1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

120 549 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hiện Trạng Hoạt Động Của Hệ Thống Thủy Nông Phục Vụ Kế Hoạch Sử Dụng Đất 2006 - 2010 Huyện Ninh Giang, Tỉnh Hải Dương
Tác giả Đồn Dỗn Tuấn
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp
Chuyên ngành Thủy Nông
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

Trang 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất và nước là hai nguồn tài nguyên quý giá của nhân loại vì nó là cội

nguồn của sự tồn tại, nguồn gốc của mọi sự sống trên trái đất Đối với nông

nghiệp đất là tư liệu sản xuất đặc biệt Cùng với đất, nước là yếu tố hàng đầu để

sản xuất nông nghiệp Trong sản xuất nông nghiệp ông cha ta đã có câu “Nhất

nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”

Mối quan hệ giữa đất, nước và cây trồng luôn mật thiết với nhau Cây

trồng sinh trưởng, phát triển được là nhờ các yếu tố nước, chất dinh dưỡng, nhiệt

độ, ánh sáng, không khí, trong đó nước có vai trò đặc biệt ở chỗ nó vừa có khả

năng điều hoà các yếu tố còn lại vừa phát huy tác dụng của chúng làm cho cây

trồng phát triển

Tuy nhiên tài nguyên nước phân bố không đồng đều trong không gian và

thời gian, chưa đáp ứng với yêu cầu nước của cây trồng trong hệ thống luân

canh, chưa phù hợp với tốc độ phát triển của sản xuất nông nghiệp Vì vậy việc

tưới, tiêu nước là biện pháp kỹ thuật nhằm phát huy tốt nhất hiệu quả việc sử

dụng nguồn tài nguyên đất Hơn nữa, ngày nay khoa học kỹ thuật ngày càng

được áp dụng rộng rãi trên đồng ruộng, cơ cấu cây trồng thay đổi theo hướng

công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn, nhiều giống mới có yêu

cầu thâm canh cao, lượng nước yêu cầu lớn, nhiều loại cây trồng có giá trị hàng

hoá cao được đưa vào sản xuất dẫn đến nhu cầu nước của từng hệ thống cây

trồng, từng công thức luân canh cũng thay đổi so với trước Để đáp ứng đủ nước

theo yêu cầu thâm canh tăng vụ các công trình thuỷ nông phục vụ tưới, tiêu chưa

đáp ứng được đầy đủ yêu cầu trên Hay nói cách khác là áp lực về năng xuất cây

trồng lên một đơn vị diện tích canh tác phụ thuộc vào việc tưới, tiêu chủ động

hay không

Trang 2

Nhưng do hệ thống thuỷ lợi qua quá trình sử dụng, khai thác từ lâu đã xuống

cấp, cộng với công tác quản lý và sử dụng nước tưới không tốt (cả trên kênh và

trên mặt ruộng) đã làm cho lượng nước sử dụng cho một ha gieo trồng rất lớn,

dẫn đến thuỷ lợi phí nông dân phải trả cho các công ty trong vụ xuân là 300 kg

thóc/ha và vụ mùa 250 kg thóc/ha Ngoài ra nông dân phải trả thêm cho hợp tác

xã trong vụ xuân là 90 kg thóc/ha và vụ mùa là 70 kg thóc/ha (Đoàn Doãn Tuấn

và đồng nghiệp năm 1996) Đặc biệt sau nghị định 64 CP, trên một thửa ruộng

của hợp tác xã trước kia, nay đã có nhiều hộ nông dân cùng canh tác với nhiều

giống và thời vụ khác nhau đã làm cho việc sử dụng nước ngày càng lãng phí,

mặc dù nhu cầu nước của cây lúa chỉ khoảng 3.600-3.800 m3/ha, mà nước tưới

thực tế biến động 3.570 - 5.246 m3/ha tuỳ theo lượng mưa của từng vụ [3]

Bên cạnh đó, hầu hết các công trình thuỷ nông có quá trình khai thác kém

hiệu quả và hệ số dẫn nước kênh mương ở mức thấp nên việc sử dụng nước

ngày càng lãng phí, sự mất cân đối trong thu chi của các công ty, xí nghiệp thuỷ

nông khiến nhà nước phải trợ cấp một lượng kinh phí đáng kể Do vậy, việc

đánh giá hoạt động của hệ thống thuỷ nông là rất cần thiết, giúp cho việc quản lý

nguồn tài nguyên đất và tài nguyên nước một cách có hiệu quả

Ninh Giang là huyện nằm trong vùng lúa trọng điểm của tỉnh Hải Dương,

kết quả chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ sang ô thửa lớn đã tác động mạnh

mẽ tới quá trình phát triển theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông

nghiệp nông thôn Là huyện thuần nông nên công tác thuỷ nông có vai trò quan

trọng trong việc khai thác tiềm năng đất đai

Mặc dù hệ thống thuỷ nông đã được đầu tư xây dựng và tu bổ thường

xuyên nhưng vẫn còn một số tồn tại và bất cập Khả năng chống úng, hạn chưa

cao, đa số công trình đã xây dựng từ năm 1963, tiến độ thực hiện kiên cố hoá

kênh mương đạt ở mức thấp Những tồn tại này đã gây khó khăn cho công tác

tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, chưa đáp ứng được nhu cầu thâm canh

tăng vụ Đánh giá sự hoạt động của hệ thống, đưa ra các giải pháp cải tạo nâng

Trang 3

trực tiếp của thầy giáo, PGS Ts Nguyễn Văn Dung, giảng viên khoa Đất và Môi

trường - Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thuỷ nông phục vụ kế

hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương”

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Nghiên cứu, phân tích, đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thuỷ

nông huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương Phát hiện những tồn tại và đề xuất

giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ của hệ thống đối với công tác kế

hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010

1.2.2 Yêu cầu

Các tài liệu, số liệu và thông tin trong công tác điều tra phải đầy đủ, chính

xác, trung thực phản ánh đúng thực trạng hoạt động của hệ thống thuỷ nông

huyện Ninh Giang

Đánh giá hiện trạng phải dựa trên cơ sở định tính, định lượng và khoa học

Đề xuất những giải pháp, kiến nghị trên cơ sở thực trạng hệ thống, phù

hợp với điều kiện địa phương, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống

phục vụ tốt cho kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010

Trang 4

Hệ thống thuỷ nông được hiểu là tập hợp các công trình thuỷ lợi có liên

quan với nhau để tưới và tiêu cho các loại cây trồng trong lưu vực phục vụ của

hệ thống Công trình thuỷ lợi bao gồm hồ chứa nước, trạm bơm, đập, cống, kênh

mương, kè đê Như vậy thuỷ nông được hiểu là thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông

nghiệp Tuy nhiên, thuật ngữ thuỷ nông hiện nay được hiểu rộng hơn, không chỉ

là tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn cấp nước cho cả sinh hoạt,

công nghiệp, thuỷ sản v.v nhưng nhiệm vụ tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông

nghiệp phải là nhiệm vụ chính

2.1 Tình hình sử dụng nước

2.1.1 Tình hình sử dụng nước trên thế giới

Nước bao phủ ba phần tư bề mặt trái đất, nước cũng chiếm ba phần tư

cấu tạo các mô sinh vật Trữ lượng nước trên trái đất có hạn và chu trình nước

tiếp diễn liên tục từ dạng đặc sang dạng lỏng, chuyển sang dạng khí và ngược

lại Trong tổng lượng nước của trái đất chỉ có 3% là nước ngọt, trong đó chỉ có

0,3% là sẵn sàng dùng được cho chúng ta Hiện nay, ở nhiều vùng trên thế giới

vào những thời điểm nhất định, có tình trạng thiếu nước vì con người không

chỉ cần có nước mà nước phải đủ, đảm bảo về chất lượng, đúng lúc và đúng

chỗ

Trong tự nhiên nước được luân chuyển theo một chu trình bay hơi và

ngưng tụ liên tục gọi là chu trình thuỷ văn, nhờ đó mà nước tham gia vào chu

trình phát triển của tất cả các hệ sinh thái Theo tính toán lượng nước mưa hàng

năm trên trái đất khoảng 105.000 km3, trong dó khoảng 1/3 thấm vào đất, tích

đọng ở ao hồ và hình thành dòng chảy ra sông, 2/3 còn lại trở lại khí quyển Tổng

lượng nước trên trái đất khoảng 1,4 tỷ km3 nhưng 96,5% là nằm ở đại dương

Nguồn nước ngọt mà con người có thể dùng được chỉ khoảng 2,53% tổng lượng

nước toàn trái đất, còn lại đóng băng ở hai cực trái đất Trong khi lượng mưa chủ

yếu lại rơi trên đại dương, trung bình năm khoảng 990 mm, lục địa trung bình

Trang 5

hoang mạc dưới 120 mm/năm [5] Từ đó cho thấy nước là một thứ tài nguyên

phân bố không đều, nhìn chung trên toàn thế giới từ một xứ khô cằn sang một

vùng nhiệt đới lượng nước có thể biến đổi từ 1 - 1000

Nguồn nước trên trái đất chúng ta không phải là vô tận Vì vậy từ xa xưa tổ

tiên loài người đã thấy được tầm quan trọng của nước và tìm cách cải tạo dòng

nước tự nhiên, sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất: ở Ai Cập 5000 năm trước

công nguyên con người đã xây dựng những đập giữ nước trên sông Nile, Trung

Quốc 4000 năm trước đã xây dựng kênh đào tới 700 dặm, Ấn Độ cách chúng ta 20

thế kỷ đã có nhiều công trình chứa nước tưới cho lưu vực sông Indus

Cho đến vài thập kỷ gần đây, nhờ hệ thống thuỷ nông mà diện tích đất

được tưới tăng tương đối ổn định Năm 1972 diện tích đất được tưới của thế giới

là 176.420.000 ha, năm 1982 tăng lên là 215.253.000 ha, năm 1987 là

227.108.000 ha Trong đó chỉ riêng khu vực Châu Á diện tích đất được tưới năm

1972 là 113.888.000 ha, năm 1982 là 135.297.000 ha, năm 1987 là 142.301.000

ha, năm 1992 là 181.533.000 ha và Trung Quốc là nước có diện tích đất được

tưới lớn nhất trong khu vực và trên thế giới, diện tích đất được tưới năm 1992 là

49.030.000 ha, đến nay con số này là trên 5 triệu ha Cùng với sự tiến bộ về

khoa học kỹ thuật và áp lực về an ninh lương thực của toàn nhân loại, diện tích

đất được tưới không ngừng tăng, đây là điều đáng mừng cho ngành nông nghiệp

thế giới

Ngày nay việc sử dụng nước của con người không ngừng tăng lên do dân số

tăng, đầu thế kỷ 20 dân số toàn cầu là 1,6 tỷ người nhưng đến cuối năm 1999 đã đạt

6 tỷ, tăng 3,75 lần, điều này đã khiến cho nước dùng cho công nghiệp tăng 20 lần,

nước dùng cho nông nghiệp tăng 7 lần, nước cho sinh hoạt tăng 10 lần Ngoài sự

gia tăng dân số khiến nhu cầu sử dụng nước gia tăng còn có các nguyên nhân khác

như cách sống của con người thay đổi cần sử dụng nhiều nước hơn, nhất là nhu cầu

nước sạch cung cấp cho các thành phố lớn Trên thế giới có hơn 100 quốc gia và

Trang 6

bị bệnh tật có liên quan đến ô nhiễm nước

Có thể nhận thấy rằng trong những năm gần đây, để phát triển ngành nông

nghiệp hầu hết Chính phủ các nước trên thế giới đều rất chú trọng đến công tác thuỷ

lợi, cả về đầu tư xây dựng hệ thống và tổ chức quản lý khai thác, sử dụng các công

trình Ở những nước phát triển đầu tư các công trình thuỷ lợi hoàn chỉnh, (tưới, tiêu

chủ động), các nước đang phát triển xây dựng các công trình thuỷ lợi đầu mối có tính

chất trọng điểm, các công trình có sự tham gia của cộng đồng, tư nhân tự bỏ vốn xây

dựng công trình Đa dạng hoá các hình thức đầu tư và quản lý các công trình thuỷ lợi

tất cả phục vụ nền nông nghiệp phát triển bền vững

2.1.2 Tình hình sử dụng nước ở Việt Nam

Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam gắn liền với sự

hình thành của hệ thống đê điều, hệ thống kênh rạch chống lũ, hàng ngàn năm

mở mang vùng đất mới, phát huy mặt lợi, hạn chế mặt hại của nước để tồn tại và

phát triển Cũng nhờ lợi thế đó, một nền văn minh lúa nước đã hình thành từ

hàng nghìn năm trước ở vùng đồng bằng Sông Hồng và di cư vào đồng bằng

Sông Cửu Long 300 năm trước đây

Là một quốc gia có nguồn tài nguyên nước phong phú với mức bình quân

trên đầu người hiện nay là 12.000m3/năm, nhưng 2/3 lượng nước nói trên lại phát

sinh từ lãnh thổ các nước khác ở thượng lưu, như thượng lưu khu vực sông Hồng,

trung và thượng lưu khu vực sông MêKông Vì thế lượng nước qua lãnh thổ Việt

Nam phụ thuộc một phần vào tình hình khai thác và sử dụng nước của các nước

trên Do địa hình bị chia cắt bởi nhiều dãy núi song song và do chế độ mưa không

đồng nhất nên dòng chảy phân bố không đều trên lãnh thổ

Vùng đồng bằng sông Cửu Long có tổng lượng dòng chảy là 507,8 tỷ m3,

trong đó 95% lượng nước từ bên ngoài lãnh thổ chảy vào, lượng nước qua vùng

chiếm 61% quỹ nước mặt của toàn lãnh thổ Tuy lượng nước phong phú nhưng

vẫn còn hai hạn chế cho sự phát triển của một số vùng thuộc đồng bằng sông

Trang 7

19% quỹ nước của quốc gia Bình quân ở Bắc Bộ mỗi ha hàng năm có 13.900

m3 nước trong đó 8.940 m3 được phát sinh trong lãnh thổ (64%) Dung tích các

hồ chứa ở Bắc Bộ đã đạt trên 8 tỷ m3 nước Hầu như trên các sông vừa và nhỏ

trong vùng đều đã có các hồ chứa hoặc các công trình cấp nước làm tăng dòng

chảy và lượng dòng chảy trong mùa kiệt [14]

Vùng Bắc Trung Bộ là vùng đứng thứ 3 về tiềm năng nguồn nước với

lượng nước trung bình nhiều năm là 83,4 tỷ m3 chiếm 9,4% quỹ nước quốc gia

trong đó có 11,9 tỷ m3 từ bên ngoài đổ vào Lượng dòng chảy tháng kiệt nhất chỉ

chiếm 1,3% lượng dòng chảy cả năm nên ở Bắc Trung Bộ cũng được xây dựng

nhiều hồ chứa nhỏ để tăng cường lượng dòng chảy vào mùa kiệt [14]

Vùng Nam Trung Bộ có tiềm năng nước mặt 59,5 tỷ m3, bình quân có

12.000m3/ha trong năm Do chiều dài sông ngắn và dốc, các sông có nguồn từ

Đông Trường Sơn chảy thẳng ra biển nên trong vùng này khó có điều kiện xây

dựng các hồ vừa và lớn [14]

Vùng Tây Nguyên chủ yếu là sông Sêsan và sông Serepok có tổng dòng

chảy của cả hai sông là 27,8 tỷ m3 trong đó lưu vực sông Sesan có tiềm năng

nguồn nước mặt là 12.000 m3/ha/năm, cao hơn lưu vực sông Serepork (7.540

m3/ha/năm) Hiện trên sông Sesan đã xây dựng thuỷ điện Yaly có dung tích

điều tiết 700 triệu m3 Trên sông Serepok chưa có hồ chứa nước lớn nhưng có

rất nhiều hồ chứa nhỏ tưới cho lúa và cây công nghiệp như cà phê, tiêu, cao su

[14]

Vùng Đông Nam Bộ có lượng nước đến hàng năm là 36,6 tỷ m3, trong đó

chỉ có 4 tỷ m3 chảy vào lãnh thổ Campuchia Lượng dòng chảy đến trung bình

năm là 10.200 m3/ha, trong đó 9.100 m3/ha là do phát sinh tại chỗ Do lượng

mưa càng giảm theo độ cao bề mặt lưu vực nên càng về phía ven biển và phía

Nam của vùng thì lượng dòng chảy do mưa tại chỗ giảm Hiện nay trong vùng

đã có nhiều hồ chứa với dung tích 4.800 triệu m3 để điều tiết nước tưới và cung

Trang 8

Tuỳ thuộc vào quá trình phát triển xã hội trong từng giai đoạn mà các phương

tiện, biện pháp khai thác tài nguyên nước cũng khác nhau Thời gian đầu người

ta chỉ biết sử dụng nguồn nước có sẵn của tự nhiên, sau đó biết đào giếng, đào

ao để lấy nước sử dụng cho sản xuất và đời sống Cùng với quá trình phát triển

của xã hội, khoa học công nghệ với các phương thức khai thác tài nguyên nước

cũng được phát triển theo hướng hiện đại và hiệu quả Quá trình khai thác tài

nguyên nước gắn liền với quá trình hình thành và phát triển hệ thống công trình

các cấp và hình thức quản lý tương ứng qua từng thời kỳ

* Thời kỳ phong kiến

Thế kỷ IX, nhân dân ta đã xây dựng được công trình kiên cố là đê bao

thành Đại La với chiều dài 8.500 m, cao 6 m Thế kỷ X (983), nhân dân Thanh

Hoá đã đào đắp sông Đồng Cỏ, Thái Hoà, dưới thời Lý Thái Tôn đào sông Đan

Nãi Thời Trần Thái Tông (năm 1231) đào sông Hào và sông Trầm Năm 1390

đào sông Thiên Đức (sông Đuống ngày nay) Khi xã hội phong kiến nước ta

bước vào thời kỳ suy tàn, các công trình thuỷ nông ít được xây dựng, hạn hán lũ

lụt xảy ra liên tục [21]

* Thời kỳ Pháp thuộc

Thời kỳ này, thực dân Pháp xây dựng hơn 10 công trình thuỷ nông, các

công trình này chủ yếu phục vụ các đồn điền của Pháp như hệ thống sông Cầu,

hệ thống sông Liễu Sơn [21]

* Sau năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Đảng các công trình thuỷ nông đã được

phục hồi nhanh chóng Đến năm 1956, nhân dân ta đã đào đắp công trình 27

triệu 90 vạn m3 để tưới cho 1 triệu 56 vạn ha Đến năm 1959 đã tiếp tục đào đắp

84 triệu 86 vạn m3 để tưới cho 1 triệu 90 vạn ha Đáng chú ý, hệ thống đại thuỷ

nông Bắc Hưng Hải ra đời đã góp phần làm thay đổi nước trên đồng ruộng của

tỉnh Hải Hưng cũ Năm 1958, khi chưa có hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải,

Hưng Yên cấy hai vụ với diện tích 209.925 ha, thu hoạch được 162.885 tấn thóc

Năm 1959, nhờ có hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải, Hưng Yên cấy hai vụ với

Trang 9

xuất thêm được vụ đông và dần trở thành vụ sản xuất chính Các công trình thủy

lợi đã tạo điều kiện và khả năng thâm canh cao trong sản xuất, kết quả thể hiện

rõ nhất là năng suất, sản lượng cây trồng đã được tăng lên không ngừng qua các

năm [11]

Trong ba năm phát triển kinh tế (1958 - 1960), ngoài việc xây dựng hệ

thống đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải, Nhà nước còn xây dựng một số trạm bơm

loại vừa như Thuỵ Phương, Gia Thượng Hà Nội, Tây và Nam Nghệ An [21]

Dưới ánh sáng Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IV, Nhà nước và nhân

dân đầu tư vốn và sức lực vào xây dựng các công trình thuỷ nông như Trịnh Xá,

Kim Đôi Hà Bắc, HTTN Nam Sông Mã - Thanh Hóa; Các hồ chứa nước suối

Hai, Đại Lãi, Cẩm Ly; Các trạm bơm như La Khê (Hà Tây), Hồng Vân

Phong trào thi đua làm thuỷ lợi nhỏ năm 1964 - 1965 đã động viên đông

đảo quần chúng nhân dân xây dựng mạng lưới công trình tưới, tiêu rộng khắp

đồng ruộng [21]

Những công trình xây dựng từ những năm 1955 - 1970, có năng lực thiết

kế tưới nước hơn gấp ba lần so với năng lực của các công trình xây dựng dưới

thời Pháp thuộc, bị phá hoại do chiến tranh mà Nhà nước đã khôi phục lại Đến

năm 1970, 60% diện tích đất canh tác đã có công trình thuỷ lợi Trong đó, đồng

bằng Bắc Bộ khoảng 80%, Trung du và khu 4 cũ gần 60%, miền núi gần 30%

Các công trình thuỷ lợi ra đời với việc tưới, tiêu chủ động nên năng suất lúa

trong thời gian này đạt 2 - 3 tấn/ha/vụ

Đến nay thuỷ lợi Việt Nam đã hình thành 75 hệ thống thuỷ lợi lớn và vừa,

750 hồ chứa nước lớn và vừa, trên 10.000 hồ chứa nhỏ, 2.000 trạm bơm điện lớn

và vừa, có công suất 450 MW, 30 vạn máy bơm với năng lực thiết kế tưới cho 3

triệu ha đất canh tác; Tiêu cho trên 1,4 triệu ha đất tự nhiên ở các tỉnh Bắc Bộ;

Ngăn mặn 70 vạn ha, cải tạo 1,6 triệu ha đất chua phèn ở đồng bằng Sông Cửu

Long Riêng diện tích trồng lúa được tưới chiếm 80% tổng diện tích lúa trong cả

Trang 10

cây ăn quả

2.2 Vai trò thủy nông đối với sản xuất nông nghiệp

Trong “Luật Tài nguyên nước” được Quốc hội thông qua năm 1998, việc

bảo vệ tài nguyên nước đã được khẳng định, điều đó chứng tỏ nước có vai trò

quan trọng trong đời sống và sản xuất

Nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống sinh vật, đối với cây

trồng nó là yếu tố quyết định sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Trong

cây nước chiếm tới 3/4 trọng lượng, trong chất nguyên sinh hàm lượng nước

chiếm tới 90% Nước tham gia các quá trình trao đổi chất, là nguyên liệu để thực

hiện quá trình quang hợp, nước là phương tiện vận chuyển các chất trong cây,

đảm bảo trạng thái có lợi cho sự sinh trưởng Nói cách khác nước vừa tham gia

cấu trúc nên cơ thể thực vật, vừa quyết định các biến đổi sinh hoá và các hoạt

động sinh lý trong cây cũng như quyết định sự sinh trưởng, phát triển của cây

Chính vì vậy nước được xem là yếu tố sinh thái quan trọng nhất đảm bảo và

quyết định năng xuất cây trồng

Trong suốt đời sống của cây, nước lúc nào cũng cần thiết để thay thế

lượng nước mất đi Nhưng ở những thời kỳ khác nhau thì cây cần lượng nước

không giống nhau Ở bất kỳ thời kỳ sinh trưởng nào của cây nếu thiếu nước đều

gây ảnh hưởng xấu, nhưng có một thời kỳ thiếu nước sẽ gây tác hại nghiêm

trọng đến năng suất và chất lượng sản phẩm thu hoạch của cây - thời kỳ đó gọi

là thời kỳ khủng hoảng nước của cây hay thời kỳ nhạy cảm với sự thiếu hụt

nước [12] Ở thời kỳ này cây tiêu thụ nước với hiệu suất tích luỹ chất khô cao

nhất và nước đóng vai trò quyết định năng suất cuối cùng Ví dụ đối với cây lúa

giai đoạn làm đòng, trổ bông và phát triển hạt cho đến khi lúa chín tức là thời kỳ

tích luỹ chất khô, nếu ở giai đoạn này thiếu nước sẽ gây nên hiện tượng lem lép

hạt

Ngoài ra chúng ta còn thấy rõ tác dụng của nước đối với việc cải tạo các

Trang 11

Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả của tưới, tiêu mang lại không thể

phủ nhận Tổng kết thực tế của Vụ quản lý và khai thác công trình thuỷ lợi cho

biết: ở nước ta tưới, tiêu cho lúa có thể tăng sản lượng lên 20%- 30% Nhờ có

các công trình thuỷ lợi, chúng ta đã chế ngự được thiên nhiên, hạn chế được

những tác hại do thiên tai như lũ lụt, hạn hán Từ xa xưa ông cha ta đã biết làm

thuỷ lợi như quai đê lấn biển, thau chua, rửa mặn, tạo nên những làng, xã, những

huyện mới như: Tiền Hải - Thái Bình, Kim Sơn - Ninh Bình

Nhờ sử dụng nước tưới từ các công trình thuỷ lợi, các sản phẩm nông

nghiệp được sản xuất với chi phí thấp, khả năng cạnh tranh cao, sản xuất trên

diện tích lớn; Tăng trưởng sản xuất ổn định, nguồn lực sản xuất nông nghiệp

như lao động, đất đai được khai thác và sử dụng một cách hợp lý; Đảm bảo an

ninh lương thực quốc gia, phát triển nông nghiệp cân đối và bền vững

Trang 12

nông nghiệp còn cấp nước đầy đủ và ổn định cho sinh hoạt và phát triển tiểu thủ

công nghiệp, các khu công nghiệp ở thị xã, thành phố Nhiều công trình thuỷ lợi,

hồ đập chứa nước tạo ra cảnh quan môi trường rất lý tưởng để khai thác nuôi

trồng thuỷ sản, phát triển du lịch Có công trình thuỷ lợi sử dụng nước rất độc

đáo đã góp phần tạo nên kỳ quan thế giới như vườn treo Babilon

Nhu cầu về nước là rất lớn và không thể thay thế, đặc biệt đối với các

quốc gia, các vùng sản xuất nông nghiệp Trong nền kinh tế mở hiện nay, nông

nghiệp nông thôn đang có nhiều đổi mới, đời sống nhân dân ổn định và từng

bước nâng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong quá trình sản xuất của

nhân dân thì công tác thuỷ lợi ngày càng trở nên quan trọng và thường xuyên

được quan tâm

Ở Việt Nam, yêu cầu nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ

trọng 80-90% tổng lượng nước dùng, có vai trò quyết định đối với năng suất, sản

lượng cây trồng, nhất là lúa nước [7] Vai trò của nước đối với cây trồng được xếp

ngang hàng với 3 yếu tố quan trọng là phân - cần - giống Ông cha ta cũng đã

khẳng định vai trò của nước qua câu “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”

Theo Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc tưới tiêu nước cho lúa

hợp lý góp phần làm tăng năng suất từ 17-25% [15] Kết quả nghiên cứu của Cục

quản lý và Khai thác công trình thủy lợi ở nước ta đã chỉ ra tưới, tiêu cho lúa góp

phần làm tăng năng suất từ 20-30% Ở Trung Quốc, kết quả nghiên cứu cho thấy

nếu đảm bảo đủ nước tưới cho lúa sẽ làm tăng sản lượng 30% [18]

Theo nghiên cứu của bộ môn Thuỷ nông - Trường Đại học Nông nghiệp I

- Hà Nội, yêu cầu nước cho tưới ải vùng Gia Lâm - Hà Nội thay đổi từ 1.700

đến 2.500 m3/ha

Trang 13

dưỡng vụ lúa xuân 1994 của hệ thống kênh tưới Kênh Đông - Trạm bơm Văn

Giang - Hải Dương: Lượng nước bình quân: Tưới ải: 2.600 m3/ha, tưới dưỡng:

4.700 m3/ha

Theo Nguyễn Văn Dung - 1998 [3], thời kỳ tưới ải và tưới dưỡng 3 năm

(1996 - 1998) ở trạm bơm La Khê - Hà Tây:

Vụ Mùa: - Tưới ải: 2.038 - 2.657 m3/ha

- Tưới dưỡng: 1.619 - 1.787 m3/ha

Vụ Xuân: - Tưới ải: 3.582 - 5.133 m3/ha

- Tưới dưỡng: 4.117 - 5.246 m3/ha

Ở nước ta, do địa hình phức tạp, khí hậu thay đổi theo mùa nên hàng năm

lượng dòng chảy 80% tập trung vào mùa mưa, còn lại 20% tập trung vào mùa

khô, nhưng nhu cầu dùng nước trong nông nghiệp thì ngược lại, mùa mưa yêu

cầu nước tưới 20%, mùa khô yêu cầu 80% [25], [1] Ngoài ra nước tưới làm

thay đổi môi trường sinh thái và có tác động không nhỏ đến hoạt động của con

người

Nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp được cung cấp từ nguồn tự

nhiên thông qua hệ thống công trình thủy lợi Để khai thác tốt công trình thuỷ

lợi cần phải có một cơ chế tổ chức quản lý hệ thống phù hợp

Tình trạng khô hạn, lũ lụt xảy ra và tác hại của nó đối với con người đã

thể hiện tác động hai mặt của nước đối với sản xuất và đời sống xã hội Con

người với vai trò chủ thể, cần phải nhận thức rõ tác động xấu của nước để có

biện pháp điều chỉnh và hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng xấu đối với sản

xuất và đời sống

Thủy lợi được hiểu là những hoạt động liên quan đến ý thức của con

người trong quá trình khai thác sử dụng tài nguyên nước để phục vụ cho lợi ích

của mình Để đảm bảo việc khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên nước,

cần phải có nhân, vật, lực để xây dựng, quản lý, khai thác các công trình thủy lợi

Trang 14

với sản xuất và đời sống Các công trình thủy lợi có tác dụng ngăn nước, giữ

nước, điều tiết dòng chảy theo ý đồ của con người Đối với nông nghiệp, tác dụng

của thủy lợi thể hiện thông qua hoạt động tưới, tiêu nhằm đáp ứng nhu cầu sinh

trưởng, phát triển của cây trồng, vật nuôi và là một trong những yếu tố quan trọng

quyết định đến năng suất cây trồng

Ngoài những tác dụng đối với sản xuất và đời sống, các công trình thủy

lợi còn có tác dụng trong việc bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái và mở ra

những điều kiện cho phát triển một số ngành kinh tế mới như du lịch, nuôi trồng

thủy sản, giao thông Như vậy, có thể thấy rằng ngoài vai trò đối với cây trồng,

các công trình thủy lợi xét trên các phương diện khai thác khác nhau còn có tác

dụng nhiều mặt và hiệu quả ngày càng khả quan

2.3 Hiện trạng hoạt động của một số hệ thống thuỷ nông ở nước ta

2.3.1 Hiện trạng hoạt động

Ở nước ta, hầu hết các công trình thuỷ nông được đầu tư xây dựng từ

những năm 60 của thế kỷ trước, trải qua nhiều năm sử dụng đã xuống cấp, công

suất thực tế không đảm bảo so với yêu cầu, đó là điều dễ nhận thấy

Theo thống kê trong 15 năm trở lại đây, hiệu quả phục vụ tưới, tiêu của hệ

thống thủy lợi đạt kết quả thấp Trong phạm vi toàn quốc, hệ thống tưới mới chỉ đạt

được 1.261.901 ha trong tổng số 2.065.062 ha, đạt 62,7 % năng lực thiết kế Trong

rất nhiều nguyên nhân dẫn tới kết quả hoạt động của hệ thống tưới thấp có nguyên

nhân quản lý nước mặt ruộng không khoa học [22] Hơn nữa vụ đông xuân năm

2005, cả nước có kế hoạch gieo cấy 2,9 triệu ha lúa, nhưng khi cân đối khả năng

nguồn nước và năng lực các công trình thủy lợi hiện có chỉ đảm bảo tưới cho 2,7

triệu ha lúa Đây là vấn đề cần được các ngành, các cấp quan tâm, chủ động tìm

giải pháp đối phó nhằm hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất do hạn hán gây ra (Nông

nghiệp nông thôn Việt Nam 28/3/2005)

Theo ông Ngô Văn Toán giám đốc công ty khai thác công trình thuỷ lợi

Trang 15

lắp đặt từ những năm 1960-1970 Các máy bơm do Liên Xô cũ và một số nước

Đông Âu chế tạo nay đã hết hạn sử dụng “Các bảng điện, tủ điều khiển, động

cơ của máy đều lão hóa Trục bơm nước lạc hậu đến nỗi chẳng tìm ra thiết bị

thay thế, buộc chúng tôi phải hàn vá chắp nối trục cũ rất thủ công” Ông Toán

đánh giá hệ thống này chỉ tận dụng 60% nguồn nước thủy triều và nước xả từ hồ

Hòa Bình, còn lại đành để trôi ra biển

Trong hệ thống thủy lợi Bắc bộ, ngoại trừ sông Hồng và Thái Bình, các

sông còn lại đều bị bồi lắng Đầu tháng 2-2006 khi mực nước sông Hồng tại Hà

Nội xuống 1,6m thì các sông nhỏ gần như biến thành mặt ruộng, dòng chảy

không hề tồn tại Đơn cử sông Sắt, sông Châu Giang (chảy qua hai tỉnh Hà Nam,

Nam Định) bị bồi lắng với độ dày từ 0,8-1,3 m

Theo ông Phạm Xuân Sử, cục trưởng Cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và

phát triển nông thôn, thừa nhận tất cả công trình thủy lợi ở đồng bằng sông

Hồng đều xuống cấp Hằng năm, ngành thủy lợi thu thủy lợi phí được 500 tỷ

đồng nhưng phải trả cho ngành điện, trả lương gần 20.000 công nhân quản lý,

vận hành Số kinh phí dành cho duy tu, cải tạo, nâng cấp công trình còn lại rất ít

Theo đánh giá, các công trình thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp mới khai thác được

60 - 65% năng lực thiết kế Cá biệt có công trình mới khai thác được trên 30%

năng lực, việc nâng cao hiệu quả khai thác các công trình thêm 20% sẽ tạo ra

một tiềm năng mới với công suất tưới khoảng 600.000 ha

Trang 16

T

Tên CTKTCTTL

Tên

hệ thống

Loại hình công trình

Năng lực phục vụ

(ha)

% so với thiết kế

4 Bắc Hưng Hải Bắc Hưng Hải Tự chảy 77.298 52

5 Nam Thái Bình Nam Thái Bình Tự chảy 44.973 88

(Nguồn: thống kê của Trần Phương Diễm - tạp chí viện Thủy Lợi năm 2000)

Theo thống kê của Trần Phương Diễm - 2000 [2], năng lực phục vụ nông

nghiệp của một số hệ thống thuỷ nông khác nhau, có công trình đạt trên 80% so

với thiết kế tưới như công trình Sông Cầu, Kẻ Gỗ; Công trình đạt hiệu quả thấp

50 - 60% như Bắc Hưng Hải, Phù Ninh, Núi Cốc (Bảng 2.1)

Theo thống kê của Viện Khoa học thuỷ lợi - 1995 [16], diện tích đất được

tưới trên các khu vực ở nước ta vẫn đạt thấp Bên cạnh đó, do đặc điểm thời tiết,

khí hậu của các khu vực khác nhau làm ảnh hưởng rất lớn đến nông nghiệp Khu

vực Bắc Trung Bộ diện tích tưới đạt thấp nhất chỉ 36,7%, trong khi đó đồng

bằng Sông Hồng đạt gần 80% diện tích so với thiết kế Một trong những chỉ tiêu

đánh giá hoạt động của hệ thống thủy nông là lượng nước tưới cho cây trồng

(chủ yếu là lúa) mà hệ thống có khả năng cung cấp

Như vậy, các công trình thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp mới chỉ khai thác

được 52 - 98% năng lực thiết kế Cá biệt công trình thuỷ nông Bắc Hưng Hải

với loại hình công trình tưới tự chảy mới khai thác được 52% năng lực Ngoài ra

có các công trình hoạt động rất tốt như hồ Kẻ Gỗ loại hình công trình hồ chứa

đạt 93% năng lực, hệ thống thuỷ lợi Đông Anh đạt 97%, hệ thống thuỷ nông

Sông Cầu đạt 98%

Bảng 2.2 Thực tế khai thác và thiết kế về tưới của các hệ thống thuỷ nông phục

Trang 17

Đồng bằng Sông Hồng 661.000 524.000 79,2

(Nguồn: Tuyển tập kết quả khoa học và công nghệ 1994 - 1999, (tập 2), NXB Nông nghiệp, Hà Nội)

Theo thống kê của viện thuỷ lợi, thực tế khai thác về tưới cho sản xuất

nông nghiệp khác nhau giữa các vùng: Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích

tưới thiết kế là 1.128.000 ha, diện tích thực tưới 781.000 ha, năng lực phục vụ

thực tế đạt 69,2% Đồng bằng sông Hồng có diện tích tưới thiết kế là 661.000

ha, diện tích thực tưới là 524.000 ha năng lực phục vụ thực tế đạt 79,2%, cao

hơn so với vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Bắc Trung Bộ (36,7%)

Nguyễn Văn Dung - 1999 [3]: Hệ thống tưới La Khê - Hà Tây là hệ thống

tưới, tiêu bằng trạm bơm điện, hệ thống được đưa vào sử dụng năm 1963 Theo

nhiệm vụ thiết kế, hệ thống phải đảm bảo tưới, tiêu cho 4 huyện thị với tổng

chiều dài kênh chính là 33 km

- Diện tích được tưới của hệ thống:

+ Vụ mùa năm 1997 diện tích được tưới là 5.595 ha trong đó tưới chủ

động là 2.294 ha chiếm 44%, bán chủ động là 1.231 ha chiếm 19% và tạo nguồn

là 2.070 ha chiếm 37%

+ Vụ xuân năm 1998 diện tích tưới là 5.617 ha trong đó tưới, tiêu chủ

động là 2.581 ha chiếm 45,95%, bán chủ động là 1.123 ha chiếm 19,99%, tạo

nguồn là 1.913 ha chiếm 34,06%

- Lượng điện tiêu thụ của hệ thống: Đối với chủ động toàn vụ năm 1997 là

318,54 kwh/ha, bán chủ động là 509,67 kwh/ha, tạo nguồn là 637,08 kwh/ha Vụ

mùa năm 1998 chủ động toàn vụ là 230,50 kwh/ha, bán chủ động là 368,08

kwh/ha, tạo nguồn là 461,0 kwh/ha

Nguyễn Đức Tình [24 ] - hệ thống thuỷ lợi hồ EAKAO, diện tích tưới

thiết kế của hệ thống là 1.900 ha, diện tích thực tưới của hệ thống chỉ đạt

Trang 18

tưới của công trình Kết quả thu thuỷ lợi phí của hệ thống tương đối thấp chỉ đạt

43,9% - 47,4% so với kế hoạch thu Chi phí hàng năm của hệ thống luôn ở mức

cao hơn so với tổng doanh thu, tỷ lệ thu chi ở mức thấp nhất và không ổn định

Năm 2001 tỷ lệ thu chi của hệ thống là 55,6% và năm 2002 là 64,9%

Hoàng Anh Đức [6] - hệ thống tưới kênh Đông (trạm bơm Văn Giang)

Công trình đầu mối của trạm bơm gồm 2 cụm máy bơm Cụm máy bơm kênh

Tây gồm 4 máy, công suất mỗi máy là 250 kw với lưu lượng là 8.100 m3/h, tưới

cho 4.477 ha Cụm máy kênh Đông có 3 máy, công suất mỗi máy là 200 kw với

lưu lượng là 7.000 m3/h, tưới cho 3.290 ha Thời kỳ tưới ải với số giờ bơm là

1.441h, lượng điện tiêu thụ của hệ thống là 223.286 kwh và tổng lượng nước đạt

6.508.632 m3, tưới tự chảy qua trạm bơm di động cấp 2 tổng lượng nước là

2.559.103,08 m3, lượng điện tiêu thụ là 17.654,886 kwh Thời kỳ tưới dưỡng với

thời gian bơm là 1.454h, lượng điện tiêu thụ là 228.155 kwh, tổng lượng nước

cung cấp là 10.936.181 m3 và 4.399.874,80 m3 nước tương ứng với lượng điện

tiêu thụ là 109.996,870 kwh đối với tưới tự chảy qua trạm bơm di động cấp 2

Hàng năm, sau khi xí nghiệp quyết toán thu chi, tổng chi luôn vượt so với tổng

thu do đó Nhà nước vẫn phải bù lỗ Tỷ lệ thu chi của hệ thống chỉ đạt 74,8%

năm 1993 và 77,3% năm 1994

Hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải nằm giữa đồng bằng Sông Hồng có

diện tích tự nhiên 200.230 ha, bao gồm địa giới của 4 tỉnh Hưng Yên, Hải

Dương (thành phố Hải Dương, Bình Giang, Thanh Miện, Cẩm Giàng, Gia Lộc,

Ninh Giang, Tứ Kỳ), Bắc Ninh (Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài), Hà

Nội (Gia Lâm, Long Biên) Hệ thống được bao bọc bởi 4 con sông lớn với

chiều dài chảy qua hệ thống khá dài, Sông Đuống ở phía Bắc (67km), Sông

luộc ở phía Nam (72 km), Sông Thái Bình phía Đông (73 km), Sông Hồng ở

phía Tây (57 km)

Hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải là hệ thống thuỷ nông liên tỉnh lớn ở

Trang 19

chiêm xuân, từ 20 tháng 1 đến 10 tháng 2 nếu mực nước sông Hồng tại cống

Xuân Quan bình quân đạt +1,94 m kết hợp với việc lấy nước trữ sớm từ ngày 05

tháng 1, lấy nước ngược qua Cầu Cất - Cầu Xe - An Thổ, đồng thời nạo vét khơi

thông dòng chảy các kênh dẫn cấp 2 theo thiết kế thì đảm bảo đủ nước phục vụ

sản xuất nông nghiệp Nếu vào tháng 1, tháng 2 mực nước tại Xuân Quan thấp

hơn 1,94 m thì tình hình cung cấp nước gặp khó khăn, cụ thể hạn vụ chiêm xuân

các năm 1998, 2003, 2004 phải lấy nước ngược qua cống Cầu Cất - Cầu Xe - An

Thổ chiếm đến 40 - 50 % tổng lượng nước yêu cầu do mực nước tại Xuân Quan

chỉ đạt +1,54 m Mực nước thấp nhất tại Xuân Quan ngày 30/01/2005 chỉ đạt

+1,26 m, Kênh Cầu +0.86 m, Bá Thuỷ +0,66 m, tại Neo +0,58 m thấp hơn mực

nước trung bình nhiều năm từ 30 - 40cm nên các trạm bơm hoạt động không đạt

hiệu quả Hiện nay do hệ thống kênh mương bị bồi lắng, các trạm bơm bị xuống

cấp nên việc cung cấp nước thường không kịp thời vụ, đặc bệt những năm gần

đây do sự điều tiết của hồ Hoà Bình Năm 2005 và 2006 việc cung cấp nước

cho vụ Đông Xuân gặp rất nhiều khó khăn Theo thống kê diện tích hạn

trong vùng hàng năm khoảng 33.000 - 36.000 ha, tuy toàn bộ diện tích được

gieo cấy nhưng phải kéo dài thời gian gieo cấy, chậm thời vụ nên ảnh hưởng

đến năng suất cây trồng và ảnh hưởng đến các vụ khác

Trang 20

vùng đó là vùng bơm trực tiếp ra sông ngoài 51.800 ha (tiêu ra sông luộc 20.677

ha, tiêu ra sông Đuống 1.500 ha, tiêu ra sông Thái Bình 29.410 ha), vùng tiêu

qua Cầu Xe - An Thổ 140.245 ha trong đó tiêu bằng động lực 77.550 ha, tiêu tự

chảy 62.695 ha Hiện nay do sự biến động và thay đổi của khí tượng thuỷ văn,

sự xuống cấp của công trình, sự hạn chế trong đầu tư và quản lý khai thác, sự

tăng mực nước ở các cửa tiêu Cầu Xe - An Thổ nên một số diện tích bị úng, một

số vùng tiêu tự chảy nay phải tiêu bằng động lực, diện tích úng trong vùng lớn

nhất là năm 2004 với 62.062 ha, năm 2003 là 13.365 ha, năm 2005 là 7.032 ha

Hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải cũng như các hệ thống thuỷ nông khác

của nước ta đã được xây dựng từ nhiều năm trước, hiện nay nhiều công trình đã

xuống cấp, kênh mương bị bồi lắng, các trạm bơm sử dụng đã lâu bị hư hỏng

cần phải nâng cấp, sửa chữa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước

trong tình hình mới

2.3.2 Tài chính trong quản lý thủy nông

Nhìn chung, thủy lợi phí có thể đủ khôi phục chi phí về hoạt động và vận

hành Hầu hết các nước trong những năm gần đây mới tiến hành thu thuỷ lợi phí,

chủ yếu ở vùng thiếu nước Ví dụ, Indonexia đưa ra phí dịch vụ thủy lợi (ISF)

mãi tới năm 1987 để khôi phục chi phí hoạt động và bảo hành những cơ sở hạ

tầng, mặc dù khôi phục tiền vốn cũng dần dần được đưa vào giá tiền nước Ở

Philippin chủ yếu là để cấp cho việc hoạt động và bảo hành các hệ thống thủy

lợi Giá tiền ở mùa khô cao hơn giá tiền vào mùa mưa do lượng nước cấp vào

mùa khô không đủ Tuy nhiên, chỉ có những cánh đồng có năng suất ít nhất là

40 cavan/ha một vụ mới phải trả tiền thủy lợi phí (1 cavan = 50 kg) Những cánh

đồng có năng suất dưới 40 cavan/ha thì được miễn phí Người nông dân có thể

trả thủy lợi phí bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật Việc quy ra tiền mặt là dựa

trên giá hỗ trợ của Chính phủ đối với lúa tại thời điểm trả tiền Giá đối với các

loại cây trồng khác bằng 60% giá của lúa Giá đối với các hệ thống trạm bơm là

Trang 21

thuỷ lợi phí khác nhau

Theo Nghị định 122/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)

ban hành ngày 25/08/1984 về việc thu chi thuỷ lợi phí của các công ty khai thác

công trình thuỷ nông Quy định mức thu thủy lợi phí như sau:

- Tưới, tiêu chủ động phải nộp: 100% mức tính toán

- Tưới, tiêu bán chủ động phải nộp: 80% mức tính toán

- Tưới tạo nguồn phải nộp: 60 - 70% mức tính toán

Hiện nay ở Việt Nam thủy lợi phí vẫn thu theo Nghị định số

143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành

một số điều của pháp lệnh Các chính sách về thủy lợi phí, chính sách hỗ trợ tài

chính, đặc biệt về phát triển tổ chức quản lý thủy nông cơ sở hay các điều kiện

để thực hiện chuyển giao công trình cho tổ chức hợp tác dùng nước quản lý

được quy định trong Nghị định này Một số văn bản pháp lý có liên quan cũng

góp phần khẳng định chủ trương của Nhà nước trong việc phát triển tổ chức

quản lý thủy nông cơ sở và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào công

tác quản lý thủy nông Nghị định của Chính phủ số 29/1998/NĐ-CP ngày

15/11/1998 khẳng định tính dân chủ là cơ sở đảm bảo tính bền vững của tổ chức

quản lý thủy nông cơ sở

Thủy lợi phí gắn liền với quá trình xây dựng công trình từ bước quy

hoạch đến khâu quản lý Định giá thủy lợi phí và thu thủy lợi phí gắn bó chặt

chẽ với tất cả các yếu tố trong quá trình đó

Trong quy hoạch công trình, người ta phải xác định được nhiệm vụ cụ thể

của công trình đó trên cơ sở điều kiện tự nhiên và xã hội Khi mà cả một cộng đồng

những người hưởng lợi đều có nguyện vọng và nhất trí để xây dựng thì vấn đề tài

chính cho xây dựng sẽ thuận lợi hơn (so với tự tổ chức để xây dựng) Mức đóng

góp của người dân sẽ là cao nhất để cùng với Chính phủ xây dựng (ngay ở Nhật chỉ

khi nào có tối thiểu 75% số người hưởng lợi nhất trí thì công trình mới được Nhà

Trang 22

cộng đồng người hưởng lợi sẽ tạo ra cho họ một niềm tin rằng công trình của họ

sẽ bền vững Số tiền Nhà nước và sự đóng góp của họ được đầu tư toàn bộ cho

công trình, và điều quan trọng họ tự thấy mình là chủ thực sự

Trong quá trình quản lý vận hành: Thông thường chỉ đến giai đoạn này

người ta mới nghĩ đến thủy lợi phí Nếu chỉ là định mức được ban bố trên cơ sở

pháp lệnh thì việc thu còn tương đối dễ dàng, nhưng nó sẽ không dễ đối với

vùng miền núi Còn nếu là định mức của cơ sở đặt ra, không có sự tham gia của

người hưởng lợi thì thực sự là khó Tách rời các giai đoạn trên, người hưởng lợi

cảm thấy bị “đòi” nhiều hơn là họ tự nghĩ phải “bỏ ra” hoặc “đóng góp” cho

quản lý vận hành

Mức thu thủy lợi phí giúp các công ty thủy nông hạch toán kinh doanh,

phải đảm bảo đủ đầu tư sửa chữa các công trình phục vụ trong hệ thống Chi phí

của các hệ thống ảnh hưởng lớn đến hoạt động của hệ thống Đặc biệt việc chi

trả tiền điện chiếm tỷ lệ cao trong chi phí của hệ thống

Một trong những nguyên nhân khiến các công trình thuỷ nông hoạt động

chưa hết năng suất là do thiếu kinh phí Thủy lợi phí hiện là nguồn thu chủ yếu

của các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ nông Hàng năm, cả nước thu

được khoảng 500-600 tỷ đồng từ các công trình này, đạt 70-80% kế hoạch Số

tiền này để đầu tư cho công tác quản lý vận hành và duy tu, bảo dưỡng công

trình Song chi phí sửa chữa thường xuyên các công trình thuỷ nông lại chưa

đảm bảo, chỉ đạt 10-15% tổng chi phí hoạt động tưới, tiêu Chi phí tiền điện khá

lớn, chiếm tới 30-50% tổng chi phí Ngành thủy lợi còn "đứng ngồi không yên"

khi giá điện tăng, nhất là theo các phương án tăng tới 20% vào giờ cao điểm

Theo ông Phạm Xuân Sử, cục trưởng Cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và

phát triển nông thôn, để phục vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp thì ngay cả giờ

cao điểm các trạm bơm cũng phải vận hành, do vậy thời gian tới chi phí của

ngành thủy lợi lại đội thêm 20% Gánh nặng này đè lên vai ngành thủy lợi vì chỉ

19% các doanh nghiệp khai thác các công trình thuỷ nông có doanh thu đủ bù

Trang 23

rất khác nhau giữa các vị trí đầu kênh và cuối kênh Trung bình là 206 kg/ha

(3,9 % năng suất lúa trung bình),161 kg/ha (3,4 %) và 98 kg/ha (2,2 %), cho vụ

đông xuân, 123 kg/ha ( 2,8%), 101 kg/ha và 60 kg/ha (1,7%) vụ mùa tương ứng

ở đầu, giữa và cuối kênh Trong khi năng lực thực tế của thống này chỉ đạt trung

bình từ 60 - 75 % [27]

Theo Nguyễn Thế Kỷ - 1994, thống kê nhiều năm ở trạm bơm La Khê -

Hà Tây chi phí tiền điện để bơm nước năm thấp nhất là 35% tổng chi phí, năm

cao nhất là 50% tổng chi phí [12]

Hoàng Anh Đức - 1994, hạch toán kinh doanh ở xí nghiệp Văn Giang cho

thấy tiền điện chiếm 34% tổng chi phí [6] Hoặc hệ thống thuỷ lợi huyện Hoa Lư

- Ninh Bình diện tích tưới thực tế chỉ đạt 70,15%, tiêu đạt 68,31% so với nhiệm

vụ thiết kế và đây là nguyên nhân chính, tổng thu/tổng chi chỉ đạt 62,91%, trong

đó tiền điện chiếm cao nhất tới 67,68% tổng chi phí [4]

Như vậy, hệ thống thủy lợi có vai trò to lớn đối với sản xuất nông nghiệp

và phát triển nông thôn và là một trong những công trình thuộc cơ sở hạ tầng

trọng yếu trong nông nghiệp Ở Việt Nam cũng như các nước trong khu vực,

tình trạng công trình xuống cấp và hoạt động đạt hiệu quả thấp là nguyên nhân

làm cho sử dụng nước lãng phí và cũng là nguyên nhân trực tiếp làm cho nhiều

công trình gặp khó khăn về vấn đề tài chính, không đáp ứng được nhu cầu duy

tu bảo dưỡng để nâng cao hiệu quả hoạt động của công trình Do vậy, vấn đề

quản lý thủy nông không chỉ là kỹ thuật mà còn là vấn đề xã hội, thể chế tổ chức

trong đó nhấn mạnh đến sự tham gia của người dân

Ngoài ra, việc tiếp tục đánh giá thực trạng hoạt động của hệ thống là cần

thiết, để chỉ rõ những tồn tại, từ đó sẽ có cơ sở để giúp hệ thống khắc phục tình

trạng lãng phí nước và dần tiến đến diện tích tưới thực tế sẽ bằng diện tích tưới

thiết kế, điều đó có nghĩa hệ thống sử dụng nước ngày càng hiệu quả

Trang 24

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch

sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến hệ thống

thủy nông

3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.2.1.2 Điều kiện kinh tế

3.2.1.3 Điều kiện xã hội

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2006 và KHSDĐ đến năm 2010

3.2.3 Hiện trạng hệ thống thuỷ nông

3.2.3.1 Phân chia khu vực tưới tiêu trong hệ thống

3.2.3.2 Hiện trạng hệ thống các công trình của hệ thống

3.2.3.3 Tình hình úng hạn và hiệu quả của hệ thống

3.2.3.4 Tình hình tổ chức quản lý hệ thống

3.2.4 Đề xuất phương hướng giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của

hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu

* Số liệu thứ cấp (số liệu đã công bố): Các số liệu đã công bố như đất đai,

dân số, lao động, tình hình sản xuất nông nghiệp, hoạt động hệ thống thủy

nông

Trang 25

động hệ thống như diện tích tưới tiêu, công suất máy, điện năng tiêu thụ, thủy

lợi phí Các số liệu được thu thập từ các phòng ban chức năng, các đơn vị cụm

thông qua phỏng vấn trực tiếp và điều tra quan sát hệ thống

3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu

* Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm như Microsoft excel

để phân tích số liệu, Mapinfo, Microstation để biên tập bản đồ

* Phương pháp so sánh: Các chỉ tiêu số liệu cần thiết sau khi được chọn

lọc và mô tả thống kê sẽ được tiến hành so sánh trong quá trình phân tích

Trang 26

4.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Ninh Giang là huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Hải Dương, cách

trung tâm thành phố Hải Dương khoảng 30 km theo quốc lộ 37A Địa bàn huyện

nằm trong toạ độ địa lý: Từ 21047’ đến 21049’ vĩ độ Bắc và 106016’ đến 106020’

kinh độ Đông Địa giới hành chính của huyện như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Tứ Kỳ và Gia Lộc;

- Phía Tây giáp huyện Thanh Miện;

- Phía Đông giáp huyện Tứ Kỳ và huyện Vĩnh Bảo- Hải Phòng;

- Phía Nam tiếp giáp với tỉnh Thái Bình

Là huyện nằm ở cuối tỉnh Hải Dương nhưng Ninh Giang có hệ thống giao

thông khá thuận lợi như: Đường QL37A nối QL5 với QL10 thông ra QL1; Tỉnh

lộ 20 qua Thanh Miện ra Kẻ Sặt và QL5 Đó là những tuyến giao thông quan

trọng trong giao lưu kinh tế giữa huyện với thành phố Hải Dương, Hải Phòng,

Thái Bình và các địa phương khác trong vùng Về đường thuỷ, huyện có 3 con

sông bao bọc: Sông Luộc, sông Đình Đào và sông Cửu An - là những tuyến giao

thông thuỷ thuận lợi nối huyện với các vùng lân cận

Toàn huyện có 28 đơn vị hành chính (27 xã và 1 thị trấn), thị trấn huyện

lỵ Ninh Giang nằm ở tận cùng phía Nam của huyện, tiếp giáp với Hải Phòng và

Thái Bình

Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 13.540,49 ha, với số dân 150.153

người Mật độ dân số bình quân 1.120 người/km2, là huyệncó mật độ bình quân

cao hơn toàn tỉnh (mật độ trung bình toàn tỉnh là 1.035 người/km2)

Trang 27

Là vùng đồng bằng chiêm trũng, địa hình phức tạp, cao thấp xen kẽ, có

hướng nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, Ninh Giang thuộc vùng có

địa hình thấp của tỉnh Hải Dương Sự chênh lệch địa hình từ +0,6 đến +2,6 m,

nơi thấp nhất +0,3 m so với mực nước biển

Dựa vào đặc điểm địa hình huyện Ninh Giang có sông Cửu An chia đôi

huyện thành hai khu vực: Phía Bắc và phía Nam sông Cửu An, hai khu vực này

còn được gọi là tiểu khu Bình Giang Bắc Thanh Miện và tiểu khu Đông Nam

sông Cửu An Các xã ở phía Bắc huyện có địa hình cao hơn các xã phía Nam

Tuy nhiên địa hình trong đồng cũng đa dạng, cao thấp xen kẽ

4.1.1.3 Khí hậu

Ninh Giang nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu chia làm 4 mùa:

Xuân, Hạ, Thu, Đông Theo số liệu quan trắc nhiều năm của Trung tâm khí

tượng thuỷ văn cho thấy:

- Nhiệt độ trung bình năm 24,920C; Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 6 và

tháng 7, từ 320C đến 350C; Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 là 14,70C, có

ngày xuống tới 6 - 70C Biên độ nhiệt trong ngày nhỏ hơn 100C Lượng bức xạ

mặt trời trung bình là 900 Kcal/cm2 Tổng tích ôn khoảng 85000 - 88000, độ ẩm

trung bình 85%

- Độ ẩm không khí: Trung bình trong năm dao động trong khoảng từ 73%

- 91 %, các tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 2 và tháng 3, thấp nhất vào tháng

6, 7

- Chế độ gió: Tốc độ gió trung bình từ 1,8 - 2,0 m/s Trong vùng thịnh

hành hai hướng gió chính là: Gió Đông nam (tháng 5 đến tháng 10) mang nhiều

hơi nước, thường gây ra mưa lớn Vào khoảng tháng 7, 8 thường xuất hiện

khoảng 2 đến 4 cơn bão, ảnh hưởng xấu đến sản xuất Gió Đông bắc (từ tháng

11 đến tháng 4 năm sau) khô hanh, thường gây ra lạnh đột ngột

Trang 28

Bảng 4.1 Đặc điểm khí hậu huyện Ninh Giang năm 2006

Trang 29

0 50 100 150 200 250 300 350 400

Tháng1 Tháng3 Tháng5 Tháng7 Tháng9 Tháng11 Lượng m ưa (mm ) Lượng bốc hơi (mm )

Biểu đồ 4.1 Diễn biến lượng mưa và lượng bốc hơi 12 tháng năm 2006

- Tổng lượng mưa đo được từ năm 2000 trở lại đây tại trạm đo Ninh

Giang là: 1.594,3 mm (2001); 1.147,5 mm (2002); 1.231,58 mm (2003);

1.414,2 mm (2004); 1.423,9 mm (2005); 1.238,9 mm (2006) Lượng mưa

trung bình hàng năm là 1.227 mm Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đồng

đều giữa các tháng trong năm và thường tập trung đến 80% vào mùa mưa

(tháng 5 đến tháng 10)

Nhìn chung khí hậu của Ninh Giang tương đối thuận lợi cho việc phát

triển sản xuất nông nghiệp, thâm canh, tăng vụ đối với cây trồng hàng năm

Tuy nhiên là một huyện có địa hình thấp, trũng, hạ lưu của các con sông trong

vùng, chịu sự biến động mạnh của bão, dông, lượng mưa tập trung theo mùa

và chịu ảnh hưởng một phần của triều cường Nên thường xảy ra hiện tượng

lũ lụt, úng cục bộ, đòi hỏi phải có biện pháp phòng chống kịp thời, nhất là

trong mùa mưa bão

4.1.1.3 Thuỷ văn, sông ngòi

Toàn huyện có 3 con sông lớn chảy qua: Sông Đình Đào, sông Cửu An ở

Trang 30

- Sông Luộc chảy từ huyện Thanh Miện có chiều dài 18,71 km, chạy

dọc theo ranh giới phía nam huyện với tỉnh Thái Bình

- Sông Cửu An chảy từ huyện Gia Lộc có chiều dài 13,4 km, chia

huyện thành hai vùng đất chính là phía bắc và phía nam sông Cửa An

- Sông Đình Đào chảy từ huyện Gia Lộc có chiều dài 14 km, là ranh

giới tự nhiên phía bắc với Huyện Gia Lộc

- Ngoài các sông chính còn có các sông nhỏ: Phía đông là sông Rùa nối

3 sông Đình Đào, Cửu An tại cống An Cư to, với sông Luộc tại khu vực cống

Sao Sông Dầm nối sông Cửu An và sông Luộc Các ao, hồ, đầm là nguồn bổ

sung và dự trữ nước quan trọng khi mực nước các sông chính xuống thấp, đặc

biệt vào mùa khô hạn Hệ thống sông ngòi trong vùng có nguồn nước dồi dào,

đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của toàn huyện Ngoài ra, thông

qua hệ thống cống lấy nước của các trạm bơm trên sông Luộc, mỗi năm bồi

đắp thêm một lượng phù sa làm cho đất đai khu Đông nam Cửu An thêm màu

mỡ, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

Hệ thống thuỷ văn đã chia địa giới hành chính của huyện ra làm 02 tiểu

khu (Bảng 4.2):

- Tiểu khu Bình Giang bắc Thanh Miện gồm 7 xã, đất có độ dốc theo

hướng từ bắc xuống nam (sông Cửu An) Tổng diện tích lưu vực là 3.452,33

ha và diện tích đất trồng lúa là 1.874 ha, chiếm 13,84 % tổng diện tích tự

nhiên toàn huyện

- Tiểu khu đông nam sông Cửu An: Tiểu khu này có 20 xã và 01 thị

trấn - Ninh Giang, mặt đất dốc dần xuống phía sông Luộc Tổng diện tích lưu

vực là 10.088,16 ha, trong đó có 5.586,96 ha đất trồng lúa, đây là vùng sản

xuất nông nghiệp chính của toàn huyện

Trang 32

Bảng 4.2 Phân vùng lưu vực theo địa hình

STT Tên tiểu khu (xã) Diện tích lưu vực

(ha)

Diện tích đất lúa (ha)

Trang 33

Nhìn chung, Ninh Giang chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn của sông

Đình Đào, sông Cửu An ở phía bắc huyện, Sông Luộc ở phía nam huyện Hệ

thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải (sông đào) lấy nước từ sông Hồng qua cống

Xuân Quan cung cấp nước cho hệ thống thuỷ nông nội đồng của huyện Vào

mùa mưa khi cường độ mưa lớn và tập trung, nước trong đồng và ngoài đê

dâng cao, thời gian duy trì mực nước cao kéo dài, sự tăng mực nước ở các

trục cửa tiêu Cầu Xe, An Thổ, khả năng tiêu úng chậm, đã gây ra ngập úng

cục bộ cho các vùng thấp trũng, gây ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông

nghiệp và đời sống sinh hoạt của người dân

4.1.2 Các nguồn tài nguyên và cảnh quan môi trường

4.1.2.1 Tài nguyên đất

Ninh Giang là huyện đồng bằng phía nam của tỉnh Hải Dương, với tổng

diện tích tự nhiên là 13.540,49 ha; Bao gồm chủ yếu là đất phù sa của hệ thống

sông Hồng và sông Thái Bình Có thể phân ra 3 nhóm đất chính (Bảng 4.3):

Bảng 4.3 Thống kê diện tích đất sản xuất nông nghiệp

theo tính chất phát sinh Tên loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Tổng diện tích sản xuất nông nghiệp 8.056,64

- Đất phù sa được bồi hàng năm, trung tính ít chua 2.068,04

- Đất phù sa không được bồi, trung tính, ít chua 2.151,06

- Đất phù sa không được bồi, chua 1.610,32

Trang 34

3 Đất phù sa không được bồi có glây 2.121,62 26,3

(Nguồn: Phòng tài nguyên và Môi trường huyện Ninh Giang)

Trang 35

a Đất phù sa được bồi hàng năm trung tính, ít chua

Đặc điểm: Giàu dinh dưỡng, hàm lượng mùn và lân tổng số, lân dễ tiêu

từ trung bình đến giàu, pHkcl từ 7,2 - 7,4 Loại đất này nằm ở ngoài đê, thích

hợp cho trồng rau, màu và cây công nghiệp ngắn ngày, chiếm 27% diện tích

đất sản xuất nông nghiệp

b Đất phù sa không được bồi, không glây

Đây là loại đất chính của huyện, chiếm gần một nửa diện tích canh tác

hàng năm Đặc điểm: Nhóm đất này thường phân bố trên chân cao, vàn cao và

vàn Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, hàm lượng mùn từ trung bình

đến khá, lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu khá, pHkcl từ 5,0 - 6,5 Đất này

thường được sử dụng trồng 2 vụ lúa hoặc 2 vụ lúa 1 vụ màu, có khả năng

thâm canh cao, chiếm 46,70% diện tích đất sản xuất nông nghiệp

c Đất phù sa không được bồi, có glây

Đặc điểm: Phân bố chủ yếu địa hình vàn thấp và trũng, khả năng tiêu

nước chậm, thành phần cơ giới thịt nặng, đất chua và nghèo lân dễ tiêu, pHkcl

từ 4,0 -5,0 Đây là loại đất chuyên cấy 2 vụ lúa, cá biệt có một số diện tích chỉ

trồng được 1 vụ lúa xuân, chiếm 26,30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp

4.1.2.2 Tài nguyên nước

Nguồn nước trên địa bàn huyện khá phong phú:

+ Nước mặt: Hệ thống sông ngòi và ao hồ trên địa bàn huyện có khả

năng cung cấp đủ nước cho sản xuất nông nghiệp của huyện Tuy nhiên, do

huyện nằm ở cuối hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải, lại là vùng trũng nhất

tỉnh nên hàng năm thường bị úng ngập cục bộ vào mùa mưa Diện tích mặt

nước ao, hồ, đầm ngoài khả năng cung cấp nước còn có tiềm năng cho phát

triển nuôi trồng thuỷ sản, kể cả những chân ruộng trũng

+ Nước ngầm: Nguồn nước ngầm khá dồi dào, mạch nông, hiện đã

được khai thác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của dân cư và sản xuất công

Trang 36

về trữ lượng cũng như chất lượng nguồn nước

4.1.2.3 Tài nguyên nhân văn, cảnh quan môi trường

Ninh Giang hiện có trên 150 nghìn người sinh sống, mang đậm nét văn

hoá của vùng đồng bằng với nền văn minh lúa nước được hình thành và phát

triển qua nhiều thế kỷ Các di sản văn hoá như Đền Tranh, đền Khúc Thừa Dụ,

chùa Trông đã khắc sâu niềm tự hào dân tộc, khơi dậy tinh thần lao động cần cù

sáng tạo của người dân Những làng nghề truyền thống với nhiều sản phẩm độc

đáo

Về cảnh quan thiên nhiên và môi trường: Huyện có nhiều sông và ao hồ

tự nhiên cũng tạo cho cảnh quan thêm sinh động Tuy nhiên do mật độ dân số

cao, đất đai được khai thác với cường độ mạnh (kể cả cho nông nghiệp và phi

nông nghiệp) nên đã ảnh hưởng xấu đến môi trường

4.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

4.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Ninh Giang là vùng đông dân cư, mật độ dân số cao, nền kinh tế chủ

yếu là nông nghiệp Tổng sản phẩm nội huyện liên tục tăng với tốc độ tăng

trưởng bình quân 7 - 9%/năm Giá trị sản xuất toàn huyện năm 2006 cao gấp

Trang 37

- Công nghiệp % 16,20 17,55 22,40

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ninh Giang)

Trang 38

Ninh Giang là một huyện thuần nông nên tốc độ chuyển dịch còn rất

chậm Nhìn chung kinh tế nông nghiệp đã giảm dần tỷ trọng trong thu nhập

nội huyện (59,1% năm 2000 xuống 53,2% năm 2003 và 46,2% năm 2006),

dịch vụ tăng dần (24,7% năm 2000 lên 31,4% vào năm 2006), tuy nhiên sự

chuyển dịch cơ cấu của lĩnh vực công nghiệp còn rất chậm và chưa ổn định

(16,2% năm 2000, 17,55 % năm 2003 và năm 2006 là 22,4%)

4.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

4.2.2.1 Nông nghiệp, thuỷ sản

a Trồng trọt

Năm 2006 diện tích đất trồng cây hàng năm toàn huyện có 7.611,93 ha

Tổng diện tích gieo trồng đạt 17.351 ha, trong đó diện tích lúa là 14.469 ha,

cây lương thực khác là 592 ha, diện tích cây rau màu vụ đông xuân và vụ hè

thu là 2.290 ha Hệ số sử dụng đất đạt 2,3 lần

Năng suất lúa bình quân vụ chiêm xuân đạt 66,2 tạ/ha, vụ mùa đạt 52,8

tạ/ha Tổng sản lượng thóc đạt 86.103 tấn, bình quân lương thực đầu người

đạt 588 kg/năm

Rau màu thực phẩm phát triển mạnh với các cây trồng chính là: Ngô,

khoai lang, đậu tương, ớt, dưa chuột, đậu đỗ, bí đỏ, bí xanh, dưa lê và các rau

màu khác Cây vụ đông cho thu nhập khá cao, bình quân đạt 19,5 triệu đồng/ha

Cây lâu năm phát triển tương đối mạnh với các loại cây ăn quả, cây

cảnh, kết hợp trồng cây hàng hoá: Diện tích trồng cây ăn quả là 887 ha gồm

nhãn, vải, chuối ; Các mô hình trồng hoa, cây cảnh đang phát triển mạnh ở

các xã: Hiệp Lực, Hồng Dụ, Đồng Tâm, Văn Giang Cải tạo vườn tạp trong

khu dân cư, trồng tre lấy măng, chắn sóng ven đê và quy hoạch chuyển đổi cơ

cấu từ các chân ruộng trũng cấy lúa hiệu quả thấp sang nuôi trồng thuỷ sản

với diện tích 600 ha Giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp đạt bình quân

Trang 39

34 triệu đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 4,6 triệu đồng/năm

b Chăn nuôi và thuỷ sản

Ngành chăn nuôi trong những năm qua đã mở rộng việc áp dụng một số

thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là việc phát huy ưu thế giống lai và

thức ăn chăn nuôi Cơ cấu đàn gia súc, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản năm

2006 thể hiện như sau:

Bảng 4.5 Kết quả sản xuất chăn nuôi và thuỷ sản năm 2006

(Nguồn: Số liệu thống kê phòng Nông nghiệp và PTNT)

+ Đàn trâu bò: Đang được chuyển hướng sang nuôi thịt Theo thống kê

năm 2006 trong toàn huyện có 7.558 con với sản lượng thịt xuất chuồng là

165,50 tấn

+ Đàn lợn: Đang được chuyển hướng sang mô hình nuôi tập trung (trang

trại) Năm 2006 có 73.236 con với sản lượng thịt xuất chuồng là 5.509 tấn

+ Đàn gia cầm: Trong những năm qua đàn gia cầm bị bệnh dịch tấn

công nhiều Theo thống kê năm 2006 tổng số đàn gia cầm có 664.217 con với

sản lượng thịt xuất chuồng là 1.248 tấn

Trang 40

tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2006 là 886,97 ha Sản lượng đạt 2.940 tấn

Cơ cấu giá trị ngành nông nghiệp đang có sự chuyển hướng trong

những năm qua: Tăng cơ cấu giá trị ngành chăn nuôi từ 18,6 % năm 2000 lên

29,4 % năm 2006, giảm cơ cấu giá trị ngành trồng trọt từ 76,4 % năm 2000

xuống 64,3% năm 2006 Ngành dịch vụ nông nghiệp tăng không ổn định

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ninh Giang 2000- 2006)

4.2.2.2 Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản

a Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Ngành này chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng thu nhập nội huyện,

nhưng đã phát triển tương đối nhanh trong thời gian qua Trên địa bàn huyện

chủ yếu là công nghiệp ngoài quốc doanh Nhịp độ tăng trưởng CN-TTCN

giai đoạn 2000 - 2006 bình quân đạt 11 %/năm

Toàn huyện các cơ sở tham gia sản xuất CN-TTCN bao gồm doanh

nghiệp tư nhân, hợp tác xã và hộ gia đình, thu hút hàng vạn lao động Đặc biệt

là các ngành nghề ở nông thôn đã góp phần đáng kể giải quyết công ăn việc

làm cho lực lượng lao động dư thừa và nông nhàn, tăng thu nhập cho kinh tế

hộ

Một số ngành nghề đã và đang phát triển mạnh như: Nghề mộc dân

dụng ở Kiến Quốc; Nghề thêu ren ở Ứng Hoè, Quyết Thắng; Nghề đan lát

Ngày đăng: 21/03/2013, 14:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Bá Chính (1999), Quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài nguyên nước
Tác giả: Nguyễn Bá Chính
Năm: 1999
2. Trần Phương Diễm (2000), “Những tác động của cơ chế, chính sách tới việc quản lý, khai thác hệ thống công trình thuỷ lợi”, Tạp chí của viện thuỷ lợi năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những tác động của cơ chế, chính sách tới việc quản lý, khai thác hệ thống công trình thuỷ lợi”
Tác giả: Trần Phương Diễm
Năm: 2000
3. Nguyễn Văn Dung (2000), “Nghiên cứu lượng nước cần và nhu cầu nước tưới cho cây trồng thuộc hệ thống tưới La Khê - Hà Tây vùng đồng bằng sông Hồng”, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, trang 80 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lượng nước cần và nhu cầu nước tưới cho cây trồng thuộc hệ thống tưới La Khê - Hà Tây vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Văn Dung
Năm: 2000
4. Nguyễn Văn Dung (2005), “Đánh giá hiện trạng hoạt động phục vụ sản xuất nông nghiệp của hệ thống thuỷ lợi huyện Hoa Lư-Ninh Bình”, Tạp chí Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, số 19/2005, trang 54, 55, 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng hoạt động phục vụ sản xuất nông nghiệp của hệ thống thuỷ lợi huyện Hoa Lư-Ninh Bình”
Tác giả: Nguyễn Văn Dung
Năm: 2005
5. Phạm Ngọc Dũng, Nguyễn Đức Quý, Nguyễn Văn Dung (2005), Giáo trình quản lý nguồn nước, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nguồn nước
Tác giả: Phạm Ngọc Dũng, Nguyễn Đức Quý, Nguyễn Văn Dung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
6. Hoàng Anh Đức (1994), Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý và sử dụng nước tưới cho lúa trong vụ xuân 1994 của hệ thống tưới kênh Đông - trạm bơm Văn Giang, Luận văn thạc sĩ, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý và sử dụng nước tưới cho lúa trong vụ xuân 1994 của hệ thống tưới kênh Đông - trạm bơm Văn Giang
Tác giả: Hoàng Anh Đức
Năm: 1994
7. FAO (1992), Tổ chức, khai thác, bảo dưỡng hệ thống tưới, Tập san của FAO (Vũ Ngọc Quỳnh dịch), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức, khai thác, bảo dưỡng hệ thống tưới
Tác giả: FAO
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1992
8. UBND huyện Ninh Giang (2006), Báo cáo tổng hợp Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối 2006 - 2010, Ninh Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối 2006 - 2010
Tác giả: UBND huyện Ninh Giang
Năm: 2006
9. UBND huyện Ninh Giang (2001), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ninh Giang thời kỳ 2001 - 2010, Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ninh Giang thời kỳ 2001 - 2010
Tác giả: UBND huyện Ninh Giang
Năm: 2001
10. Nguyễn Trọng Hà (2001), Các biện pháp thủy lợi cải tạo đất, Bài giảng cao học, Đại học thủy lợi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp thủy lợi cải tạo đất
Tác giả: Nguyễn Trọng Hà
Năm: 2001
11. Phan Khánh (1997), Sơ thảo lịch sử thủy lợi Việt Nam 1945 - 1995, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo lịch sử thủy lợi Việt Nam 1945 - 1995
Tác giả: Phan Khánh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
12. Nguyễn Thế Kỷ (1994), “Báo cáo tình hình hoạt động của hệ thống thuỷ nông La Khê”, Công ty thuỷ nông La khê, tháng 2/1994, trang 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình hoạt động của hệ thống thuỷ nông La Khê
Tác giả: Nguyễn Thế Kỷ
Năm: 1994
13. Đoàn Thế Lợi (2004), Quản lý thuỷ nông trong nền kinh tế thị trường, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý thuỷ nông trong nền kinh tế thị trường
Tác giả: Đoàn Thế Lợi
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
14. Tủ Sách khuyến nông phục vụ người lao động (2006), Quản lý và sử dụng nước trong nông nghiệp. NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và sử dụng nước trong nông nghiệp
Tác giả: Tủ Sách khuyến nông phục vụ người lao động
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2006
15. Viện Nghiên cứu khoa học thủy lợi - Bộ Thủy lợi (1985), Một số kết quả nghiên cứu về thủy nông, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu về thủy nông
Tác giả: Viện Nghiên cứu khoa học thủy lợi - Bộ Thủy lợi
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1985
16. Viện khoa học thuỷ lợi, Tuyển tập kết quả khoa học và công nghệ 1994 - 1999, (tập 2), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập kết quả khoa học và công nghệ 1994 - 1999, (tập 2)
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
17. Nguyễn Quang Mãi (2005), Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý hệ thống tưới và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của các hệ thống tưới tỉnh Hòa bình, Luận văn thạc sĩ, Đại học Thủy lợi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý hệ thống tưới và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của các hệ thống tưới tỉnh Hòa bình
Tác giả: Nguyễn Quang Mãi
Năm: 2005
18. Nguyễn Thanh Ngà (1990), Kết quả nghiên cứu sơ đồ mầu tưới tiêu trên các vùng đất khác nhau ở Bắc bộ, Viện Nghiên cứu khoa học Thủy lợi, Bộ Thủy lợi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu sơ đồ mầu tưới tiêu trên các vùng đất khác nhau ở Bắc bộ
Tác giả: Nguyễn Thanh Ngà
Năm: 1990
19. Lê Văn Nghị (2004), Nghiên cứu phân cấp quản lý công trình thủy nông ở thành phố Hải Phòng, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân cấp quản lý công trình thủy nông ở thành phố Hải Phòng
Tác giả: Lê Văn Nghị
Năm: 2004
20. Viện Quy hoạch và thiết kế Nông nghiệp (2003), Báo cáo ra soát quy hoạch nông - lâm nghiệp và thủy lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông - lâm nghiệp tỉnh Nam Định đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo ra soát quy hoạch nông - lâm nghiệp và thủy lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông - lâm nghiệp tỉnh Nam Định đến năm 2010
Tác giả: Viện Quy hoạch và thiết kế Nông nghiệp
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Thực tế khai thác và thiết kế về tưới của các hệ thống thuỷ nông phục - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 2.2. Thực tế khai thác và thiết kế về tưới của các hệ thống thuỷ nông phục (Trang 16)
Bảng 4.1. Đặc điểm khí hậu huyện Ninh Giang năm 2006 - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.1. Đặc điểm khí hậu huyện Ninh Giang năm 2006 (Trang 28)
Bảng 4.2. Phân vùng lưu vực theo địa hình  STT  Tên tiểu khu (xã)  Diện tích lưu vực - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.2. Phân vùng lưu vực theo địa hình STT Tên tiểu khu (xã) Diện tích lưu vực (Trang 32)
Bảng 4.4. Chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế huyện Ninh Giang. - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.4. Chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế huyện Ninh Giang (Trang 36)
Bảng 4.5. Kết quả sản xuất chăn nuôi và thuỷ sản năm 2006 - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.5. Kết quả sản xuất chăn nuôi và thuỷ sản năm 2006 (Trang 39)
Bảng 4.6. Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2006 - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.6. Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2006 (Trang 40)
Bảng 4.7. Dân số trung bình huyện Ninh Giang giai đoạn 2000 - 2006 - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.7. Dân số trung bình huyện Ninh Giang giai đoạn 2000 - 2006 (Trang 44)
Bảng 4.8. Phân bố lao động trong các ngành kinh tế  Chỉ tiêu - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.8. Phân bố lao động trong các ngành kinh tế Chỉ tiêu (Trang 44)
Bảng 4.9. Hiện trạng sử dụng 3 nhóm đất chính - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.9. Hiện trạng sử dụng 3 nhóm đất chính (Trang 45)
Bảng 4.11. Mực nước thiết kế tiêu trên các trục sông chính - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.11. Mực nước thiết kế tiêu trên các trục sông chính (Trang 51)
Bảng 4.12. Phân chia khu vực tưới - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.12. Phân chia khu vực tưới (Trang 56)
Bảng 4.13. Phân chia khu vực tiêu theo cụm sản xuất - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.13. Phân chia khu vực tiêu theo cụm sản xuất (Trang 61)
Bảng 4.14. Phân chia lưu vực tiêu theo hệ thống công trình đầu mối  TT  Tên lưu vực trạm bơm  Diện - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.14. Phân chia lưu vực tiêu theo hệ thống công trình đầu mối TT Tên lưu vực trạm bơm Diện (Trang 62)
Bảng 4.15. Hiện trạng các trạm bơm Nhà nước chuyên tưới - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.15. Hiện trạng các trạm bơm Nhà nước chuyên tưới (Trang 63)
Bảng 4.16. Hiện trạng các trạm bơm Nhà nước chuyên tiêu - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.16. Hiện trạng các trạm bơm Nhà nước chuyên tiêu (Trang 64)
Bảng 4.17. Hiện trạng các trạm bơm Nhà nước, tưới tiêu kết hợp - Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống thủy nông phục vụ kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bảng 4.17. Hiện trạng các trạm bơm Nhà nước, tưới tiêu kết hợp (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w