1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khủng hoảng tài chính và tác động của khủng hoảng đến VN

25 1,3K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 761,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUCác cuộc khủng hoảng kinh tế luôn là vấn đề được quan tâm của các chuyên gia , các nhà chính trị, những người hoạch định chính sách của các quốc gia trên toàn cầu từ cả trăm năm nay.Sự kiện khủng hoảng tài chính Mỹ diễn ra từ năm 2007 kéo dài cho đến 2009 đến nay đã tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế của hàng loạt quốc gia trên phạm vi toàn thế giới. Mức độ thiệt hại về kinh tế của cuộc khủng hoảng là rất lớn, đặc biệt tác động mạnh đến hệ thống tài chính ngân hàng. Nối tiếp theo đó là cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu dẫn đến sự sụp đổ của một số quốc gia và đe dọa các quốc gia khác trong hệ thống Liên Minh Châu Âu. Triển vọng giải quyết khủng hoảng nợ công châu Âu trong thời gian tới được dự báo vẫn đang gặp phải một số thách thức lớn.Sau khi gia nhập WTO năm 2007, nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn với thế giới. Điều này thể hiện qua quy mô nền kinh tế, mức độ giao lưu liên kết với các nền kinh tế trên thế giới ngày càng gia tăng. Do mức độ hội nhập ngày càng gia tăng nền kinh tế Nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng cũng không thể tránh khỏi những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của các cuộc khủng hoảng này. Để có cái nhìn cụ thể hơn về các tác động của các cuộc khủng hoảng đã diễn ra và từ đó đưa ra một số bài học cho Việt Nam. Nhóm 9k22 đêm 44 đã chọn đề tài “Khủng hoảng tài chính và tác động của khủng hoảng đến VN”Kết cấu bài gồm 3 phần :Chương 1. Khái quát về khủng hoảng tài chínhChương 2. Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến Việt NamChương 3. Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam CHƯƠNG 1.KHÁI QUÁT VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH1.1.Khái niệm về Khủng hoảng tài chính 1.1.1.Khái niệmKhủng hoảng tài chính (KHTC) là sự đổ vỡ trầm trọng các bộ phận của thị trường tài chính kéo theo sự vỡ nợ của hàng loạt ngân hàng và tổ chức tài chính do sự sụt giảm nhanh chóng về gía tài sản mà kết quả cuối cùng của nó là sự đông cứng và bất lực của thị trường tài chính, sự sụt giảm nghiêm trọng các hoạt động kinh tế.Khủng hoảng tài chính là kết quản trực tiếp của một sự mất mát phúc lợi “giấy”; chúng không phải là kết quả trực tiếp của sự thay đổi trong nền kinh tế trừ khi hệ quả của nó là một sự suy thoái hoặc khủng hoảng kinh tế tiếp theo sau.Phân biệt giữa khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế:Khủng hoảng tài chínhKhủng hoảng kinh tếNền kinh tế tiền tệLiên quan đến cấu trúc tài chính.Mức giá tài sản tài chính ( SP 500, NasDaq,..)Đầu tư tài chính.Bong bóng giá tài sản ( chứng khoán, bất động sản,..)Thường liên quan đến dòng chu chuyển vốn quốc tế ( FDI, FII, vay nợ quốc tế,..)Tác động đến nền kinh tế thực.Nền kinh tế thựcLiên quan đến cấu trúc kinh tế.Sản lượng (GDP)Đầu tư thực.Mức giá chung của nền kinh tế (lạm phát, CPI,..)Thường liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa dịch vụ.Tác động đến nền kinh tế tiền tệ.1.1.2.Ảnh hưởng:Khủng hoảng tài chính nói chung thường gây ra những tác động lớn đối với cả xã hội. Bởi kinh tế đóng vai trò then chốt trong việc ổn định trật tự xã hội, nên khi nền kinh tế bị tác động mạnh, nó sẽ kéo theo những ảnh hưởng ( cả tích cực lẫn tiêu cực) trong mọi lĩnh vực, khía cạnh của đời sống.Xét về mặt tiêu cực, khủng hoảng tài chính góp phần không nhỏ làm đảo lộn trật tự xã hội. Trong tất cả các doanh nghiệp, tài chính luôn là vấn đề cốt lõi nhằm duy trì sự hoạt động của doanh nghiệp và cả cuộc sống của người lao động. Khi gặp phải khủng hoảng tài chính, các doanh nghiệp khó có khả năng mở rộng đầu tư và phát triển, gây ra sự đình trệ công việc, thậm chí còn có thể phá sản. Sự phá sản của doanh nghiệp này sẽ tác động tới doanh nghiệp khác, và cao hơn nữa là tác động đến toàn bộ nền kinh tế theo hiệu ứng dây chuyền. bên cạnh đó, khủng hoảng tài chính còn góp phần gây ra những bất ổn về xã hội do lượng người thất nghiệp gia tăng.Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính cũng có những tác động tích cực đến nền kinh tế. Nó báo hiệu sự chấm dứt thế độc tôn của các “ông lớn” trên thị trường tài chính, góp phần làm thay đổi diện mạo của nền kinh tế. Đồng thời khủng hoảng tài chính cũng buộc người ta phải xem xét, rút ra bài học; sửa đổi các nguyên tắc đã quy định lên hệ thống tài chính từ trước đến nay, loại bỏ những nguyên tắc đã không còn thích hợp để theo kịp những biến đổi trong xã hội, từ đó có cài nhìn đúng đắn và chủ động ứng phó với những cuộc khủng hoảng khác trong tương lai.1.2.Các nguyên nhân dẫn đến Khủng khoảng tài chính 1.2.1.Nguyên nhân khủng hoảng tài chính

Trang 1

Nối tiếp theo đó là cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu dẫn đến sự sụp đổ của một số quốc

gia và đe dọa các quốc gia khác trong hệ thống Liên Minh Châu Âu Triển vọng giải quyết khủng

hoảng nợ công châu Âu trong thời gian tới được dự báo vẫn đang gặp phải một số thách thức lớn

Sau khi gia nhập WTO năm 2007, nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn với thế giới Điều này thể hiện qua quy mô nền kinh tế, mức độ giao lưu liên kết với các nền kinh tế trên

thế giới ngày càng gia tăng Do mức độ hội nhập ngày càng gia tăng nền kinh tế Nền kinh tế

Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng cũng không thể tránh khỏi những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của các cuộc khủng hoảng này

Để có cái nhìn cụ thể hơn về các tác động của các cuộc khủng hoảng đã diễn ra và từ đó đưa

ra một số bài học cho Việt Nam Nhóm 9-k22 đêm 44 đã chọn đề tài “Khủng hoảng tài chính và tác động của khủng hoảng đến VN”

Kết cấu bài gồm 3 phần :

Chương 1 Khái quát về khủng hoảng tài chính

Chương 2 Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến Việt Nam

Chương 3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

Trang 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH

1.1. Khái niệm về Khủng hoảng tài chính

1.1.1. Khái niệm

Khủng hoảng tài chính (KHTC) là sự đổ vỡ trầm trọng các bộ phận của thị trường tài chính kéo theo sự vỡ nợ của hàng loạt ngân hàng và tổ chức tài chính do sự sụt giảm nhanh chóng về gía tài sản mà kết quả cuối cùng của nó là sự đông cứng và bất lực của thị trường tài chính, sự sụt giảm nghiêm trọng các hoạt động kinh tế

Khủng hoảng tài chính là kết quản trực tiếp của một sự mất mát phúc lợi “giấy”; chúng không phải là kết quả trực tiếp của sự thay đổi trong nền kinh tế trừ khi hệ quả của nó là một sự suy thoái hoặc khủng hoảng kinh tế tiếp theo sau

Phân biệt giữa khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế:

Khủng hoảng tài chính Khủng hoảng kinh tế

- Đầu tư tài chính

- Bong bóng giá tài sản

( chứng khoán, bất động sản, )

- Thường liên quan đến dòng

chu chuyển vốn quốc tế ( FDI,

FII, vay nợ quốc tế, )

1.1.2. Ảnh hưởng:

Khủng hoảng tài chính nói chung thường gây ra những tác động lớn đối với cả xã hội Bởi kinh tế đóng vai trò then chốt trong việc ổn định trật tự xã hội, nên khi nền kinh tế bị tác động mạnh, nó sẽ kéo theo những ảnh hưởng ( cả tích cực lẫn tiêu cực) trong mọi lĩnh vực, khía cạnh của đời sống

Xét về mặt tiêu cực, khủng hoảng tài chính góp phần không nhỏ làm đảo lộn trật tự xã hội Trong tất cả các doanh nghiệp, tài chính luôn là vấn đề cốt lõi nhằm duy trì sự hoạt động của doanh nghiệp và cả cuộc sống của người lao động Khi gặp phải khủng hoảng tài chính, các doanh nghiệp khó có khả năng mở rộng đầu tư và phát triển, gây ra sự đình trệ công việc, thậm chí còn có thể phá sản Sự phá sản của doanh nghiệp này sẽ tác động tới doanh nghiệp khác, và cao hơn nữa là tác động đến toàn bộ nền kinh tế theo hiệu ứng dây chuyền bên cạnh đó, khủng hoảng tài chính còn góp phần gây ra những bất ổn về xã hội do lượng người thất nghiệp gia tăng

Trang 3

Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính cũng có những tác động tích cực đến nền kinh tế Nó báo hiệu sự chấm dứt thế độc tôn của các “ông lớn” trên thị trường tài chính, góp phần làm thay đổi diện mạo của nền kinh tế Đồng thời khủng hoảng tài chính cũng buộc người ta phải xem xét, rút

ra bài học; sửa đổi các nguyên tắc đã quy định lên hệ thống tài chính từ trước đến nay, loại bỏ những nguyên tắc đã không còn thích hợp để theo kịp những biến đổi trong xã hội, từ đó có cài nhìn đúng đắn và chủ động ứng phó với những cuộc khủng hoảng khác trong tương lai

1.2. Các nguyên nhân dẫn đến Khủng khoảng tài chính

1.2.1. Nguyên nhân khủng hoảng tài chính

Đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính có nghĩa là việc vay mượn để tài trợ cho đầu tư Đòn bẩy tài chính thường cũng bị chỉ trích như là nhân tố đóng góp cho khủng hoảng tài chính Khi một nhà đầu tư dùng tiền của mình để đầu tư thì nếu thua lỗ, trong tình huống xấu nhất, người này chỉ mất tiền của mình mà thôi Nhưng khi vay nợ để đầu tư thì kết quả có thể làm cho thu nhập tiềm năng tăng lên nhưng cũng có thể thua lỗ nhiều hơn những gì nhà đầu tư có Do đó, đòn bẩy tài chính có thể khuếch đại thu nhập nhưng cũng có thể tạo ra rủi ro phá sản Nếu sự phá sản xảy ra thì có nghĩa

là công ty đã thất bại trong việc đáp ứng các lời hứa trả nợ cho các công ty khác, tức có nghĩa là

từ rắc rối tài chính của công ty này có thể lan sang thành của công ty khác

Sự không tương thích giữa nợ và tài sản

Một yếu tố khác được cho là có đóng góp đến khủng hoảng tài chính là sự không tương thích giữa nợ và tài sản Chẳng hạn, các ngân hàng thương mại huy đô các tài khoản tiền gửi ngắn hạn nhưng lại cho các doanh nghiệp hay gia đình vay dài hạn Sự không tương thích giữa nợ ngắn hạn và tài sản dài hạn của ngân hàng được xem là một trong những lý do có sự tháo chạy ngân hàng xảy ra (khi người gửi tiền hoảng loạn và quyết định rút tiền của mình nhanh hơn là ngân hàng có thể thu hồi nợ vay)

Đứng ở phương diện quốc gia, một vài chính phủ ở các nền kinh tế mới nổi, vì một lý do nào

đó, không thể bán trái phiếu có mệnh giá nội tệ, thay vào đó họ bán trái phiếu có mệnh giá ngoại

tệ Điều này có thể tạo ra sự không tương thích giữa mệnh giá ngoại tệ của nợ với tài sản hay thu nhập có thể kiếm được (doanh thu thuế bằng nội tệ) Do đó, các chính phủ này sẽ gặp rủi ro

vỡ nợ quốc gia nếu tỷ giá có sự dao động mạnh hoặc khi nguồn dự trữ ngoại tệ yếu

Sự không chắc chắn và tâm lý bầy đàn

Nhiều phân tích về khủng hoảng tài chính nhấn mạnh đến vai trò của các sai lầm trong đầu tư gây ra bởi sự thiếu hiểu biết và sự không hoàn hảo trong lý lẽ của con người Khủng hoảng thường phát sinh ngay sau các cuộc cách tân tài chính hay cách mạng kỹ thuật Các cuộc cách tân này cho phép các nhà đầu tư tìm thấy những cơ hội đầu tư mới được gọi là “sự chuyển hoán” các kỳ vọng của nhà đầu tư, như sự sụp đổ của các bong bóng dot-com năm 2001, cuộc khủng hoảng 2008 có dấu ấn của những chứng khoán phái sinh phức tạp như các hợp đồng hoán đổi rủi

ro tín dụng (credit default swaps hay CDS)

Sự xa lạ với các cách tân tài chính và kỹ thuật có thể giúp giải thích lý do các nhà đầu tư lại ước tính quá cao giá trị của các tài sản Chẳng hạn, một số nhà đầu tư lớp đầu biết được tiềm năng của internet nên đã đầu tư vào các công ty dot-com Các khoản lợi nhuận bắt đầu được tạo

Trang 4

ra do sự tăng giá cổ phiếu dot-com Những nhà đầu tư lớp thứ hai nhanh chóng nhảy vào để tìm kiếm lợi nhuận tương tự mặc dù những người này có thông tin rất hạn chế về tiềm năng của các công ty dot-com Tâm lý bầy đàn như vậy ban đầu đã làm giá cổ phiếu tăng và thực tế họ đã thu được lợi nhuận Giá cổ phiếu tăng cao vượt ra ngoài những tiềm năng thực sự mà ngành có thể tạo ra và đến một lúc nào đó thì sự đổ vỡ là không thể tránh khỏi Khi đó, chỉ cần một số nhỏ nhà đầu tư nhận ra vấn đề và bắt đầu bán ra thì ngay lập tức gây nên làn sóng bán tháo cổ phiếu và hậu quả là sự sụp đổ của thị trường.

Thất bại trong việc điều tiết

Các chính phủ cố gắng loại bỏ hoặc làm giảm nhẹ khủng hoảng tài chính bằng sự điều tiết đối với khu vực tài chính Một mục tiêu lớn của sự điều tiết là làm tăng tính minh bạch: buộc các định chế tài chính phải công bố rộng rãi các báo cáo tài chính một cách thường xuyên theo các tiêu chuẩn kế toán Một mục tiêu khác của sự điều tiết là đảm bảo các định chế tài chính có

đủ tài sản để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng, chẳng hạn như yêu cầu dự trữ, yêu cầu về vốn, và các giới hạn khác về vay nợ

Một số cuộc khủng hoảng tài chính đã nổ ra do thiếu một hệ thống điều tiết hữu hiệu.Chẳng hạn, theo cựu Giám đốc điều hành của IMF, ông Dominique Strauss-Kahn, cuộc khủng hoảng

2008 nổ ra là do “sự thất bại của hệ thống điều tiết nhằm chống lại những hành vi chấp nhận rủi

ro quá mức trong hệ thống tài chính, đặc biệt là ở Mỹ” Tờ New York Times thì cho rằng sự thiếu điều tiết đối với các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS) là một nguyên nhân của khủng hoảng

Tuy nhiên, nhiều khi sự điều tiết quá mức cũng có thể bị chỉ trích là nguyên nhân của khủng hoảng tài chính Chẳng hạn như Hiệp ước Basel II thường bị chỉ trích bởi yêu cầu các ngân hàng tăng vốn tự có khi rủi ro tăng lên, mà điều này có thể buộc ngân hàng giảm vay mượn xuống khi không thể tăng vốn tự có Điều này, ở một phương diện nào đó, có thể làm gia tăng các tiềm năng gây ra sự trói buộc tín dụng như đã trình bày mà hệ quả của nó có thể là khủng hoảng tài chính

Sự lừa dối

Sự lừa dối đóng một vai trò quan trọng trong việc làm sụp đổ một số tổ chức tài chính Chẳng hạn nhiều công ty thu hút đầu tư với lời hứa hảo huyền về các cơ hội đầu tư, hoặc che đậy kết quả thu nhập thực sự của mình Chẳng hạn như sự sụp đổ của các chứng khoán đầu tư của Madoff năm 2008 Sự lừa dối này có nguyên nhân do sự bất cân xứng thông tin với các hệ quả như vấn đề ủy quyền-tác nghiệp hay rủi ro đạo đức

Sự lừa dối trong các khoản tài trợ bất động sản thế chấp cũng bị chỉ trích là một khả năng gây ra khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn năm 2008 Tương tự, người ta cho rằng nhiều công ty tài chính đã phá sản trong cuộc khủng hoảng này do các giám đốc của họ không thể (hoặc không muốn) thực hiện các nhiệm vụ được giao phó

Sự lây lan

Người ta cho rằng các trục trặc tài chính có thể lây lan từ tổ chức này sang tổ chức khác giống như các căn bệnh truyền nhiễm vậy Chẳng hạn như khi một ngân hàng bị rơi vào tình trạng tháo chạy thì các ngân hàng khác cũng có nguy cơ bị rơi vào tình trạng tương tự Khi sự

Trang 5

sụp đổ của một tổ chức tài chính nào đó đe dọa đến sự ổn định của nhiều tổ chức tài chính khác, người ta gọi đó là rủi ro hệ thống.

Sự lây lan còn mang tính chất quốc gia, ở đó sự khủng hoảng tài chính từ quốc gia này có thể lan sang các quốc gia khác Chẳng hạn như khi có khủng hoảng tiền tệ, sự vỡ nợ quốc gia, hay

sự sụp đổ của thị trường chứng khoán nó ngay lập tức sẽ lan sang các thị trường tài chính ở các quốc gia khác

1.2.2. Các mô hình khủng hoảng

Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ 1

Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ nhất được P Krugman (1979) xây dựng và chủ yếu đặc trưng cho các cuộc khủng hoảng cán cân vãng lai trong điều kiện tỷ giá cố định bị các hoạt động đầu cơ tấn công Mô hình này xảy ra ở một số nước có nền tảng kinh tế vĩ mô quá yếu kém, ngân sách thâm hụt trầm trọng, cung tiền tăng quá mức (có thể do Chính phủ in tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách) khiến lạm phát gia tăng; những điều này dẫn đến cán cân vãng lai thâm hụt trầm trọng Trước nguy cơ đồng nội tệ bị giảm giá, Chính phủ buộc phải liên tục can thiệp bằng cách bán ngoại tệ ra thị trường để duy trì tỷ giá cố định Khi lượng dự trữ ngoại hối giảm xuống một mức thấp nhất định nào đó, các cuộc tấn công mang tính đầu cơ bắt đầu xảy ra, cùng với các điều kiện nền tảng kinh tế vĩ mô quá yếu kém và thậm chí là sự gia tăng căng thẳng về chính trị và xã hội, đến một thời điểm nào đó, Chính phủ buộc phải chấm dứt chế độ tỷ giá cố định và chuyển sang thả nổi tỷ giá làm cho đồng nội tệ bị mất giá liên tục và khủng hoảng tiền tệ xảy ra Mô hình này được thể hiện rõ nhất trong các cuộc khủng hoảng ở một số nước châu Mĩ La Tinh vào cuối những năm 1970, đầu những năm 1980 và trong những năm 1990

Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ 2

Trang 6

Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai được Obstfeld (1994 và 1995) xây dựng Khủng hoảng dạng này còn được gọi là khủng hoảng tự phát sinh (self-fulfilling crisis), có thể xảy ra ở những nước có mức độ yếu kém về tài chính và vĩ mô vừa phải, song cam kết duy trì chế độ tỷ giá cố định của Chính phủ bị suy yếu do các biện pháp bảo vệ tỷ giá quá tốn kém (chẳng hạn do thắt chặt tiền tệ, lãi suất bị đẩy lên cao, gây tác động xấu tới tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm) Trước tín hiệu đó, các nhà đầu cơ có thể bán tháo đồng nội tệ để mua ngoại tệ Những sức ép này buộc Chính phủ không có cách nào khác là phải từ bỏ chế độ tỷ giá cố định để thực thi chính sách tiền tệ mở rộng trước những cuộc tấn công quy mô của giới đầu cơ tiền tệ, và hậu quả là khủng hoảng bùng phát Biến thể khác của mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai xuất phát từ tình trạng thông tin không hoàn hảo và mất đối xứng Trong điều kiện một hoặc một số ngân hàng có

“vấn đề”, tình trạng này dẫn đến hành vi “bầy đàn”, gây hoảng loạn tài chính và rốt cuộc dẫn đến khủng hoảng tài chính - tiền tệ Mô hình này có thể thấy trong cuộc khủng hoảng của Hệ thống tiền tệ châu Âu năm 1992-1993

Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ 3

Trang 7

Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ ba được Yoshitomi và Ohno (1999) xây dựng, đặc trưng cho các cuộc khủng hoảng tài khoản vốn trong cán cân thanh toán quốc tế Khủng hoảng tài khoản vốn thường dẫn đến khủng hoảng “kép”: khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng Việc tự

do hoá tài khoản vốn thiếu một trình tự thích hợp đã dẫn đến hai hệ quả là tiền đề cho cuộc khủng hoảng kép: Luồng vốn đổ vào ồ ạt vượt quá mức thâm hụt cán cân vãng lai; và Vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng quá lớn

Luồng vốn đổ vào ồ ạt vượt quá mức thâm hụt cán cân vãng lai đã khiến cán cân thanh toán thặng dư và dự trữ ngoại hối tăng Điều này dẫn tới sự bành trướng tín dụng, đầu tư và tiêu dùng trong nước Điểm mấu chốt ở đây là việc đầu tư quá mức (dư thừa năng lực sản xuất), đầu tư kém hiệu quả (vào các lĩnh vực như bất động sản…), đã dẫn tới hậu quả là thâm hụt cán cân vãng lai tăng, xuất hiện nền “kinh tế bong bóng” và mức cung dư thừa Khi các nhà đầu tư nhận thức được những yếu kém kể trên và những dấu hiệu bất ổn khác như sự sụt giảm giá bất động sản và cổ phiếu cũng như các hoạt động tấn công đầu cơ tiền tệ, họ đồng loạt rút vốn ra khỏi nền kinh tế Hậu quả là cán cân thanh toán trở nên thâm hụt trầm trọng và dự trữ ngoại hối dần cạn kiệt, báo hiệu về một cuộc khủng hoảng tiền tệ xảy ra

Trong điều kiện tự do hoá cán cân vốn, một lượng vốn ngắn hạn với tỷ trọng quá lớn (lớn hơn nhiều dự trữ ngoại hối) đã đổ vào nền kinh tế Trong điều kiện giám sát các khoản vay nợ kém hiệu quả, một lượng lớn vốn vay ngắn hạn bằng ngoại tệ đã được cho vay bằng nội tệ để đầu

tư dài hạn vào những dự án kém hiệu quả đã dẫn đến vấn đề “sai lệch kép” trầm trọng Bảng cân đối tài sản của các công ty cũng như của hệ thống ngân hàng - tài chính xấu đi một cách trầm trọng khi đồng nội tệ mất giá và một lượng vốn lớn của các nhà đầu tư nước ngoài bị rút ra đột ngột; đến lượt nó, tài sản ròng của các ngân hàng bị sụt giảm, dẫn đến tín dụng càng bị thắt chặt

và bảng cân đối tài sản của các ngân hàng càng tồi tệ hơn Quá trình tác động vòng xoáy và cộng hưởng này gây nên khủng hoảng bùng phát trong một thời gian rất ngắn và đẩy các nền kinh tế ngập sâu vào vòng suy thoái Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á 1997-1998 được coi là

ví dụ điển hình của mô hình khủng hoảng thế hệ thứ ba

Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ 4

Trang 8

Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ tư được David Mayer và Foules xây dựng năm 2009 sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra năm 2008 Nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng là do tình trạng kinh doanh thua lỗ và sụp đổ hàng loạt theo dây chuyền của các tổ chức tài chính hàng đầu và khủng hoảng niềm tin của người dân vào nền kinh tế.

Khi nền kinh tế bước vào thời kỳ suy thoái, kinh tế khó khăn, giá bất động sản giảm mạnh, người đi vay đã không có khả năng trả được nợ lại cũng rất khó bán bất động sản để trả nợ Như vậy, các tổ chức tín dụng cho vay phải đối mặt với nguy cơ mất vốn Thêm vào đó, việc các hợp đồng cho vay bất động sản dùng để bảo đảm cho các các chứng khoán MBS là nợ khó đòi dẫn đến các chứng khoán MBS mất giá trên thị trường, khiến cho các ngân hàng, các nhà đầu tư nắm giữ những chứng khoán này không những bị lỗ mà còn dần rơi vào tình trạng khó khăn về tính thanh khoản Đến một mức độ nhất định, các tổ chức tài chính không còn chịu đựng được sức ép của tính thanh khoản và các khoản thua lỗ, nên đã buộc phải tìm sự cứu trợ từ tất cả các nguồn

và thậm chí giải pháp cuối cùng là đệ đơn pháp sản

Một nguyên nhân khác dẫn đến cuộc khủng hoảng thị trường chứng khoán ngày càng sâu rộng là sự khủng hoảng về niềm tin của người dân Mỹ đối với sự không nhất quán của đội ngũ lãnh đạo của đất nước này Nhiều chính sách điều tiết thị trường đã không còn phù hợp và không theo kịp được sự phát triển của thị trường Khi lòng tin vào vai trò của Chính phủ đã bị giảm sút

và những dấu hiệu của một cuộc cuộc đại khủng hoảng và suy thoái trong dài hạn vẫn còn hiển hiện thì những giải pháp tài chính tức thời cũng khó làm thay đổi được thị trường

Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng là tình trạng phát triển bong bóng của thị trường tài chính, trong đó tập trung là thị trường tín dụng bất động sản và chứng khoán hoá các khoản tín dụng bất động sản Trong một thời gian dài, các tổ chức tài chính đã tăng cường cho vay đối với thị trường bất động sản, đi kèm với đó là tình trạng nới lỏng các điều kiện vay vốn dẫn đến việc bùng nổ hoạt động cho vay bất động sản Các khoản tín dụng đầu tư bất động sản sau đó được chứng khoán hoá và được giao dịch rộng rãi trên thị trường Kết quả là tình trạng bong bóng tín dụng bất động sản và chứng khoán được đẩy lên rất cao, lôi kéo sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau như ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư Hệ quả là, những biến động tiêu cực của thị trường tài chính-tiền tệ lại tạo sức ép lên hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp làm cho họ vốn đã khó khăn lại ngày càng khó khăn thêm Lạm phát và tình trạng tín dụng bị co rút lại làm cho các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khi tiếp cận vốn, số doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản ngày càng tăng Vốn đầu tư không những không được bơm thêm vào thị trường mà lại còn được rút bớt ra, thị trường đi xuống trong tình trạng tính thanh khoản giảm

Trang 9

CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG KHTC ĐỐI VỚI VIỆT NAM2.1 Các cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới

2.1.1 Khủng hoảng giai đoạn 1929 -1930

Đại khủng hoảng là thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 1929 đến hết các năm

1930 và lấn sang đầu thập kỷ 1940, bắt đầu sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall

vào 29 tháng 10 năm 1929 (còn được biết đến như Thứ Ba Đen tối) Nó bắt đầu ở Hoa Kỳ và nhanh chóng lan rộng ra toàn Châu Âu và mọi nơi trên thế giới, phá hủy cả các nước phát triển

Thương mại quốc tế suy sụp rõ rệt, từ thu nhập cá nhân, thuế, lợi tức đều bị ảnh hưởng và suy thoái Xây dựng gần như bị tê liệt ở nhiều nước.Từ thành thị đến nông thôn đều phải đối mặt với mất mùa, giảm từ 40 đến 60 phần tram Các lĩnh vực khai mỏ và khai thác gỗ bị ảnh hưởng lớn nhất Đại Suy thoái kết thúc vào các thời gian khác nhau tùy theo từng nước Nó bị coi là "đêm trước" của Thế chiến thứ hai

Đại Suy thoái không hoàn toàn đột nhiên nổ ra; sự suy thoái đến thành các đợt, bắt đầu 3 năm một thời kỳ và đạt đến điểm tận cùng vào tháng 3 năm 1933

Nguyên nhân:

Chu kỳ kinh tế là một phần bình thường của đời sống thế giới do sự thiếu cân bằng giữa cung

và cầu Theo trường phái Áo, nguyên nhân bắt nguồn từ sự can thiệp của Chính phủ vào thập kỷ

1920 Sự dễ dãi trong tăng tín dụng đẩy các ngân hàng dễ dàng cho vay, dẫn tới bùng nổ quá mức cung tiền ngay trước khi khủng hoảng, đẩy thị trường chứng khoán bùng nổ quá mức, ngân hàng cho vay quá nhiều, rủi ro quá mức không được quản lý Khi thị trường chứng khoán sụp đổ, kéo theo sụp đổ dây chuyền của các thể chế tài chính do các khoản nợ xấu không đòi được

Theo trường phái Keynes, cơ chế tự điều chỉnh của thị trường tự do không hoạt động được

Dù lãi suất giảm nhưng đầu tư không tăng được do kỳ vọng về tương lai quá bi quan

Theo trường phái của kinh tế tiền tệ (monetarist), khủng hoảng là do sự xiết chặt quá mức của cung tiền năm 1930, và rằng Cục dự trữ Liên Bang đã sử dụng sai chính sách tiền tệ, đáng lẽ phải tăng cung tiền, thay vì đã giảm cung tiền

Một số lý thuyết riêng rẽ khác giải thích Đại Khủng hoảng:

o Khủng hoảng nợ dưới chuẩn (Deft Deflation): Khi nợ bị đánh giá khó đòi, việc bán ra số lượng lớn với giá rẻ, làm cho tài sản nhìn chung lại càng mất giá, khiến các khoản nợ còn tồn lại càng giảm chất lượng (do tài sản thế chấp bị giảm giá) Vòng xoáy này như quả bóng tuyết càng ngày càng to, đẩy cả thị trường nợ và tài sản xuống, làm cho các thể chế tài chính và cá nhân trên thị trường vỡ nợ Khi vỡ nợ nhiều quá, đẩy sản xuất và lợi nhuận xuống thấp, đầu tư đình trệ, việc làm mất và dẫn tới bẫy đói nghèo

o Sự bất công bằng trong giàu nghèo và thu nhập: Sự bất công bằng trong giàu nghèo được

Waddill Catchings và William Trufant Foster cho là nguyên nhân của Đại Khủng Hoảng Sản xuất ra quá nhiều hơn khả năng mua của thị trường (vốn đa số là người nghèo) Lương tăng chậm hơn so với mức tăng năng suất, dẫn tới lợi nhuận cao, nhưng lợi nhuận lại bị rót vào thị trường chứng khoán, mà không phải đưa tới cho người tiêu dùng Do thị trường chứng khoán tăng nhanh, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, FED lại để mức lãi xuất cho vay rất thấp, làm

Trang 10

đẩy mạnh đầu tư quá mức Nền kinh tế tăng nóng trong một thập kỷ, đến mức khả năng sản xuất quá cao so với mức hiệu quả và so với mức cầu Như vậy, nguyên nhân của khủng hoảng là do đầu tư quá mức vào các ngành công nghiệp nặng thay vì vào lương và doanh nghiệp vừa và nhỏ Nền kinh tế tăng quá mức hiệu quả và lạm phát quá cao.

o Cấu trúc thể chế tài chính: Các ngân hàng bị cho là quá rủi ro, khi dự trữ quá ít, đầu tư quá nhiều vào thị trường chứng khoán và các tài sản rủi ro Khối nông nghiệp thì quá rủi ro khi giá đất tăng quá cao, hiệu suất nông nghiệp thấp, trong khi nông dân đi vay quá nhiều để sản xuất, khi lãi suất đột ngột tăng cao thì họ lâm vào phá sản vì không thể sản xuất để trả lãi vay cao Một số nhà kinh tế cho rằng nguyên nhân có thể là từ Bẫy Thanh khoản (khi các chính sách tiền tệ như giảm lãi suất và tăng cung tiền không thể thúc đẩy nền kinh tế)

o Chế độ bản vị Vàng: Để chống lạm phát, các nước sau Thế chiến Thứ nhất áp dụng bản

vị vàng (đồng tiền gắn chặt với một lượng vàng nhất định) Sốc bắt đầu từ vụ Sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ, nhưng vì chế độ bản vị vàng mà khủng hoảng từ Mỹ lan rộng ra khắp thế giới Chính vì các chính phủ tiếp tục giữ chế độ bản vị vàng, họ không thể đưa ra các chính sách tiền tệ nới lỏng để chữa khủng hoảng Những nước nào thoát khỏi bản vị vàng sớm chính là những nước khôi phục kinh tế sớm

o Sụp đổ thương mại quốc tế: Do các nước châu Âu sau Thế chiến Thứ nhất nợ Mỹ nhiều,

họ phải trả nợ hàng năm Họ cũng xuất khẩu sang Mỹ để lấy ngoại hối trả nợ, đồng thời họ cũng nhập khẩu hàng từ Mỹ cho nhu cầu Đến cuối thập kỷ 1920, nhu cầu nhập hàng Mỹ giảm do khủng hoảng và do thiếu tiền để trả nợ Đồng thời khi hàng rào thuế quan của Mỹ tăng cao theoLuật Thuế quan Smoot–Hawley, xuất khẩu vào Mỹ giảm, dẫn tới các nước trên thế giới càng gặp khó khăn thương mại quốc tế đình trệ càng làm cho khủng hoảng kinh tế năm 1930 thêm tồi tệ

o Chủ nghĩa bảo hộ

2.1.2 Khủng hoảng tài chính Đông Á 1997

Khủng hoảng tài chính Đông Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là "những con Hổ Đông Á" Cuộc khủng hoảng này còn thường được gọi là Cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Á, hoặc cục bộ, là Cuộc khủng hoảng quỹ tiền tệ quốc tế, tuy nhiên, ở một điểm nào đấy, cái tên sau còn gây nhiều tranh cãi

Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philippines cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình Còn Đại lục Trung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng mấy.Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự khủng hoảng, song nền kinh tế Nhật phải kinh qua những khó khăn kinh tế dài hạn của chính bản thân mình

Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn từ Đông Á, nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga, Brazin và Hoa Kỳ

Trang 11

Nguyên nhân :

Cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á, xét theo cả cấp độ quốc gia lẫn khu vực, chính là kết quả “hợp lực” của sự tác động qua lại giữa ba nhóm nguyên nhân chủ yếu : từ phía các chính sách vĩ mô của Chính phủ, các nhà đầu tư trong nước và các nhân tố bên ngoài vượt khỏi tầm kiểm soát của các nước trong khu vực

Nhóm nguyên nhân thứ nhất : Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém của Chính phủ.

Trong một thời gian dài, các nước châu Á đã đạt được những thành tựu kinh tế mà các nhà kinh tế đã gọi là hiện tượng châu Á hay một “châu Á diệu kỳ” Từ giữa những năm 1960 đến giữa những năm 1990, thu nhập bình quân đầu người tăng hơn 4 lần ở Malaysia, Indonesia và Thái Lan; 7 lần ở Hàn Quốc Nhìn chung trong giai đoạn này cho đến trước khủng hoảng, chúng

ta thấy một Đông Á được quản lí tốt, tốc độ tăng trưởng cao liên tục, lạm phát thấp, ngân sách cân đối về cơ bản, nền kinh tế được tự do hóa ở một mức độ cao Không có gì cho ta thấy là các nước này sẽ trượt ra khỏi quỹ đạo tăng trưởng mạnh trong suốt những thập kỷ đó

Các chỉ số kinh tế vĩ mô năm 1996

Các nước Mức tăng

GDP

Lạm phát Thặng dư tài

khoản vãng lai (%GDP)

Thặng dư khối hành chính (%GDP)

đã kích thích sự gia tăng giá trị tài sản và cổ phiếu Nền kinh tế trở nên nóng hơn, sự tăng giá tài sản, bất động sản và cổ phiếu đã tiềm ẩn trong nó nguy cơ làm phát sinh một nền kinh tế ảo

Từ năm 1995-1997, đồng USD đổi chiều liên tục, tăng giá tới 50% so với đồng yên, với Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ hơn 30% vào cuối năm 1994 cùng chính sách neo giữ tỷ giá vào USD nói trên khiến các đồng bản tệ tăng giá giả tạo

Chính sách tự do hóa các hoạt động kinh tế khong được tiến hành đồng bộ đi đôi với việc tăng cường giám sát hoạt động của các cơ sở kinh doanh và các tổ chức tài chính ngân hàng Tình trạng chung của các nước châu Á lúc bấy giờ là :

o Nền kinh tế thị trường chưa hoàn hảo

o Sự can thiệp khá sâu vào nền kinh tế thông qua chính sách công nghiệp dẫn đến tình trạng bao cấp và cắt giảm thuế cho một số ngành Công nghiệp trong khu vực

Trang 12

o Tình trạng thị trường lao động kém linh hoạt (Hàn Quốc); hệ thống giám sát ngân hàng không hợp lý, thiếu minh bạch

o Thiếu đồng bộ và tính minh bạch trong hệ thống pháp luật, tình trạng tham nhũng và kinh

tế ngầm phát triển

Có sự mất cân đối lớn trong nền kinh tế như là kết quả của những sai lầm nêu trên Mất cân đối lớn nhất và đe dọa trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính – tiền tệ mỗi nước là sự thâm hụt tài sản vãng lai và cơ cấu vốn nước ngoài đổ vào trong nước Ngoài ra còn có sự kém phát triển của hệ thống giáo dục cộng với tình trạng thiếu lao động lành nghề, từ đó đẩy mức lương lao động lên nhanh hơn so với tốc độ tăng sản lượng, làm hao mòn sức cạnh tranh quốc tế

và gây khó khăn cho việc phát triển những ngành công nghệ cao

Nhóm nguyên nhân thứ hai: Sai lầm của các nhà đầu tư trong nước.

Trước hết phải khẳng định rằng một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra cơn bùng phát khủng hoảng tài chính tiền tệ hiện nay ở châu Á là do sự “nóng lên” dẫn đến “khủng hoảng nợ” ở khu vực kinh tế tư nhân Sự tăng lên ồ ạt của các khoản nợ đã làm cho nền kinh tế trở nên khó kiểm soát cộng thêm sự quản lí lỏng lẻo của Chính phủ đã làm méo mó cơ chế thị trường dẫn đến sự sút giảm kim ngạch xuất khẩu, đồng thời cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp cũng giảm đáng kể

Trên khía cạnh cơ bản nhất, lý do chủ yếu của cuộc khủng hoảng Đông Á là việc không làm chủ được quá trình mở cửa tiếp cận vốn nước ngoài

Kindleberger đã nhận xét rằng : chi phí sử dụng đồng tiền quá thấp dường như là một yếu tố quan trọng trong sự bùng nổ của nhiều cuộc khủng hoảng tài chính, yếu tố này khiến các nhà đầu

tư tìm cách lao vào các hoạt động rủi ro hơn nhằm kiếm những khoản lợi nhuận khá hơn

Nhóm nguyên nhân thứ ba : Các nhân tố bên ngoài vượt khỏi tầm kiểm soát của các nước trong khu vực.

Trước hết, chính sách tiền tệ tín dụng của các nước lớn trong và ngoài khu vực châu Á, đặc biệt là Mỹ

Ảnh hưởng của những hoạt động tiền tệ tín dụng nước ngoài có tính đầu cơ đã thổi phồng các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ và làm tăng khả năng lây nhiễm Chính phủ cũng đưa lượng cung bản tệ lên quá cao Theo tính toán của IMF, hầu hết các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á đều có mức tăng lượng cung tiền hàng năm từ 2-5 lần tốc độ tăng trưởng GDP

Sự tham gia của một số nước mới đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ vào thị trường xuất khẩu của các nước Đông Nam Á Điều đó làm cho hàng hóa của những nước này mất đi lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế, xuất khẩu đình trệ

Cuối cùng là sự biến đổi nhanh chóng của tương quan cung cầu và vòng đời sản phẩm trên thị trường thế giới mà trình độ phát triển năng lực sản xuất hiện tại của các nước châu Á chưa thể thích ứng kịp trong ngày một ngày hai

Ngày đăng: 07/08/2014, 08:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w