1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thương mại điện tử trong doanh nghiệp việt nam

43 324 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thương mại điện tử trong doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả Đặng Văn Giang
Người hướng dẫn GS.TS Hoàng Đức Thân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế và Thương mại
Thể loại Đề án môn học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 178,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bước đầu tiến tới. Việt Nam tuy cơ sở hạ tầng TMĐT chưa hình thành hoàn thiện, xong cũng với xu hướng hội nhập, chúng ta là thành viên của các tổ chức ASEAN, APEC, WTO. Việt Nam đã đưa và áp dụng TMĐT. TMĐT mang lại lợi ích tiềm tàng giúp người tham gia thu được những thông tin phong phú về kinh tế văn hóa –xã hội cũng như thông tin về thị trường, đối tác trong doanh nghiệp, làm giảm chi phí, mở rộng phạm vi hoạt động, quy mô của doanh nghệp và đặc biệt với các nước đang phát triển thì đây là cơ hội tạo bước nhảy vọt rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Khoa thương mại và kinh tế quốc tế

Đề án môn học.

Đề tài: Thương mại điện tử trong doạnh nghiệp Việt Nam.

Giáo viên hướng dẫn : GS.TS Hoàng Đức Thân

Hà nội - 2009

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, Thương mại điện tử ( TMĐT ) ra đời là kết quả hợp thành của nền “kinh tế số hóa” và xã hội thông tin TMĐT bao trùm một phạm vi rất lớn các hoạt động về kinh tế xã hội, nó mang đến lơi ích tiền năng và đồng thời là cả thách thức lớn đối với người sử dụng.

TMĐT đang phát triển nhanh chóng trên bình diện toàn cầu, Tuy nhiên hiện nay TMĐT chủ yếu áp dụng ở các nước công nghệ phát triển

và các nước đang phát triển cũng đang dần dần bước đầu tiến tới.

Việt Nam tuy cơ sở hạ tầng TMĐT chưa hình thành hoàn thiện, xong cũng với xu hướng hội nhập, chúng ta là thành viên của các tổ chức ASEAN, APEC, WTO Việt Nam đã đưa và áp dụng TMĐT.

TMĐT mang lại lợi ích tiềm tàng giúp người tham gia thu được những thông tin phong phú về kinh tế -văn hóa –xã hội cũng như thông tin về thị trường, đối tác trong doanh nghiệp, làm giảm chi phí, mở rộng phạm vi hoạt động, quy mô của doanh nghệp và đặc biệt với các nước đang phát triển thì đây là cơ hội tạo bước nhảy vọt rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển.

Nhận thức được vai trò của TMĐT trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước ngay cả trong điều kiện thực tế ở Việt Nam môi trường cho TMĐT chưa hình thành ngay cả việc nhận thức về TMĐT còn sơ sài trong quần chúng Xong Việt nam đang bắt đầu xây dựng các quy định chung để hình thành chiến lược TMĐT và tiếp sức xây dựng, phát triển, thực hiện chiến lược đó để thúc đẩy phát triển TMĐT ở Việt Nam.

Với vai trò quan trọng của TMĐT đối với đất nước để có thể phát triển đất nước sanh ngang cùng với đất nước phát triển thì các doanh

Trang 3

nghiệp Việt Nam cần phải áp dụng công nghệ thông tin vào kinh doanh

để nắm bắt thông tin thị trường trong và ngoài nước có thể mở rộng thị trường đẩy mạnh nền kinh tế của đất nước.

Trang 4

Chương 1: Cơ sở lý luận về TM ĐT trong doanh nghiệp Việt Nam

1.1/ khái quát về TMĐT.

1.1.1/ Khái niệm TMĐT

TMĐT –“Electrolic Commerce”, một số yếu tố hợp thành của nền kinh tế số hóa,

là hình thái hoạt động thương mại bằng các phương pháp điện tử, là việc trao đổi thôngtin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử, mà nói chung là khôngcần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch (nên còn gọi là

“thương mại không có giấy tờ”)

“Thông tin” trong khái niệm trên được hiểu là bất cứ gì có thể truyền tải bằng kĩthuật điện tử, bao gồm các thư từ, các tệp văn bản, các cơ sở dữ liệu, các bản tính, bản

vẽ thiết kế bằng máy tính điện tử, các hình đồ họa, quảng cáo,…

“Thương mại” –“Commerce” được hiểu là mọi vấn đề nảy sinh ra từ mọi mốiquan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng

Các mối quan hệ mang tính chất thương mại bao gồm bất cứ giao dịch thươngmại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ thỏa thuận phân phối, đạidiện hoặc đại lý thương mại, ứng thác hoa hồng, tư vấn, xây dưng công trình…

Như vậy, phạm vi của TMĐT rất rộng bao quát hầu như mọi hình thái hoạt độngkinh tế

1.1.2/ Cơ sở phát triển TMĐT ở Việt Nam.

Việt nam tham gia vào nền kinh tế thị trường muộn hơn so với nhiều nước trongkhu vực và quốc tế nên mọi hoạt động đều chậm chạp trong đó có hoạt động về kinh tế,giáo dục…

Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX thì máy tính điện tử mới được mọi ngườibiết đến nhưng vẫn ở trạng thái dè dặt và cũng chỉ được ứng dụng trong một sốngành,một số tổ chức nhà nước nhưng còn rất hạn chế Và nhiều năm sau đó,đến năm

1995 kế hoạch tin học hóa và ứng dụng công nghệ thông tin mới bắt đầu trong các tổ

Trang 5

chức doanh nghiệp và giáo dục Và ngày 19/11/1997 là ngày đầu tiên đánh dấu sự hoạtđộng của Internet tai Việt Nam.

Nếu cuối năm 2003 số người truy cập Internet ở Việt Nam là khoảng 3,2 triệungười, đến cuối năm 2004 con số này đã tăng lên gần gấp đôi, tức khoảng 6,2 triệungười, sáu tháng sau đó, con số này đã lên đến hơn 10 triệu, dự đoán đến cuối năm

2005, số người Việt Nam truy cập Internet có thể lên đến 13 đến 15 triệu người, chiếm

tỷ lệ 16% - 18% dân số cả nước Những thống kê này cho thấy một tín hiệu lạc quan về

sự phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 -2010

Theo thống kê của Vụ Thương mại điện tử thuộc Bộ Thương mại, đến cuối năm

2004, Việt Nam đã có khoảng 17.500 website của các doanh nghiệp, trong đó số tênmiền vn (như com.vn, net.vn, ) đã tăng từ 2.300 (năm 2002) lên 5.510 (năm 2003)

và 9.037 (năm 2004)

Năm 2003, 2004 là năm các website sàn giao dịch B2B (marketplace), cácwebsite rao vặt, các siêu thị trực tuyến B2C đua nhau ra đời Tuy nhiên, các websitenày vẫn còn phát triển hạn chế, chưa có website nào thực sự phát triển đột phá vì nhiềunguyên do Những mặt hàng được bán phổ biến trên mạng tại Việt Nam hiện nay gồm:hàng điện tử, kỹ thuật số, sản phẩm thông tin (sách điện tử, CD, VCD, nhạc ), thiệp,hoa, quà tặng, hàng thủ công mỹ nghệ Các dịch vụ ứng dụng Thương mại điện tử nhiềunhư: du lịch, tư vấn, CNTT, dịch vụ thông tin

Các doanh nghiệp cũng đã quan tâm nhiều hơn về việc lập website để giới thiệuthông tin, hỗ trợ marketing, bán hàng qua mạng Bảng sau minh họa kết quả khảo sátcủa Vụ Thương mại điện tử về quan điểm của doanh nghiệp về tác dụng của websiteđối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.3/ Vai trò của TMĐT ở doanh nghiệp.

Hiện nay TMĐT đang được nhiều quốc gia quan tâm,coi là một trong nhữngđộng lực để phát triển kinh tế:

TMĐT trước hết giúp doanh nghiệp có thể truy cập thông tin nhanh, va phongphú về thông tin thị trường, nhờ đó mà doanh nghiệp xây dựng được các chiên lược sản

Trang 6

xuất kinh doanh, và thị trường quốc tế Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanhnghiệp vừa và nhỏ - động lực phát triển chủ yếu trong các nền kinh tế hiện nay.

TMĐT giúp giảm chi phí sản xuất tại các văn phòng,các văn phòng không cógiấy tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm, chuyển giao tài liệu giảmnhiều lần

TMĐT giúp giảm thấp chi phí bán hàng, chi phí tiếp thị Bằng Internet/web, mộtnhân viên bán hàng có thể giao dịch có thể giao dịch được nhiều khách hàng Đồng thờicòn giúp người tiêu dùng và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giaodịch Thời gian giao dịch qua Internet/web chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax,bằng khoảng 0,5% giao dịch qua bưu điện Chi phí giao dịch qua Internet/web chỉ bằng5% chi phí giao dịch qua Fax hay bưu điện chuyển phát nhanh, và chi phí thanh toánđiện tử qua Internet/web chỉ bằng 10%-20% chi phí theo thanh toán thông tường Tronghai yếu tố cắt giảm này thì yếu tố về thời gian là đáng kể hơn, vì việc nắm bắt thông tinthị trường, hàng hóa tới người tiêu dùng có ý nghĩa sống còn trong thị trường kinhdoanh

TMĐT tạo điều kiện thiết lập mối quan hệ giữa các nhân tố tham gia vào quátrình thương mại Thông qua mạng, các đối tượng tham gia có thể giao tiếp va giao dịchtrực tiếp và liên tục với nhau nhờ đó sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hànhnhanh chóng và liên tục.Tạo điều kiện tìm kiếm bạn hàng mới, cơ hội kinh doanh mớitrên bình diện toàn quốc và khu vực thế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn

Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế số hóa: TMĐT kích thích sự phát triển củangành công nghệ thông tin là ngành có lợi nhuận cao nhất và đóng vai trò ngày càng tolớn trong nền kinh tế Lợi ích này có một ý nghĩa quan trọng đối với các nước đangphát triển: nếu không nhanh chóng tiếp cận vào nền kinh tế số hóa thi sau khoảng mộtthập kỷ nữa các nước đang phát triển có thể bị bỏ rơi hoàn toàn

1.2/ Hoạt động TMĐT trong doanh nghiệp.

1.2.1/ Các hình thức TMĐT ở Việt Nam

- Thư tín điện tử:

Trang 7

Các đối tác( người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) sử dụng hòmthư điện tử để gửi thư cho nhau một cách trực tuyến thông qua mạng , gọi là thư tínđiện tử -“Electronic mail, còn gọi là e-mail) Đây là một thứ thông tin dưới dạng “phicấu trúc”, nghĩa là thông tin không phải tuân thủ một cấu trúc đã thỏa thuận.

- Thanh toán điện tử:

Thanh toán điện tử -“Electronic Payment” la việc thanh toán tiền thông quathông điệp điện tử -“Electronic Message” thay cho việc trao tay tiền mặt, việc trả lươngbằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻtín dụng v.v đã quen thuộc lâu nay thực chất đều là các dạng thanh toán điện tử

Trao dữ liệu điện tử tài chính –“Financial Electronic Data Interchange, gọi tắt làFEDI” chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhaubằng điện tử

Tiền mặt Internet –“Internet cash” là tiền mặt được mua từ một nơi pháthành( ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng) sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồngtiền khác thông qua Internet, áp dụng trong phạm vi cả nước cũng như giữa các quốcgia Tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hóa, vì thế tiền mặt còn có tên gọi là

“tiền mặt số hóa” –“Digital cash” Công nghệ đặc thù chuyên phục vụ mục đích này cótên gọi là “mã hóa khóa công khai/bí mật” –“Public/Private key Cryptography” Tiềnmặt Internet được người mua hàng mua bằng đồng nội tệ rồi dùng Internet để chuyểncho người bán hàng

Túi tiền điện tử -“Smart card, còn goi la thẻ thông minh” nhìn bề ngoài tương tựnhư thẻ tín dụng, nhưng mặt sau của thẻ thay vì cho dải từ, lại là một chip máy tính điện

tử có một bộ nhớ nhỏ để lưu chữ tiền số hóa Tiền ấy chỉ được chi trả khi người sử dụng

và thông điệp được xác nhận là đúng

Giao dịch ngân hàng số hóa –“Digital Banking”, và giao dịch chứng khoán sốhóa –“Digital securities trading” Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một đại

hệ thống, gồm nhiều tiểu hệ thống:

Trang 8

+ Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng (qua điện thoại, các điểm bánlẻ,các ki-ốt, giao dịch cá nhân tại nhà,tại trụ sở khách hàng,qua mạng Internet,chuyểntiền điện tử,thẻ tín dụng ).

+ Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lí thang toán (nhà hàng, siêu thị)+ Thanh toán trong nội bộ một hệ thống ngân hàng

+ Thanh toán giữa các hệ thống ngân hàng này với ngân hàng khác

- Trao đổi dữ liệu điện tử:

Trao đổi dữ liệu điện tử -“Electronic Data Interchange, gọi tắt là EDI” là việc trao đổicác dữ liệu dưới dạng “ có cấu trúc” từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tửkhác, giữa các công ty hay tổ chức đã thỏa thuận buôn bán với nhau theo cách này mộtcách tự động mà không cần có sự can thiệp của con người

EDI này ngày càng được sử dụng rộng rãi trên bình diện toàn cầu, chủ yếu phục

vụ cho mua và phân phối hàng, nhưng cũng dùng cho cả các mục đích khác nữa nhưthang toán khám bệnh, trao đổi kết quả xét nghiệp v.v EDI chủ yếu được thực hiệnthông qua các mạng ngoài bộ( Extranet) và “thương mại võng mạc” –“Net –commerce” Cũng có cả hình thức “EDI hỗn hợp” –“Hybrid EDI” dùng cho trường hợpchỉ có một bên đối tác dùng EDI, còn bên kia vẫn dùng các phương pháp thông thườngnhư Fax, thư tin qua bưu điện

- Thương mại điện tử qua biên giới “Cross –border electronic commerce” về bản chấtchính là sự trao đổi dữ liệu điện tử giữa các doanh nghiệp mà được thực hiện giữa cácđối tác ở các quốc gia khác nhau, với các nội dung:

Trang 9

phải có từ trước một dàn xếp pháp lý trên nền tảng thống nhất về tự do hóa thương mại

và tự do hóa việc sử dụng Internet Chỉ như vậy mới đảm bảo được tính khả thi,tính antoàn,và tính có hiệu quả của trao đổi dữ liệu điện tử -“EDI”

- Giao gửi số hóa của các dung liệu:

Dung liệu –“content” là các hàng hóa mà người ta cần đến nội dung của nó(chính nội dung là hàng hóa) Các ý kiến tư vấn,vé máy bay, vé xem fim, xen hát, hợpđồng bảo hiểm v.v cũng được đưa vào danh mục các dung liệu

Trước đây dung liệu được trao đổi dưới dạng hiện vật bằng cách đưa vào băngđĩa, in thành sách báo v.v để người sử dụng đến mua hoặc nhận trực tiếp Ngày nay,dung liệu được số hóa và truyền gửi theo mạng, gọi là “giao gửi số hóa” –“DigitalDelivery” Ở Mỹ hiện nay 96% dân số dùng Internet/web để thu thập thông tin

1.2.2/ Nội dung hoạt động TMĐT ở doanh nghiệp.

Như chúng ta đã biết, thế giới đang trải qua một thời kỳ chuyển đổi mạnh mẽ màtheo cách gọi của nhiều nhà kinh tế,nghiên cứu trong nước và quốc tế thì đó là thời kỳquá độ của một nền “kinh tế cũ” thàng một nền “kinh tế mới” Trong nền kinh tế đó thìTMĐT đóng một vai trò là một bộ phận cấu thành hết sức quan trọng Sự phát triển đilên một nền kinh tế trí thức là một đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế, nếu như không muốntụt hậu so với các nước trên thế giới

Nhận thức được rõ điều này thi nhà nước và các doanh nghiệp trong nước đã tiếnhành va từng bươc đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng TMĐT Thương mại điện tửchỉ có thể phát triển khi và chỉ khi các yếu tố nền tảng thiết yếu như hạ tầng công nghệthông tin,hạ tầng pháp lý thì doanh nghiệp cần phải có những bước đầu chuẩn bịđồng thời luôn luôn nắm bắt thông tin của thế giới về những ứng dụng, công nghệ mới

để áp dụng thử nghiệm đưa vào thực tiễn Bởi vì tận dụng cơ hội “đi tắt, đón đầu” thìkinh doanh mới phát triển cao nhất

Đồng thời các doanh nghiệp cận nguồn nhân lực về công nghệ thông tin tốt và cóchất lượng,cần phải được bồi dưỡng, tiếp thu công nghệ mới của thế giới Cần thiết lập

Trang 10

mạng lưới Internet/web để các doanh nghiệp cũng như chính khách hàng và người tiêudùng có thể nắm bắt rõ thông tin và học hỏi kinh nghiệm.

1.2.3/ Yêu cầu TMĐT ở doanh nghiệp

- Hạ tầng cơ sở công nghệ:

Chỉ có thể tiến hành thực tế và một cách có hiệu quả thì TMĐT khi đã có một hạtầng cơ sở thông tin công nghệ đủ năng lực gồm nhánh là: Tính toán và truyền thôngngoài ra cần phải có ngành điện lực đủ mạnh Hiện nay đang có xu hướng đưa cả côngnghệ bảo mật và an toàn vào cơ sở hạ tầng công nghệ của TMĐT Đòi hỏi về cơ sở hạtầng công nghệ gồm hai mặt: một là tính tiên tiến, hiện đại về công nghệ và thiêt bị; hai

- Bảo mật an toàn:

Giao dịch TMĐT ở dạng số hóa đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về tính bảo mật, antoàn, tránh mất tiền, thông tin,dữ liệu là các rủi ro ngày càng một lớn, không chỉ vớingười buôn bán và cả với người quản lý,vơi các quốc gia Chính vì thế mà cần đòi hỏiphải có hệ thống bảo mật, an toàn được thiêt kế trên cơ sở kỹ thuật số hóa hiện đại, vàmột cơ chế an ninh hiệu quả

- Môi trường kinh tế pháp lý:

TMĐT chỉ được tiến hàng khi tính pháp lý của nó được thừa nhận và có cơ quanxác nhận chứng thực chữ ký điện tử, ngoài ra còn đòi hỏi các doanh nghiệp hàng hóa và

Trang 11

lao vụ đã dược mã hóa thống nhất,một hệ thống thuế thích hợp để xử lý cá dung liệu vàdịch vụ mua bán trên mạng Đòi hỏi phải có một môi trường kinh thế đã tiêu chuẩn hóacao.

- Tác động văn hóa xã hội:

Internet/web là công cụ giao tiếp hữu hiệu, nó góp phần chuyền tải thông tinnhanh nhất và tìm hiểu nhanh gọn các thông tin văn hóa xã hội cũng như kinh tế củacác nước trên thế giới, nhưng đồng thời nó cũng là công cụ để cho các thành phần xấuhoạt động như: buôn bán ma túy, bán dâm, hàng lậu và cho bọn phản động dễ xâmnhập vào dân chúng

- Hệ thống thanh toán tự động:

Đòi hỏi phải có hệ thống thanh toán tài chính ở mức độ phát triển cao, cho phéptiến hành nhưng thanh toán tự động Khi chưa có hình thức thanh toán này thì TMĐTchỉ mới giới hạn trong việc trao đổi thông tin, còn việc thanh toán hàng hóa thì vẫn phảigiao dịch trực tiếp hoặc theo các cách truyền thống Cách này làm cho hiệu quảthấp,mất nhiều chi phí cũng như thời gian

- Bảo vệ sở hữu trí tuệ:

Tài sản của con người,của quốc gia đang dần dần quy về “tài sản chất xám”,thông tin sẽ trở thành tài sản và bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ trở thành bảo vệ sở hữu trítuệ Vì thế trong việc truyền gửi các dung liệu qua mạng nổi lên vấn đề bảo vệ chất xám

và bản quyền của các thông tin ở các khía cạnh phức tạp hơn nhiều so với bảo vệ trí tuệtrong kinh tế vật thể

- Bảo vệ người tiêu dùng:

Đây là mục tiêu ngày càng đề cao trong thương mại Quy cách, phẩm chất hànghóa, các thông tin có liên quan trong TMĐT đều ở dạng số hóa, nên người mua chịu rủi

do lớn so với giao giao dịch thương mại vật thể Vì người mua không thể nếm thử hay

Trang 12

dùng thử hàng hóa trước khi mua, và còn khả năng nhầm lẫn các cơ sở dữ liệu, bị lừagạt bởi các thông tin và tổ chức phi pháp có mặt trên mạng

Đòi hỏi phải có một trung gian đảm bảo chất lượng mà hoạt động hữu hiệu và íttốn kém

Cơ chế bảo đảm chất lượng đặc biệt có ý nghĩa với các nước đang phát triển, nơi

mà dân chúng cho tới nay vẫn còn tập quán tiếp xúc trực tiếp với hàng hóa và điều quantrọng họ chưa thực sự hiểu sâu sắc về TMĐT

- Lệ thuộc công nghệ:

Mỹ đang khống chế toàn bộ công nghệ thông tin quốc tế cả phần cứng và phầnmềm, chuẩn công nghệ internet là chuẩn của Mỹ, các phần mềm tầm cỡ chủ yếu là của

Mỹ, nước Mỹ đi đầu trong kinh tế số hóa và TMĐT

Một khi thương mại được số hóa thì toàn thế giới trên thực tế sẽ nằm trong tầmkhống chế công nghệ của Mỹ Mỹ sẽ giữ vai trò người bán thông tin cho toàn thế giới,với công nghệ được đổi mới từng ngày và thuần túy với “ nền kinh tế ảo”, “ kinh tế trithức” các nước khác tiếp tục sản xuất “của cải vật chất” phục vụ cho Mỹ

Hơn nữa Mỹ và các nước tiên tiến gần Mỹ còn biết hết thông tin của cá nướcthấp hơn

Đòi hỏi, ngay từ bây giờ các nước có chiến lược cụ thể với tình hình nước mình,

sự du nhập nó là không thể tránh được bởi nó còn là cơ hội, nhưng nếu chỉ là bị bứcbách mà tham gia hay chỉ tham gia vì các lợi ích kinh tế vật thể cụ thể thì không đủ, màphải có một chiến lược thích hợp để khỏi trở thành quốc gia thứ cấp về công nghệ

1.3/ Kinh nghiệm thế giới về phát triển TMĐT ở doanh nghiệp.

1.3.1/ kinh nghiệm thế giới.

Với sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật truyền thông hiện đại hoạt độngthương mại trên Internet hiện nay đang dành được sự quan tâm của mọi người trên toànthế giới TMĐT là xu hướng mới của thế kỷ 21

Trang 13

Theo số liệu thống kê của hãng nghiên cứu thị trường quốc tế IDC (Internationaldate Corporation) thì giao dịch TMĐT trên toàn cầu tăng từ 0,3 tỷ USD trong năm 1995đến năm 1999 là 39,9 tỷ USD và sang năm 2000 tăng 200 tỷ USD Từ đây cho thây tốc

độ tăng trưởng của TMĐT của nước ngoài là rât lớn

Có sự đầu tư về cơ sở vật chất cũng như pháp lý để TMĐT dễ dành phat triển.Đồng thời chi phí nắp đặt và dịch vụ cũng rẻ rât nhiều so với nước ta Có chính sáchđầu tư hợp lý giúp mọi người hiểu rõ và nắm bắt nhanh về công nghệ thông tin cũngnhư TMĐT

Các hoạt động buôn bán của các nước phát triển chủ yếu là trên các trangInternet/web, nhờ đó họ tối ưu hóa về thời gian cung như chi phí đi lại, giao dịch

1.3.2/ Bài học rút ra cho Việt Nam

Qua trên thì ta có thể hiểu được tầm quan trọng to lớn của TMĐT đối với nềnkinh tế và sự phát triển của đất nước ta Chính vì thế chúng ta cần phải có ngay nhữngchính sách để đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin va TMĐT

Cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất nhằm giới thiệu và hướng dẫn mọi ngườicùng quan tâm chú trong đến công nghệ thông tin bởi nó sẽ là nhân tố quan trọng trongviệc phát triển con người cũng như toàn xã hội

Mở nhiều khoa tin học trong các trường đại học để sinh viên có thể nắm bắtđược thông tin, kỹ thuật về TMĐT

Đưa các chuyên gia sang các nước ngoài để tiếp thu học hỏi công nghệ thông tintiên tiến của thế giới Đồng thời liên kết với nước ngoài để đào tạo ngay tại trong nước

để giảm chi phí

Đầu tư và tạo điều kiện cho việc phát triển, tự nghiên cứu phần mền khoa họccông nghệ và có những thử nghiệm khoa học

Trang 14

Chương 2: Thực trạng TMĐT trong doanh nghiệp Việt Nam.

2.1/ Thực trạng TMĐT ở Việt Nam.

2.1.1/ Cơ sở hạ tầng vật chất cho TMĐT Việt Nam.

Thứ nhất: Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin cho TMĐT.

- Công nghệ tính toán

Ở Việt Nam thì máy tính đầu tiên được sử dụng vào năm 1968 do Liên xô lắpđặt tại Hà Nội, năm 1970 thì phía trong nam sử dụng máy tính của Mỹ Cuối năm 1970thì Việt Nam có khoảng 40 dàn máy tính vạn năng thuộc dòng Minsk và ES ở Hà Nội,

và IBM 360 ở thành phố Hồ Chí Minh Năm 1980 thì Việt Nam nhập khẩu máy tính

Từ năm 1995 bắt đầu triển khai chương trình quốc gia về công nghệ thông tin,lượng máy tính nhập khẩu tăng vọt với tốc độ 50%/năm Tới năm 2002 thì máy vi tínhnhập vào Việt Nam có 600.000 chiếc, ngoài ra còn có một số máy tính có tính thế hệloại mới và khoảng 400 máy mini

Máy tính cá nhân lắp ráp trong nước đang phát triển nhanh chóng và theo ướctính chiếm khoảng 75% thị phần, năm 1998 thì khối lượng sản xuất khoảng 80.000 –100.000 máy/năm Doanh số đạt được là 65 triệu USD Và theo thống kê năm 2008 thìViệt Nam xuất xưởng là 297,2 triệu chiếc, từ đây cho thấy việc đầu tư và phát triểncông nghệ thông tin ở Việt Nam tăng nhanh

Tại nhiều cơ quan và doanh nghiệp, dữ liệu có cấu trúc đã được quản lý bằngnhiều hệ thống quản trị dữ kiệu khác nhau ( Dbase, Fox, Access ) cũng đã sử dụngmột số phần mềm nhóm như: MS Office, teammoric, Lotus Notes Đang xây dựng 6 cơ

sở dữ liệu quốc gia tầm cỡ lớn phục vụ mục tiêu tin học quản lý nhà nước

Một số mạng máy tính (LAN, Internet) chạy trên các nền khác nhau (NovellNetuare UNIX, Linux, Windown NT, ) đã được triển khai như: mạng của văn phòng,Chính phủ, mạng của bộ quốc phòng, mạng bộ tài chính, bộ thương mại,

Trang 15

Cường độ sử dụng máy tính còn thấp, hầu như nhiều cơ quan xí nghiệp máy tínhđược sử dụng như một máy tính là chính.

Trang bị công nghệ thông tin máy tính mất cân đối lớn, phần cứng chiếm tới80% tổng chi phí mà phần mềm chưa được đẩy cao nhiều lắm

Công nghiệp phần mềm ở nước ta chủ yếu là phát triển dịch vụ cài đặt và hướngdẫn sử dụng, sản phẩm phần mềm chủ yếu là các chương trình văn bản tiếng Việt, giáodục, văn hóa, thống kê, kế toán, Các công ty trong nước mới chỉ đạt 10% phần mềm

và thị phần

- Công nghệ truyền thông:

Ngành truyền thông Việt Nam những năn gần đây đã tăng 70%/năm Các thiết bịthông tin tự động điều khiển tiên tiến đã áp dụng trong ngành địa chính ( công nghệđịnh vị toàn cầu GPS: Global Positioning System), ngành hàng không

Nhờ mạng nội bộ và mạng quốc gia Bộ tài chính có thể nhận được thông tinhàng ngày từ các điểm thu thuế trong 61 tỉnh và thành phố, Tổng cục hải quan thu đượcthông tin hàng ngày về hoạt động xuất nhập khẩu từ 131 cơ sở

Hãng hàng không co trên 30.000 máy liên kết phòng vé,sân máy bay, kho hàng.Tuy vậy tính tin cậy của dịch vụ truyền thông còn thấp, và chi phí còn rất cao sovới mức sống bình quân của dân, nên tính phổ cập còn thấp chủ yếu phát triển ở thànhphố lớn còn vùng xa vẫn kém phát triển và cơ sở đầu tư

- Ngành điện lực:

Là nền tảng của cả ngành tính toán và truyền thông lại đang gặp khó khăn.Những năm gần đây tiêu thụ điện trên toàn quốc tăng khoảng 15%/năm, nhưng nước tahay gặp hạn hán do vậy thiếu điện nghiêm trọng Năm 1998 sản xuất 60 triệu Kwh/ngàythiếu hụt 200 triệu Kwh, năm 1999 thiếu 400 triệu Kwh và sau 10 năm thì tổng côngsuất điện năng chỉ tăng 8.000 MW Như vậy từ suốt 1996 đến nay cả nước mới chỉ đạttổng công suất đạt của toàn hệ thống là 12.200 MW và công suất khả dụng chỉ khoảng

Trang 16

10.200 MW ( năm 1996 tổng công suất là 4.435 MW) nhr vậy trong vòng 10 năm nữathì điện năng Việt Nam mới chỉ tăng được có 8.000 MW.

Thứ hai: hạ tầng cơ sở nhân lực cho TMĐT.

- Chuyên gia công nghệ thông tin:

Cho tới năm 1980 thì nước ta chưa có khoa tin học trong các trường đại học,cũng chưa có hệ thống đào tạo chuyên gia cho các ngành này Người làm tin học trước

đó chủ yếu là chuyển từ nhà toán học chuyển sang và do một số nhà học tin học ở nướcngoài

Từ năm 1980 thì một số trường đại học đã mở khoa tin học và có đào tạo chuyênsâu Cùng với đào tạo trong nước thì Nhà nước có gửi các bộ sang nước ngoài học hỏikinh nghiệm

Lực lượng chuyên gia công nghệ thông tin của nước ta được phân thành:

+ Các chuyên gia có kiến thức cao, được đào tạo nước ngoài Hiện nay số này cókhoảng 40.000 người

+ Các cán bộ được đào tạo từ khoa tin học của các trường đại học Theo đánh giátrình độ của các sinh viên ở đây khá cao, và để tiếp thu thực tế, mỗi năm ra trường trên1.000 người

+ Một lực lượng đông đảo thanh niên học thêm các trung tâm tin học, số nàychiếm khá đông

+ Đội ngũ Việt kiều tin học, có khoảng 50.000 người Đây là lực lượng giỏi,nhiều người có trình độ cao, còn một số là chuyên gia đầu đàn của các tổ chức tin họcthế giới

Thứ ba: hạ tầng cơ sở pháp lý cho TMĐT.

Nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu,80% dân số làm nông nghiệp, công nghiệpchiếm thấp và chi phí dịch vụ còn cao

Năm 1998 kim ngạch xuất khẩu đạt 11 tỷ USD, hàng xuất khẩu chủ yếu lànguyên liệu thô và hàng công nghiệp ở mức chế biến thấp Chỉ riêng bốn mặt hàng dầu

Trang 17

thô, gạo, hải sản, và cà phê chiếm 40% kim ngạch xuất khẩu, dệt và may mặc chiếm20% hàng chế biến và hàng chưa tới 25% kim ngạch xuất khẩu.

Hoạt động buôn bán hàng hóa dịch vụ của nước ta, mức độ giao dịch thấp, cả ởtrong nước và ngoài nước Về buôn bán đối ngoại, tuy có trao đổi hàng hóa trên 100quốc gia và khu vực nhưng vẫn chủ yếu là bạn hàng truyền thống Mạng lưới bạn hàngtrong và ngoài nước của các công ty và doanh nghiệp là rất hẹp, đa số doanh nghiệpthiếu thông tin về thị trường hàng hóa, bạn hàng nên kinh doanh bị hạn chế

Thứ tư: Hạ tầng cơ sở chính trị,xã hội cho TMĐT.

Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa –một hệ thống đối lập với tư bản chủnghĩa Các nước thù địch tìm mọi cách chống phá nước ta Về mặt chính trị,Internet/web đã là một phương tiện tuyệt vời cho bọn phản loạn hoạt động, và thâmnhập vào Đòi hỏi Nhà nước có những biện pháp thích hợp, đưa ra những chính sáchchỉ đạo,quản lý để đấu tranh đánh bại âm mưu của bọn thù địch

Ngoài ra, còn phải đề phòng phim ảnh không lành mạnh, các nối sống thựcdụng, bạo lực qua các Internet/web

Về mặt xã hội, người Việt Nam chưa xây dựng được tác phong “làm việc đồngđội” ở tầm toàn xã hội và tầm quốc tế, chưa có lối sống theo pháp luật chặt chẽ, chưa cóthói quen “công nghiệp” và tiêu chuẩn hóa Đều là những yếu tố cản đường tiến tới

“kinh tế số hóa” và TMĐT

Tóm lại, từ 4 hạ tầng cơ sở trên cho thấy, môi trường điển hình cho “kinh tế sốhóa” nói chung và TMĐT nói riêng chưa hình thành đầy đủ ở Việt Nam, đòi hỏi ngaybây giờ phải có kế hoạch chuẩn bị kĩ càng, không được chậm và cũng không nên quánóng vội

2.1.2/ Cơ sở phương hướng cho TM ĐT ở Việt Nam.

Hiện nay, xét về tất cả các mặt, môi trường cho TMĐT đúng nghĩa chưa hìnhthành ở Việt Nam Nhưng trong khi đó, với tư cách thành viên APEC, ASEAN và

Trang 18

WTO, Việt Nam đã có cá cam kết tham gia Tình huống đó cho thấy Việt nam “ khôngthể sớm cũng không thể muộn” triển khai theo hướng TMĐT.

Không thể sớm có nghĩa là: Để có thẻ thực hiện tham gia một cách có hiệu quả,đóng góp thực tế vào việc nâng cao hiệu quả của hoạt động thương mại, vào việc côngnghiệp hóa hiện đại hóa ( mà không phải chỉ tham gia một cách “phô diễn”), cần sớmbắt tay vào xây dựng hạ tầng cơ sở cho TMĐT, bao gồm: trước hết là hạ tầng cơ sởpháp lý, tiếp đó là hạ tầng kinh tế chuẩn hóa, song song với đó là phát triển và nâng cao

hạ tầng cơ sở thông tin ( tính toán và viễn thông) sao cho cập cách về cả hai mặt : trình

độ công nghệ và tính phổ cập ( đông đảo doanh nghiệp và dân chúng có thể có điềukiện phương tiện thiết bị và phương tiện tiền bạc để truy cập vào mạng thông tin toànquốc và quốc tế); hạ tầng nhân lực TMĐT ( đông đảo doanh nghiệp và dân chúng có đủnăng lực kĩ thuật để làm việc trên mạng thông tin)

Không thể muộn nghĩa là: Ngay bây giờ đã phải nhận thức đầy đủ về tính tất yếu

và mức độ tác động của “ kinh tế số hóa” nói chung và “ TMĐT nói riêng”, tiếp đó triểnkhai xây dựng một chiến lược quốc gia về hình thành nền “ kinh tế số hóa” và nền “TMĐT” ở Việt nam làm định hướng chỉ đạo lâu dài, sau đó thiết lập một chương trìnhhành động trước mắt phù hợp với tình hình thực tế ở Việt nam và các thỏa thuận màViệt Nam đã cam kết Trên cơ sở đó, triển khai nhanh việc phổ cập, đào tạo, thửnghiệm, v v Trong hai nhánh hoạt động trên đây, nên coi trọng nhánh chuẩn bị môitrường lâu dài, tránh sa vào các hoạt động “ phô diễn” ít hiệu quả, mà có thể đưa lại cáchiệu quả không mong muốn

Để làm việc trên, nên thành lập ngay một “ đầu mối quốc gia” về “ kinh tế sốhóa” và “ TMĐT” Một hội động quốc gia về “TMĐT” gồm đại diện của nhiều Bộ,ngành và giới có liên quan là một tổ chức cần có để hội tụ được kiến thức và sự nhìnnhận về nhiều góc cạnh Vì hội đồng là một tổ chức mang tính tư vắn là chủ yếu, nêntheo kinh nghiệm các nước, sẽ cần tới một ủy ban quốc gia có chức năng và quyền hạn

ra quyết định, chỉ đạo và xử lý giải quyết Hội đồng và ủy ban sẽ là đầu mối vạch chiếnlược cũng như chương trình hành động trước mắt, đồng thời chỉ đạo thực hiện chiếnlược và chương trình đó; tránh các xu hướng thiếu toàn diện hoặc cho là chưa thể làm

Trang 19

gì với TMĐT Hoặc ngược lại, tiến hành một cách vội vã, nặng “ phô diễn”, không thuđươch kết quả mong muốn và đẻ lại hậu quả khó khắc phục sau này, nhất là các hệ quả

an ninh trên bối cảnh của công cuộc vùa xây dựng vừa bảo vệ tổ quốc trong thời kì sauchiến tranh lạnh

Trong khi vạch chiến lược “ kinh tế số hóa” và “ TMĐT”, cũng như lập chươngtrình hành động và các phương án tham gia TMĐT, Hội đồng quốc gia và Ủy ban quốcgia về TMĐT sẽ tham khảo chiến lược và chương trình đã có của các nước, đặc biệt làcác nước có trình độ phát triển gần với Việt nam, và tính tới các đặc thù quốc gia để cócách đi và bước đi thích hợp

Trong khi thực hiện các bước mang tính cơ bản ấy, vẫn có thể cần nhanh chóngtriển khai các công việc có thể tiến hành như: Truy cập kiến thức, đào tạo, thử nghiệmv.v, và có quan điểm nhất quán trong việc tham gia và các hoạt động liên quan tớiTMĐT trong khuôn khổ ASEAN, Cộng đồng Pháp ngữ, APEC, WTO

2.2/ Phân tích thực trạng TMĐT trong các doanh nghiệp Việt Nam

2.2.1/ Thực trạng chung về TMĐT trong các doanh nghiệp Việt Nam

Có thể nói rằng việc ứng dụng vào TMĐT vào Việt Nam hiện nay mới chỉ làmang tính khởi đầu Có thể kể đến một số doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vưc nàylà: Siêu thị ảo Cybermall do trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng (VASC) cộng tác vớicông ty Thiên Phát thiết lập và đi vào hoạt động từ tháng 12/1998 Trên siêu thị có hơn

500 mặt hàng của nhiều nhà cung cấp khác nhau từ ôtô tới hàng điện tử, các hàng giadụng, mỹ phẩm, lương thực –thực phẩm Các mặt hàng phân loại và người mua có thểtìm kiếm một cách dễ dàng bằng công cụ tìm kiếm “Search” có sẵn trên đó Các mặthàng và tỉ giá hay giá cả được cập nhập thường xuyên Sau sự ra đời của Cybermall thihàng loạt siêu thị điện tử khác được thành lập và xuất hiện, trong đó đáng chú ý là siêuthị máy tính Bluesky của công ty Nhật Quang, cửa hàng bách hóa Bookstore củaXunhahaba và thế giới sách của Fuhasa TP HCM Các công ty chuyên kinh doanhTMĐT cũng được thành lập như Vietnamthink.com.vn; B2Vn.com.vn,

Trang 20

Trong điều kiện kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, không phải bất cứ doanhnghiệp nào cũng tham gia TMĐT cũng thu được thành công, mà chỉ những doanhnghiệp thuộc lĩnh vực sau đây mới có triển vọng phát triển:

- Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet

- Các doanh nghiệp kinh doanh về dịch vụ và du lịch

- Các doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp có nhu cầu tìm thông tin nhanh, kịpthời về thị trường thế giới

- Các doanh nghiệp kinh doanh các dịc vụ sản phẩm công nghệ cao như: Điện tử viễnthông, tin học, tư vấn, thị trường giá cả

Chính vì vậy mà trong những năm gần đây, những trang web phổ biến phục vụ cho việc cung cấp thông tin kinh doanh và cơ hội giao lưu cả trong nước thuộc các lĩnh vực trên Có thể kể tên các trang web: www.fpt.com.vn;

www.mekongresearch.com.vn; www.dantri.com.vn; www.nhadat.com.vn;

www.muaban.com.vn; www.raovat.com.vn; www.google.com.vn;

Vào ngày 23/4/2003 một bước khởi đầu quan trọng đánh dấu những hứa hẹn chophát triển TMĐT ở Việt Nam là sự ra đời của sàn giao dịch TMĐT đầu tiên có địa chỉtrang web: www.vnemart.com.vn Sàn giao dịch này đóng vai trò là trung tâm thươngmại triển lãm văn hóa du lịch của các doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhậpkinh tế quốc tế, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh ngiệp và tăng cườnghàng xuất khẩu Sàn giao dịch này còn là địa chỉ đáng tin cậy cung cấp thông tin chodoanh nghiệp; tư vấn thị trường, sản phẩm, tìm kiếm đối tác kinh doanh cũng như thôngtin về pháp luật chính sách thương mại quốc tế và Việt Nam với thời gian nhanh nhất vàtiết kiệm chi phí nhất

Tuy nhiên, số doanh nghiệp như vậy là rất ít, nhìn chung sự tham gia còn mangtính chất tự phát và cầm chừng, chưa thực sự phát triển Theo kết quả điều tra sơ bộ do

Bộ thương mại thực hiên mới đây với 6000 doanh nghiệp trên cả nước thì chỉ cókhoảng 7% số doanh nghiệp đã ứng dụng một số khâu của TMĐT, khoảng 3% có ýđịnh ứng dụng TMĐT ở mức độ khác nhau, và 90% số doanh nghiệp còn lại hiểu biết

mơ hồ hoặc khong hiểu biết gì về TMĐT

Trang 21

Theo số liệu của Ngân hàng Công thương Việt nam ( incombank) thì cả nướchiện nay mới chỉ có khoảng 3000 doanh nghiệp có trang Web riêng, 8% bắt đầu nghiêncứu việc sử dụng mạng internet, 90% vẫn đứng ngoài cuộc.Trong những giao dịchTMĐT mạng tính thử nghiệm 33,1% số doang nghiệp tham gia là doanh nghiệp vừa vànhỏ, 54,9% chưa thành công, 58% gặp khó khăn về thiết bị, 37% thiếu nguồn nhânlực

Còn theo kết quả điều tra do Quỹ phát triển Chương trình Mêkông (MPDF) tiếnhành ở 100 doanh nghiệp vừa và nhỏ có sử dụng mạng Internet thì 48% số doanhnghiệp chỉ để gửi và nhân thư điện tử, 33% không dùng để hỗ trợ cho công việc kinhdoanh và 50% chỉ khoảng 4 người biết gửi và nhận thư điện tử

Đánh giá một cách tổng quát, có thể chia các doanh nghiệp Việt nam thành 3nhóm chính dưới đây:

Nhóm 1: Có tới 90% số doanh nghiệp chưa hề biết và không quan tâm tớiTMĐT , không hiểu biết nội dung, lợi ích và xu thế phát triển tất yếu của nó và chorằng ở Việt nam hoàn toàn chưa có điều kiện để áp dụng TMĐT , rằng đó là việc củacác doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và chưa tin vào khảnăng áp dụng TM ĐT của bản thân mình

Nhóm 2: Có khoảng 3% số doanh nghiệp bắt đầu quan tâm đến TMĐT Cácdoanh nghiệp thuộc nhóm này có biết nhưng chưa hiểu rõ nội dung, lợi ích và xu hướngphát triển, vì vậy còn băn khoăn, e ngại về năng lực ứng dụng TMĐT với các lý dokhác nhau Một số doanh nghiệp bước đầu kết nối với mạng Internet, có trang Web nhưmang tính phong trào, chưa xây dựng kế hoạch tham gia TMĐT

Nhóm 3: Nhóm này chiếm khoảng 7% số doanh nghiệp, bao gồm các doanhnghiệp đã nhận thức vai trò và xu thế phát triển tất yếu của TMĐT trên toàn thế giới vàViệt Nam, đã có ý thức chủ động đầu tư xây dựng và triển khai kế hoạch ứng dụngTMĐT

Ngày đăng: 07/08/2014, 13:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w