng, mặc dù khôi phục tiền vốn cũng dần dần được đưa vào giá tiền nước Ở
Philippin chủ yếu là để cấp cho việc hoạt động và bảo hành các hệ thống thủy
lợi Giá tiền ở mùa khô cao hơn giá tiền vào mùa mưa do lượng nước cấp vào
mùa khô không đủ Tuy nhiên, chỉ có những cánh đồng có năng suất ít nhất là
40 cavan/ha một vụ mới phải trả tiền thủy lợi phí (1 cavan = 50 kg) Những cánh
đồng có năng suất dưới 40 cavan/ha thì được miễn phí Người nông dân có thể
trả thủy lợi phí bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật Việc quy ra tiền mặt là dựa
trên giá hỗ trợ của Chính phủ đối với lúa tại thời điểm trả tiền Giá đối với các
loại cây trồng khác bằng 60% giá của lúa Giá đối với các hệ thống trạm bơm là
Trang 21thuỷ lợi phí khác nhau
Theo Nghị định 122/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
ban hành ngày 25/08/1984 về việc thu chi thuỷ lợi phí của các công ty khai thác
công trình thuỷ nông Quy định mức thu thủy lợi phí như sau:
- Tưới, tiêu chủ động phải nộp: 100% mức tính toán
- Tưới, tiêu bán chủ động phải nộp: 80% mức tính toán
- Tưới tạo nguồn phải nộp: 60 - 70% mức tính toán
Hiện nay ở Việt Nam thủy lợi phí vẫn thu theo Nghị định số
143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành
một số điều của pháp lệnh Các chính sách về thủy lợi phí, chính sách hỗ trợ tài
chính, đặc biệt về phát triển tổ chức quản lý thủy nông cơ sở hay các điều kiện
để thực hiện chuyển giao công trình cho tổ chức hợp tác dùng nước quản lý
được quy định trong Nghị định này Một số văn bản pháp lý có liên quan cũng
góp phần khẳng định chủ trương của Nhà nước trong việc phát triển tổ chức
quản lý thủy nông cơ sở và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào công
tác quản lý thủy nông Nghị định của Chính phủ số 29/1998/NĐ-CP ngày
15/11/1998 khẳng định tính dân chủ là cơ sở đảm bảo tính bền vững của tổ chức
quản lý thủy nông cơ sở
Thủy lợi phí gắn liền với quá trình xây dựng công trình từ bước quy
hoạch đến khâu quản lý Định giá thủy lợi phí và thu thủy lợi phí gắn bó chặt
chẽ với tất cả các yếu tố trong quá trình đó
Trong quy hoạch công trình, người ta phải xác định được nhiệm vụ cụ thể
của công trình đó trên cơ sở điều kiện tự nhiên và xã hội Khi mà cả một cộng đồng
những người hưởng lợi đều có nguyện vọng và nhất trí để xây dựng thì vấn đề tài
chính cho xây dựng sẽ thuận lợi hơn (so với tự tổ chức để xây dựng) Mức đóng
góp của người dân sẽ là cao nhất để cùng với Chính phủ xây dựng (ngay ở Nhật chỉ
khi nào có tối thiểu 75% số người hưởng lợi nhất trí thì công trình mới được Nhà
Trang 22cộng đồng người hưởng lợi sẽ tạo ra cho họ một niềm tin rằng công trình của họ
sẽ bền vững Số tiền Nhà nước và sự đóng góp của họ được đầu tư toàn bộ cho
công trình, và điều quan trọng họ tự thấy mình là chủ thực sự
Trong quá trình quản lý vận hành: Thông thường chỉ đến giai đoạn này
người ta mới nghĩ đến thủy lợi phí Nếu chỉ là định mức được ban bố trên cơ sở
pháp lệnh thì việc thu còn tương đối dễ dàng, nhưng nó sẽ không dễ đối với
vùng miền núi Còn nếu là định mức của cơ sở đặt ra, không có sự tham gia của
người hưởng lợi thì thực sự là khó Tách rời các giai đoạn trên, người hưởng lợi
cảm thấy bị “đòi” nhiều hơn là họ tự nghĩ phải “bỏ ra” hoặc “đóng góp” cho
quản lý vận hành
Mức thu thủy lợi phí giúp các công ty thủy nông hạch toán kinh doanh,
phải đảm bảo đủ đầu tư sửa chữa các công trình phục vụ trong hệ thống Chi phí
của các hệ thống ảnh hưởng lớn đến hoạt động của hệ thống Đặc biệt việc chi
trả tiền điện chiếm tỷ lệ cao trong chi phí của hệ thống
Một trong những nguyên nhân khiến các công trình thuỷ nông hoạt động
chưa hết năng suất là do thiếu kinh phí Thủy lợi phí hiện là nguồn thu chủ yếu
của các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ nông Hàng năm, cả nước thu
được khoảng 500-600 tỷ đồng từ các công trình này, đạt 70-80% kế hoạch Số
tiền này để đầu tư cho công tác quản lý vận hành và duy tu, bảo dưỡng công
trình Song chi phí sửa chữa thường xuyên các công trình thuỷ nông lại chưa
đảm bảo, chỉ đạt 10-15% tổng chi phí hoạt động tưới, tiêu Chi phí tiền điện khá
lớn, chiếm tới 30-50% tổng chi phí Ngành thủy lợi còn "đứng ngồi không yên"
khi giá điện tăng, nhất là theo các phương án tăng tới 20% vào giờ cao điểm
Theo ông Phạm Xuân Sử, cục trưởng Cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, để phục vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp thì ngay cả giờ
cao điểm các trạm bơm cũng phải vận hành, do vậy thời gian tới chi phí của
ngành thủy lợi lại đội thêm 20% Gánh nặng này đè lên vai ngành thủy lợi vì chỉ
19% các doanh nghiệp khai thác các công trình thuỷ nông có doanh thu đủ bù
Trang 23rất khác nhau giữa các vị trí đầu kênh và cuối kênh Trung bình là 206 kg/ha
(3,9 % năng suất lúa trung bình),161 kg/ha (3,4 %) và 98 kg/ha (2,2 %), cho vụ
đông xuân, 123 kg/ha ( 2,8%), 101 kg/ha và 60 kg/ha (1,7%) vụ mùa tương ứng
ở đầu, giữa và cuối kênh Trong khi năng lực thực tế của thống này chỉ đạt trung
bình từ 60 - 75 % [27]
Theo Nguyễn Thế Kỷ - 1994, thống kê nhiều năm ở trạm bơm La Khê -
Hà Tây chi phí tiền điện để bơm nước năm thấp nhất là 35% tổng chi phí, năm
cao nhất là 50% tổng chi phí [12]
Hoàng Anh Đức - 1994, hạch toán kinh doanh ở xí nghiệp Văn Giang cho
thấy tiền điện chiếm 34% tổng chi phí [6] Hoặc hệ thống thuỷ lợi huyện Hoa Lư
- Ninh Bình diện tích tưới thực tế chỉ đạt 70,15%, tiêu đạt 68,31% so với nhiệm
vụ thiết kế và đây là nguyên nhân chính, tổng thu/tổng chi chỉ đạt 62,91%, trong
đó tiền điện chiếm cao nhất tới 67,68% tổng chi phí [4]
Như vậy, hệ thống thủy lợi có vai trò to lớn đối với sản xuất nông nghiệp
và phát triển nông thôn và là một trong những công trình thuộc cơ sở hạ tầng
trọng yếu trong nông nghiệp Ở Việt Nam cũng như các nước trong khu vực,
tình trạng công trình xuống cấp và hoạt động đạt hiệu quả thấp là nguyên nhân
làm cho sử dụng nước lãng phí và cũng là nguyên nhân trực tiếp làm cho nhiều
công trình gặp khó khăn về vấn đề tài chính, không đáp ứng được nhu cầu duy
tu bảo dưỡng để nâng cao hiệu quả hoạt động của công trình Do vậy, vấn đề
quản lý thủy nông không chỉ là kỹ thuật mà còn là vấn đề xã hội, thể chế tổ chức
trong đó nhấn mạnh đến sự tham gia của người dân
Ngoài ra, việc tiếp tục đánh giá thực trạng hoạt động của hệ thống là cần
thiết, để chỉ rõ những tồn tại, từ đó sẽ có cơ sở để giúp hệ thống khắc phục tình
trạng lãng phí nước và dần tiến đến diện tích tưới thực tế sẽ bằng diện tích tưới
thiết kế, điều đó có nghĩa hệ thống sử dụng nước ngày càng hiệu quả
Trang 243.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch
sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến hệ thống
thủy nông
3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.2.1.2 Điều kiện kinh tế
3.2.1.3 Điều kiện xã hội
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2006 và KHSDĐ đến năm 2010
3.2.3 Hiện trạng hệ thống thuỷ nông
3.2.3.1 Phân chia khu vực tưới tiêu trong hệ thống
3.2.3.2 Hiện trạng hệ thống các công trình của hệ thống
3.2.3.3 Tình hình úng hạn và hiệu quả của hệ thống
3.2.3.4 Tình hình tổ chức quản lý hệ thống
3.2.4 Đề xuất phương hướng giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu
* Số liệu thứ cấp (số liệu đã công bố): Các số liệu đã công bố như đất đai,
dân số, lao động, tình hình sản xuất nông nghiệp, hoạt động hệ thống thủy
nông
Trang 25động hệ thống như diện tích tưới tiêu, công suất máy, điện năng tiêu thụ, thủy
lợi phí Các số liệu được thu thập từ các phòng ban chức năng, các đơn vị cụm
thông qua phỏng vấn trực tiếp và điều tra quan sát hệ thống
3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
* Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm như Microsoft excel
để phân tích số liệu, Mapinfo, Microstation để biên tập bản đồ
* Phương pháp so sánh: Các chỉ tiêu số liệu cần thiết sau khi được chọn
lọc và mô tả thống kê sẽ được tiến hành so sánh trong quá trình phân tích
Trang 264.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Ninh Giang là huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Hải Dương, cách
trung tâm thành phố Hải Dương khoảng 30 km theo quốc lộ 37A Địa bàn huyện
nằm trong toạ độ địa lý: Từ 21047’ đến 21049’ vĩ độ Bắc và 106016’ đến 106020’
kinh độ Đông Địa giới hành chính của huyện như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Tứ Kỳ và Gia Lộc;
- Phía Tây giáp huyện Thanh Miện;
- Phía Đông giáp huyện Tứ Kỳ và huyện Vĩnh Bảo- Hải Phòng;
- Phía Nam tiếp giáp với tỉnh Thái Bình
Là huyện nằm ở cuối tỉnh Hải Dương nhưng Ninh Giang có hệ thống giao
thông khá thuận lợi như: Đường QL37A nối QL5 với QL10 thông ra QL1; Tỉnh
lộ 20 qua Thanh Miện ra Kẻ Sặt và QL5 Đó là những tuyến giao thông quan
trọng trong giao lưu kinh tế giữa huyện với thành phố Hải Dương, Hải Phòng,
Thái Bình và các địa phương khác trong vùng Về đường thuỷ, huyện có 3 con
sông bao bọc: Sông Luộc, sông Đình Đào và sông Cửu An - là những tuyến giao
thông thuỷ thuận lợi nối huyện với các vùng lân cận
Toàn huyện có 28 đơn vị hành chính (27 xã và 1 thị trấn), thị trấn huyện
lỵ Ninh Giang nằm ở tận cùng phía Nam của huyện, tiếp giáp với Hải Phòng và
Thái Bình
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 13.540,49 ha, với số dân 150.153
người Mật độ dân số bình quân 1.120 người/km2, là huyệncó mật độ bình quân
cao hơn toàn tỉnh (mật độ trung bình toàn tỉnh là 1.035 người/km2)
Trang 27Là vùng đồng bằng chiêm trũng, địa hình phức tạp, cao thấp xen kẽ, có
hướng nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, Ninh Giang thuộc vùng có
địa hình thấp của tỉnh Hải Dương Sự chênh lệch địa hình từ +0,6 đến +2,6 m,
nơi thấp nhất +0,3 m so với mực nước biển
Dựa vào đặc điểm địa hình huyện Ninh Giang có sông Cửu An chia đôi
huyện thành hai khu vực: Phía Bắc và phía Nam sông Cửu An, hai khu vực này
còn được gọi là tiểu khu Bình Giang Bắc Thanh Miện và tiểu khu Đông Nam
sông Cửu An Các xã ở phía Bắc huyện có địa hình cao hơn các xã phía Nam
Tuy nhiên địa hình trong đồng cũng đa dạng, cao thấp xen kẽ
4.1.1.3 Khí hậu
Ninh Giang nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu chia làm 4 mùa:
Xuân, Hạ, Thu, Đông Theo số liệu quan trắc nhiều năm của Trung tâm khí
tượng thuỷ văn cho thấy:
- Nhiệt độ trung bình năm 24,920C; Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 6 và
tháng 7, từ 320C đến 350C; Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 là 14,70C, có
ngày xuống tới 6 - 70C Biên độ nhiệt trong ngày nhỏ hơn 100C Lượng bức xạ
mặt trời trung bình là 900 Kcal/cm2 Tổng tích ôn khoảng 85000 - 88000, độ ẩm
trung bình 85%
- Độ ẩm không khí: Trung bình trong năm dao động trong khoảng từ 73%
- 91 %, các tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 2 và tháng 3, thấp nhất vào tháng
6, 7
- Chế độ gió: Tốc độ gió trung bình từ 1,8 - 2,0 m/s Trong vùng thịnh
hành hai hướng gió chính là: Gió Đông nam (tháng 5 đến tháng 10) mang nhiều
hơi nước, thường gây ra mưa lớn Vào khoảng tháng 7, 8 thường xuất hiện
khoảng 2 đến 4 cơn bão, ảnh hưởng xấu đến sản xuất Gió Đông bắc (từ tháng
11 đến tháng 4 năm sau) khô hanh, thường gây ra lạnh đột ngột
Trang 28Bảng 4.1 Đặc điểm khí hậu huyện Ninh Giang năm 2006
Trang 290 50 100 150 200 250 300 350 400
Tháng1 Tháng3 Tháng5 Tháng7 Tháng9 Tháng11 Lượng m ưa (mm ) Lượng bốc hơi (mm )
Biểu đồ 4.1 Diễn biến lượng mưa và lượng bốc hơi 12 tháng năm 2006
- Tổng lượng mưa đo được từ năm 2000 trở lại đây tại trạm đo Ninh
Giang là: 1.594,3 mm (2001); 1.147,5 mm (2002); 1.231,58 mm (2003);
1.414,2 mm (2004); 1.423,9 mm (2005); 1.238,9 mm (2006) Lượng mưa
trung bình hàng năm là 1.227 mm Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đồng
đều giữa các tháng trong năm và thường tập trung đến 80% vào mùa mưa
(tháng 5 đến tháng 10)
Nhìn chung khí hậu của Ninh Giang tương đối thuận lợi cho việc phát
triển sản xuất nông nghiệp, thâm canh, tăng vụ đối với cây trồng hàng năm
Tuy nhiên là một huyện có địa hình thấp, trũng, hạ lưu của các con sông trong
vùng, chịu sự biến động mạnh của bão, dông, lượng mưa tập trung theo mùa
và chịu ảnh hưởng một phần của triều cường Nên thường xảy ra hiện tượng
lũ lụt, úng cục bộ, đòi hỏi phải có biện pháp phòng chống kịp thời, nhất là
trong mùa mưa bão
4.1.1.3 Thuỷ văn, sông ngòi
Toàn huyện có 3 con sông lớn chảy qua: Sông Đình Đào, sông Cửu An ở
Trang 30- Sông Luộc chảy từ huyện Thanh Miện có chiều dài 18,71 km, chạy
dọc theo ranh giới phía nam huyện với tỉnh Thái Bình
- Sông Cửu An chảy từ huyện Gia Lộc có chiều dài 13,4 km, chia
huyện thành hai vùng đất chính là phía bắc và phía nam sông Cửa An
- Sông Đình Đào chảy từ huyện Gia Lộc có chiều dài 14 km, là ranh
giới tự nhiên phía bắc với Huyện Gia Lộc
- Ngoài các sông chính còn có các sông nhỏ: Phía đông là sông Rùa nối
3 sông Đình Đào, Cửu An tại cống An Cư to, với sông Luộc tại khu vực cống
Sao Sông Dầm nối sông Cửu An và sông Luộc Các ao, hồ, đầm là nguồn bổ
sung và dự trữ nước quan trọng khi mực nước các sông chính xuống thấp, đặc
biệt vào mùa khô hạn Hệ thống sông ngòi trong vùng có nguồn nước dồi dào,
đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của toàn huyện Ngoài ra, thông
qua hệ thống cống lấy nước của các trạm bơm trên sông Luộc, mỗi năm bồi
đắp thêm một lượng phù sa làm cho đất đai khu Đông nam Cửu An thêm màu
mỡ, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Hệ thống thuỷ văn đã chia địa giới hành chính của huyện ra làm 02 tiểu
khu (Bảng 4.2):
- Tiểu khu Bình Giang bắc Thanh Miện gồm 7 xã, đất có độ dốc theo
hướng từ bắc xuống nam (sông Cửu An) Tổng diện tích lưu vực là 3.452,33
ha và diện tích đất trồng lúa là 1.874 ha, chiếm 13,84 % tổng diện tích tự
nhiên toàn huyện
- Tiểu khu đông nam sông Cửu An: Tiểu khu này có 20 xã và 01 thị
trấn - Ninh Giang, mặt đất dốc dần xuống phía sông Luộc Tổng diện tích lưu
vực là 10.088,16 ha, trong đó có 5.586,96 ha đất trồng lúa, đây là vùng sản
xuất nông nghiệp chính của toàn huyện
Trang 32Bảng 4.2 Phân vùng lưu vực theo địa hình
STT Tên tiểu khu (xã) Diện tích lưu vực
(ha)
Diện tích đất lúa (ha)
Trang 33Nhìn chung, Ninh Giang chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn của sông
Đình Đào, sông Cửu An ở phía bắc huyện, Sông Luộc ở phía nam huyện Hệ
thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải (sông đào) lấy nước từ sông Hồng qua cống
Xuân Quan cung cấp nước cho hệ thống thuỷ nông nội đồng của huyện Vào
mùa mưa khi cường độ mưa lớn và tập trung, nước trong đồng và ngoài đê
dâng cao, thời gian duy trì mực nước cao kéo dài, sự tăng mực nước ở các
trục cửa tiêu Cầu Xe, An Thổ, khả năng tiêu úng chậm, đã gây ra ngập úng
cục bộ cho các vùng thấp trũng, gây ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông
nghiệp và đời sống sinh hoạt của người dân
4.1.2 Các nguồn tài nguyên và cảnh quan môi trường
4.1.2.1 Tài nguyên đất
Ninh Giang là huyện đồng bằng phía nam của tỉnh Hải Dương, với tổng
diện tích tự nhiên là 13.540,49 ha; Bao gồm chủ yếu là đất phù sa của hệ thống
sông Hồng và sông Thái Bình Có thể phân ra 3 nhóm đất chính (Bảng 4.3):
Bảng 4.3 Thống kê diện tích đất sản xuất nông nghiệp
theo tính chất phát sinh Tên loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Tổng diện tích sản xuất nông nghiệp 8.056,64
- Đất phù sa được bồi hàng năm, trung tính ít chua 2.068,04
- Đất phù sa không được bồi, trung tính, ít chua 2.151,06
- Đất phù sa không được bồi, chua 1.610,32
Trang 343 Đất phù sa không được bồi có glây 2.121,62 26,3
(Nguồn: Phòng tài nguyên và Môi trường huyện Ninh Giang)
Trang 35a Đất phù sa được bồi hàng năm trung tính, ít chua
Đặc điểm: Giàu dinh dưỡng, hàm lượng mùn và lân tổng số, lân dễ tiêu
từ trung bình đến giàu, pHkcl từ 7,2 - 7,4 Loại đất này nằm ở ngoài đê, thích
hợp cho trồng rau, màu và cây công nghiệp ngắn ngày, chiếm 27% diện tích
đất sản xuất nông nghiệp
b Đất phù sa không được bồi, không glây
Đây là loại đất chính của huyện, chiếm gần một nửa diện tích canh tác
hàng năm Đặc điểm: Nhóm đất này thường phân bố trên chân cao, vàn cao và
vàn Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, hàm lượng mùn từ trung bình
đến khá, lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu khá, pHkcl từ 5,0 - 6,5 Đất này
thường được sử dụng trồng 2 vụ lúa hoặc 2 vụ lúa 1 vụ màu, có khả năng
thâm canh cao, chiếm 46,70% diện tích đất sản xuất nông nghiệp
c Đất phù sa không được bồi, có glây
Đặc điểm: Phân bố chủ yếu địa hình vàn thấp và trũng, khả năng tiêu
nước chậm, thành phần cơ giới thịt nặng, đất chua và nghèo lân dễ tiêu, pHkcl
từ 4,0 -5,0 Đây là loại đất chuyên cấy 2 vụ lúa, cá biệt có một số diện tích chỉ
trồng được 1 vụ lúa xuân, chiếm 26,30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp
4.1.2.2 Tài nguyên nước
Nguồn nước trên địa bàn huyện khá phong phú:
+ Nước mặt: Hệ thống sông ngòi và ao hồ trên địa bàn huyện có khả
năng cung cấp đủ nước cho sản xuất nông nghiệp của huyện Tuy nhiên, do
huyện nằm ở cuối hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải, lại là vùng trũng nhất
tỉnh nên hàng năm thường bị úng ngập cục bộ vào mùa mưa Diện tích mặt
nước ao, hồ, đầm ngoài khả năng cung cấp nước còn có tiềm năng cho phát
triển nuôi trồng thuỷ sản, kể cả những chân ruộng trũng
+ Nước ngầm: Nguồn nước ngầm khá dồi dào, mạch nông, hiện đã
được khai thác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của dân cư và sản xuất công
Trang 36về trữ lượng cũng như chất lượng nguồn nước
4.1.2.3 Tài nguyên nhân văn, cảnh quan môi trường
Ninh Giang hiện có trên 150 nghìn người sinh sống, mang đậm nét văn
hoá của vùng đồng bằng với nền văn minh lúa nước được hình thành và phát
triển qua nhiều thế kỷ Các di sản văn hoá như Đền Tranh, đền Khúc Thừa Dụ,
chùa Trông đã khắc sâu niềm tự hào dân tộc, khơi dậy tinh thần lao động cần cù
sáng tạo của người dân Những làng nghề truyền thống với nhiều sản phẩm độc
đáo
Về cảnh quan thiên nhiên và môi trường: Huyện có nhiều sông và ao hồ
tự nhiên cũng tạo cho cảnh quan thêm sinh động Tuy nhiên do mật độ dân số
cao, đất đai được khai thác với cường độ mạnh (kể cả cho nông nghiệp và phi
nông nghiệp) nên đã ảnh hưởng xấu đến môi trường
4.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
4.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Ninh Giang là vùng đông dân cư, mật độ dân số cao, nền kinh tế chủ
yếu là nông nghiệp Tổng sản phẩm nội huyện liên tục tăng với tốc độ tăng
trưởng bình quân 7 - 9%/năm Giá trị sản xuất toàn huyện năm 2006 cao gấp
Trang 37- Công nghiệp % 16,20 17,55 22,40
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ninh Giang)
Trang 38Ninh Giang là một huyện thuần nông nên tốc độ chuyển dịch còn rất
chậm Nhìn chung kinh tế nông nghiệp đã giảm dần tỷ trọng trong thu nhập
nội huyện (59,1% năm 2000 xuống 53,2% năm 2003 và 46,2% năm 2006),
dịch vụ tăng dần (24,7% năm 2000 lên 31,4% vào năm 2006), tuy nhiên sự
chuyển dịch cơ cấu của lĩnh vực công nghiệp còn rất chậm và chưa ổn định
(16,2% năm 2000, 17,55 % năm 2003 và năm 2006 là 22,4%)
4.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
4.2.2.1 Nông nghiệp, thuỷ sản
a Trồng trọt
Năm 2006 diện tích đất trồng cây hàng năm toàn huyện có 7.611,93 ha
Tổng diện tích gieo trồng đạt 17.351 ha, trong đó diện tích lúa là 14.469 ha,
cây lương thực khác là 592 ha, diện tích cây rau màu vụ đông xuân và vụ hè
thu là 2.290 ha Hệ số sử dụng đất đạt 2,3 lần
Năng suất lúa bình quân vụ chiêm xuân đạt 66,2 tạ/ha, vụ mùa đạt 52,8
tạ/ha Tổng sản lượng thóc đạt 86.103 tấn, bình quân lương thực đầu người
đạt 588 kg/năm
Rau màu thực phẩm phát triển mạnh với các cây trồng chính là: Ngô,
khoai lang, đậu tương, ớt, dưa chuột, đậu đỗ, bí đỏ, bí xanh, dưa lê và các rau
màu khác Cây vụ đông cho thu nhập khá cao, bình quân đạt 19,5 triệu đồng/ha
Cây lâu năm phát triển tương đối mạnh với các loại cây ăn quả, cây
cảnh, kết hợp trồng cây hàng hoá: Diện tích trồng cây ăn quả là 887 ha gồm
nhãn, vải, chuối ; Các mô hình trồng hoa, cây cảnh đang phát triển mạnh ở
các xã: Hiệp Lực, Hồng Dụ, Đồng Tâm, Văn Giang Cải tạo vườn tạp trong
khu dân cư, trồng tre lấy măng, chắn sóng ven đê và quy hoạch chuyển đổi cơ
cấu từ các chân ruộng trũng cấy lúa hiệu quả thấp sang nuôi trồng thuỷ sản
với diện tích 600 ha Giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp đạt bình quân
Trang 3934 triệu đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 4,6 triệu đồng/năm
b Chăn nuôi và thuỷ sản
Ngành chăn nuôi trong những năm qua đã mở rộng việc áp dụng một số
thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là việc phát huy ưu thế giống lai và
thức ăn chăn nuôi Cơ cấu đàn gia súc, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản năm
2006 thể hiện như sau:
Bảng 4.5 Kết quả sản xuất chăn nuôi và thuỷ sản năm 2006
(Nguồn: Số liệu thống kê phòng Nông nghiệp và PTNT)
+ Đàn trâu bò: Đang được chuyển hướng sang nuôi thịt Theo thống kê
năm 2006 trong toàn huyện có 7.558 con với sản lượng thịt xuất chuồng là
165,50 tấn
+ Đàn lợn: Đang được chuyển hướng sang mô hình nuôi tập trung (trang
trại) Năm 2006 có 73.236 con với sản lượng thịt xuất chuồng là 5.509 tấn
+ Đàn gia cầm: Trong những năm qua đàn gia cầm bị bệnh dịch tấn
công nhiều Theo thống kê năm 2006 tổng số đàn gia cầm có 664.217 con với
sản lượng thịt xuất chuồng là 1.248 tấn
Trang 40tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2006 là 886,97 ha Sản lượng đạt 2.940 tấn
Cơ cấu giá trị ngành nông nghiệp đang có sự chuyển hướng trong
những năm qua: Tăng cơ cấu giá trị ngành chăn nuôi từ 18,6 % năm 2000 lên
29,4 % năm 2006, giảm cơ cấu giá trị ngành trồng trọt từ 76,4 % năm 2000
xuống 64,3% năm 2006 Ngành dịch vụ nông nghiệp tăng không ổn định
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ninh Giang 2000- 2006)
4.2.2.2 Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản
a Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Ngành này chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng thu nhập nội huyện,
nhưng đã phát triển tương đối nhanh trong thời gian qua Trên địa bàn huyện
chủ yếu là công nghiệp ngoài quốc doanh Nhịp độ tăng trưởng CN-TTCN
giai đoạn 2000 - 2006 bình quân đạt 11 %/năm
Toàn huyện các cơ sở tham gia sản xuất CN-TTCN bao gồm doanh
nghiệp tư nhân, hợp tác xã và hộ gia đình, thu hút hàng vạn lao động Đặc biệt
là các ngành nghề ở nông thôn đã góp phần đáng kể giải quyết công ăn việc
làm cho lực lượng lao động dư thừa và nông nhàn, tăng thu nhập cho kinh tế
hộ
Một số ngành nghề đã và đang phát triển mạnh như: Nghề mộc dân
dụng ở Kiến Quốc; Nghề thêu ren ở Ứng Hoè, Quyết Thắng; Nghề đan lát