- Hiệu quả thẩm mỹ thống nhất và hài hoà dễ đạt được nếu trong bản thân một công trình hoặc một quần thể công trình kiến trúc có thành phần chủ yếu và thứ yếu.. Cân bằng, ổn định, tỷ lệ
Trang 2G i á o t r ì n h m ô n L ý t h u y ế t K i ế n T r ú c
2.3 Chủ yếu, thứ yếu – vai trò chính và phụ
- Hiệu quả thẩm mỹ thống nhất và hài hoà dễ đạt được nếu trong bản thân một công trình hoặc một quần thể công trình kiến trúc có thành phần chủ yếu và thứ yếu
Vậy, muốn lựa chọn một phần nào, một yếu tố nào của kiến trúc để làm vai trò chủ yếu (điểm chính) của toàn bộ tác phẩm kiến trúc, phải:
- Tập trung nghiên cứu về khối, hình, chi tiết, biểu đạt ý đồ chủ đạo vào phần chủ yếu (chính), còn các bộ phận khác là phần thứ yếu (phụ) phải phụ thuộc, hổ trợ vào phần chủ yếu để làm nền tôn phần chủ đạo
- Lựa chọn vị trí của yếu tố chủ yếu (chinh): nó phải thực sự phải là điểm nhấn, lôi cuốn mọi người từ các hướng, các góc nhìn; phần thứ yếu không che khuất phần chủ yếu hoặc làm sai lệch ý đồ chủ đạo
- Xác định được hình khối, đường nét điển hình nhất, cô đọng nhất, biểu tượng được đặc điểm, tính cách của toàn bộ tác phẩm kiến trúc
Trang 4G i á o t r ì n h m ô n L ý t h u y ế t K i ế n T r ú c
2.4 Trọng điểm
Trong một quần thể công trình kiến trúc hoặc một công trình kiến trúc, để tăng tính đa dạng và biến hoá của công trình, người ta thường nhấn mạnh ở một số khu vực, một số điểm, một số bộ phận công trình:
- Những vị trí, khu vực, thành phần kiến trúc thích ứng cần được nhấn mạnh: + Khu vực lối vào chính, sảnh vào cầu thang trung tâm, những không gian có chức năng trang trọng…
+ Những điểm quan sát thấy rõ khi người quan sát dừng lại, những chổ có hình khối đột xuất, những vị trí chuyển tiếp của hình khối
- Trong một số trường hợp, có thể một công trình kiến trúc có một trọng điểm chính và một số trọng điểm phụ
- Trọng điểm của một công trình kiến trúc có thể được tổ chức, bố trí như sau:
- Dùng hiệu quả của sự tương phản (khối, diện, màu sắc)
- Dùng trang trí, điêu khắc
- Dùng các đường nét hình học, ánh sáng để hướng dẫn đường tầm mắt về phía khu vực trọng điểm
Trang 52.5 Liên hệ và phân cách:
Sự liên hệ và phân cách ở đây đạt được tính hợp lý trên hai cơ sở:
- Mối liên hệ nội tại giữa các bộ phận với nhau phù hợp với quy luật thẩm mỹ
- Mối liên hệ giữa một bộ phận với tổng thể
Nội dung việc xử lý liên hệ và phân cách bao gồm:
- Liên hệ và phân cách của không gian hình khối
- Liên hệ và phân cách của tổ hợp mặt đứng và cấu kiện kiến trúc
3 Cân bằng, ổn định, tỷ lệ và tỷ xích:
3.1 Quy luật cân bằng và ổn định
Trong tác phẩm kiến trúc, cân bằng và ổn định thể hiện trên mặt bằng, mặt đứng và hình khối thông qua mối liên hệ nội tại giữa các thành phần của công trình, giữa công trình với môi trường xung quanh
Sự cân bằng và ổn định gắn bó mật thiết với khái niệm đối xứng, phi đối xứng
và phản đối xứng;
Trong kiến trúc đối xứng là sự lặp đi lặp lại các thành phần giống nhau qua một trục (đối với đối xứng trục) hoặc qua một tâm (đối xứng qua tâm) Đây là quy luật thường được dùng trong tổ hợp, bố cục và sắp xếp các hình khối không gian của công trình
Cân bằng và ổn định trong kiến trúc thể hiện ớ các điểm sau:
* Đối xứng hoàn toàn (cân bằng đối xứng)
Các bộ phận trong một công trình hoặc các công trình trong tổng thể quy hoạch được bố cục đối xứng qua một hay nhiều trục đối xứng trên mặt bằng – hình khối mặt đứng Đối xứng hoàn toàn gây cảm giác trang nghiêm, hoành tráng thường áp dụng trong kiến trúc cổ như đình, chùa, nhà thờ, trong kiến trúc mới như trụ sở chính quyền cơ quan pháp luật, nhà quốc hội, trụ sở các cơ quan, các tượng đài quảng trường
Trang 6G i á o t r ì n h m ô n L ý t h u y ế t K i ế n T r ú c
Trong đối xứng có sự xuất hiện của trục đối xứng, có thể là thẳng, cong hay gãy khúc và các trục này nhấn mạnh, các thành phần chủ yếu, định hướng tầm nhìn và điều kiện lưu tuyến
* Phi đối xứng ( cân bằng không đối xứng)
Trong trường hợp này người ta dễ nhận ra sự cân bằng vẫn đạt được khi ta đạt được khi ta dời trục (hoặc tâm), không đối xứng đến vị trí cân bằng của một tổ hợp
Trong kiến trúc, thường thấy đối với các mặt bằng, mặt đứng, hình khối có thể không đối xứng, nhưng cảm giác cân bằng và hài hoà vẫn đạt được đó là người thiết kế đã tổ chức đối xứng ảo, chia các thành phần công trình có sự cân bằng
về diện tích, hình khối… Thủ pháp này đòi hỏi sự nhạy cảm, linh cảm của người thiết kế kiến trúc
Thủ pháp phi đối xứng phù hợp với công trình có chức năng phức tạp, có một
tổ chức công trình có thể thích ứng tốt với các nhu cầu sử dụng, mang lại sắc thái vui tươi nhẹ nhàng, phóng khoáng, hấp dẫn và gây nên sự đột biến trong
bố cục
Trang 7Thủ pháp này thường sử dụng cho các công trình kiến trúc mới như nhà văn hoá, khách sạn và các công trình công cộng khác
Việc lựa chọn công trình kiến trúc theo loại đối xứng hay phi đối xứng phụ thuộc vào:
+ Đặc điểm, tính chất của công trình
- Yêu cầu của quy hoạch khu vực xây dựng
- Điều kiện địa hình, địa mạo khu đất
- Dây chuyền, công năng và không gian sử dụng
- Hướng nhìn, góc nhìn của công trình
Trang 8G i á o t r ì n h m ô n L ý t h u y ế t K i ế n T r ú c
Trang 9* Phản xứng
- Là các thành phần đối xứng trên vật thể, nhưng có một số chi tiết, hoặc bộ phận bị bẻ gãy đi Phương pháp này phá bỏ sự đơn điệu trong phương pháp đối xứng hoàn toàn, tránh sự đơn điệu, nhàm chán, tạo ra sự hứng khởi Sự cân bằng tĩnh
- Một trong những kiến trúc sư thường sử dụng thủ pháp này là Louis Kahn Các công trình của ông thoạt nhìn có vẻ như đối xứng, nhưng thức sự có sự biến đối đi ở một vài bộ phận, ví dụ như nhà Quốc hội Pakistan
* Ổn định
- Khái niệm ổn định gắn liền với sự cân bằng, điều này có nghĩa công trình phải phù hợp với các quy luật trọng lượng, không tạo cảm giác chông chênh, hoang mang cho người xem
- Để đạt được sự ổn định cho các công trình phải tuân thủ các quy luật của tự nhiên như trên nhỏ, dưới to, trên nhẹ, dưới nặng… như hình thức kỳ vĩ của các kim tự tháp Ai Cập Tuy vậy, trong kiến trúc hiện đại vẫn có thể tạo cảm giác
ổn định và thăng bằng như những thành tựu của khoa học trong việc sử dụng
bê tông cốt thép Ví dụ: Phương án bảo tang Caracas của Oscar Nimeyer, toà nhà này không mâu thuẫn gì với cảm giác ổn định của một vật tồn tại trong thiên nhiên, nó như một cái cây có cái gốc vững chải tỏa tán trong trong không trung
- Việc nhấn mạnh “tính trọng”, “tính thể khối”: Còn có thể thấy được chủ nghĩa thô mộc phát triển ở Anh, Mỹ vào những năm 1950
Trang 10G i á o t r ì n h m ô n L ý t h u y ế t K i ế n T r ú c
Trang 113.2 Quy luật về tỷ lệ, tỷ xích và hệ thống Modulor:
Quy luật tỷ lệ, tỷ xích:
Là một trong những quy luật quan trọng để đạt đến hiệu quả thống nhất và hoàn chỉnh, biến hoá và hài hoà
Tỷ lệ trong toán học là sự so sánh giữa các đại lượng:
a/b = c/d
Tỷ lệ kiến trúc là phạm trù không thể để đo hoặc quy ước bằng con số của toán học mà là tương quan so sánh – thiên về cảm xúc - giữa các bộ phận kiến trúc với nhau, từ tổng thể đến chi tiết của công trình, mối quan hệ về lượng giữa các
bộ phận của công trình, hoặc giữa công trình với không gian xung quanh Mối tương quan đó cho ta một cảm giác, đó là cảm giác tỷ lệ, khiến ta cảm nhận tương quan đó là đẹp hay xấu
Trong kiến trúc thường dùng hai hệ thống tỷ lệ là:
+ Tỷ lệ số học
+ Tỷ lệ hình học
Tỷ lệ số học: là tỷ lệ dựa trên mối tương quan giữa các đại lượng, cón được gọi
là tỷ lệ modulor
Ví dụ: Tỷ lệ đó tìm thấy trên các thức cột Hy Lạp và La Mã
Tỷ lệ hình học: là tỷ lệ dựa trên mối tương quan vô tỷ giữa các đại lượng
Ví dụ: Tỷ lệ 3,4,5 còn được gọi là tam giác thần thánh
Trong tỷ lệ hình học ta còn có tỷ lệ đồng dạng, đó là tỷ lệ giữa các bộ phận của công trình có các hình đồng dạng với nhau
Trường hợp tỷ lệ này là một trường hợp khá đặc biệt trong kiến trúc tỷ lệ này còn được gọi là tỷ lệ lý tưởng, đó là tỷ lệ của một hình chữ nhật mà các cạnh quan hệ với nhau theo tỷ số:
a/b = b/a+b
Trang 12G i á o t r ì n h m ô n L ý t h u y ế t K i ế n T r ú c
Ví dụ: Sự phát triển của vòng xoáy trôn ốc, sự phát triển của một nhánh cây
Tỷ lệ vàng có thể xây dựng một cách hình học như là một đoạn thẳng được phân chia sao cho phần nhỏ/ phần lớn = bằng phần lớn/ toàn bộ đoạn thẳng