1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh

126 1,2K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Chuyển Đổi Cơ Cấu Sử Dụng Đất Và Những Giải Pháp Quản Lý Sử Dụng Đất Bền Vững Huyện Tiên Du - Tỉnh Bắc Ninh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý sử dụng đất
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuấtđặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bànphân bố khu dân cư và các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng

Việc sử dụng hợp lý đất đai để đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao

và đảm bảo sự phát triển bền vững là một trong những mối quan tâm hàngđầu của Đảng và Nhà nước ta

Điều 18, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, có hiệu quả”

Trải qua hai mươi năm tiến hành công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã đạtđược những kết quả to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môitrường Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và tương đối ổn định

Kinh tế càng phát triển, quá trình công nghiệp hoá nông thôn được đẩymạnh góp phần làm cho đời sống của người dân từng bước được cải thiện.Mặt khác, dưới áp lực của sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế nôngthôn, nhu cầu của người dân ngày càng nâng cao Từ đó, xuất hiện nhu cầuchuyển đổi mục đích sử dụng đất theo xu thế từ đất nông nghiệp sang đất phinông nghiệp

Quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ khắp cả nước, sự phát triển cáckhu công nghiệp trong thời gian qua đã góp phần đẩy nhanh sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là đối với các

Trang 2

tỉnh thuần nông Tuy nhiên việc ưu tiên thu hút đầu tư để phát triển các khucông nghiệp đã tạo nên sự mất cân đối trong phát triển kinh tế xã hội nôngthôn, nhất là đối với những vùng đất chật người đông như đồng bằng sôngHồng Một số diện tích đất phù sa màu mỡ chuyên trồng lúa đã phải chuyểnsang sử dụng làm mặt bằng sản xuất công nghiệp trong khi có thể sử dụngdiện tích ở những vị trí khác hợp lý hơn Người nông dân có đất bị thu hồichưa được giúp đỡ trong việc sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ vào việc đầu tưphát triển sản xuất nên đời sống gặp khó khăn và không ổn định Bên cạnh đó,hoạt động của nhiều khu công nghiệp chưa chấp hành nghiêm Luật Môitrường, vi phạm các cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường Từ

đó dẫn đến tài nguyên đất bị suy thoái, môi trường bị ô nhiễm, đời sống ngườinông dân trong vùng phát triển công nghiệp còn bấp bênh, ngay cả trong vùngnông nghiệp thì việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũng mang tính tựphát không theo quy hoạch Nhiều văn bản pháp luật quan trọng về quản lý,

sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường đã không được đáp ứngkịp thời nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá nông thôn

Tất cả những vấn đề đó đe doạ tính bền vững trong quá trình phát triển.Huyện Tiên Du nằm ở phía Bắc tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm tỉnh5km về phía Nam, cách thủ đô Hà Nội 25 km về phía Bắc Tiên Du là mộthuyện đồng bằng, đất đai màu mỡ, hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnhthuận lợi cho việc phát triển vùng chuyên canh lúa chất lượng cao HuyệnTiên Du có cơ cấu ngành nghề đa dạng, mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưukinh tế mạnh, do có vị trí địa lý thuận lợi Nhờ vậy huyện có khả năng mởrộng thị trường, thu hút vốn đầu tư, khai thác lợi thế nguồn nhân lực để phát

Trang 3

mẽ Những năm gần đây, trong xu thế phát triển chung của cả nước, quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hóa diễn ra khá mạnh mẽ Đất xâydựng các khu công nghiệp mọc lên nhiều, quá trình đô thị hoá tăng mạnh, đấtthương mại dịch vụ phát triển mạnh gắn với các làng nghề truyền thống, do

đó đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, rác thải ô nhiễm môi trường ngàycàng gia tăng Các quá trình này đã và đang gây áp lực mạnh mẽ đến việcquản lý và sử dụng đất bền vững của huyện

Vì vậy, một vấn đề đặt ra là: việc nghiên cứu thực trạng quá trìnhchuyển đổi cơ cấu sử dụng đất khi thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp và nông thôn để tìm được nguyên nhân và ảnh hưởng của quátrình này đã và đang tác động như thế nào tới quá trình phát triển nôngnghiệp, nông thôn trên các mặt: kinh tế - xã hội - môi trường trên địa bànhuyện, từ đó đề xuất những giải pháp quản lý, sử dụng đất hợp lý đem lại hiệuquả cao và bền vững là rất cần thiết

Xuất phát từ những lý do trên, được sự hướng dẫn của PGS - TS Vũ

Thị Bình, chúng tôi thực hiện đề tài “Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng

đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh".

-1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

- Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng việc chuyển đổi cơ cấu sửdụng đất phục vụ CNH, HĐH của huyện Tiên Du nhằm phát hiện những vấn

đề bất cập trong quá trình quản lý sử dụng đất

- Đánh giá tác động của quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đếnphát triển nông nghiệp, nông thôn về các mặt: kinh tế - xã hội - môi trườngtrên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

Trang 4

- Đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững đáp ứng mụctiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương giai đoạn 2006 -2015.

1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các thông tin, số liệu, tài liệu điều tratrung thực, chính xác, đảm bảo độ tin cậy và phản ánh đúng thực trạng sửdụng đất trên địa bàn nghiên cứu

- Việc phân tích, xử lý số liệu trên cơ sở khoa học, có định tính địnhlượng bằng các phương pháp nghiên cứu thích hợp

- Đánh giá đúng thực trạng, những đề xuất kiến nghị giải pháp quản

lý sử dụng đất bền vững trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt quy định của phápluật đặc biệt là Luật đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ Môi trường và một sốLuật có liên quan, đồng thời phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xãhội của huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hộicao nhất thực hiện chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất hợp lý, đảm bảo tính ổnđịnh bền vững trong quá trình phát triển

Trang 5

2 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN

2.1 LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG 2.1.1 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững

2.1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững

Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầucủa hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của cácthế hệ tương lai đảm bảo sự phát triển hài hoà cả về 3 mặt: kinh tế, xã hội,môi trường

Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ vềvật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hoá, sự bình đẳng của các công dân và

sự đồng thuận của xã hội, sự hài hoà giữa con người và tự nhiên, phát triểnphải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế,phát triển xã hội và bảo vệ môi trường [12]

2.1.1.2 Những lý luận cơ bản về phát triển bền vững

+ Bền vững về kinh tế

Phát triển bền vững về kinh tế là việc đảm bảo kết hợp hài hoà giữamục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá xã hội, cân đối tốc độ tăngtrưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiênnhiên, khoa học, công nghệ đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch

Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổnđịnh với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống củanhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lạigánh nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau

Trang 6

+ Phát triển bền vững về môi trường

Phát triển bền vững về môi trường là việc sử dụng tài nguyên thiênnhiên tái tạo trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về sốlượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiếtkiệm và hợp lý nhất Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quanthiên nhiên ) và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môitrường sống, lao động và học tập của con người ) không bị các hoạt độngcủa con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại Các nguồn phế thải từ sảnxuất và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảođảm, con người được sống trong môi trường sạch

Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sửdụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn

xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trườngsống, bảo vệ được các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữsinh quyển và bảo tồn sự đa dạng sinh học, khắc phục suy thoái và cải thiệnchất lượng môi trường [12]

2.1.2 Lý luận về sử dụng đất bền vững

1.1.2.1 Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất

Trang 7

Những người trực tiếp sử dụng đất và những người có liên quan đếnviệc sử dụng đất có những lợi ích khác nhau về việc sử dụng đất Đất là nguồntài nguyên được sử dụng để thoả mãn nhu cầu cho những người có mối quan

hệ gắn bó với đất Có những vấn đề ưu tiên trước mắt và có những vấn đề lâudài, tuỳ thuộc vào mục tiêu của từng người sử dụng đất, từ đó họ có nhữngquyết định sử dụng đất theo hướng mục tiêu của mình

Vấn đề ưu tiên trước mắt của người nông dân là sản xuất lương thực vàthu nhập Do đó các quyết định sử dụng đất của người nông dân với nhữngmục tiêu cho thời gian gần, còn các lợi ích về lâu dài thường ít được chú trọng

và quan tâm

Một cộng đồng lớn hơn - như ở cấp quốc gia - cũng là một đối tượng

sử dụng đất theo cách nhìn nhận đất đai được dùng cho: đô thị, điều kiện cơ

sở vật chất, công nghiệp, giải trí Ở phạm vi này, các mục tiêu cơ bản lànâng cao mức sống và đáp ứng mọi nhu cầu của người dân Các mục tiêu củaquốc gia có xu hướng lâu dài, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên cho tươnglai Vì vậy, thường tồn tại một sự phân biệt cơ bản về lợi ích giữa các mụctiêu của người sử dụng đất thực tế và của cộng đồng nơi họ sinh sống Cộngđồng - dù là địa phương, tỉnh hoặc quốc gia - sẽ thường xuyên cố gắng gâyảnh hưởng lên cách thức sử dụng đất hoặc là bằng việc mở rộng các chươngtrình, trợ cấp hoặc là bằng pháp luật

Vậy trong sử dụng đất đai phải tính đến lợi ích đa dạng của mọi tổchức, cá nhân từ lợi ích của người sử dụng đất trực tiếp, lợi ích của khu vực,lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia

Ngoài ra, việc sử dụng đất của người dân và quốc gia này cũng ảnhhưởng tới các nước lân cận và các nước khác trên toàn thế giới Đó là tìnhhình ô nhiễm hoặc những tác động có hại gây ảnh hưởng từ nước này sang

Trang 8

nước khác, hoặc là nơi mà các hoạt động của một nước hoặc một nhóm cácnước trong khu vực gây ảnh hưởng đến các hệ thống toàn cầu làm tổn hại tớitất cả chúng ta.[22]

1.1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất

+ Nhân tố tự nhiên

Con người sử dụng đất đai thường bao gồm 2 mặt sau: một là trựctiếp sử dụng đất cho các yêu cầu sinh hoạt tiêu dùng, hai là dùng làm tưliệu sản xuất

- Điều kiện khí hậu: Đất đai, ngoài không gian bề mặt như đất trồngtrọt, đất xây dựng, còn gồm những yếu tố bao quanh mặt đất như ánh sáng,nhiệt độ, không khí và các khoáng sản dưới lòng đất Đất đai vốn là một trạngthái vật chất của tự nhiên Do vậy, khi sử dụng đất phải tính đến việc thíchứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên

- Điều kiện đất: Chủ yếu là điều kiện địa lý và thổ nhưỡng Sự sai khácgiữa đá mẹ, địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướngdốc, sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn dẫn tới sự khác nhau về đất đai

và khí hậu, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố ngành nông, lâm nghiệp,hình thành sự phân dị địa hình theo chiều thẳng đứng của nông nghiệp Địahình và độ dốc ảnh hưởng đến phương hướng sử dụng đất và xây dựng đồngruộng để thuỷ lợi hoá và canh tác bằng máy móc, cũng ảnh hưởng đến sửdụng đất nông nghiệp.[16]

Đặc điểm của nhân tố điều kiện tự nhiên nói trên là có tính khu vực

Do vị trí địa lý của vùng quyết định sự sai khác về tình trạng nguồn nước,nhiệt độ, ánh sáng và các điều kiện tự nhiên khác của đất đai, ở một mức độ

Trang 9

đai và mức độ thuận lợi, khó khăn, quyết định công dụng tối ưu và hiệu quả

sử dụng đất đai Do vậy, trong quá trình thực tiễn nên sử dụng theo quy luật

tự nhiên, phục tùng điều kiện tự nhiên, lợi dụng thế mạnh, tận dụng mặt có lợi

để có thể đạt tới sử dụng đất với hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường[22]

+ Nhân tố kinh tế - xã hội

Nhân tố xã hội chủ yếu là dân số và lực lượng lao động, nhu cầu của xãhội, thông tin, quản lý, chế độ xã hội, chính sách môi trường và chính sách đấtđai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hànghoá, cơ cấu kinh tế và bố cục sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nôngnghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹthuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chấtcho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Nhân tố kinh tế - xã hội thường có tác dụng quyết định đối với sử dụngđất đai Việc xác định phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêucầu của xã hội và một mục tiêu kinh tế nhất định Trong một vùng hoặctrong một nước thì điều kiện vật chất tự nhiên của đất đai là cố định, nhưng

do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, nên việc khai thác và sử dụng đấtđai cũng khác nhau

Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế độ kinh tế - xã hội khác nhau,cũng có tác dụng khống chế và quản lý đối với sử dụng đất đai khác nhau,phương thức và hiệu quả sử dụng đất cũng không giống nhau Trình độ pháttriển xã hội và kinh tế cũng làm cho trình độ sử dụng đất đai phát triển ngàycàng cao

Cần phải xuất phát từ hiệu quả sử dụng đất để xem xét về ảnh hưởngcủa điều kiện kinh tế đến sử dụng đất Trạng thái sử dụng đất có liên quan tới

Trang 10

lợi ích kinh tế của người sở hữu và kinh doanh đất Chỉ đơn thuần nghĩ đếnlợi nhuận trước mắt thì đôi khi sẽ làm cho đất đai bị sử dụng không hợp lý,thậm chí đi ngược lại lợi ích xã hội

Những nhân tố về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội kếthợp gây ảnh hưởng tổng hợp đến việc sử dụng đất đai Do đó, cần phải dựavào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế xã hội, nhằm vào các nhân tố xã hội

và nhân tố tự nhiên của việc sử dụng đất để nghiên cứu và xử lý mối quan hệgiữa các nhân tố này Căn cứ vào yêu cầu của thị trường và của xã hội, xácđịnh mục đích sử dụng đất, kết hợp chặt chẽ yêu cầu của sử dụng với ưu thếtài nguyên của đất đai, để đạt tới cơ cấu tổng thể cao nhất, làm cho số đất hữuhạn này cho hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng cao và sử dụng được bềnvững [13]

+ Nhân tố không gian.

Đất là nơi sản xuất của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, khaikhoáng để sản xuất ra sản phẩm Đối với ngành phi sản xuất như đất xâydựng, nó cung cấp không gian mà không sản xuất ra sản phẩm cụ thể Trênthực tế, dù cho đất được dùng cho sản xuất hoặc phi sản xuất, nó đều cungcấp khả năng phục vụ về không gian Không gian, bao gồm cả vị trí và mặtbằng, đều là những nhu cầu không thể thiếu đối với ngành sản xuất vật chất

và phi sản xuất, mọi hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội đều cần đến.Chính vì vậy, không gian cũng là một trong những nhân tố hạn chế đến sửdụng đất

Nhân tố không gian của đất đai có đặc tính là không thể thay thế vàcũng không thể dịch chuyển được Từ đó, việc phân bổ sử dụng đất của conngười không thể vượt qua phạm vi giới hạn không gian hiện có Điều này nói

Trang 11

lên rằng, theo đà phát triển của dân số và kinh tế - xã hội tác dụng hạn chế củakhông gian đất đai sẽ thường xuyên xảy ra.

Sự cố định bất biến của tổng diện tích đất đai, không chỉ hạn chế sự mởrộng không gian sử dụng đất, mà còn qui định giới hạn thay đổi của cơ cấudùng đất Do vậy, trong khi tiến hành điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, cần phảichú ý tới yêu cầu của xã hội đối với loại đất và số lượng đất đai mà sản xuấtcần, đồng thời xác định sức sản xuất và diện tích cần có để đảm bảo sức tảicủa đất đai [16]

1.1.2.3 Xu thế phát triển sử dụng đất

+ Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung

Qúa trình phát triển xã hội, cũng là quá trình diễn biến sử dụng đất.Khi con người còn sống trong phương thức săn bắn và hái lượm, họ chỉ có thểdựa vào sự ban hưởng của tự nhiên, sự thích ứng với tự nhiên để tồn tại,không tồn tại ý thức về sử dụng đất Cho đến thời kỳ du mục, con người sốngtrong những túp lều lợp bằng cỏ, những vùng đất có nước và có cỏ bắt đầuđược sử dụng Đến sau khi xuất hiện ngành trồng trọt, nhất là sau khi đã xuấthiện những công cụ sản xuất thô sơ, năng lực sử dụng đất được tăng cường,diện tích đất đai được sử dụng tăng lên nhanh chóng, ý nghĩa kinh tế của đấtđai cũng gia tăng Nhưng trình độ sử dụng đất lúc đó còn rất thấp, phạm vi sửdụng cũng rất hạn chế, vẫn thuộc trạng thái kinh doanh thô, đất khai phánhiều nhưng thu thập rất thấp Theo mức tăng trưởng của dân số và sự pháttriển của kinh tế, văn hoá và khoa học, kỹ thuật, quy mô, phạm vi và chiềusâu của việc sử dụng đất ngày một nâng cao Yêu cầu sinh hoạt vật chất vàtinh thần của người dân cũng ngày càng cao, sự phát triển của các ngành nghềcũng theo xu hướng ngày càng phức tạp và đa dạng, phạm vi sử dụng đấtngày càng gia tăng, từ một vùng có tính cục bộ phát triển ra nhiều vùng kể cả

Trang 12

những vùng đất mà trước kia chưa có khả năng khai thác sử dụng Không chỉphát triển theo không gian, mà trình độ tập trung cao hơn nhiều Cho dù là đấtcanh tác hoặc đất phi canh tác cũng đều phát triển theo hướng kinh doanh tậptrung, đất ít, hiệu quả cao [22].

Tuy nhiên, quá độ từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâmcanh cao trong sử dụng đất là một tiến trình lịch sử lâu dài, muốn nâng caosức sản xuất và sức tải của một đơn vị diện tích, nhất thiết phải không ngừngnâng mức đầu tư về lao động, vốn liếng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật vàquản lý Ở những khu vực khác nhau của một vùng hoặc một quốc gia muốnthực hiện đường lối cơ bản này cũng không thể sử dụng cùng một phươngthức trong cùng một thời gian Bởi vì tình hình của mỗi quốc gia một khác,trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật không giống nhau, ngay trong cùng mộtquốc gia mà những vùng khác nhau, các điều kiện cũng rất khác nhau [7]

+ Cơ cấu sử dụng đất phát triển theo hướng đa dạng hoá và chuyên môn hoá

Theo đà phát triển khoa học kỹ thuật và kinh tế của xã hội, cơ cấu sửdụng đất cũng chuyển dần sang xu thế phức tạp hoá và chuyên môn hoá, yêucầu của con người về vật chất, văn hoá, tinh thần và môi trường ngày mộtcao, chúng sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp có yêu cầu cao hơn đối với đất đai Khicon người có mức sống còn thấp, đang còn đấu tranh với cuộc sống, thì việc

sử dụng đất thường mới tập trung vào nông nghiệp, nhất là vấn đề ăn, mặc, ở,nhưng khi cuộc sống đã nâng cao, bước vào giai đoạn hưởng thụ, trong sửdụng đất còn nghĩ tới nhu cầu vui chơi văn hóa, thể thao và môi trường [22]

+ Sử dụng đất đai theo hướng xã hội hoá và công hữu hoá

Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và xã hội dẫn tới việc xã hội hoá

Trang 13

đề cho nơi khác sản xuất tập trung sản phẩm khác Sự hỗ trợ bổ sung lẫn nhauhình thành sự phân công hợp tác, sự xã hội hoá sản xuất này cũng là xã hộihoá trong sử dụng đất.

Đồng thời do đất đai là cơ sở vật chất và công cụ để con người sinhsống và xã hội tồn tại, trên cơ sở chuyên môn hoá của yêu cầu xã hội hoá sảnxuất, cần cố gắng thích ứng nhu cầu của xã hội, để thúc đẩy phúc lợi côngcộng và tiến bộ xã hội, cho dù ở xã hội mà mục tiêu sử dụng đất chủ yếu vìlợi ích của tư nhân thì những vùng đất đai hướng dụng công cộng như : nguồnnước, núi rừng, khoáng sản, sông ngòi, mặt hồ, biển cả, cầu cảng, hải cảng,danh lam thắng cảnh, khu bảo tồn động thực vật quý hiếm đại bộ phận đều

do Nhà nước quy định chính sách thực thi hoặc tiến hành công quản, kinhdoanh để phòng ngừa việc tư hữu sẽ tạo nên mâu thuẫn xã hội

Xã hội hoá sử dụng đất là sản phẩm tất yếu của sự phát triển xã hội hoásản xuất, nó được quyết định bởi yêu cầu khách quan của xã hội hoá sản xuất,cho nên xã hội hoá sử dụng đất và công hữu hoá là xu thế tất yếu Muốn kinh

tế phát triển, thúc đẩy cao hơn nữa xã hội hóa sản xuất, về cơ bản phải thựchiện xã hội hoá và công hữu hoá sử dụng đất [22]

1.1.2.4 Sử dụng đất đai bền vững với các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường

+ Sử dụng đất đai bền vững với mục tiêu kinh tế

Sử dụng đất đai bao giờ cũng gắn với mục tiêu kinh tế, những mục tiêukinh tế trong sử dụng đất đai giữa chủ sử dụng thực tế và cộng đồng lớn hơn,

có lúc trùng với nhau và có lúc không trùng nhau

Các hộ nông dân trong việc sử dụng đất đai của mình luôn đặt ra mụctiêu làm ra sản phẩm để bán hoặc tự tiêu dùng Nếu thấy việc đó không có lợi

Trang 14

tác không có lợi họ có thể bán phần đất của họ cho người nông dân khác,những người mà sản xuất nông nghiệp đem lại lợi nhuận cao hơn hoặc họcũng có thể thay đổi mục đích sử dụng đất của mình, kể cả việc bán đất sétcho nhà máy gạch, bán cát dưới dạng vật liệu xây dựng hoặc sử dụng đất làmkhu vui chơi giải trí cho khách du lịch

Trong khi đó cộng đồng (xã, huyện, tỉnh, cả nước) luôn có những mốiquan tâm kinh tế lâu dài trong sử dụng đất đai Trước hết, đó là đảm bảo cácmục tiêu kinh tế lâu dài và cần thiết cho cả cộng đồng, đó là vấn đề an toànlương thực, có đất để mở rộng đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng cáckhu công nghiệp, bảo vệ môi trường và các khu vui chơi, giải trí

Như vậy, các mối quan tâm kinh tế nhất thời của người sử dụng đất cụthể mâu thuẫn với mối quan tâm lâu dài của cả cộng đồng [22]

+ Sử dụng đất đai bền vững với mục tiêu xã hội

Sử dụng đất đai trước tiên là liên quan tới những người sống trên mảnhđất đó, họ có những nhu cầu thiết yếu của mình và đó là mục tiêu xã hội rõ rệtcủa bất cứ một Nhà nước nào, nhằm tạo ra hay duy trì các điều kiện mà nó cótác dụng giúp thoả mãn những nhu cầu thiết yếu này Việc tạo ra công ăn việclàm trong quá trình phát triển bền vững là một phương pháp hữu hiệu, nhằmcùng một lúc đạt được 3 mục tiêu là kinh tế, xã hội và môi trường [22].Những nhu cầu thiết yếu này bao gồm các cơ sở vật chất công cộng hoặc cácphương tiện phục vụ cho sức khoẻ, giáo dục, định cư, thu nhập Ngoài ra, còntạo ra một ý thức về công bằng xã hội và kiểm soát chính tương lai của họ

Một mục tiêu xã hội nữa cần phải kể đến là mâu thuẫn giữa các thế hệ

về việc sử dụng đất đai Đó là việc sử dụng đất đai của thế hệ hiện tại khôngnghĩ đến lợi ích của các thế hệ con cháu mai sau

Trang 15

Tóm lại, mục tiêu xã hội luôn thay đổi và biến động theo từng thời kỳ,điều đó dẫn đến sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất để đáp ứng các nhu cầumới của xã hội về nông sản, thực phẩm và các dịch vụ xã hội khác [22].

+ Sử dụng đất đai bền vững với mục tiêu môi trường

Đối với bất kỳ vùng nào, một quốc gia nào trong sử dụng đất đai gắnvới mục tiêu môi trường thì điều quan trọng là phải phân biệt được mục tiêuchung và mục tiêu riêng Chính phủ các nước đều đưa ra các tiêu chuẩn vàmục tiêu về môi trường Các tiêu chuẩn và mục tiêu này thường được thànhlập dựa trên thuật ngữ hoá học, vì nó liên quan đến sức khoẻ và thế hệ maisau Việc nhìn nhận "môi trường" không chỉ có nghĩa là một hệ thống các tiêuchuẩn về hoá học, đất nước phong cảnh thiên nhiên là các tài sản có giá trị

Vì thế, những vấn đề về môi trường chỉ có thể giải quyết một cách có hiệuquả nếu nó được thực hiện kết hợp với các mục tiêu kinh tế - xã hội

Hơn nữa, mục tiêu môi trường ngoài những quan tâm chung mang tínhtoàn cầu, thì mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào đặc điểm, hoàn cảnh của mình cónhững quan tâm riêng, song quan trọng hơn đó là lũ lụt, hạn hán, động đất,sóng thần [22]

Việc đánh giá và đề xuất sử dụng đất đai theo quan điểm sinh thái bềnvững [4] Những đánh giá tổng quát về môi trường và hiện tượng suy thoáiđất có liên quan tới các điều kiện tự nhiên và quá trình sử dụng đất [8] Nhữngnghiên cứu chuyên sâu về vấn đề ô nhiễm môi trường đất Việt Nam đã phảnánh được nhiều vấn đề về môi trường, nhằm đưa ra các giải pháp chiến lược,cũng như các giải pháp khắc phục cho sử dụng đất trên quan điểm sinh tháilâu bền [13]

2.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Trang 16

2.2.1 Những nghiên cứu về sử dụng đất bền vững một số nước trên thế giới.

Để duy trì được khả năng bền vững đối với đất đai Smyth A.J vàJ.Dumanski (1993) [29] đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sử dụngđất bền vững đó là:

- Duy trì, nâng cao các hoạt động sản xuất

- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất

- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sựthoái hoá chất lượng đất và nước

- Khả thi về mặt kinh tế

- Được sự chấp nhận của xã hội

Năm nguyên tắc trên đây được coi như những trụ cột của việc sử dụngđất bền vững Nếu trong thực tế đạt được cả 5 mục tiêu trên thì khả năng bềnvững sẽ thành công, còn nếu chỉ đạt được một vài mục tiêu chứ không phải tất

cả thì khả năng bền vững chỉ thành công được ở từng bộ phận

2.2.1.1 Trung Quốc

Trung Quốc đã có 30 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội theo lý luận kinh

tế “chủ nghĩa xã hội hiện thực”, chính sách cải cách thành công của TrungQuốc đã đem lại những thành tựu to lớn, trong 20 năm cải cách kinh tế, mứctăng trưởng GDP của Trung Quốc đạt 9,7%/năm được xếp vào nước có mứctăng trưởng nhanh nhất thế giới, khoảng 200 triệu người dân đã được đưa lênkhỏi mức đói nghèo, năm 1998, Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản lượngnông sản, thu nhập của nông dân Trung Quốc đã tăng lên 16 lần Nông nghiệpTrung Quốc đã làm nên kỳ tích góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu ăn, mặccho 1,3 tỷ dân có mức sống ngày càng tăng, tạo cơ sở căn bản cho quá trình

Trang 17

Bên cạnh những thành công to lớn về kinh tế, xã hội của công cuộc đổimới, quá trình phát triển kinh tế của Trung Quốc đã và đang chứa đựng nhiều

nguy cơ và thách thức lớn Trong đó, chính sách sử dụng đất nông nghiệp, chính sách đô thị hoá và công nghiệp hoá đã có những tác động không nhỏ đến kinh tế, xã hội Trung Quốc.

Quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang các loại đất khác (chủ yếu

là đất công nghiệp và đất ở) của Trung Quốc tăng đã làm cho diện tích đấtcanh tác ngày càng giảm, diện tích canh tác bình quân đầu người của TrungQuốc chỉ bằng 1/3 mức trung bình trên thế giới Cạnh tranh giữa sản xuấtnông nghiệp và sản xuất công nghiệp, phát triển đô thị ngày càng nhanh về tàinguyên tự nhiên làm cho giá thành sản xuất nông nghiệp ngày càng tăngnhanh, theo Z.Tang [19] tốc độ tăng thu nhập của nông thôn giảm dần (từ3,09% năm 1980 xuống 2,47 % năm 1997), ngày càng tụt hậu so với mứctăng ngày càng nhanh của thu nhập cư dân thành phố Khoảng cách chênhlệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng xa nhau năm 1978

cư dân thành phố chiếm 18% dân số cả nước và có thu nhập chiếm 34% tổngthu nhập cả nước, năm 1996 tỷ lệ dân số thành phố tăng lên 28% nhưngchiếm tới 50% tổng thu nhập cả nước” Thu nhập bình quân đầu người ở 10thành phố lớn của Trung Quốc từ năm 1997 đến 1999 tăng từ 2.490 USD lên

2670 USD/năm, trong khi thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn cùnggiai đoạn giảm từ 966 xuống 870 USD/năm

Đối với đất nông nghiệp, Luật đất đai hiện nay của Trung Quốc

(Điều 31) [28] quy định “Nhà nước bảo hộ đất canh tác, khống chế nghiêm ngặt chuyển đất canh tác thành phi canh tác”

Mỗi một giai đoạn thăng trầm của lịch sử kinh tế, chính trị, xã hộiTrung Quốc đều ẩn chứa sự thành bại bởi tác động của một cơ chế, chính sách

Trang 18

về nông nghiệp nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Song, nhữnghậu quả tác động của quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất côngnghiệp và đất ở đến đời sống xã hội Trung Quốc là rất lớn Chính sách “…khống chế nghiêm ngặt chuyển đất canh tác thành phi canh tác” tại TrungQuốc ra đời chậm hơn một số nước trong khu vực; song đã thu được nhiềuthắng lợi trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.

2.2.1.2 Nhật Bản

Nhật Bản là một nước tiến hành cải cách kinh tế sớm nhất ở Châu Á,quá độ từ nền kinh tế phong kiến tiểu nông lên công nghiệp hoá Trải qua mộtthế kỷ phát triển, Nhật đã trở thành một quốc gia công nghiệp hiện đại nhưngđơn vị sản xuất nông nghiệp chính vẫn là các hộ gia đình nhỏ, mang đậm tínhchất của nền văn hoá lúa nước, đặc điểm này rất giống với Việt Nam

Trước công cuộc duy tân, như mọi nước châu Á, nền kinh tế Nhật lànền nông nghiệp sản xuất nhỏ, tiểu nông phong kiến, năng suất thấp, địa tôcao Như Việt Nam, Nhật luôn luôn, bị giới hạn bởi tài nguyên đất đai ngàycàng ít và dân số ngày càng tăng Tuy nhiên, muốn tạo đà công nghiệp hóa,nhất thiết phải tăng năng suất nông nghiệp, trong hoàn cảnh đất chật ngườiđông, cách duy nhất là thâm canh tăng năng suất (trên đơn vị diện tích và trênđơn vị lao động)

Khoa học kỹ thuật nông nghiệp được Nhật Bản coi là biện pháp hàngđầu ngay từ thế kỷ XIX, Nhật chú trọng phát triển các công nghệ thu hút laođộng và tiết kiệm đất như: kỹ thuật tưới nước, dùng phân bón và lai tạo giốngtạo nên năng suất cây trồng cao Chính sách khuyến khích phát triển sản xuấtđược ban hành cũng tạo ra động lực thúc đẩy nông dân áp dụng khoa họccông nghệ tăng năng suất cây trồng Đất đai được chia cho mọi nông dân tạo

Trang 19

Do chính sách phi tập trung hoá công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp

về nông thôn làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi, tỷ lệ đóng góp củacác ngành phi nông nghiệp trong thu nhập cư dân nông thôn ngày càng tăng(năm 1950 là 29%, năm 1990 là 85%) Năm 1990 phần thu nhập từ phi nôngnghiệp cao hơn 5,6 lần phần thu từ nông nghiệp Ngược lại, công nghiệp lạitạo nên nhu cầu cao và thị trường ổn định cho nông nghiệp, thu nhập củangười dân Nhật tăng nhanh trong quá trình công nghiệp hoá Công nghiệpphát triển tạo nên kết cấu hạ tầng (giao thông, thông tin, đào tạo, nghiêncứu ) hoàn chỉnh, thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng, tạo nên năng suất đấtđai cao

Về sự gắn kết giữa nông nghiệp, công nghiệp, nông thôn và thành thịcủa Nhật Bản, Đặng Kim Sơn cho rằng “Một trong những bài học quan trọngnhất trong “sự thần kỳ Nhật Bản” là sự liên kết hài hoà giữa nông nghiệp,nông thôn với công nghiệp và đô thị trong qúa trình công nghiệp hoá”.[19]

Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, kinh tế Nhật Bản bị suy thoáinghiêm trọng, hơn 3 triệu người chết đói, kết cấu hạ tầng bị huỷ hoại, tàichính bị thiếu hụt, lạm phát phi mã ; Nhật Bản đã tiến hành một loạt các cảicách kinh tế, trong đó có cải cách ruộng đất, hình thành thị trường đấtđai Nhật Bản đã thực hiện nhiều chính sách kích thích (kích cầu) nền kinh tếphát triển, trong đó, chính sách kích cầu cơ bản nhất là tăng thu nhập và lươngcho người tiêu dùng nông thôn Đây là chiến lược phát triển nông nghiệp ápdụng rất thành công, biến nông thôn thành thị trường to lớn cho hàng hoácông nghiệp

Cuối những năm của thập kỷ 1960, mức phát triển nhanh của côngnghiệp hoá của Nhật đã thu hút hết lao động dư thừa ở nông thôn Tuy nhiên,công nghiệp nặng làm tăng chi phí chống ô nhiễm môi trường, mặt khác, lệthuộc nước ngoài về năng lượng, nguyên liệu thì phát triển công nghiệp nặng

Trang 20

và hoá chất sẽ không bền vững; Nhật Bản đã chuyển hướng sang phát triểncông nghiệp quy mô nhỏ, thu hút nhiều chất xám, sử dụng nhiều vốn.

Tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP dần dần “nhường chỗ” cho côngnghiệp và dịch vụ phát triển; từ đó kết cấu kinh tế Nhật Bản đã chuyển dịchnhanh và vững chắc sang công nghiệp

Với chính sách tiết kiệm đất triệt để, chính sách bảo hộ sản xuất nôngnghiệp đồng nghĩa với sự hạn chế tối đa chuyển dịch đất nông nghiệp sang đấtcông nghiệp và đất ở, các cơ chế chính sách uyển chuyển phù hợp với từnggiai đoạn phát triển của kinh tế - xã hội, nông nghiệp Nhật Bản đã tác độngmột cách tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Nhật Bản

2.2.1.3 Đài Loan

Quá trình phát triển xã hội trước đây cũng giống với giai đoạn pháttriển hiện nay của Việt Nam, tức là nền nông nghiệp là chính Vào cuối thế kỷXIX, cải cách ruộng đất ở Đài Loan được tiến hành Quyền sử dụng đấtchuyển từ địa chủ thu tô sang chủ đất thực sự quản lý đất đai Nông nghiệpcùng với sự phát triển của kỹ thuật đã phát triển theo hướng thâm canh,chuyên sâu và nông nghiệp thực sự là nền tảng vững chắc cho sự phát triểnkinh tế ổn định và mạnh mẽ ở Đài Loan

Đài Loan đã tiến hành cuộc “cải cách ruộng đất lần thứ hai” vào năm

1981 Với mục tiêu mở rộng quy mô nông trại, các chính sách: hợp tác sảnxuất, hợp đồng khoán được áp dụng song song với việc áp dụng các kỹ thuậtmới như cơ khí hoá, tự động hoá, các ngành sản xuất “không sạch” như chănnuôi, trồng trọt được thay thế bằng sản phẩm sạch, chất lượng cao, khôngdùng hoá chất Cũng trong quá trình công nghiệp hoá này, giá đất, giá laođộng tăng nhanh làm cho sản xuất lúa bị chững lại và giảm sút hẳn Lúa dần

Trang 21

1990, việc ưu tiên phát triển môi trường đã trở thành mục tiêu quan trọng củangành nông nghiệp Đài Loan.

Trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá, công nghiệp phát triển chậm,Đài Loan thực hiện khẩu hiệu “ly nông bất ly hương” như Trung Quốc hiệnnay, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nông thôn đã thu hút hầu hết laođộng tăng thêm hàng năm Tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 6,5% năm 1952 xuốngcòn thấp hơn 3% và giữ ở mức này cho đến nay Từ năm 1952 - 1964, mỗinăm chỉ có khoảng 0,3 - 2,3 tổng số lao động nông thôn chuyển ra thành phốvừa đủ với khả năng tạo việc làm của công nghiệp Khi tốc độ công nghiệphoá chậm lại (sau năm 1971), kinh tế nông thôn có vai trò điều tiết, giữ laođộng tăng thêm hàng năm ở lại nông thôn Khi kinh tế tăng trưởng trở lại(cuối thập kỷ 1980) lại thu hút lao động ra thành phố Nguyên nhân tạo nên sựđiều tiết về lao động nói trên của Đài Loan không chỉ do chính sách về nôngnghiệp và công nghiệp mà còn do chính sách đầu tư phát triển hệ thống giáodục phổ cập (đào tạo nguồn nhân lực) nên chất lượng tay nghề lao động nôngthôn luôn đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hoá, chính sách lương kích thíchngười lao động đầu tư nâng cao trình độ và chủ trương phát triển nông nghiệpgiai đoạn đầu, phát triển công nghiệp giai đoạn sau hướng về xuất khẩu, thuhút lao động, tăng thu nhập cho lao động

Trong suốt 30 năm công nghiệp hoá (bắt đầu từ năm 1949) Đài Loantập trung phát triển cơ sở hạ tầng (hệ thống: giao thông đường bộ, đường sắt,thuỷ lợi, thông tin liên lạc, mạng lưới điện ) và hoàn thành vào cuối thập kỷ

1980 Chính phủ nắm 100% vốn kinh doanh sản xuất điện, thực hiện điện khíhoá toàn quốc Hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, cho phép phân bổ sản xuấtcông nghiệp trên toàn lãnh thổ Nhờ đó, phân tán mạnh công nghiệp về nôngthôn Một số lớn nhà máy liên doanh với nước ngoài được đầu tư để tận dụng

Trang 22

nguồn nhân công rẻ Đây là những yếu tố quyết định tạo nhiều việc làm ởnông thôn.

Giữa Đài Loan và Trung Quốc về lịch sử chung một cội nguồn; song,với chính sách sử dụng đất đai khác nhau, các tác động của các chính sáchnày đã mang lại hiệu quả hoàn toàn khác nhau Sự chuyển dịch đất nôngnghiệp sang đất công nghiệp đã được định hướng về nông thôn đã mang lạihiệu quả vô cùng to lớn ngay trong cả ngắn hạn dài hạn cho nền kinh tế đấtnước

Thực tế trên đã cho thấy: chính sách phát triển nông nghiệp (trong đó

có sử dụng đất nông nghiệp hay chuyển dịch đất nông nghiệp) thích hợp đãtác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia có xuất phátđiểm từ một nền kinh tế nông nghiệp; ngược lại, sẽ phải gánh chịu một hậuquả nghiêm trọng cho nền kinh tế xã hội.[18]

2.2.2 Nghiên cứu trong nước về sử dụng đất bền vững

2.2.2.1 Chiến lược sử dụng đất bền vững ở Việt Nam

Tổng diện tích đất của Việt Nam vào khoảng 33 triệu ha Trong đókhoảng gần 2 triệu ha thuộc các thành phố và thị xã, khu dân cư nông thôn vàchuyên dùng, khoảng 9 triệu ha là đất sản xuất nông nghiệp nằm chủ yếu ởcác vùng đồng bằng và trung du, khoảng 630.000 ha được dùng cho nuôitrồng thuỷ sản, 12 triệu ha là đất rừng Hơn 9 triệu ha còn lại là đất chưa sửdụng gồm chủ yếu là đồi trọc và đất trống

Chủ trương của Chính phủ Việt nam là sử dụng đất có hiệu quả và sựcần thiết phải có tầm nhìn lâu dài Chính phủ cũng luôn chú ý đến các nhu cầu

đa dạng của nhân dân, cùng với sự gia tăng dân số nhanh chóng Để thực hiện

Trang 23

1 Cố gắng không mở rộng các thành phố và nếu có thể tránh việc xây dựng trên đất nông nghiệp có chất lượng cao.

2 Duy trì diện tích đất sản xuất nông nghiệp, và tăng diện tích đất nông nghiệp ở những nơi có điều kiện, bằng vịêc khai hoang, mở rộng tưới tiêu.

3 Giao đất sản xuất nông nghiệp để trồng trọt hoặc để chăn nuôi gia súc tuỳ theo khả năng của đất và nhu cầu của thị trường nội địa hoặc xuất khẩu đối với các sản phẩm này.

4 Tăng diện tích đất cho nuôi trồng thuỷ sản bằng việc chuyển đất sản xuất nông nghiệp hoặc khai hoang đất chưa sử dụng ở những nơi mà điều kiện thiên nhiên phù hợp.

5 Bảo vệ các rừng hiện có và tăng nhanh diện tích rừng bằng việc trồng rừng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên.

6 Khuyến khích việc quản lý đất bền vững lâu dài bằng việc giao đất

sử dụng ổn định lâu dài cho các hộ dân và cộng đồng địa phương.[2]

2.2.2.2 Những chính sách về đất đai liên quan đến quản lý sử dụng đất bền vững ở Việt Nam

Chiến lược phát triển bền vững ở Việt nam là một chiến lược chungđưa ra các nội dung phát triển bền vững, kết hợp chặt chẽ và hài hoà giữa pháttriển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Điều này gắn liền vớiviệc quản lý sử dụng đất bền vững

Theo thống kê, từ 24/7/1993 đến 15/6/2004, Quốc hội đã ban hành 9văn bản, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành 42 văn bản liên quanđến quản lý và sử dụng đất đai Chính sách đất đai nhằm điều tiết nguồn lực

Trang 24

đặc biệt nhất đối với sản xuất nông nghiệp, chính sách đất đai khẳng địnhquyền sở hữu cao nhất thuộc về toàn dân, Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu.

Đối với đất nông nghiệp, việc quản lý được đổi mới theo hướng tăngdần quyền chủ động cho người sử dụng đất bắt đầu bằng chỉ thị 100 (1981)của Ban Bí thư Trung ương về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sảnphẩm đến nhóm và người lao động trong nông nghiệp Chỉ thị 100 về cải tiếncông tác khoán đã làm thay đổi cơ chế quản lý HTX, tạo động lực khuyếnkhích lợi ích vật chất đối với người nhận khoán, nông dân phấn khởi, đầu tưthêm công sức, tiền vốn, vật tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tận dụng đất đai đểphát triển sản xuất Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tếtrong nông nghiệp được ban hành năm 1988 nhằm vào giao khoán ổn địnhruộng đất cho nông dân (15 năm), người nông dân được chủ động thực hiệncác khâu canh tác, ngoài các chi phí dịch vụ cho HTX, thuế cho nhà nước, xãviên được tự do sử dụng và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường.[5]

Chính sách đất đai đã góp phần thúc đẩy mở rộng diện tích đất nôngnghiệp nhờ khai hoang phục hoá, chuyển một số diện tích có khả năng sangđất sản xuất nông nghiệp, hạn chế tối đa việc chuyển đất nông nghiệp sangđất phi nông nghiệp (công nghiệp, thương mại, dịch vụ) nhờ đó diện tích đấtcho sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ sản) đã tăng từ 6,9triệu ha lên 9,4 triệu ha (tăng 2,41 triệu ha), đất lâm nghiệp từ 9,3 triệu ha lên12,1 triệu ha trong thời gian 1990 – 2002 góp phần tăng thêm nguồn lực và tưliệu sản xuất cho nông nghiệp

Thời gian 1981 – 1985, Ban Bí thư TW Đảng ban hành Chỉ thị 29 CT/

TW ngày 21/11/1983, chỉ thị 36 CT/TW ngày 19/1/1985 Nội dung 2 chỉ thịnày đã khẳng định chủ trương giao đất, giao rừng cho hộ nông dân Mặc dầuchưa có nhiều thay đổi lớn trong chính sách đất đai nhưng việc bước đầu gắn

Trang 25

lợi ích của nông dân với hiệu quả sử dụng đất đã tạo ra sự thay đổi lớn tronghiệu quả sử dụng đất và phát triển nông nghiệp Trong 5 năm (1981 – 1985),sản lượng lương thực quy ra thóc cả nước tăng 27% năng suất lúa tăng 23,8%,diện tích cây công nghiệp hàng năm tăng 62,1% Năm 1988, Bộ chính trịban hành Nghị quyết 10 – NQ/TW về đổi mới cơ chế quản lý trong nôngnghiệp Về đất đai, Nghị quyết 10 chỉ rõ, đất đai được giao khoán ổn định đến

hộ xã viên khoảng 15 năm và sản lượng giao khoán ổn định trong 5 năm vàbảo đảm cho các hộ nhận khoán được hưởng trên, dưới 40% sản lượng khoán.Trên cơ sở Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và các Nghị quyết khác của Đảng,Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách mới về quản lý, sử dụng đất trongnông nghiệp nhờ đó, hiệu quả sử dụng đất không ngừng tăng lên Ví dụ, giátrị thu nhập sản phẩm nông nghiệp tính trên 1 ha đất nông nghiệp được sửdụng không ngừng tăng lên Nếu như năm 1996, chỉ tiêu trên mới đạt 13,5triệu đồng, năm 2000 là 17,5 triệu đồng, năm 2003 đạt 19,3 triệu đồng

Việc giao đất ổn định lâu dài cho người nông dân đã tạo ra động lựcmới thúc đẩy phát triển kinh tế và sử dụng đất đai hiệu quả, người dân mạnhdạn đầu tư những đối tượng cây trồng trên mảnh đất của mình Trong việcquản lý sử dụng đất đai đã có những thay đổi đáng kể, kể cả phương thức sửdụng và cơ chế ràng buộc đối với người sử dụng Ruộng đất đã được quản lýchặt chẽ hơn so với khi còn quản lý theo hình thức tập thể kiểu cũ Giá trị sảnxuất ngành trồng trọt tính bình quân trên 1 ha canh tác đã tăng từ 5,94 triệuđồng (năm 1994) lên 7,8 triệu đồng (năm 2003) Trước năm 1988, Việt Namluôn ở trong tình trạng mất an ninh lương thực Nhờ những chính sách đúng đắn

về giao quyền sử dụng đất cho nông dân, phát triển kinh tế hộ, nền nông nghiệpViệt Nam đã không những đáp ứng được lương thực trong nước mà còn dư đểxuất khẩu Trồng trọt và chăn nuôi đều phát triển theo hướng đa dạng hoá sảnphẩm, xoá dần tính độc canh để tăng hiệu quả sử dụng đất đai.[5]

Trang 26

Chính sách đất đai cùng với nhiều chính sách nông nghiệp đã gópphần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, từng bước thúc đẩy chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn Trước đổi mới, giảiquyết lương thực còn nhiều khó khăn Hàng năm, nước ta phải nhập khẩuhàng năm hàng triệu tấn lương thực Nhờ thay đổi chính sách nên từ năm

1989 đến nay, nước ta liên tục xuất khẩu gạo với số lượng lớn và ổn định thungoại tệ về cho đất nước Năm 1990, sản lượng lương thực cả nước đạt 21,5triệu tấn, lương thực bình quân theo đầu người đạt 327,5 kg Đến năm 2003sản lượng lương thực đã đạt 37,5 triệu tấn, đưa lương thực bình quân đầu ngườilên 464,8 kg Nhờ đảm bảo vững chắc lương thực, sản xuất nông nghiệp có điềukiện chuyển sang chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá có giá trị cao nhằm xuấtkhẩu

Vào những năm 1990, trước tình trạng nhiều địa phương tuỳ tiệnchuyển đất trồng luá sang sử dụng vào mục đích khác (như làm nhà ở, sảnxuất gạch ngói, trồng cây ăn quả ), Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 247ngày 28/4/1995 để kiểm soát việc sử dụng đất trồng lúa Khi an ninh lươngthực quốc gia được đảm bảo, chính sách đất đai cho phép chuyển một phầnđất trồng lúa kém hiệu quả sang mục đích khác có hiệu quả hơn như nuôitrồng thuỷ sản và cây trồng khác tránh sự lãng phí nguồn lực (thể hiện ở Nghịquyết 09/NĐ - CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương vàchính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp)

Chính sách đất đai nhằm vào khuyến khích nông dân tăng cường sửdụng có hiệu quả đất đai, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp

và cơ cấu kinh tế nói chung Chính phủ đã ban hành Quyết định 64/CP ngày27/9/1993 về giao đất nông nghiệp cho hộ nông dân Nông dân không nhữngđược giao quyền sử dụng đất đai lâu dài mà kèm theo các quyền được xác

Trang 27

Ngoài ra, do nhu cầu của phát triển KTXH, một phần đất nông nghiệp đượcchuyển sang mục đích phi nông nghiệp (như làm đường giao thông, khu côngnghiệp, nhà ở ), Nhà nước đã ban hành những chính sách về cấp đất, chothuê đất cho các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước, chính sách về giá thuếđất, giá đền bù, giải toả Nhờ đó, trên địa bàn nông thôn, hệ thống kết cấu hạtầng được nâng cấp nhanh chóng, nhiều khu công nghiệp và đô thị mới đượchình thành đóng góp tích cực vào việc ổn định và phát triển kinh tế xã hộinông thôn.

Chính sách đất đai góp phần điều chỉnh đất nông nghiệp, vừa tạo điềukiện cho người làm nông nghiệp có đất vừa hướng tới tập trung đất đai để sảnxuất chuyên môn hoá góp phần thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp, đặc biệt lànâng cao tỷ trọng hàng hoá nông sản

Việc Nhà nước ban hành các chính sách liên quan đến đất đai gần đâynhằm tạo điều kiện để các hộ nông dân tiếp cận và quản lý tốt quỹ đất, giữđược đất và có đất để kinh doanh nông nghiệp có tác dụng rất lớn trong việcbảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị xã hội nông thôn – nhất là ở miền núi,vùng dân tộc ít người

Chính sách đất đai cho phép tích tụ ruộng đất cho phát triển sản xuấthàng hoá lớn thông qua cho phép người sử dụng đất thực hiện các quyền vềchuyển đổi, chuyển nhượng, góp vốn kinh doanh.[5]

Bên cạnh đó, qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn Sau 15 năm phát triển (1991 – 2006), mô hình Khucông nghiệp đã gặt hái được những thành tựu to lớn [14] Việc xây dựng cáckhu công nghiệp không những tạo ra động lực thúc đẩy phát triển sản xuấtcông nghiệp mà còn kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ phục vụtrực tiếp cho sản xuất công nghiệp trong khu công nghiệp và hình thành mạng

Trang 28

lưới dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của người lao động Việc phát triển các khucông nghiệp sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng dần tỷtrọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế.

Sự ra đời của các khu công nghiệp là những mảnh đất màu mỡ cho ra đờitrên 4400 doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vàdịch vụ công nghiệp, với giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 31,9% (caogấp đôi so với mức tăng giá trị công nghiệp cả nước), các khu công nghiệp ViệtNam đã thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa Việt Nam

Theo tính toán gần 30.000 ha đất nông nghiệp hoặc vùng thị tứ kémphát triển trở thành các khu công nghiệp có cơ sở hạ tầng hiện đại và cácvùng đô thị khang trang (xung quanh khu công nghiệp), thu hút hàng vạndoanh nghiệp trong và ngoài nước Đây là những hạt nhân quan trọng thựchiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn

Đến hết năm 2005, các KCN là nơi đào tạo thực tế 750.000 người nôngdân, người lao động phổ thông ở những nơi thị tứ trở thành công nhân, và vớitốc độ tăng trưởng này, đến 2010 các KCN Việt nam sẽ thu hút 2,5 triệungười Đây là nguồn tài lực để đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp pháttriển ở trình độ thấp trở thành một nước công nghiệp mới ở thập niên thứ 2của thế kỷ 21

Nhiều ngành công nghiệp như sản xuất xe hơi, sản xuất máy móc trangthiết bị, nguyên vật liệu cao cấp tại các KCN, đặc biệt khi công nghiệp hoádầu tại khu Dung Quất đi vào hoạt động, sẽ góp phần nâng cao chất lượngphát triển các ngành công nghiệp Việt Nam

Tuy nhiên, sự phát triển của các khu công nghiệp làm thu hẹp diện tíchđất canh tác đất nông nghiệp, gây ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia,

Trang 29

nhiều KCN nằm liền kề với các đô thị lớn gây ảnh hưởng đến chất lượng môitrường đô thị trong tương lai gần Các khu công nghiệp góp phần giải quyếtviệc làm, tạo thu nhập cho người lao động và thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu laođộng Các khu công nghiệp đã tạo ra một số lượng lớn việc làm, nâng caotrình độ tay nghề và tương ứng với nó là tăng thu nhập của người lao động,góp phần tạo ra sự ổn định kinh tế và xã hội.Tính đến hết năm 2005, các KCN

đã tạo việc làm cho trên 0,74 triệu lao động trực tiếp tăng gấp 3 lần so vớinăm 2001, 14 lần so với năm 1995 và khoảng 2 triệu lao động gián tiếp

Tuy nhiên sự tập trung cao của lao động xung quanh các khu côngnghiệp cũng nảy sinh không ít các vấn đề xã hội cần phải giải quyết tình trạngthiếu nhà ở, điều kiện sinh hoạt khó khăn, sự phát sinh của các tệ nạn xã hội.Ngoài ra sự xuống cấp về môi trường của khu vực dân cư xung quanh các khucông nghiệp cũng đang nổi lên là một trong những vấn đề cấp bách cần có sựquan tâm nghiên cứu [14]

Trang 30

3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tổng quỹ đất và cơ cấu sử dụngđất trên địa bàn huyện Tiên Du – tỉnh Bắc Ninh

- Các yếu tố về ĐKTN – KTXH có liên quan đến đề tài

- Người sử dụng đất

- Việc thực hiện sách về quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn

- Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất tác động đến đời sống dân cư

1 Nghiên cứu thực trạng điều kiện tự nhiên kinh tế – xã hội

2 Nghiên cứu thực trạng việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất từ năm

2000 - 2005 - 2007 trên địa bàn huyện

a Tình hình quản lý và sử dụng đất đai

b Phân tích thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong các lĩnh

Trang 31

c Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nội bộ ngànhnông nghiệp.

d Tác động của sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất

e Những tồn tại và khó khăn nảy sinh trong quá trình chuyển đổi cơcấu sử dụng đất

3 Đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng đất hợp lý, bền vững trongtoàn huyện

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.2.1.Phương pháp kế thừa và chọn lọc tài liệu.

Phương pháp này sử dụng và kế thừa những tài liệu đã có về vấn đềnghiên cứu, dựa trên những thông tin, tư liệu sẵn có để xây dựng và phát triểnthành cơ sở dữ liệu cần thiết cho luận văn Cụ thể là phần nghiên cứu tổngquan viết trong báo cáo được viết dựa trên sự kế thừa các kết quả nghiên cứutrước đó Sử dụng phương pháp này sẽ tiết kiệm được thời gian và kinh phí,thực hiện thông qua việc giảm thời gian nghiên cứu lại những vấn đề đã đượclàm trước đây tránh được sự chồng chéo thông tin khi xây dựng báo cáo

3.2.2.2 Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp tài liệu

- Phương pháp này được sử dụng để phân tích toàn bộ số liệu từ cácđối tượng được điều tra theo nhóm chỉ tiêu, đánh giá phân tích sự tương quangiữa các yếu tố có liên quan đến quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất phục

vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm đưa ra những giải pháp quản lý, sửdụng đất bền vững đáp ứng mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội củađịa phương

3.2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu và minh hoạ bằng bản đồ

Trang 32

- Việc xây dựng bản đồ hiện trạng, bản đồ định hướng chuyển dịch cơcấu sử dụng đất đai theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của huyện sẽđược xây dựng bằng các phần mềm chuyên dụng về đo vẽ bản đồ như: Micro-Station, MapInfo…thể hiện nội dung và các yếu tố định hướng bằng trựcquan theo tỷ lệ bản đồ thích hợp.

- Việc phân tích và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel

3.2.2.4 Phương pháp chuyên gia

- Sử dụng ý kiến của các chuyên gia để xây dựng phương án khoa họctrên cơ sở những kinh nghiệm quý giá về thực tiễn của quản lý, sử dụng đấtbền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vận dụng một cách chọnlọc vào các nội dung nghiên cứu của đề tài

3.2.2.5 Phương pháp dự báo

- Dự báo nhu cầu sử dụng đất của các ngành, hướng chuyển dịch cơcấu đất đai trong tương lai theo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đấtnước và của vùng nghiên cứu

Trang 33

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

1 Vị trí địa lý

Tiên Du là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm tỉnh5km về phía Nam, cách thủ đô Hà Nội 25 km về phía Bắc Tọa độ địa lý củahuyện nằm trong khoảng:

Từ 20005’30” đến 21011’00” độ vĩ Bắc

Từ 105058’15” đến 106006’30” độ kinh đông

Phía Bắc: giáp thị xã Bắc Ninh, huyện Yên Phong

Phía Nam: giáp huyện Thuận Thành

Phía Đông: Giáp huyện Quế Võ

Phía Tây: giáp huyện Từ Sơn

Huyện Tiên Du – tỉnh Bắc Ninh có 16 đơn vị hành chính gồm: 01 thịtrấn (thị trấn Lim) và 15 xã (Liên Bão, Đại Đồng, Phật Tích, Hiên Vân, Lạc

Vệ, Nội Duệ, Tri Phương, Hoàn Sơn, Tân Chi, Minh Đạo, Hạp Lĩnh, KhắcNiệm, Cảnh Hưng, Việt Đoàn, Phú Lâm) Diện tích tự nhiên: 10.847,37 ha,chiếm 13,87% diện tích tự nhiên của tỉnh

- Có quốc lộ 1A, 1B và đường sắt (mỗi đường đi qua huyện dài gần 9km), nối liền với thị xã Bắc Ninh và thủ đô Hà nội Việc đầu tư xây dựng cầu

Hồ và mở rộng nâng cấp Quốc lộ 38 trở thành tuyến đường thông thương với

Trang 34

Hải Dương, Hưng Yên và đặc biệt là thành phố Hải Phòng, nơi có cảng Quốc

tế và khu công nghiệp tập trung

- Hệ thống các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ 270, 295 cùng với hệthống các tuyến đường huyện lộ hình thành nên mạng lưới giao thông rấtthuận lợi, tạo cho huyện có thế mạnh trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa vàtiêu thụ sản phẩm

- Sông Đuống chảy qua phía Nam huyện, có cầu Hồ là nơi đi lại,thông thương tấp nập của nhân dân và các phương tiện giao thông vận tải

Huyện Tiên Du là một huyện đồng bằng, đất đai màu mỡ, hệ thốngthủy lợi tương đối hoàn chỉnh thuận lợi cho việc phát triển vùng chuyên canhlúa chất lượng cao Là một huyện có truyền thống cách mạng và văn hóa lâuđời với nhiều di tích lịch sử văn hoá: chùa Hồng Vân, chùa Bách Môn, chùaPhật Tích Huyện Tiên Du còn là huyện có các làng nghề truyền thống như:nghề xây dựng ở Nội Duệ, nghề làm bún ở Khắc Niệm, nghề dệt lụa ở thị trấnLim, nghề làm giấy ở Phú Lâ m…

Với vị trí địa lý như trên tạo thuận lợi cho Tiên Du trong giao lưu kinh

tế, mở rộng thị trường, thu hút vốn đầu tư, khai thác lợi thế nguồn nhân lực đểphát triển sản xuất hàng hoá

Trang 35

Mùa mưa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bìnhtháng dao động từ 24,5 – 29,90C, lượng mưa/tháng từ 125,2 mm (tháng 10)đến 283,3 mm (tháng 8) Lượng mưa trong các tháng mùa mưa chiếm 84,64%tổng lượng mưa cả năm.

Số giờ nắng trung bình các tháng/năm 139,32 giờ, số giờ nắngtháng thấp nhất 46,9 giờ (tháng 2), tháng có số giờ nắng cao nhất 202,8giờ (tháng 7) Tổng số giờ nắng trong năm 1671,9 giờ

Độ ẩm không khí trung bình năm 84%, trong đó tháng có độ ẩm không khílớn nhất 88% (tháng 3), tháng có độ ẩm không khí thấp nhất 70% (tháng 12)

Với điều kiện khí hậu trên cho thấy: Huyện Tiên Du có thể phát triểnmột nền nông nghiệp đa dạng và phong phú Yếu tố hạn chế lớn nhất đối với

sử dụng đất là mưa lớn tập trung theo mùa thường gây ngập úng các khu vựcthấp trũng và uy hiếp các công trình thuỷ lợi gây khó khăn cho việc tăng vụ,

Nhìn chung địa hình của huyện thuận lợi cho việc phát triển mạng lướigiao thông, thuỷ lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới khu dân cư,

Trang 36

các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kiến thiết đồng ruộng tạo ranhững vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát triển rau màu và cây côngnghiệp ngắn ngày.

b Địa chất

Đặc điểm địa chất huyện Tiên Du tương đối đồng nhất Nằm gọn trongvùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nên Tiên Du mang những nét đặc trưngcủa cấu trúc địa chất sụt trũng sông Hồng, trong khối kết tinh ackei –paleozoi Mặt khác, do nằm trong miền kiến tạo Đông Bắc nên có những nétmang tính chất của vùng Đông Bắc Trải qua giai đoạn phát triển tam giácchâu và hiện nay đang trong giai đoạn phát triển của đồng bằng bồi tích phù

sa sông Quá trình bồi lấp của đồng bằng tuy chưa hoàn thiện, nhưng hiện đã

bị ngừng do hệ thống đê ngăn lũ dọc các sông lớn

4.1.2 Các nguồn tài nguyên

1 Tài nguyên nước

a Nguồn nước mặt

Huyện Tiên Du có nguồn nước mặt tương đối dồi dào bao gồm sôngĐuống, ngòi Tào Khê, kênh Nam, kênh Trịnh Xá (kênh Nam là kênh tướichính, kênh Trịnh Xá là kênh tiêu chính) Sông Đuống là nguồn nước mặt chủyếu của huyện Tiên Du và là ranh giới với huyện Thuận Thành Đoạn sôngĐuống chảy qua phía Nam huyện Tiên Du từ xã Tri Phương đến xã Tân Chirồi chảy sang huyện Gia Bình, dài khoảng 10 km Sông Đuống nối liền sôngHồng và sông Thái Bình, có tổng trữ lượng nước 31,6 tỷ m3 (gấp 3 lần tổnglượng nước của sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam) Mức nước caonhất tại bến Hồ tháng 8/1945 là 9,64 m chênh từ 4 – 5 m so với mặt ruộng,mức thấp nhất tại bến Hồ là 0,19 m thấp hơn so với mặt ruộng từ 3 – 4m.Sông Đuống có hàm lượng phù sa nhiều, vào mùa mưa trung bình cứ 1m3

Trang 37

nước có 2,8 kg phù sa Lượng phù sa khá lớn này đã đóng vai trò quan trọngtrong quá trình hình thành đồng bằng phù sa màu mỡ ven sông của huyện.

Hệ thống sông ngòi, kênh mương cùng với số lượng ao hồ hiện có tạođiều kiện thuận lợi cung cấp nước ngọt quanh năm cho sản xuất, sinh hoạtcũng như cải tạo đất

b Nguồn nước ngầm

Nguồn nước ngầm tuy chưa được khảo sát tính toán cụ thể nhưng quathực tế sử dụng của người dân trong huỵên cho thấy mực nước ngầm có độsâu trung bình từ 3 – 7m, chất lượng nước tốt, có thể khai thác phục vụ sinhhoạt và tưới cho các cây trồng tại các vườn gia đình trong mùa khô, góp phầntăng sản phẩm và thu nhập cho nông dân

Theo bản đồ đất tỷ lệ 1/ 25 000 tỉnh Bắc Ninh, có bổ sung trên bản đồ

tỷ lệ 1/ 10 000 của huyện cho thấy đất đai huyện Tiên Du bao gồm 10 loại đấtchính và được mô tả như sau:

1 Đất phù sa được bồi hàng năm của hệ thống sông Hồng (P h b)

Có diện tích 330 ha chiếm 3,04% so với diện tích tự nhiên, phân bố dọctheo sông Đuống, tập trung tại các xã Cảnh Hưng, Minh Đạo, Tân Chi Đấtđược hình thành bởi vật liệu phù sa của sông Đuống, có thành phần cơ giớinhẹ, tầng đất khá dày, khả năng giữ nước, giữ chất dinh dưỡng thấp Tuynhiên, do được bồi đắp phù sa hàng năm nên đất vẫn có độ phì khá Loại đất

Trang 38

này rất thích hợp với việc trồng các loại hoa màu lương thực như: lúa, ngô,khoai, mía, rau đậu các loại.

2 Đất phù sa không được bồi của hệ thống sông Hồng (P h )

Có diện tích 608,77 ha chiếm 5,61% diện tích tự nhiên, phân bố ở cácxã: Đại Đồng, Tri Phương, Minh Đạo, Tân Chi Đất được hình thành ở địahình cao hơn so với đất phù sa được bồi hàng năm, thành phần cơ giới từ thịtnhẹ đến thịt trung bình, ít chua, nghèo lân tổng số và lân dễ tiêu, kali tổng số

và kali dễ tiêu khá cao, các chất dinh dưỡng khác trung bình Đây là loại đất

có khả năng thâm canh, tăng vụ mở rộng diện tích vụ đông

3 Đất phù sa gley của hệ thống sông Hồng (P h g)

Diện tích 3327, 26 ha chiếm 30,67% diện tích tự nhiên Loại đất nàychiếm diện tích lớn nhất, phân bố hầu hết các xã trong huyện, tập trung thànhnhững cánh đồng lớn Đất được hình thành ở địa hình vàn, vàn thấp, trongđiều kiện ngập nước, gley yếu đến trung bình Đất có thành phần cơ giới từthịt trung bình đến thịt nặng, đất chua, hàm lượng mùn và đạm khá, lân dễtiêu nghèo Đây là loại đất đang trồng 2 vụ lúa có năng suất cao, ổn định, cần

có biện pháp cải tạo mở rộng diện tích cây vụ đông

4 Đất phù sa có tầng loang lổ của hệ thống sông Hồng (P h f)

Diện tích 685,58 ha chiếm 6,32% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xãHoàn Sơn, Liên Bão, Phú Lâm, Việt Đoàn, Hạp Lĩnh, Lạc Vệ Đất thườnghình thành ở địa hình cao hơn các loại phù sa khác Do các chất kiềm và kiềmthổ bị rửa trôi, sắt nhôm tích tụ tạo nên các tầng loang lổ đỏ vàng Đất cóthành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nhẹ, phản ứng đất chua vừa Cóthể thâm canh tăng vụ trên loại đất này nếu được tưới tiêu chủ động

5 Đất phù sa gley của hệ thống sông Thái Bình (P )

Trang 39

Diện tích 761,00 ha chiếm 7,02% diện tích tự nhiên, được phân bố tậptrung tại xã Phú Lâm Giống như đất phù sa gley của hệ thống sông Hồng, loạiđất này thường ở địa hình thấp Hiện tại trên loại đất này đang trồng lúa nướchai vụ ổn định, muốn tăng năng suất cần phải tăng cường bón vôi, lân để cảitạo đất.

6 Đất phù sa có tầng loang lổ của hệ thống sông Thái Bình (Pf)

Diện tích 321,16 ha chiếm 2,96% diện tích tự nhiên, phân bố ở xã PhúLâm Giống như đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng của hệ thống sông Hồng(Phf), loại đất này thường ở địa hình cao, nhưng qúa trình tích tụ sắt nhômmạnh hơn nên đất có phản ứng chua hơn Nếu được tưới tiêu chủ động có thểthâm canh tăng vụ trên loại đất này

7 Đất phù sa úng nước (P j )

Diện tích 353,52 ha chiếm 3,26% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xãPhú Lâm, Phật Tích, Nội Duệ Loại đất này ở địa hình thấp nhất (trũng)thường bị úng nước sau khi mưa Vì vậy cần phải củng cố hệ thống tiêu nước

để trồng ổn định 2 vụ lúa Những nơi khó tiêu nước nên chuyển sang 1 vụ lúa+ 1 vụ cá

8 Đất xám bạc màu trên phù sa cổ (B)

Diện tích 571,6 ha, chiếm 5,27% diện tích tự nhiên, phân bố ở xã KhắcNiệm, Hoàn Sơn Đặc điểm chính của loại đất này (đặc biệt ở lớp mặt) làthành phần cơ giới thô, nghèo sét, màu sắc lớp đất mặt thường có màu xám –trắng Qúa trình rửa trôi theo chiều sâu là nguyên nhân chính tạo nên tầng tích

tụ sét ở tầng B Tuy nhiên, loại đất xám có một số ưu điểm như: khả năngthoát nước nhanh, dễ làm đất, thích hợp với nhiều cây có củ và cây ưa cơ giớinhẹ Đây là loại đất có độ phì nhiêu thấp, cần có biện pháp cải tạo nâng cao

Trang 40

9 Đất vàng nhạt trên đá cát (Fp)

Diện tích 286,69 ha chiếm 2,64% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xãPhật Tích, Hoàn Sơn, Hiên Vân, Hạp Lĩnh, thị trấn Lim Đây là loại đất đượchình thành tại chỗ trên những đồi núi độc lập giữa đồng bằng, đất thường cóthành phần cơ giới nhẹ, tầng mỏng, lẫn nhiều đá, phản ứng chua Nên trồngrừng phủ xanh những nơi còn trống trọc để cải thiện môi trường đất

10 Những thung lũng do sản phẩm dốc tụ: (D)

Diện tích 126 ha, chiếm 1,16% diện tích tự nhiên Khác với loại đấtxám bạc màu trên phù sa cổ, đất dốc tụ thường được bồi tụ các sản phẩm từtrên xuống, lớp đất mặt thường có màu xám thẫm, thành phần cơ giới nặng.Tuy nhiên, do qúa trình canh tác lúa nước lâu đời, tình trạng ngập nướcthường xuyên dẫn tới môi trường đất bị yếm khí, hình thành tầng đất có màuxám xanh (gley) Để đạt năng suất lúa cao cần cải tạo đất bằng cách cày ải đểcải thiện môi trường đất

4.1.3 Tình hình môi trường sinh thái

Môi trường có tầm quan trọng rất đặc biệt đối với đời sống con người

và sinh vật, liên quan chặt chẽ với nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự phát triểnkinh tế xã hội và sự sống của con người Với đặc điểm phát triển kinh tế - xãhội theo hướng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ - du lịch và nông - lâm - ngưnghiệp, cảnh quan thiên nhiên của huyện Tiên Du đã bị tác động mạnh mẽ,môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, mà các nguyên nhân chủ yếu là do cáchoạt động công nghiệp, quá trình đô thị hoá

* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường

1 Những lợi thế cho sự phát triển kinh tế xã hội

Ngày đăng: 21/03/2013, 13:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thị Anh (2006), Nghiên cứu tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi bị Nhà nước thu hồi đất của một số dự án trên địa bàn huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi bị Nhà nước thu hồi đất của một số dự án trên địa bàn huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Hoàng Thị Anh
Năm: 2006
2. Vũ Thị Bình (2006), Giáo trình Quy hoạch phát triển nông thôn, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quy hoạch phát triển nông thôn
Tác giả: Vũ Thị Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2006
3. Nguyễn Văn Bài, Nghiên cứu các loại hình sử dụng đất và đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Hiệp Hoà - Tỉnh Bắc Giang, Trường ĐH Nông nghiệp I – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các loại hình sử dụng đất và đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Hiệp Hoà - Tỉnh Bắc Giang
4. Lê Thái Bạt (1995), "Đánh giá và đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững vùng Tây Bắc", Hội thảo quốc gia Đánh giá quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững vùng Tây Bắc
Tác giả: Lê Thái Bạt
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
5. Bộ Kế hoạch và đầu tư, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Ban nghiên cứu chính sách phát triển kinh tế nông thôn (2006), “Ảnh hưởng của chính sách nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản tới phát triển bền vững ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của chính sách nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản tới phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và đầu tư, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Ban nghiên cứu chính sách phát triển kinh tế nông thôn
Năm: 2006
7. Võ Tử Can (2001), Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đất đai, Dự án 3 - quy hoạch sử dụng đất đai, Tổng cục Địa chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đất đai, Dự án 3 - quy hoạch sử dụng đất đai
Tác giả: Võ Tử Can
Năm: 2001
8. Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình (2001), Nghiên cứu và xây dựng qui trình công nghệ đánh giá hiệu quả sử dụng đất thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và xây dựng qui trình công nghệ đánh giá hiệu quả sử dụng đất thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Tác giả: Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình
Năm: 2001
11. Nguyễn Quốc Hùng (2006), Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội, Đổi mới chính sách về chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai trong quá trình công nghiệp hoá đô thị hoá ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách về chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai trong quá trình công nghiệp hoá đô thị hoá ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
12. Phan Văn Khải, “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (gọi tắt là chương trình nghị sự 21) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam
13. Lê Văn Khoa (1992), “Ô nhiễm môi trường đất”, Hội thảo khoa học sử dụng tốt tài nguyên đất để phát triển và bảo vệ môi trờng, Hội Khoa học đất Việt Nam, Hà Nội, 4/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô nhiễm môi trường đất”, "Hội thảo khoa học sử dụng tốt tài nguyên đất để phát triển và bảo vệ môi trờng
Tác giả: Lê Văn Khoa
Năm: 1992
14. Ngô Thắng Lợi (2006), “Ảnh hưởng của chính sách phát triển các khu công nghiệp tới phát triển bền vững ở Việt Nam”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư 15. Ngân hàng Phát triển Châu Á (2005), Dự án nâng cao hiệu quả thị trườngcho người nghèo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của chính sách phát triển các khu công nghiệp tới phát triển bền vững ở Việt Nam"”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư15. Ngân hàng Phát triển Châu Á (2005), "Dự án nâng cao hiệu quả thị trường
Tác giả: Ngô Thắng Lợi (2006), “Ảnh hưởng của chính sách phát triển các khu công nghiệp tới phát triển bền vững ở Việt Nam”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư 15. Ngân hàng Phát triển Châu Á
Năm: 2005
16. Phùng Văn Nghệ (1999), Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đất đai, Dự án 6 - quản lý chương trình, Tổng cục Địa chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đất đai
Tác giả: Phùng Văn Nghệ
Năm: 1999
18. Đặng Quang Phán, Nghiên cứu tác động của quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và đất ở trên địa bàn huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội đến năm 2010, Luận văn thạc sỹ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và đất ở trên địa bàn huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội đến năm 2010
19. Đặng Kim Sơn (2001), Công nghiệp hoá từ nông nghiệp, lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hoá từ nông nghiệp, lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2001
20. Tổng cục Thống kê (2006, 2007), Động thái kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Ninh 21. Tổng cục Thống kê (2006), Niên giám thống kê Bắc ninh 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động thái kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Ninh"21. Tổng cục Thống kê (2006)
Tác giả: Tổng cục Thống kê (2006, 2007), Động thái kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Ninh 21. Tổng cục Thống kê
Năm: 2006
22. Chu Văn Thỉnh (1999), Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách sử dụng và sử dụng hợp lý đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Báo cáo tổng hợp, Tổng cục Địa chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách sử dụng và sử dụng hợp lý đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Chu Văn Thỉnh
Năm: 1999
23. Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Hội (2005), Quy hoạch bảo vệ môi trường thị xã Uông Bí đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch bảo vệ môi trường thị xã Uông Bí đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Hội
Năm: 2005
25. Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2002), Thực trạng Lao động, việc làm tỉnh Bắc Ninh năm 2002, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng Lao động, việc làm tỉnh Bắc Ninh năm 2002
Tác giả: Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2002
26. Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2004), Thực trạng Lao động, việc làm tỉnh Bắc Ninh năm 2004, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng Lao động, việc làm tỉnh Bắc Ninh năm 2004
Tác giả: Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2004
27. Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2005), Thực trạng Lao động, việc làm tỉnh Bắc Ninh năm 2005, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng Lao động, việc làm tỉnh Bắc Ninh năm 2005
Tác giả: Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Một số chỉ tiêu chăn nuôi của huyện - Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3 Một số chỉ tiêu chăn nuôi của huyện (Trang 44)
Bảng 4 : Hiện trạng sử dụng đất huyện Tiên Du  (tính đến ngày 01/01/2007) - Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 4 Hiện trạng sử dụng đất huyện Tiên Du (tính đến ngày 01/01/2007) (Trang 54)
Bảng 5: Thống kê biến động đất đai huyện Tiên Du  giai đoạn 2000 – 2005. - Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 5 Thống kê biến động đất đai huyện Tiên Du giai đoạn 2000 – 2005 (Trang 57)
Bảng 6: Biến động đất đai huyện Tiên Du  giai đoạn 2005 – 2007 - Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 6 Biến động đất đai huyện Tiên Du giai đoạn 2005 – 2007 (Trang 58)
Bảng 7: Tổng hợp tình hình biến động đất trên địa bàn huyện Tiên Du  giai đoạn 2000 - 2007 - Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 7 Tổng hợp tình hình biến động đất trên địa bàn huyện Tiên Du giai đoạn 2000 - 2007 (Trang 59)
Bảng 9:  Tốc độ phát triển kinh tế huyện Tiên Du (1995 - 2000 - 2006) - Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 9 Tốc độ phát triển kinh tế huyện Tiên Du (1995 - 2000 - 2006) (Trang 66)
Bảng 2: Cơ cấu trà lúa, giống lúa - Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2 Cơ cấu trà lúa, giống lúa (Trang 111)
Bảng 3:  Chỉ tiêu lao động của địa phương được làm việc  tại khu công nghiệp - Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3 Chỉ tiêu lao động của địa phương được làm việc tại khu công nghiệp (Trang 112)
Bảng 4. Danh mục các trường đào tạo việc làm của người dân - Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 4. Danh mục các trường đào tạo việc làm của người dân (Trang 114)
Bảng 5: Danh mục các công trình hạ tầng cơ sở đang thực hiện. - Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
Bảng 5 Danh mục các công trình hạ tầng cơ sở đang thực hiện (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w