CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 1. Cơ sở lí luận về thanh toán không dùng tiền mặt : 1.1 Khái niệm : Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là phương thức chi trả được thực hiện bằng cách trích một số tiền từ tài khoản người chi trả chuyển sang tài khoản người thụ hưởng. Các tài khoản này đều được mở tại ngân hàng. Như vậy, TTKDTM là một nghiệp vụ trung gian của ngân hàng. Ngân hàng chỉ được thực hiện thanh toán khi có lệnh của chủ tài khoản, bao gồm các tổ chức kinh tế, đơn vị và cá nhân mở tài khoản tại ngân hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt thông thường gồm có 4 bên tham gia: Bên mua hàng hay bên nh Bên mua hàng hay bên nhBên mua hàng hay bên nh Bên mua hàng hay bên nh Bên mua hàng hay bên nhBên mua hàng hay bên nhBên mua hàng hay bên nh Bên mua hàng hay bên nh ận hàng hóa, d n hàng hóa, d ịch vch v ụ cung ứng; Ngân hàng bên mua, t Ngân hàng bên mua, t Ngân hàng bên mua, tNgân hàng bên mua, t Ngân hàng bên mua, t ức ngân hàng mà bên mua m c ngân hàng mà bên mua mc ngân hàng mà bên mua mc ngân hàng mà bên mua mc ngân hàng mà bên mua m c ngân hàng mà bên mua mc ngân hàng mà bên mua m c ngân hàng mà bên mua mở tài kho tài kho ản; Bên bán hàng hay bên cung Bên bán hàng hay bên cung Bên bán hàng hay bên cung Bên bán hàng hay bên cung Bên bán hàng hay bên cung Bên bán hàng hay bên cung ứng hàng hóa, d ng hàng hóa, d ịch vch v ụ; Ngân hàng bên bán, t Ngân hàng bên bán, t Ngân hàng bên bán, t ức ngân hàng mà bên bán m c ngân hàng mà bên bán mc ngân hàng mà bên bán mc ngân hàng mà bên bán mc ngân hàng mà bên bán m c ngân hàng mà bên bán m c ngân hàng mà bên bán m c ngân hàng mà bên bán mở tài kho tài kho ản; 1.2 Vai trò và chức năng của thanh toán không dùng tiền mặt : 1.2.1 Đối với nền kinh tế : Thúc đẩy phát triển hoạt động thương mại điện tử : Thương mại điện tử là xu hướng kinh doanh sẽ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới đây do sự tiến bộ của cộng nghệ thông tin và trình độ sử dụng vi tính trong dân cư được nâng cao đáng kể. Xét trên nhiều phương diện, TTKDTM là nền tảng của các hệ thống thương mại điện tử. Sự khác biệt cơ bản giữa thương mại điện tử với các ứng dụng khác cung cấp trên internet chính là nhờ khả năng thanh toán trực tuyến này. Do vậy, việc phát triển TTKDTM sẽ hoàn thiện hóa thương mại điện tử, để thương mại điện tử phát triển ngày càng mạnh mẽ và vững chắc. Tăng quá trình lưu thông tiền tệ và hàng hóa: TTKDTM đẩy mạnh quá trình lưu thông tiền tệ và hàng hóa. Người bán có thể nhận tiền thanh toán tức thì, do đó có thể yên tâm tiến hành giao hàng một cách sớm nhất, thu hồi vốn nhanh để tái đầu tư. Ngoài ra, TTKDTM còn giúp thực hiện việc thanh toán trở nên an toàn, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia, hạn chế rủi ro so với thanh toán bằng tiền mặt
Trang 1CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG
Như vậy, TTKDTM là một nghiệp vụ trung gian của ngân hàng Ngân hàng chỉ được thực hiện thanh toán khi có lệnh của chủ tài khoản, bao gồm các tổ chức kinh tế, đơn vị và cá nhân mở tài khoản tại ngân hàng
Thanh toán không dùng tiền mặt thông thường gồm có 4 bên tham gia:
Bên mua hàng hay bên nhận hàng hóa, dịch vụ cung ứng;
Ngân hàng bên mua, tức ngân hàng mà bên mua mở tài khoản;
Bên bán hàng hay bên cung ứng hàng hóa, dịch vụ;
Ngân hàng bên bán, tức ngân hàng mà bên bán mở tài khoản;
1.2 Vai trò và chức năng của thanh toán không dùng tiền mặt :
1.2.1 Đối với nền kinh tế :
Thúc đẩy phát triển hoạt động thương mại điện tử :
Thương mại điện tử là xu hướng kinh doanh sẽ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới đây do sự tiến bộ của cộng nghệ thông tin và trình độ sử dụng
vi tính trong dân cư được nâng cao đáng kể Xét trên nhiều phương diện, TTKDTM là nền tảng của các hệ thống thương mại điện tử Sự khác biệt cơ bản giữa thương mại điện tử với các ứng dụng khác cung cấp trên internet chính là nhờ khả năng thanh toán trực tuyến này Do vậy, việc phát triển TTKDTM sẽ hoàn thiện hóa thương mại điện tử, để thương mại điện tử phát triển ngày càng mạnh mẽ và vững chắc
Tăng quá trình lưu thông tiền tệ và hàng hóa:
TTKDTM đẩy mạnh quá trình lưu thông tiền tệ và hàng hóa Người bán
có thể nhận tiền thanh toán tức thì, do đó có thể yên tâm tiến hành giao hàng một cách sớm nhất, thu hồi vốn nhanh để tái đầu tư Ngoài ra, TTKDTM còn giúp thực hiện việc thanh toán trở nên an toàn, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia, hạn chế rủi ro so với thanh toán bằng tiền mặt
Trang 2 Nâng cao khả năng quản lí dòng tiền của các cơ quan điều hành :
TTKDTM tạo ra một loại tiền mới, đó là tiền số hóa Tiền số hóa được thực thi trên hệ thống hoàn toàn tự động, giúp quá trình giao dịch trở nên đơn giản, an toàn Các thông tin tiền tệ được cập nhật tức thì, chi phí giao dịch giảm bớt đáng kể và các cơ quan quản lí Nhà nước cũng có thể dễ dàng kiểm soát luồng tiền lưu thông trên thị trường, từ đó có những chính sách điều hành nhanh chóng và phù hợp hơn
1.2.2 Đối với hệ thống NHTM :
Giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh :
Giảm chi phí văn phòng và chi phí nhân sự : Các giao dịch hầu như được thực hiện một cách tự động trên hệ thống, do đó thời gian tác nghiệp được rút ngắn, các thủ tục, quy trình được chuẩn hóa một cách gọn nhẹ, nâng cao hiệu quả tìm kiếm và xử lí chứng từ Từ đó, giảm bớt đáng kể chi phí văn phòng và nguồn nhân lực
Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị sản phẩm: Thông qua các website cung cấp dịch vụ TTKDTM của chính Ngân hàng, các Ngân hàng có thể tăng khả năng tiếp cận khách hàng, giảm bớt chi phí tiếp thị, quảng cáo so với các loại hình truyền thống trước đây
Nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nét riêng trong kinh doanh :
“Ngân hàng điện tử” giúp các ngân hàng tạo và duy trì một hệ thống khách hàng rộng rãi và bền vững Thay vì phải xếp hàng rất lâu chờ rút tiền tại một chi nhánh ngân hàng, khách hàng có thể đến một máy rút tiền tự động của một ngân hàng khác và thực hiện giao dịch trong vài phút Thế mạnh về Ngân hàng điện tử sẽ tạo ra nét riêng trong kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
Thực hiện chiến lược toàn cầu hóa :
TTKDTM là xu thế toàn cầu và đã phát triển ở hầu khắp các quốc gia phát triển trên thế giới Do đó, với tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng
Trang 3trước nhất phải thực hiện đẩy mạnh TTKDTM để tăng khả năng gia nhậo tiến trình toàn cầu hóa
1.2.3 Đối với khách hàng.:
Tiết kiệm chi phí:
Phí giao dịch thanh toán điện tử mà các Ngân hàng cung cấp hiện được đánh giá là ở mức thấp so với các phương tiện giao dịch khác Điều này hoàn toàn có thể lí giải được bởi một khi các ngân hàng có thể tiết kiệm được chi phí khi triển khai với hình thức các ngân hàng ảo (chỉ hoạt động trên hệ thống tự động) thì các chi phí mà khách hàng phải trả theo đó mà giảm đi rất nhiều
Tiết kiệm thời gian:
Đối với các giao dịch ngân hàng từ Internet được thực hiện từ xa, xử lí một cách nhanh chóng và hết sức chính xác Khách hàng không cần phải đến tận văn phòng giao dịch của ngân hàng, không phải mất thời gian đi lại hoặc nhiều khi phải xếp hàng chờ đợi tới lượt mình Giờ đây với dịch vụ ngân hàng điện tử, họ có thể tiếp cận với bất cứ một giao dịch nào của ngân hàng vào bất cứ thời điểm nào hoặc ở bất cứ đâu mà họ muốn
Thông tin liên lạc với ngân hàng nhanh chóng và hiệu quả hơn:
Khi khách hàng sử dụng ngân hàng điện tử, họ sẽ nắm được nhanh chóng, kịp thời những thông tin về tài khoản, tỷ giá, lãi suất Mặt khác, thông qua máy vi tính được nối mạng, khách hàng có thể giao dịch trực tiếp với ngân hàng để kiểm tra số dư tài khoản, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn dịch vụ công cộng, thanh toán thẻ tín dụng, mua séc du lịch, kinh doanh ngoại hối, vay nợ, mở và điều chỉnh, thanh toán thư tín dụng và kể cả kinh doanh chứng khoáng với ngân hàng…
1.3 Sự cần thiết phải phát triển thanh toán không dùng tiền mặt :
Thanh toán không dùng tiền mặt là một bộ phận không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường Đó là sự đòi hỏi khách quan của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển, luôn đòi hỏi phải có những thay đổi trong phương tiện thanh toán, mua bán hàng hóa Từ việc trao đổi hàng hóa thông qua chính bản thân hàng hóa đó, rồi đến vật ngang giá (những sản phẩm có tính phổ biến, dễ chấp nhận như vàng, bạc) Khi nền sản xuất hàng hóa phát triển hơn nữa, thì việc sử dụng tiền vàng có rất nhiều bất tiện (nặng, khó vận chuyển khi mua một khối lượng hàng hóa lớn, nhà nước phải dự trữ một khối lượng tiền vàng lớn) Do đó, tiền giấy đã ra đời, rất thuận
Trang 4tiện cho việc chia nhỏ, lưu thông, cất giữ Đây cũng là hình thức tiền tệ hiện đang được sử dụng phổ biến trên thế giới, nó chính là tiền pháp định của mỗi quốc gia
Nhưng khi nền kinh tế trên thế giới đã có những thay đổi lớn như hiện nay,
cả thế giới như một nền kinh tế khổng lồ, thống nhất, không giới hạn về ranh giới địa lý, trong đó mỗi quốc gia “không thể” tự tách mình ra khỏi sự gắn kết
đó được là nhờ một hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, cụ thể là mạng Internet toàn cầu Do vậy, đòi hỏi phải có hình thức tiền tệ mới, thỏa mãn yêu cầu: gọn nhẹ, bảo đảm, an toàn, dễ dàng trong thanh toán ở mọi lúc mọi nơi, mà lại sinh lời Hình thức “thanh toán điện tử” hay còn gọi bởi thuật ngữ “thanh toán không dùng tiền mặt” ra đời để đáp ứng nhu cầu đó
Thanh toán không dùng tiền mặt sẽ làm giảm khối lượng tiền mặt có trong lưu thông, giảm chi phí trong các khâu in ấn, kiểm đếm, vận chuyển giảm được chi phí lao động xã hội, đảm bảo cho các dòng vốn trong nền kinh tế xã hội được tập trung và phân phối nhanh, đáp ứng có hiệu quả thanh toán trong nền kinh tế, từ đó thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển Do đó, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt là một như cầu bức thiết hiện nay
2 Cơ sở hạ tầng của thanh toán không dùng tiền mặt :
Để vận hành TTKDTM, hiển nhiên cần có một hệ thống cơ sở hạ tầng vững chắc, hoạt động dựa trên nền tảng Công nghệ thông tin hiện đại, nhanh chóng và an
toàn Hiện nay, tại Việt Nam tồn tại các hệ thống thanh toán điện tử như sau : 2.1 Hệ thống chuyển tiền trong cùng hệ thống ngân hàng :
Hệ thống chuyển tiền điện tử trong cùng hệ thống ngân hàng là hệ thống thực hiện các nghiệp vụ chuyển tiền, thanh toán cho các khách hàng trong cùng
hệ thống, chuyển vốn giữa các chi nhánh trong nội bộ ngân hàng, do đó, không làm thay đổi tổng nguồn vốn của ngân hàng Việc chuyển và hoàn tất một lệnh thanh toán được thực hiện thông qua mạng máy tính trong nội bộ của ngân hàng
2.2 Hệ thống thanh toán điện tử đa ngân hàng :
Thanh toán điện tử đa ngân hàng là hệ thống thanh toán giữa hai hay nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) hay các chi nhánh NHTM trong và ngoài hệ thống, trên cùng địa bàn hoặc khác địa bàn Hệ thống này được thể hiện dưới hai hình thức: thanh toán song biên giữa hai ngân hàng thương mại và thanh toán điện tử liên ngân hàng
Trang 52.3 Hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT :
SWIFT là từ viết tắt của Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication Đây là một tổ chức hoạt động theo đạo luật của Bỉ, có trụ
sở tại Brucxen Tổ chức này hoạt động không vì lợi nhuận, cung cấp cho các Ngân hàng thành viên một mạng riêng để chuyển giao dữ liệu trên phạm vi toàn cầu Mục đích hoạt động của SWIFT là chuyển những thông tin thanh toán quốc tế an toàn, nhanh chóng, không dùng chứng từ giữa ngân hàng với ngân hàng trên toàn thế giới Mọi thông tin của SWIFT đều được mã hoá mà chỉ những người có phận sự mới nắm được
2.4 Hệ thống ngân hàng điện tử và dịch vụ E-banking :
Ngân hàng điện tử được hiểu là các nghiệp vụ, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống trước đây được phân phối trên các kênh mới như Internet, điện thoại, mạng không dây và các phương tiện điện tử khác Hiện nay, ngân hàng điện tử tồn tại dưới hai hình thức: hình thức ngân hàng trực tuyến, chỉ tồn tại dựa trên môi trường mạng Internet, cung cấp dịch vụ 100% thông qua môi trường mạng; và mô hình kết hợp giữa hệ thống ngân hàng thương mại truyền thống và điện tử hoá các dịch vụ truyền thống, tức là phân phối những sản phẩm dịch vụ cũ trên những kênh phân phối mới
Về nguyên tắc, thực chất của dịch vụ ngân hàng điện tử là việc thiết lập một kênh trao đổi thông tin tài chính giữa khách hàng và ngân hàng nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng một cách nhanh chóng, an toàn và thuận tiện Sau rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm và ứng dụng, hiện nay, dịch vụ ngân hàng điện tử được các NHTM Việt Nam cung cấp qua các kênh chính sau đây: Home banking, Internet banking, Phone banking, Mobile banking
Internet Banking: Là kênh phân phối các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng
cho khách hàng ở bất kỳ nơi đâu, chỉ cần với một chiếc máy tính có kết nối Internet thì khách hàng có thể tìm kiếm, truy vấn thông tin về sản phẩm dịch vụ Ngân hàng hoặc thực hiện được những dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp
Home Banking: Cho phép khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản, gửi lệnh thanh toán tại nhà, văn phòng công ty…ngay tại nhà mà không cần phải đến ngân hàng
Phone Banking: Dịch vụ này mang đến cho khách hàng những tiện ích mọi lúc, mọi nơi có dùng điện thoại cố định hoặc di động để có thể nghe được các thông tin về sản phẩm dịch vụ Ngân hàng hay thông tin về giao dịch trên tài khoản của mình thông qua hệ thống trả lời tự động 24/24
Trang 6 Mobile Banking: Là dịch vụ cho phép khách hàng thực hiện thanh toán hóa đơn dịch vụ có liên kết với ngân hàng, chuyển khoản, kiểm tra thông tin số dư, liệt kê giao dịch tài khoản, thông tin về tỷ giá, lãi suất… thông qua đặc điểm, chứng năng sử dụng của điện thoại di động
3 Những phương thức thanh toán không dùng tiền mặt :
Căn cứ theo Quyết định số 22/QĐ-NH1 ban hành về “Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt” ngày 21/02/1994 của Thống đốc NHNN Việt Nam và Nghị định số 64/2001/NĐ-CP của Chính phủ Về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ngày 20/09/2011, hiện nay nước ta đang áp dụng một số phương tiện TTKDTM như sau :
Thanh toán bằng thẻ ngân hàng;
Thanh toán bằng séc;
Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi;
Thanh toán bằng ủy nhiệm thu;
Thanh toán bằng thư tín dụng;
Mỗi mô hình thanh toán có nội dung kinh tế và yêu cầu kỹ thuật hạch toán khác nhau nên đòi hỏi phải có bộ chứng từ, các tài khoản và kỹ thuật hạch toán phù hợp Còn việc vận dụng hình thức thanh toán nào là hoàn toàn do sự thoả thuận giữa bên mua và bên bán, ngân hàng có trách nhiệm hướng dẫn cho khách hàng lựa chọn những hình thức thanh toán thuận lợi nhất, hợp lý nhất
3.1 Thanh toán bằng thẻ ngân hàng :
Thẻ thanh toán là một công cụ thanh toán không dùng tiền mặt hoặc có thể dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lí hoặc các máy rút tiền tự động Thẻ thanh toán chủ yếu phục vụ cho thanh toán cá nhân, thay cho tiền mặt thông dụng trên toàn thế giới Dùng thẻ thanh toán đã thay thế cho việc luân chuyển một phần tiền mặt từ nơi này sang nơi khác, ở trong nước và nước ngoài, đem lại những lợi ích kinh tế to lớn và văn minh ngân hàng
Các thành viên tham gia vào một giao dịch thẻ bao gồm: Chủ thẻ (khách hàng), cơ sở chấp nhận thẻ (nơi cung ứng hàng hóa dịch vụ), ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán
Nếu xét về nội dung kinh tế thì thẻ thanh toán được chia thành 3 loại :
Thẻ ký quỹ: Là thẻ trước khi phát hành khách hàng phải đến Ngân hàng
xin trích tài khoản của mình để lưu ký vào tài khoản “Tiền gửi thẻ thanh toán” nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho thẻ Loại thẻ này hiện rất
Trang 7phổ biến ở Việt Nam, và thường được áp dụng cho những khách hàng chưa có tín nhiệm đối với Ngân hàng
Thẻ không phải ký quỹ (thẻ ghi nợ): Là loại thẻ mà người sử dụng thẻ
không phải lưu ký số tiền để đảm bảo khả năng thanh toán cho thẻ, khi thanh toán tiền được thực hiện trực tiếp từ tài khoản của người phát hành thẻ Loại này thường áp dụng đối với khách hàng có tín nhiệm với ngân hàng
vay một số tiền nhất định, gọi là hạn mức tín dụng để đảm bảo thanh toán thẻ Hình thức này cũng có thể xem như một hoạt động tín dụng của ngân hàng dựa trên hệ thống thanh toán điện tử
3.2 Thanh toán bằng séc :
Séc là lệnh trả tiền của người phát hành séc trả cho người thụ hưởng Trong thời hạn hiệu lực thanh toán của tờ séc, người phát hành séc có nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng và phải thanh toán ngay khi người thụ hưởng nộp séc vào Ngân hàng
Séc là một công cụ lưu thông tiền tệ đã có từ lâu đời và đã được sử dụng một cách phổ biến trên khắp thế giới Thể thức thanh toán bằng séc đòi hỏi việc mua - bán và thanh toán diễn ra đồng thời cùng một lúc, tức là bên mua đồng ý mua và trao cho bên bán tờ séc mà trên đó có ghi rõ số tiền bằng giá trị hàng hóa đã nhận đủ Séc phải được bảo quản chặt chẽ, nghiêm cấm ký, đóng dấu khống để ngăn ngừa tham ô tài sản
Thanh toán bằng séc có ưu điểm là thuận tiện, rút ngắn thời gian từ khi giao hàng đến khi thu hồi vốn Nhưng trong quá trình thực hiện cũng phát sinh nhiều khiếm khuyết như: chủ tài khoản phát hành séc quá số dư hiện có tại ngân hàng, trong trường hợp này, mặc dù đơn vị phát hành séc bị xử phạt chậm trả trả cho người thụ hưởng, tuy nhiên bên thụ hưởng vẫn bị thiệt do vốn thu hồi chậm Mặt khác, séc có thể bị sửa chữa, thất lạc, mất cắp, nên đòi hỏi không được buông lỏng khâu quản lý, phải kiểm tra, kiểm soát, bảo quản chặt chẽ và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm
Hiện nay, trong TTKDTM ở nước ta, thanh toán séc qua ngân hàng thông dụng nhất là 02 loại: séc chuyển khoản và séc bảo chi
Séc chuyển khoản: do Chủ tài khoản phát hành để trả trực tiếp cho người
thụ hưởng Séc chuyển khoản chỉ được áp dụng thanh toán trong phạm
vi giữa các khách hàng có tài khoản ở cùng một chi nhánh Ngân hàng
Trang 8hoặc khác Ngân hàng nhưng các chi nhánh này có tham gia thanh toán
bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố
Séc bảo chi : do chủ tài khoản phát hành được Ngân hàng đảm bảo chi
trả, lập theo mẫu séc chuyển khoản hoặc séc cá nhân Người phát hành séc phải lưu ý trước số tiền ghi trên tờ séc vào một tài khoản riêng để
Ngân hàng làm thủ tục bảo chi trước khi giao séc cho khách hàng
3.3 Thanh toán bằng ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi :
Ủy nhiệm chi :
Ủy nhiệm chi thực chất là lệnh chi tiền của chủ tài khoản lập theo mẫu in sẵn của ngân hàng, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền gửi) trích chuyển một khoản tiền từ tài khoản của mình trả cho người thụ hưởng
Ủy nhiệm chi có thể thanh toán trong phạm vi một Ngân hàng hoặc khác ngân hàng, có đặc điểm thanh toán nhanh, thủ tục đơn giản, do đơn vị mua chủ động phát hành sau khi họ đã hoàn thành việc nhận hàng hóa hay dịch vụ của bên bán Như vậy, việc thu hồi vốn của bên bán bị phụ thuộc vào bên mua, nếu bên mua gặp khó khăn về tài chính thì quyền lợi của bên bán cũng bị ảnh hưởng Mặt khác, áp dụng thể thức thanh toán bằng Ủy nhiệm chi thì khả năng kiểm soát của ngân hàng bị hạn chế, vì quyền chủ động chi trả phụ thuộc vào chủ tài khoản, nếu đến hạn trả tiền mà người mua chưa trả thì ngân hàng cũng không kiểm soát được Do vậy mà thể thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi thường được áp dụng đối với các tổ chức kinh tế có sự tín nhiệm lẫn nhau trong quan hệ mua bán và có khả năng tài chính tương đối ổn định
Ủy nhiệm thu :
Ủy nhiệm thu được áp dụng trong thanh toán tiền hàng và dịch vụ (trả tiền điện, nước, cước phí bưu điện, v.v…) giữa người mua và người bán trên cơ sở hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng Thanh toán ủy nhiệm thu xuất phát do người bán lập và nộp vào ngân hàng nơi mình mở tài khoản, để uỷ nhiệm cho Ngân hàng thu hộ số tiền của người mua theo chứng từ thanh toán hợp lệ, hợp pháp
Ủy nhiệm thu có thể thanh toán trong phạm vi một Ngân hàng hay hai Ngân hàng cùng hệ thống hoặc khác hệ thống Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, hình thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm thu thường là thanh toán chậm trễ, vì chứng từ xuất phát từ bên thụ hưởng, song theo nguyên tắc đòi hỏi phải ghi nợ trước, ghi có sau nên chứng từ phải luân chuyển qua nhiều khâu gây vòng vèo ách tắc trong thanh toán
Trang 93.4 Thanh toán bằng thư tín dụng :
Thư tín dụng được dùng để thanh toán tiền hàng trong điều kiện bên bán đòi hỏi bên mua phải có đủ tiền để chi trả ngay và phù hợp với tổng số hàng đã giao theo hợp đồng hoặc đơn đặt hàng đã ký Khi có nhu cầu, bên mua phải lập giấy
mở thư tín dụng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản tiền gửi (hoặc tiền vay của ngân hàng) lưu ký vào tài khoản tiền gửi mở thư tín dụng, số tiền bằng tổng giá trị hàng hóa đặt mua Mức tiền tối thiểu của một thư tín dụng là
10 triệu đồng Theo quy định, tiền gửi thư tín dụng không được hưởng lãi và mỗi thư tín dụng chỉ dùng để trả cho một người bán Thời hạn hiệu lực thanh toán của thư tín dụng là 03 tháng kể từ ngày Ngân hàng bên mua nhận mở thư tín dụng
Hình thức này chủ yếu được sử dụng trong thanh toán quốc tế, nơi mà người mua và người bán thường không quen biết nhau nên họ phải thận trọng trong quá trình thanh toán
Trang 10CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG
TIỀN MẶT TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 – 2012
1 Định hướng của Chính Phủ về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam qua các giai đoạn :
Với những lợi ích không thể phủ nhận từ hoạt động TTKDTM, Chính phủ Việt Nam đã chú trọng phát triển vấn đề này từ những năm 2001 Tuy nhiên, chính thức
có Đề án với các động lực và giải pháp chi tiết nhằm thúc đẩy TTKDTM tại Việt Nam chỉ mới bắt đầu được xác lập vào năm 2006 với Đề án số 291/2006/QĐ-TTG Tiếp theo những thành quả khả quan đã đạt được, Chính phủ lại tiếp tục thực hiện giai đoạn 5 năm lần thứ hai với Đề án số 2453/QĐ-TTG Giai đoạn này là thời gian thực hiện kế hoạch lần hai, nhưng trước mắt đã đạt được những thành quả rất khả quan và đáng khích lệ
1.1 Giai đoạn 5 năm lần thứ 1 (2006 – 2010) và định hướng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt đến năm 2020 :
Ngày 29/12/2006 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 291/2006/QĐ-TTG về việc: Phê duyệt Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020 tại Việt Nam với các vấn
đề chính như sau:
Một số chỉ tiêu về hoạt động thanh toán đến năm 2010 và năm 2020:
- Đến cuối năm 2010 đạt mức phát hành 15 triệu thẻ, 70% các trung tâm thương mại, siêu thị, nhà hàng, khách sạn, cửa hàng tự chọn v.v… lắp đặt các thiết bị chấp nhận thanh toán thẻ Phấn đấu đến năm 2020 con số này đạt lần lượt là 30 triệu thẻ và 95%
- Đến năm 2010 tỷ lệ tiền mặt/tổng phương tiện thanh toán không quá 18% Đến năm 2020 tỷ lệ này phấn đấu khoảng 15%
Đạt mức 20 triệu tài khoản cá nhân vào cuối năm 2010; 70% cán bộ hưởng lương ngân sách và 50% công nhân lao động trong khu vực doanh nghiệp,
tư nhân thực hiện trả lương qua tài khoản Đến năm 2020 đưa những con số này lên lần lượt là 45 triệu tài khoản cá nhân (bình quân mỗi người có 0.5 tài khoản - ở một số nước phát triển mỗi người hiện có hơn 1 tài khoản); 95% cán bộ hưởng lương ngân sách và 80% lao động được trả lương qua tài khoản
- Đạt mức 80% các khoản thanh toán giữa các doanh nghiệp với nhau thực hiện qua tài khoản tại Ngân hàng đến cuối năm 2010 và đạt 95% đến năm
2020
Trang 11Định hướng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam đến hết năm 2020 :
- Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt phải phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế, hạ tầng kỹ thuật công nghệ và hệ thống thanh toán Các giải pháp xây dựng trong Đề án không mang tính hành chính, áp đặt, gây tác động tiêu cực kìm hãm sự phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội;
- Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt đặt trong mối quan hệ cân bằng giữa lợi ích chung của cộng đồng và lợi ích của người sử dụng dịch vụ thanh toán, của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; những biện pháp
hỗ trợ của Nhà nước chỉ mang tính chất ngắn hạn, nhằm tạo ra bước đột phá ban đầu cho sự phát triển thanh toán không dùng tiền mặt;
- Các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt hướng tới việc
sử dụng các biện pháp kinh tế là chủ yếu nhằm huy động các nguồn lực của khu vực tư nhân để đầu tư phát triển thanh toán không dùng tiền mặt Nguồn lực của Nhà nước chỉ được sử dụng trong trường hợp nguồn lực của tư nhân không đủ lớn hoặc cho những dự án mang tính chiến lược lâu dài, hình thành cơ sở nền tảng để thúc đẩy sự phát triển chung của toàn bộ các hoạt động thanh toán của nền kinh tế
1.2 Giai đoạn 5 năm lần thứ 2 (2011 – 2015) :
Ngày 27/12/2011, Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số TTG về việc Phê duyệt Đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 với các nội dung chính sau :
2453/QĐ-Mục tiêu tổng quát của Đề án là đa dạng hóa dịch vụ thanh toán, phát triển
cơ sở hạ tầng thanh toán, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thanh toán điện tử, chú trọng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực nông thôn để đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán của nền kinh tế, giảm chi phí xã hội liên quan đến tiền mặt, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt về tập quán thanh toán trong
xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng và hiệu quả quản lí nhà nước
Trang 12- Bên cạnh đó, sẽ phát triển dịch vụ thanh toán thẻ, trọng tâm là phát triển thanh toán qua điểm chấp nhận thẻ Đến năm 2015, toàn thị trường có khoảng 250.000 thiết bị chấp nhận thẻ được lắp đặt với số lượng giao dịch đạt khoảng 200 triệu giao dịch/năm; áp dụng một số hình thức thanh toán mới, phù hợp với điều kiện của khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa
Đề án cũng đã xác định ba nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn 2011-2015 như sau :
- Phát triển thanh toán điện tử với nhiều sản phẩm, dịch vụ mới, đa dạng, an toàn, thuận tiện; trong đó trọng tâm là phát triển thanh toán qua điểm chấp nhận thẻ để giảm thanh toán bằng tiền mặt, tạo thói quen thanh toán không dùng tiền mặt trong bộ phận lớn dân cư
- Lựa chọn áp dụng một số mô hình thanh toán phù hợp với Việt Nam để xây dựng nền tảng, tạo bước phát triển hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ở khu vực nông thôn, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới
- Đồng thời, tăng cường quản lý thanh toán bằng tiền mặt, giảm sử dụng tiền mặt trong các giao dịch thanh toán
Bảng 01 : Tóm tắt một số mục tiêu phát triển thanh toán không dùng
tiền mặt của Chính phủ qua các Đề án phát triển :
291/2006/QĐ-TTG 2453/QĐ-TTG
Tỷ lệ Tiền mặt/tổng
Thanh toán giữa các
Trang 132 Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2012 :
2.1 Đánh giá chung :
Một điều dễ nhận thấy là tại các nước phát triển, sự phát triển của công nghệ, mức thu nhập bình quân đầu người khá cao cộng với sự hỗ trợ của hệ thống chính sách vĩ mô đã khiến các công cụ và phương tiện TTKDTM của các ngân hàng cũng như các tổ chức phi ngân hàng thuận tiện đến mức tiền mặt lưu thông chỉ còn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (thường chiếm khoảng < 1% - 3%)
Còn tại Việt Nam và một số nước đang phát triển lại tồn tại một thực
tế tương đối khác, dù cho tỷ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán của nước ta đã có chiều hướng giảm xuống đáng kể, nhưng tỷ lệ này là rất cao khiến cho việc thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn rất phổ biến, nhất là các hoạt động thanh toán ở khu vực dân cư
Bảng 2: Tỷ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán tại Việt Nam từ
năm 2006 – T07/2012 :
Tỷ lệ tiền mặt /tổng phương tiện thanh toán
(Theo Báo cáo hàng năm của Ngân hàng Nhà nước)
Số liệu của bảng 2 cho thấy, vào năm 2006 là năm đầu tiên thực hiện đề
án thúc đẩy TTKDTM giai đoạn 1, tỷ lệ TTKDTM trong tổng phương tiện thanh toán là 17,21% Đến năm 2010, qua 5 năm thực hiện, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 15,10%, đạt chỉ tiêu đã đặt ra theo kế hoạch là nhỏ hơn 18% Đây
Trang 14là một nỗ lực hết sức to lớn của Chính phủ và hệ thống Ngân hàng Việt Nam lúc bấy giờ
Bước vào giai đoạn 2 từ năm 2011, những số liệu tính đến 07/2012 lại cho thấy tình hình tiến triển vượt bậc của tỷ lệ TTKDTM trong tổng phương tiện thanh toán, hiện nay ước đạt chỉ khoảng 11,14% và có khả năng sẽ giảm mạnh trong thời gian tới, vượt mức chỉ tiêu yêu cầu theo Đề án lần 2 đến năm
2015 là tỷ lệ này phải nhỏ hơn 11%
Biểu đồ 1: Tiền mặt lưu thông trong tổng phương tiện thanh toán tại
Việt Nam từ cuối năm 2011 đến tháng 07/2012 (%)
(Theo Số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước)
Xét về cơ cấu các phương tiện TTKDTM có thể nói, về thực tế các loại hình thanh toán truyền thống như ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi giữa các doanh nghiệp, cơ quan, hộ gia đình tại Việt Nam vẫn là chủ yếu và chiếm tỷ trọng cao nhất, trên 70% mỗi năm Với sự hạn chế về thông tin, bài tiểu luận chỉ xin đưa ra những con số cụ thể về cơ cấu này trong quý II và quý III năm
2012 để làm minh chứng
Bảng 3: Cơ cấu tỷ trọng các phương tiện thanh toán không dùng tiền
mặt quý II và III năm 2012 tại Việt Nam:
PTTT SL (món) Giá trị giao dịch
(triệu đồng) Tỷ trọng (%)