1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp marketing cho hoạt động kinh doanh của công ty TNHH thương mại và dịch vụ cường toàn thắng

58 731 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 379,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ CƯỜNG TOÀN THẮNG 1.1. Tổng quan về công ty. 1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. CHƯƠNG II: NHỮNG PHÂN TÍCH TIỀN ĐỀ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP MARKETING CHO CÔNG TY 2.1. Nghiên cứu môi trường kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng. 2.2. Nghiên cứu hành vi mua của khách hàng. 2.3. Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh của công ty. 2.4. Thị trường của công ty. 2.5. Phân tích SWOT. CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY 3.1. Chiến Lược Sản Phẩm .

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ CƯỜNG TOÀN THẮNG

1.1 Tổng quan về công ty

1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty

CHƯƠNG II: NHỮNG PHÂN TÍCH TIỀN ĐỀ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP MARKETING CHO CÔNG TY

2.1 Nghiên cứu môi trường kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng

2.2 Nghiên cứu hành vi mua của khách hàng

2.3 Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh của công ty

2.4 Thị trường của công ty

2.5 Phân tích SWOT

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY 3.1 Chiến Lược Sản Phẩm

3.2 Chiến Lược Giá

3.3 Chiến Lược Phân Phối

3.4 Chiến Lược Xúc Tiến Hỗn Hợp

3.5 Tổ Chức Hoạt Động Marketing Trong Công Ty

CHƯƠNG IV: MỘT SỐ GIẢI PHÁP MARKETING CHO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CTT COMPUTER

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài:

Thực trạng của các DN vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Nội là hầu hết chưa chú trọng phát triển và định hướng marketing Hoạt động marketing của các DN thường là chưa có bài bản, chưa có định hướng và chiến lược rõ ràng Bộ phận marketing trong DN thường là hạn chế.Tại doanh nghiệp mà em đang thực tập các hoạt động marketing của công ty là chưa có bài bản, chỉ là các hoạt động nhỏ lẻ chưa có hệ thống Trong thời gian tới công ty cần phải phát triển nhiều hơn nữa các hoạt động marketing để thực hiện được mục tiêu kinh doanh của mình

Từ những kiến thức đã học ở nhà trường cùng với kinh nghiệm thực tế cho em thấy được tầm quan trọng của marketing đến hoạt động kinh doanh của các DN Thương Mại nói chung và của công ty Cường Toàn Thắng nói riêng Hoạt động Marketing phản ánh những tư tưởng cốt lõi, cơ bản của kinh tế thị thường hiện nay.Muốn tồn tại và phát triển, các DN cần phải chú trọng và quan tâm hơn đến hoạt động Marketing của DN mình Đó là lý do em quyết định chọn đề tài “ Giải pháp Marketing cho hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Cường Toàn Thắng”

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Qua việc nghiên cứu các hoạt động Marketing ứng dụng trong các hoạt động kinh doanh của Công ty, từ đó đưa ra một số giải pháp Marketing nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Cường Toàn Thắng

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các hoạt động Marketing thúc đẩy hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Cường Toàn Thắng

Trang 3

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động Marketing trong hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Cường Toàn Thắng năm 2008

và năm 2009

4 Phương pháp nghiên cứu:

Thu thập số liệu của công ty như: Bảng báo giá, danh sách khách hàng, báo cáo tài chính…sau đó sử dụng phương pháp phân tích thống kê đánh giá tình hình biến động và mức độ ảnh hưởng của hoạt động marketing đối với hoạt động kinh doanh của công ty

5 Nội dung cơ bản:

Chương IV: Các giải pháp Marketing cho hoạt động kinh doanh của công ty

TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Cường Toàn Thắng

Kết luận

Trang 4

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH THƯƠNG

MẠI VÀ DỊCH VỤ CƯỜNG TOÀN THẮNG

1.1 Tổng quan về công ty.

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển:

Công ty TNHH TM & DV Cường toàn thắng (CTT computer) được thành lập vào tháng 3/2004, do UBND thành phố Hà Nội cấp giấy phép kinh doanh Trong những ngày đầu mới được thành lập công ty chỉ có một showroom đặt tại trụ sở chính ở 100 Hồ Tùng Mậu – Cầu Giấy – Hà Nội

Mới thành lập nên công việc kinh doanh của công ty còn hạn chế, chỉ là buôn bán máy tính, thiết bị tin học và văn phòng Thị trường của công ty cũng chỉ nằm trong khu vực Hà Nội và Hà Tây (cũ) Nhân viên của công ty cũng chỉ dưới 10 người

Qua 6 năm hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh máy tính Hiện nay tổng số cán bộ, nhân viên của công ty là 60 người Công việc kinh doanh của công ty cũng được mở rộng ra nhiều lĩnh vực như: Sản xuất, lắp ráp và kinh doanh các thiết bị điện, điện tử, điện lạnh, cung cấp các dịch vụ… thị trường của công ty đã được mở rông hơn trước rất nhiều Không chỉ có thị trường ở Hà Nội, Hà Tây(cũ) mà còn ở rất nhiều tỉnh miền bắc như Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thanh Hóa…

Tại thị trường các tỉnh công ty đều có cửa hàng kinh doanh và có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều bạn hàng trong cùng lĩnh vực kinh doanh máy tính Qua 6 năm xây dựng, ổn định và phát triển công ty đang ngày một lứon mạnh với mục tiêu hoạt động là:

Đa dạng hóa sản phẩm, ngành hàng và các dịch vụ kỹ thuật

Trở thành một trong những công ty hàng đầu Việt Nam về công nghệ thông tin Cán bộ công nhân viên có một cuộc sống phong phú về tinh thần, ổn định về vật chất

Thỏa mãn tối đa nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và đạt được sự hài lòng của khách hàng

Trang 5

Định hướng sự phát triển của CTT là:

⋅ Phát triển trở thành nhà phân phối một số sản phẩm về điện tử và thiết bị văn phòng

⋅ Phát triển trở thành nhà phân phối số 1 trong những nhà phân phối hàng đầu các sản phẩm công nghệ thông tin

⋅ Phát triển trở thành 1 trong những nhà sản xuất, lắp ráp máy tính thương hiệu Việt Nam có chất lượng và uy tín

⋅ Tư vấn cung cấp và chuyển giao các giải pháp, hệ thống về công nghệ cứng

và phần mềm công nghiệp

1.1.2 Nghành nghề và lĩnh vực kinh doanh của công ty

⋅ Loại hình công ty: dịch vụ, thương mại

⋅ Loại hình kinh doanh: Nhập khẩu, nội địa

⋅ Sản phẩm chính: Thiết bị tin học

⋅ Thị trường: Việt Nam

Công ty được thành lập với mục đích là kinh doanh và phân phối cac sản phẩm

về công nghệ thông tin và các thiết bị văn phòng Qua nhiều năm hoạt động thì lĩnh vực kinh doanh của công ty đã trở thành rất đa dạng

CTT Computer hoạt động nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng và chuyên nghiệp hơn: Chăm sóc, xử lý các sự cố xảy ra trên các thiết bị và hệ thống thiết bị công nghệ thông tin, hệ thống phần mềm ứng dụng theo định kỳ hoặc theo yêu cầu của khách hàng Giúp người dùng, các tổ chức, doanh nghiệp sử dụng liên tục, hiệu quả các trang thiết bị công nghệ thông tin, các ứng dụng phầm mềm Giảm thiểu tối đa thiệt hại của khách hàng do các sự cố thiết bị và phần mềm trục trặc gây ra Xây dựng đội ngũ hỗ trợ khách hàng chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu của khách hàng

Các hoạt động chính của công ty

⋅ Kinh doanh máy tính, thiết bị tin học và văn phòng

⋅ Máy tính nguyên bộ: servers, PCs & notebook

⋅ Linh kiện máy tính: Main board, CPU, Ram, HDD

⋅Thiết bị mạng và truyền số liệu, thiết bị văn phòng, thiết bị ngoại vi và các vật tư tin học khác, …

⋅ Lắp ráp và kinh doanh máy tính thương hiệu Việt Nam

⋅ Cung cấp Domain – hosting…

Trang 6

⋅ Chuyên thiết kế và thiết kế lại Website…

⋅ Cung cấp các dịch vụ thiết kế, lắp đặt, sửa chữa, bảo hành,…máy tinh, và các sản phẩm công nghệ thông tin

⋅ Đào tạo về công nghệ thông tin, tin học văn phòng,…

Chính sách, trách nhiệm phục vụ khách hàng một cách nhanh nhất và tốt nhất, đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng

1.1.3 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các bộ phận phòng ban của công ty

Công ty TNHHTM & DVụ CTT thuộc loại hình doanh nghiệp nhỏ với bộ máy

tổ chức gọn nhẹ, phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ đề ra tạo lập năng lựuc và chất lựong hoạt động thúc đẩy kinh doanh phát triển, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế

Tổng số cán bộ, nhân viên của công ty hiện nay là 60 người, trong đó:

Số nhân viên đã tốt nghiệp trung cấp là 10% Đội ngũ nhân viên của CTT là những người trẻ trung năng động, có chuyên môn nghiệp vụ cao, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình trong công việc Với nhận thức “Tài năng, phẩm chất và tính chuyên nghiệp của nhân viên là tài sản lớn nhất và quý báu nhất của doanh nghiệp” Nên ban lãnh đạo công ty máy tính CTT luôn quan tâm và phát triển nguồn nhân lực Đời sống vật chất và tinh thần của nhân viên ngày càng được nâng cao

Môi trường và điều kiện làm việc ngày càng được cải thiện “Cởi mở - Thân thiện – Đoàn kết – Phát triển”

Cơ chế hoạt động ngày càng phù hợp và tiên tiến: Công ty đã xây dựng và ban hành nội quy lao động quy chế tiền lương, tiền thưởng và các chế độ đãi ngộ khác, đóng bảo hiểm y tế và BHXH cho nhân viên trong toàn công ty

Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty gồm có:

• Ban giám đốc bao gồm: Giám đốc và phó giám đốc

Giám đốc là người chịu trách nhiệm toàn bộ về kết quả kinh doanh cũng như đảm bảo việc làm thường xuyên cho nhân viên trong công ty Giám đốc là người sắp xếp điều hành quản lý và mọi họat động của công ty

Trang 7

Phó giám đốc là người được giám đốc bổ nhiệm và ủy quyền đảm nhiệm về hoạt động kinh doanh về mặt đối ngoại của công ty như: ký kết hợp đồng mua, bán tiêu thụ hàng hóa mà công ty kinh doanh.

• Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ lập kế hoạch thực hiện và quản lý cá kế hoạch kinh danh, tham mưu cho cho giám đốc trong việc tổ chức ký kết các hợp đồng kinh tế Tổ chức nghiên cúu thị trường, nắm bắt nhu cầu để xây dựng kế hoạch kinh doanh, lựa chọn phương thức kinh doanh phù hợp cho từeng thị trường, lực chọn tìm kiếm nguồn hàng, phục vụ cho hoạt động kinh doanh, xây dựng mối quan hệ với khách hàng, thực hiện các chương trình khuyến mãi, hậu mãi Giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh

• Bộ phận tài chính kế toán: Đứng đầu bộ phận tài chính kế toán là kế toán trưởng lãnh đạo, thực hiện các chức năng về chế độ tài chính, kế toán do nhà nước

và các cơ quan có chức năng quy định Xử lý các nghiệp vụ kế toán trong quá trình kinh doanh, quản lý vốn, tham giá, xác định giá, quản lý các nguồn thu, chi thuộc thuộc phòng kinh doanh và cá showroom

Phản ánh tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn, lập ngân sách và xác định nhu cầu vốn kinh doanh của công ty, cũng như xây dựng các kế hoạch sử dụng vốn

và huy động vốn cho hoạt động kinh doanh

∗ Các showroom:

Showroom 1: 100 Hồ Tùng Mậu – Cầu Giấy- Hà Nội

Showroom 2: 201 Hồ Tùng Mậu – Cầu Giấy- Hà Nội

Showroom 3: 93 Hồ Tùng Mậu – Cầu Giấy- Hà Nội

Showroom 4: 165c Xuân Thuỷ – Cầu Giấy- Hà Nội

Showroom 5: 890 Đường Láng – Đống Đa - Hà Nội

Showroom 6:43/192 Kim Mã – Ba Đình – Hà Nội

Trang 8

Sơ đồ tổ chức bộ máy:

1.2 Đánh giá Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty CTT

Thông tin trên bảng cân đối kế toán là một trong những nguồn thông tin rất quan trọng, cho biết sức mạnh tài chính của một công ty Việc phân tích các dữ liệu trên bảng cân đối kế toán ( Báo cáo tài chính) là việc phân tích các dữ liệu nhằm đánh giá tính linh hoạt - tức khả năng chi trả các khoản nợ, đặc biệt là nợ ngắn hạn của công ty; khả năng sinh lời, chính là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh; khả năng thanh toán, nghĩa là khả năng thực hiện những trách nhiệm nợ dài hạn của công ty, tình hình hiệu quả sử dụng vồn của công ty…

Phòng

Tài chính -Kế Toán

Giám Đốc

Phó Giám Đốc

Phòng Kinh Doanh

Trang 9

Từ những hệ số được phân tích, chúng ta sẽ có những so sánh quan trọng nhằm xem xét kết quả hoạt động của công ty trong mối tương quan với toàn bộ nền kinh tế; lĩnh vực ngành của công ty; các nhà cạnh tranh chủ yếu trong phạm vi ngành; kết quả hoạt động trước đây của công ty

Trước khi đi vào phân tích các hệ số cụ thể, cần lưu ý rằng ngoài việc được coi là những công cụ phân tích có giá trị thì các hệ số tài chính, tự bản thân nó, cũng có một số hạn chế nhất định Nó có thể cho chúng ta thấy tiềm năng phát triển

cũng như điểm yếu của một công ty, nhưng những hệ số tài chính này sẽ không đưa ra những câu trả lời xác định, và nó cũng không đưa ra các dự đoán.

* Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty

Qua bảng số liệu ta thấy, tổng số vốn của công ty năm 2009 tăng 1.881.329.069 đồng, tương ứng tăng 112,7 % so với năm 2008 Chủ yếu là do Vốn lưu động năm 2009 tăng 138,8%, tăng đáng kể so với năm 2008 Vốn cố định cũng tăng so với năm 2008, tỷ lệ tăng đạt 17,3%

Xét về mặt tỷ trọng, vốn lưu động luôn chiếm tỷ trọng cao hơn vốn cố định qua các năm, riêng năm 2009 vốn lưu động của công ty chiếm 88,14%, tăng 9,64%

so với năm 2008 Ngược lại, vốn cố định có xu hướng giảm từ 21,5% năm 2008 xuống còn 11,86% vào năm 2009

Biểu 1 : Cơ cấu vốn kinh doanh

Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ % CL Tỷ lệ % trọngTỷ Tổng số vốn:

Trang 10

Nguyên nhân vốn cố định từ năm 2008 đến năm 2009 giảm là do tài sản cố định của công ty còn nhiều các máy móc thiết bị cũ kỹ, dùng lâu, đã gần hết khấu hao nhưng không được bổ sung làm giảm vốn cố định

Nguyên nhân của vốn lưu động ngày càng tăng chủ yếu là do hàng tồn kho tuy năm 2009 có giảm so với năm 2008 nhưng giảm không đáng kể, vẫn tồn kho với giá trị lớn Điều đó giúp cho công ty có thể dễ dàng thực hiện các đơn hàng lớn khi cần thiết, nhưng lại làm tăng chi phí lưu kho và có thể ứ đọng vốn nếu công ty không có chính sách quản lý hàng tồn kho hiệu quả

Mặt khác, Do đặc điểm ngành nghề kinh doanh của Công ty là kinh doanh các loại máy móc thiết bị văn phòng, linh kiện điện tử tuy đòi hỏi về vốn là không lớn nhưng để thu hút khách và giữ khách, đối với khách hàng truyền thống và khách hàng tiềm năng Công ty thường dùng hình thức thanh toán bằng chuyển khoản, trả chậm, làm cho số vốn bị chiếm dụng ngày càng nhiều, khoản phải thu tăng dẫn đến vốn lưu động tăng

Ngoài ra do đặc điểm về ngành nghề kinh doanh của Công ty đòi hỏi một lượng vốn tương đối lớn mà nguồn vốn đóng góp của Công ty còn ít, không đủ

để đáp ứng nhu cầu nên Công ty phải vay thêm ngân hàng để mua hàng

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của các DN kinh doanh là thu được lợi nhụân cao Quá trình kinh doanh của DN cũng là qúa trình hình thành và

sử dụng vốn kinh doanh Vì vậy hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện ở số lợi nhuận

DN thu được trong kỳ và mức sinh lời của một đồng vốn kinh doanh Xét trên góc

độ sử dụng vốn, lợi nhuận thể hiện kết quả tổng thể của quá trình phối hợp tổ chức đảm bảo vốn và sử dụng vốn lưu động, vốn cố định của DN Để đánh giá đầy đủ và chính xác hiệu quả sử dụng vốn cần phải xem xét ở nhiều góc độ , sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá mức sinh lời của đồng vốn kinh doanh Kết quả tính toán một số chỉ tiêu được tập hợp theo bảng dưới đây:

Trang 11

Biểu 2: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn

Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Số tuyệt đối Chênh lệch Tỷ lệ

8 25,701,955,489

15,040,690,94

1 141.08

4 Vốn kinh doanh bình quân sử

Lợi nhuận trước thuế năm 2009 tăng 55.819.925 đồng so với năm 2006, tương ứng tỷ lệ tăng là 298,54 %, lớn hơn tốc độ tăng của vốn kinh doanh bình quân làm

Trang 12

cho tỷ suất lợi nhuận trước thuế vốn kinh doanh tăng 0,034 lần Năm 2009 tỷ suất này đạt 0,041 lần, nghĩa là một đồng vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong năm

2009 sẽ tạo cho công ty 0,041 đồng lợi nhuận trước thuế

Lợi nhuận sau thuế năm 2009 tăng so với năm 2008 là 46.477.747 đồng

tương ứng tỷ lệ tăng 345,02 %, lớn hơn nhiều so với tỷ lệ tăng của vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong năm làm cho tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn kinh doanh năm 2009 so với năm 2008 đạt 0,033 lần ( tức là cứ một đồng vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong năm 2009 sẽ đem lại cho công ty 0,033 đồng lợi nhuận sau thuế )

Vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong năm 2009 vẫn ở mức 500.000.000 đồng, không thay đổi so với năm 2008, trong khi lợi nhuận sau thuế tăng nên tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu năm 2009 chỉ đạt 0,12 (nghĩa là cứ một đồng vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong năm 2009 sẽ tạo ra cho chủ sở hữu 0,12 đồng lợi nhuận), tăng 0,093 lần so với năm 2008

Có thể theo dõi cụ thể hơn về tình hình sử dụng vốn qua một số chỉ tiêu sau:

Biểu 3: Đánh giá chung hiệu quả sử dụng vốn lưu động và vốn cố định

Trang 13

Tỷ lệ tăng của vốn cố định bình quân cũng nhỏ hơn nhiều so với Tỷ lệ tăng Doanh thu thuần do đó làm cho hệ số phục vụ của vốn cố định năm 2009 đạt 61,95, tăng so với năm 2008 là 32,24 lần Có nghĩa là khi bỏ ra một đồng vốn đầu

tư công ty có thể thu về 61,95 đồng doanh thu năm 2009

Công ty không có nhiều tài sản cố định, chỉ có những máy móc phục vụ cho việc giao dịch và chở hàng nên các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản cố định ít có ý nghĩa Tuy nhiên sử dụng tài sản cố định sao cho hiệu quả và tiết kiệm vẫn là đòi hỏi thường xuyên đối với Công ty … nói riêng và các doanh nghiệp nói chung

Trong khi đó vốn lưu động bình quân năm 2009 so với năm 2008 tăng 570,948,964 đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 35,15 làm cho tốc độ chu chuyển vốn năm

2009 tăng so với năm 2008 và làm số ngày chu chuyển ngắn đi nhiều Cụ thể, năm

2009 số vòng quay vốn lưu động là 11,71 vòng, nghĩa là trong 1 năm (2009), vốn luân chuyển (quay) được 11,71 vòng, số ngày thực hiện một vòng quay là 32 ngày, giảm 24 ngày so với năm 2008 Mặc dù vậy, hiệu quả sử dụng vốn lưu động vẫn ở mức thấp, chỉ đạt 0.02 năm 2009

Nếu xét trên khía cạnh lợi nhuận thì trong những năm qua công ty luôn làm ăn có lãi các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty năm 2009 đều tăng so với năm 2008 , chứng tỏ năm 2009 công ty đã chú trọng hơn

Trang 14

trong việc quản lý và sử dụng vốn làm tăng nhanh vòng quay vốn, mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho công ty, tuy nhiên số lợi nhuận bình quân một đồng vốn đưa lại vẫn ở mức thấp Lý do xuất phát từ mục tiêu lâu dài của công ty là muốn đầu tư mở rộng thị trường, khẳng định vị trí của mình trên thị trường nên đã chấp nhận chi phí lớn làm cho lợi nhuận thu được giảm tương đối Khi đã mở rộng được thị trường phân phối, công ty sẽ duy trì mức doanh thu và giảm chi phí để tăng lợi nhuận Như vậy về lâu dài thì công ty hoàn toàn có thể nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn Và tất nhiên điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và cần phải có những chương trình, giải pháp cụ thể cho những bước tiếp theo.

Các hệ số khả năng thanh toán

* Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn: dùng để đo lường khả năng trả các

khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn

Hệ số này được sử dụng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của

doanh nghiệp (như nợ và các khoản phải trả) bằng các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho)

Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ của doanh nghiệp càng lớn Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ của mình khi tới hạn Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt được tình hình tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ bị phá sản vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn

Tỷ lệ này cho phép hình dung ra chu kì hoạt động của công ty xem có hiệu quả không, hoặc khả năng biến sản phẩm thành tiền mặt có tốt không Nếu công ty gặp phải rắc rối trong vấn đề đòi các khoản phải thu hoặc thời gian thu hồi tiền mặt kéo dài, thì công ty rất dễ gặp phải rắc rối về khả năng thanh khoản

* Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Trang 15

Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tài sản lưu động- hàng tồn kho/Nợ ngắn hạn

Biểu 4: Hệ số khả năng thanh toán của công ty

CP Máy tính Bền, Công ty TNHH Phân Phối công nghệ thông tin FPT, Công ty TNHH Máy Tính Vĩnh Xuân…) Lượng tiền lớn, hàng tồn kho nhiều nhưng có khả năng bán cao, các khoản nợ ngắn hạn có thể lớn nhưng chưa cần thanh toán ngay

Do đó các hệ số thanh toán của công ty đều lớn hơn 1 Nhìn chung có thể đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ của công ty là khá cao

Các khoản nợ phải thu năm 09 cũng tăng hơn 2 lần so với năm 08 Phần lớn là các khoản nợ của công ty CP đầu tư và phát triển công nghệ Thu Hà và Hội cựu

Trang 16

chiến binh thành phố Tuy không lớn nhưng công ty vẫn luôn kiểm soát được những khoản nợ này.

Các nhà đầu tư, các cổ đông và các nhà quản lý tài chính đặc biệt chú ý tới khả năng sinh lãi của các công ty Việc phân tích lợi nhuận có thể bắt đầu bằng việc nghiên cứu cách thức một công ty sử dụng cơ cấu vốn Các nhà quản lý giỏi sử dụng

có hiệu quả tài sản của mình Thông qua việc tăng hiệu quả sản xuất, các công ty có thể giảm hoặc kiểm soát được các chi phí Tỷ lệ lợi nhuận do bất kỳ một công ty nào đạt được là quan trọng nếu các nhà quản lý của công ty đó mong muốn thu hút vốn

và thực hiện việc tài trợ thành công cho sự phát triển của công ty

Nếu tỷ lệ lợi nhận của một công ty tụt xuống dưới mức có thể chấp nhận được, thì P/E (giá trên thu nhập) và giá trị các cổ phiếu của công ty giảm xuống - điều đó giải thích tại sao việc đánh giá khả năng sinh lời lại đặc biệt quan trọng đối với một công ty

Để đánh giá hiệu quả sinh lợi của công ty có thể sử dụng các hệ số sau: hệ số tổng lợi nhuận; hệ số lợi nhuận hoạt động; hệ số lợi nhuận ròng

Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật tư, lao động) trong một quy trình sản xuất của doanh nghiệp

Hệ số tổng lợi nhuận= (Doanh số-Trị giá hàng đã bán tính theo giá mua) / Doanh

số bán

Năm 2008 hệ số này là 0,048 năm 2009 là 0,036 Doanh thu năm 2009 tăng nhưng tốc độ tăng chậm hơn tốc độ tăng của giá vốn hàng bán ( 1,41 lần < 1,44 lần) nên

hệ số tổng lợi nhuận giảm

Trong thực tế khi muốn xem các chi phí này có cao quá hay không là đem so sánh hệ số tổng số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng ngành, nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì công ty cần có giải pháp tốt hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào

Trang 17

Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp

Mức lãi hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi ( EBIT)/doanh thu

Năm 2008, hệ số này là : 0,018 và năm 2009 là 0,029

Hệ số này là thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết một đồng vốn công ty bỏ ra có thể thu về 0,018 đồng thu nhập trước thuế năm 2008 và 0,029 đồng thu nhập trước thuế ở năm 2009 Hệ số lợi nhuận hoạt động này là chưa cao có nghĩa là công tác quản lý chi phí còn chưa hiệu quả

Hệ số lợi nhuận ròng phản ánh khoản thu nhập ròng (thu nhập sau thuế) của một công ty so với doanh thu của nó

Hệ số lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng/Doanh thu

hệ số này = 0,0013 ở năm 2008 và tăng = 0,0023 trong năm 2009 nghĩa là trong năm 2009, cứ một đồng doanh thu thu được sẽ tạo ra cho công ty 0,0023 đồng lợi nhuận sau thuế Năm 2009, tỷ suất thuế thu nhập dn giảm chỉ còn 25% và các công

ty còn được miễn giảm thuế 30% nên lợi nhuận sau thuế năm 2009 tăng gấp hơn 2 lần năm 2008, tuy nhiên hệ số lợi nhuận ròng vẫn ở mức thấp

Trang 18

CHƯƠNG II: NHỮNG PHÂN TÍCH TIỀN ĐỀ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT

GIẢI PHÁP MARKETING CHO CÔNG TY

2.1.Nghiên cứu môi trường kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng

2.1.1.Nghiên cứu môi trường kinh doanh

Nền kinh tế thị trường không ngừng phát huy tính chủ động sáng tạo của doanh nghiệp mà còn tăng khả năng thích ứng trước sự thay đổi của thị trường, nếu như trước kia các doanh nghiệp kinh doanh theo kế hoạch của nhà nước thì bây giờ mọi hoạt động kinh doanh đều xuất phát từ thị trường, thị trường đầy bí ẩn và không ngừng thay đổi Do vậy để kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp phải nghiên cưú thị trường

Nghiên cứu thị trường là quá trình tìm kiếm khách quan và có hệ thống cùng với sự phân tích thu thập thông tin cần thiết để giải quyết các vấn đề cơ bản của kinh doanh Bởi vậy nghiên cứu thị trường giúp nhà kinh doanh có thể đạt được hiệu quả cao và thực hiện được các mục đích của mình, đó cũng là khâu mở đầu cho hoạt động kinh doanh, quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp

Cơ chế thị trường làm cho hàng hoá phong phú, cung luôn có xu hướng lớn hơn cầu, bán hàng ngày càng khó khăn, mức độ rủi ro cao, các doanh nghiệp muốn thành công thì phải thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng, mọi hoạt động kinh doanh đều hướng vào khách hàng

Nghiên cứu nhu cầu thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm được thông tin

về loại hàng hóa, dịch vụ kinh doanh, dung lượng thị trường, yêu cầu về quy cách, chất lượng, mẫu mã hàng hoá của khách hàng hiểu rõ thị hiếu, phong tục tập

Trang 19

quán tiêu dùng ở mỗi nhóm và mỗi khu vực, tìm hiểu thông tin về đối thủ cạnh tranh.

2.1.2 Ảnh hưởng của môi trường marketing đến hoạt động kinh doanh của công ty CTT

Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh là các yếu tố khách quan mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được như: văn hóa, xã hội, chính trị,… Nghiên cứu các yếu tố này không nhằm mục đích điều khiển nó theo ý muốn của doanh nghiệp mà nhằm tạo ra khả năng thích ứng một cách tốt nhất vói xu thế vận động của chúng;

để rồi từ đấy doanh nghiệp có thể đưa ra các chính sách phù hợp cho công việc kinh doanh

Môi trường văn hoá và xã hội.

Yếu tố văn hóa - xã hội luôn bao quanh doanh nghiệp và khách hàng Nó có ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong bài viết này, em chỉ đề cập tới sự ảnh hưởng của các yếu tố trong môi trường này trong việc hình thành và đặc điểm thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp Các yếu tố thuộc môi trường văn hóa - xã hội bao gồm các yếu tố sau:

∗ Dân số: Đây là quy mô của nhu cầu và tính đa dạng của nhu cầu Dân số càng lớn, thị trường càng lớn; nhu cầu về một nhóm hàng hoá càng lớn;… Có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp hơn

∗ Xu hướng vận động của dân số: Đây là dạng của nhu cầu và sản phẩm đáp ứng

Tỷ lệ sinh/tử, độ tuổi trung bình cao/thấp,… Điều này ảnh hương tới cách thức đáp ứng của doanh nghiệp như: lựa chọn sản phẩm, hoạt động xúc tiến…

∗ Hộ gia đình và xu hướng vận động: Độ lớn của một gia đình có ảnh hưởng đến

số lượng, quy cách sản phẩm cụ thể,…khi sản phẩm đó đáp ứng cho nhu cầu chung của cả gia đình

Trang 20

∗ Sự dịch chuyển dân cư và xu hướng vận động: Sự hình thành hay suy giảm mức

độ tập trung dân cư (người tiêu thụ) ở một khu vực địa lý có ảnh hưởng không nhỏ đến sự xuất hiện cơ hội mới hoặc suy tàn cơ hội hiện tại của doanh nghiệp

∗ Thu nhập và phân bố thu nhập của người tiêu dùng

∗ Nghề nghiệp, tầng lớp xã hội

∗ Dân tộc, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, nền văn hoá Yếu tố này đòi hỏi phân đoạn thị trường và có chiến lược Maketing phù hợp

Môi trường chính trị - pháp luật.

Các yếu tố thuộc lĩnh vực chính trị và pháp luật chi phối mạnh mẽ sự hinh thành cơ hội và khả năng thực hiện mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào Sự ổn định chính trị đã được xác định là một trong những điều kiện tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanh nghiệp Các yếu tố cơ bản:

∗ Quan điểm, mục tiêu dịnh hướng phát triển xã hội và nền kinh tế của Đảng cầm quyền

∗ Chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện các quan điểm, mục tiêu của Chính phủ và khả năng điều hành của Chính phủ

∗ Mức độ ổn định chính trị - xã hội…

Môi trường kinh tế - công nghệ.

Môi trường này có ảnh rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố cơ bản bao gồm:

⋅ Tiềm năng của nền kinh tế

⋅ Các thay đổi về cấu trúc, cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân

⋅ Tốc độ tăng trưởng kinh tế

⋅ Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát

⋅ Hoạt động ngoại thương, xu hướng đóng/mở của nền kinh tế

⋅ Tỉ giá hối đoái và khả năng chuyển đổi của đồng tiền quốc gia

Trang 21

⋅ Hệ thống thuế, mức độ hoàn thiện và thực thi.

⋅ Cơ sở hạ tầng kĩ thuật của nền kinh tế…

Môi trường cạnh tranh.

Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển Trong môi trường cạnh tranh, ai hoàn thiện hơn, thoả mãn nhu cầu tốt hơn và hiệu quả hơn thì người đó sẽ thắng, sẽ tồn tại và phát triển Doanh nghiệp cần chú ý một số yếu tố sau trong môi trường cạnh tranh:

⋅ Điều kiện chung về cạnh tranh trên thị trường

⋅ Số lượng đối thủ

⋅ Ưu, nhược điểm của đối thủ

⋅ Chiến lược cạnh tranh của đối thủ

Môi trường địa lý - sinh thái.

Trong môi trường này, doanh nghiệp cần chú ý các yếu tố như:

⋅ Vị trí địa lý

⋅ Khí hậu, thời tiêt, tính thời vụ

⋅ Các vấn đề về cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường

2.2.Nghiên cứu hành vi mua của khách hàng

Hành vi khách hàng luôn là điều bí ẩn mà bất cứ nhà sản xuất nào cũng muốn khám phá.Cùng một sản phẩm nhưng doanh số bán hàng tại các khu vực lại khác nhau Điều gì làm nên sự khác biệt giữa hành vi mua sắm của các nhóm người tiêu dùng?

Hiểu biết đầy đủ về khách hàng, nhu cầu và cách thức mua sắm của họ là một trong những cơ sở quan trọng có ý nghĩa quyết định đến khả năng lựa chọn đúng

cơ hội kinh doanh và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng của doanh nghiệp

Trang 22

Mỗi nhóm khách hàng có những nhu cầu mua sắm và cách thức mua sắm khác nhau, vì vậy doanh nghiệp cần làm rõ từng nhóm khách hàng để có chính sách tiếp cận cũng như chính sách thoả mãn phù hợp.

Khách hàng mua sắm là nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân Một số nhu cầu

là cơ bản và nhu cầu đó được thực hiện gần như là hàng ngày trong khi các nhu cầu khác không phụ thuộc vào con người

Khi đề cập đến khách hàng, chúng ta nói đến người mua thực thụ, người chi tiền cho các họat động mua sắm Nhưng cũng cần chỉ ra rằng, người mua hàng lại không nhất thiết phải là người sử dụng những gì họ mua sắm và những người khác

có thể liên quan đến quá trình mua hàng trong sự bổ sung cho người mua thực thụ

Như vậy, việc hiểu được hành vi mua sắm của khách hàng bao gồm không chỉ việc thấu hiểu cách thức mà các quyết định được đưa ra mà còn việc hiểu được diễn biến có thể gây ảnh hưởng đến hành vi mua sắm

Quá trình thông qua quyết định mua của khách hàng thường theo 5 bước:

B1: Nhận biết nhu cầuB2: Tìm kiếm thông tinB3: Đánh giá các phương án lựa chọnB4: Quyết định mua

B5: Đánh giá sau khi muaTrong những tinh huống cụ thể, một người mua cụ thể không nhất thiết là thực hiện đầy đủ các bước trong quá trình ra quyết định mua như trên.Người tiêu

dùngcó thể bỏ qua hoặc đảo lộn một vài bước của tiến trình này

Chẳng hạn, với những mua sắm thứ yếu người tiêu dùng có thể khá trung thành với những sản phẩm cùng loại, cùng địa điểm quen thuộc, do đó họ có

thể đi từ “nhận biết nhu cầu” đến “quyết định mua”, bỏ qua giai đoạn “tìm kiếm thông tin và đánh giá các phương án lựa chọn”

Trang 23

Nhu cầu mong muốn

Bước khởi đầu của một tiến trình mua là sự nhận biêt về một nhu cầu muốn được thoả mãn của người tiêu dùng

Nhu cầu có thể phát sinh do các kích thích bên trong như tác động của quy luật sinh học, tâm lý hoặc các kích thích bên ngoài như các hoạt động quảng cáo,

marketing hoặc cả hai.Khi nhu cầu trở nên cần thiết, người tiêu dùng sẽ hành động

để thoả mãn

Ví dụ : trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, nhu cầu sử dụng internet là rất lớn.số lượng khách hàng có nhu cầu mua sắm máy tính cũng rất nhiều.nhận biết được nhu cầu đó người làm marketing phải đưa ra được chiến lược marketing như: quảng cáo, trưng bày sản phẩm… để thu hút nhận thức của khách hàng, làm sao để

họ phải quan tâm, tìm hiểu sản phẩm của mình

Mỗi người có suy nghĩ ,hành động và sở thích khác nhau, vì vậy công việc nắm bắt được nhu cầu và mong muốn của khách hàng của những người làm

marketing là rất vất vả và khó khăn

Tìm kiếm thông tin

Giả định người tiêu dùng được kích thích thỏa mãn nhu cầu của họ, họ sẽ tiến hành tìm kiếm thông tin cho những giải pháp có thể Những nguồn được dùng thu nhận thông tin có thể đơn giản là những thông tin còn nhớ từ kinh nghiệm trước (trí nhớ) hay khách hàng có thể nỗ lực hết mức xác định thông tin từ những nguồn ngoài (Tìm kiếm internet, nói chuyện với những người khác…) Khi tìm kiếm thông tin bổ sung liên quan đến sản phẩm, dịch vụ, người tiêu dùng có thể sử dụng những nguồn cơ bản sau:

⋅ Nguồn thông tin cá nhân: gia đình, bạn bè, người quen…

⋅ Nguồn thông tin thương mại: quảng cáo người bán hàng, hội chợ, triển lãm, bao bì, thương hiệu…

⋅ Nguồn thông tin đại chúng: các phương tiện truyền thông Dư luận…

Trang 24

⋅ Kinh nghiệm: khảo sát trực tiếp, dùng thử, qua tiêu dùng….

Nỗ lực tìm kiếm của người tiêu dùng nhiều đến đâu phụ thuộc vào những yếu

tố như: tầm quan trọng của việc thỏa mãn nhu cầu, sự quen thuộc với những giải pháp hiện có và khoảng thời gian có để tìm kiếm Để thu hút người tiêu dùng đang trong giai đoạn tìm kiếm, các chuyên gia marketing nên nỗ lực để đảm bảo khách hàng có thể tìm kiếm thấy những thông tin liên quan đến sản phẩm của họ Những thông tin này phải được đảm bảo dễ thấy ,dễ hiểu đối với khách hàng, và phải làm thế nào để có thể khắc sâu vào trong tâm trí của khách hàng.Như những hoạt động quảng cáo, khuyến mại lớn, có thể là kéo dài… Thí dụ, với những chuyên gia marketing mà khách hàng của họ dựa vào internet để thu thập thông tin, việc đạt được thứ hạng cao trong những phương tiện tìm kiếm trở thành một mục tiêu

⋅ Người tiêu dùng có khuynh hướng phân loại về mức độ quan trọng

⋅ Người tiêu dùng có khuynh hướng xây dựng niềm tin của mình gắn với thương hiệu

⋅ Người tiêu dùng có xu hướng gán cho mỗi thuộc tính của sản phẩm một chức năng hữu ích

Nỗ lực tìm kiếm của người tiêu dùng có thể cho kết quả là một loạt các phương án mà từ đó sự lựa chọn được quyết định.Một người tiêu dùng có thể tạo ra một loạt các phương án có thể lựa chọn cho nhu cầu của họ(đối với những sản phẩm khác nhau có thể thay thế cho nhau), trong trường hợp khách hàng có nhu

Trang 25

cầu về các sản phẩm cùng loại họ có thể sẽ đánh giá những sản phẩm riêng biệt(các thương hiệu) cho từng phương án.Chẳng hạn một người tiêu dùng muốn mua một chiếc máy vi tính họ sẽ có rất nhiều phương án để lựa chọn như máy tính HP, SAMSUNG,IBM…với mỗi phương án lại có rất nhiều nhãn hiệu để lựa chọn, những chiến thuật marketing sẽ hiệu quả nhất khi những chuyên gia marketing có thể kết hợp những nỗ lực của họ bằng việc nhận ra lợi ích nào là quan trọng nhất với khách hàng khi lựa chọn phương án (chẳng hạn chất lượng máy, thương hiệu,

cỡ màn hình…) và sau đó xác định thứ tự quan trọng của từng lợi ích

Các chuyên gia marketing cần phải hiểu khách hàng đánh giá những lựa chọn sản phẩm như thế nào và tại sao có những sản phẩm này mà không có những sản phẩm kia Gần như quan trọng nhất, các chuyên gia marketing phải xác định những tiêu chuẩn nào khách hàng đang sử dụng cho sự lựa chọn những khả năng có thể và những tiêu chuẩn đó được đánh giá ra sao

Quyết định mua

Kết thúc giai đoạn đánh giá các phương án, người tiêu dùng có một “bộ nhãn hiệu lựa chọn” được sắp xếp theo thứ tự trong ý định mua Những sản phẩm, thương hiệu được người tiêu dùng ưa chuộng nhất chắc chắn có cơ hội tiêu thụ lớn nhất Song ý định mua chưa phải là điều kiện duy nhất dẫn đến quyết định mua cuối cùng Từ ý định mua đến quyết định mua thực tế, người tiêu dùng còn chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố kìm hãm

Trong nhiều trường hợp, giải pháp người tiêu dùng chọn cũng chính là sản phẩm được đánh giá cao nhất Tuy nhiên, điều đó có thể thay đổi lúc thực sự mua sắm Việc mua sắm “dự tính” có thể thay đổi ngay lúc mua bởi nhiều nguyên nhân như: sản phẩm hết hàng, một đối thủ cạnh tranh đưa ra một chào hàng ngay tại thời điểm mua (chẳng hạn một người bán hàng đề cập đến chào hàng của đối thủ), có rất nhiều trường hợp khách hàng đã có dự tính sẵn khi ở nhà là sẽ mua sản phẩm nào, nhưng khi đi mua hàng được nhân viên bán hàng giới thiệu cho một sản phẩm

Trang 26

khác thì họ có thể quyết định mua sản phẩm mới chứ không mua thương hiệu đã

dự định mua lúc đầu nữa, hay những thành viên khác của nhóm tham khảo có cái nhìn tiêu cực của việc mua sắm (ví dụ bạn bè là yếu tố then chốt của việc mua sắm), họ có thể đưa ra lời khuyên cho khách hàng và làm thay đổi quyết định mua của khách hàng Tháo gỡ ảnh hưởng của các yếu tố kìm hãm quyết định mua của người tiêu dùng là nhiệm vụ trọng tâm của các chuyên gia marketing trong giai đoạn này Những chuyên gia marketing mà sản phẩm của họ hấp dẫn người tiêu dùng nhất phải đảm bảo rằng giao dịch diễn ra một cách suôn sẻ Với những chuyên gia marketing mà sản phẩm của họ không phải là sự lựa chọn của khách hàng, những nỗ lực marketing cuối có thể đáng giá như đưa ra những sự khích lệ đến những nhân viên của cửa hàng để họ “ca ngợi” cho sản phẩm của mình ở những quầy thanh toán

Đánh giá sau khi mua

Sự hài lòng hoặc không hài lòng sau khi mua và sử dụng sản phẩm sẽ ảnh hưởng đến hành vi mua tiếp theo của người tiêu dùng Không chỉ là ảnh hưởng đến khách hàng hiện có mà còn ảnh hưởng đến các khách hàng tiềm ẩn khác nữa

Một khi khách hàng đã mua sản phẩm, họ sẽ đối mặt với sự đánh giá quyết định của mình Nếu sản phẩm không như họ mong đợi thì khách hàng sẽ đánh giá lại sự thỏa mãn với quyết định của mình, điều mà cực đoan nhất có thể xảy ra là khách hàng sẽ trả lại sản phẩm hay trong tình huống ít cực đoan hơn là họ vẫn giữ lại món hàng đã mua nhưng lại có một cái nhìn tiêu cực về nó Những đánh giá này thường xảy ra trong trường hợp việc mua sắm này rất quan trọng hay tốn kém

Những ý kiến của khách hàng qua tiêu dùng cần được coi là những đánh giá

về sự thành công hoặc chưa thành công của các nỗ lực marketing.Nỗ lực marketing nào tạo được một thái độ thiện chí ở khách hàng, chính là những giải pháp tốt giúp

Trang 27

doanh nghiệp gia tăng thị trường va duy trì khách hàng trung thành Ngược lại với những thái độ thiếu thiện chí của khách hàng cần phải tìm giải pháp khằc phục.

Để giúp làm dễ dàng hơn mối quan tâm của người tiêu dùng về những đánh giá mua sắm của mình, các chuyên gia marketing cần lĩnh hội hay thậm chí khuyến khích khách hàng liên lạc Những trung tâm dịch vụ khách hàng và những nghiên cứu thị trường tiếp theo sẽ là những công cụ hữu ích giúp chỉ ra những mối quan tâm của người mua

2.3 Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh của công ty

Trong kinh doanh, cạnh tranh là điều không tránh khỏi Để cho việc kinh doanh mang lại hiệu quả cao thì việc hiểu và phân tích đúng sự cạnh tranh trên thị trường rất quan trọng Nó quyết định tới những chính sách, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

Xác định cho mình thị trường chính là thị trường Hà Nội, cũng đồng nghĩa với việc công ty CTT computer đã xác định cho mình sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường này.Là một thị trường rất rộng và rất giàu tiềm năng nên cũng dễ hiểu sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường Hà Nội, nhất là với thị trường kinh doanh máy tính.Không chỉ có sự cạnh tranh của các công ty vừa và nhỏ trong nước mà còn có

sự cạnh tranh của các công ty nước ngoài vào Việt Nam

Đối thủ cạnh tranh chính của công ty CTT computer chính là các công ty vừa

và nhỏ cùng kinh doanh trong lĩnh vực máy tính tại thị trường Hà Nội như:

⋅ Công ty Máy tính GIA LONG

⋅ Công ty Máy tính BEN

⋅ Công ty Mai Hoàng computer

⋅ Trần Anh computer …………

Sự cạnh tranh trên thị trường của Công ty được thể hiện qua các mặt chủ yếu sau:

⋅ Cạnh tranh về sản phẩm

Trang 28

loại hàng hoá.Tiêu chí của Công ty là không tập trung kinh doanh vào một mặt hàng nào cả, mà phải đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh.

Tuy nhiên, theo quy luật chung, Công ty không tránh khỏi sự cạnh tranh từ các công ty khác.Hiện nay tại thị trưòng Hà Nội có rất nhiều các công ty kinh doanh máy tính vừa và nhỏ đang cạnh tranh rất khốc liệt với nhau

CTT computer đang gặp phải sự cạnh tranh rất lớn từ chính những đối thủ trực tiếp như: Gia Long computer, Công ty Máy tinh Ben, Công ty Thế giới Di động,…hay

sự cạnh tranh từ những công ty lớn khác như: Trần Anh computer,…

Thứ hai là sự cạnh tranh về chất lượng sản phẩm:

Do là nhà phân phối hàng chứ không phải là sản xuất nên Công ty không trực tiếp quyết định được chất lượng của sản phẩm Nhưng không vì thế mà Công ty không quan tâm tới việc này Song song với việc đa dạng hoá các sản phẩm kinh doanh, Công ty cũng rất chú trọng tới vấn đề đảm bảo chất lượng sản phẩm tới người tiêu dùng, việc đảm bảo chất lượng của sản phẩm thể hiện ở tuổi thọ của sản phẩm, các dịch vụ bảo hành, dịch vụ sửa chữa Chất lượng sản phẩm của Công ty phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng sản phẩm mà Công ty nhập về, các sản phẩm

mà công ty nhập về hầu hết là các sản phẩm có uy tín và có thương hiệu trên thị

Trang 29

trường như: máy tính Acer, máy tính HP, máy tính BenQ,các linh kiện máy tính của Intel,….

Thứ ba là sự cạnh tranh về giá cả:

Giá bán là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến số lượng sản phẩm tiêu thụ, là yếu tố góp phần đi đến quyết định mua của khách hàng, đó cũng là yếu tố rất quan trọng đối với các sản phẩm về công nghệ thông tin có giá trị không phải nhỏ đối với những người có mức thu nhập trung bình và trung bình khá Việc đưa

ra một chính sách giá cả hợp lý là một đòi hỏi cấp thiết với Công ty Giá cả của Công ty phải làm sao bù đắp được chi phí bỏ ra, phải phù hợp với giá cả trên thị trường không được quá cao hay quá thấp so với các đối thủ cạnh tranh Với đặc điểm là một nhà phân phối nên giá cả của Công ty phụ thuộc vào giá mà các nhà cung cấp đưa ra Hiện nay, giá cả của các mặt hàng mà Công ty Minh Quân kinh doanh không có sự chênh lệch nào đáng kể so với các đối thủ cạnh tranh

Thứ tư là sự cạnh tranh về dịch vụ hỗ trợ bán hàng:

Công ty CTT computer thường xuyên tham gia các hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm Ngoài ra, công ty còn thường xuyên có các hoạt động xúc tiến bán như giảm giá bán, khuyến mãi, tặng các sản phẩm kèm theo khi mua hàng tại công ty.Tuy nhiên, các hoạt động xúc tiến bán hàng này còn chưa thường xuyên và còn hạn chế về số lượng Một hạn chế khác của công ty so với các đối thủ là hạn chế trong việc quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng Hàng năm số tiên bỏ ra cho các hoạt động xúc tiến bán còn hạn chế Đây là nhưng mặt còn tồn tại mà CTT computer cần khắc phục trong thời gian tới

2.4 Thị trường của công ty

Trong những năm gần đây, cùng với sự đi lên của nền kinh tế, cuộc sống của đại đa số người dân đã được cải thiện một cách rõ rệt Nhu cầu về sử dụng máy tính và các sản phẩm về điện tử viễn thông là rất lớn.Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với hoạt động kinh doanh của công ty Công ty có trụ sở chính và

Ngày đăng: 07/08/2014, 10:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tổ chức bộ máy: - Giải pháp marketing cho hoạt động kinh doanh của công ty TNHH thương mại và dịch vụ cường toàn thắng
Sơ đồ t ổ chức bộ máy: (Trang 8)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w