1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình Dược lý đại cương - Chương 5 docx

33 478 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thuốc Trị Kí Sinh Trùng Và Nấm
Trường học Trường Đại học Dược Hà Nội
Chuyên ngành Dược lý
Thể loại Giáo trình
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phải nhận thấy rằng hiệu quả của việc sử dụng thuốc đối với thú nhiễm ký sinh trùng đường ruột chỉ ở khía cạnh điều trị được ký sinh trùng trong đường ruột, sự lây nhiễm trở lại chắc chắ

Trang 1

Chương 5 THUỐC TRỊ KÝ SINH TRÙNG VÀ NẤM

( Khái quát về thuốc trị ký sinh trùng và nấm ( Tóm tắt các nhóm thuốc trị ký sinh trùng và nấm ( Các nhóm trị thuốc trị ký sinh trùng và nấm

Trang 2

Chương 5 THUỐC TRỊ KÝ SINH TRÙNG VÀ NẤM

5.1 Khái quát về thuốc trị ký sinh trùng và nấm

5.1.1 Thuốc trị giun sán

Thuốc trị giun sán là những loại thuốc được dùng để diệt những ký sinh vật sốngđường tiêu hóa và các cơ quan như gan, phổi, hệ tuần hoàn Vì vậy, nó khác với tác động chống lại các ngoại ký sinh

Hầu hết các ký sinh vật sống trong đường tiêu hóa và cơ quan liên quan được phân loại thành cestodes (sán dây), trematodes (sán lá) hoặc nematodes (giun tròn)

1 Cestodes hay sán dây cơ thể dẹp, phân đốt, chu kỳ sống bao gồm ký chủ trung gian

là cả động vật máu nóng hay máu lạnh Giai đoạn ấu trùng Taenia solium sống trong các mô của heo, giai đoạn trưởng thành sống trong đường tiêu hóa người Ký sinh có ký chủ trung gian máu lạnh là Dipylidium caninum, giai đoạn trưởng thành sống trong ruột non chó và mèo, trong khi nang chưa trưởng thành được tìm thấy trên bọ chét chó, mèo Ý nghĩa lâm sàng được quan tâm vẻ bên ngoài hơn là bệnh lý bên trong

2 Trematodes hay sán lá đa số cơ thể dẹp, không phân đốt, chu kỳ sống phức tạp có liên quan tới những loài ốc Giai đoạn trưởng thành những loài thường gặp sống trong ống dẫn mật của thú nhai lại Gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi thú công nghiệp, chủ yếu là làm chậm sự phát triển của thú bị nhiễm và ảnh hưởng quầy thịt, nguy hại gan

3 Nematodes hay giun tròn cơ thể hình trụ tròn, dài, sống trong dạ dày và ruột củathú nuôi, thú hoang dã hay chim Một nhóm nhỏ, được gọi là giun phổi, được tìm thấy trong

mô phổi và cuống phổi Chu kỳ sống của Nematodes bao gồm giai đoạn sống tự do và, thường xuyên, và giai đoạn non di hành đến mô của ký chủ, đến giai đoạn trưởng thành sống trong ruột hoặc phổi Nhóm này bao gồm các loài biểu hiện lâm sàng rỏ rệt nhất

Đối với giun tròn, sán lá hay sán dây, thường có những trường hợp đặc biệt khi bịnhiễm số lượng nhiều có thể gây bệnh lâm sàng và thiệt hại kinh tế nghiêm trọng Sự gây nhiễm tăng có thể do tình trạng hạn hán, sự chăn thả hạn chế dẫn tới nhiễm ấu trùng có sẵn cao; hoặc mưa to kéo dài kết hợp vơi nhiệt độ cao, khi chu kỳ sống của giun có thể mau hơn bám vào lá cây cỏ ấu trùng gây nhiễm

Trong nhiều bệnh của vật nuôi, nhiễm cận lâm sàng thường gây thiệt hại kinh tếnghiêm trọng Khi cừu hoặc trâu bò nhiễm sán sẽ giảm 1% sản lượng thịt hoặc lông

5.1.2 Ảnh hưởng của ký sinh vật trên ký chủ

Trang 3

Ký sinh có thể gây thiệt hại bằng nhiều cách:

1 Ký sinh có thể hấp thu thức ăn của ký chủ (sán dây)

2 Ký sinh có thể hấp thu máu của ký chủ (giun móc)

3 Ký sinh có thể lấy thức ăn từ các mô của ký chủ – “redworm” ở ngựa

4 Ký sinh có thể gây tắc nghẽn các cơ quan:

a Ruột – giun tròn

b Mạch máu – Filaroids

c Tim – giun tim

d Gan - sán lá gan

5 Ký sinh có thể gây nguy hại các mô, có thể dẫn tới các bệnh như là bệnh do

Sallmonella trong trường hợp nhiễm sán lá gan.

6 Ký sinh có thể gây phản ứng mô, chẳng hạn bướu do giun phổi và bệnh tích ở phủ

tạng do ấu trùng di hành trong mắt ký chủ thứ hai (người) của Toxocara canis.

5.1.3 Mối quan hệ ký sinh vật – ký chủ

Toàn bộ mối quan hệ giữa ký sinh vật và ký chủ chưa được biết hết, nhưng hiện nay được coi phức tạp như là giữa vi khuẩn, virus và vật chủ Thật vậy, giữa chúng rất giống nhau

Việc chứng minh sự nhiễm và gây hại trên thú, chim được quyết định bởi hàng loạt các yếu tố sau:

1 Số lượng ký sinh vật: sự nhiễm lâm sàng bởi vi khuẩn hoặc virus phụ thuộc

vào số lượng vi sinh vật xâm nhập vào vật chủ, số lượng trứng và ấu trùng gây nhiễm nếu nhiều sẽ gây thể bệnh nặng và ngược lại

2 Sự tác hại của ký sinh vật: mức độ tác hại khác nhau của ký sinh vật và ái lực

khác nhau các loài thú Một số loại ký sinh trùng ít gây tác hại hơn các loại khác: Thí dụ sán

dây trưởng thành nguy hiểm hơn khi so sánh với Strongyles hay Ascarids Nhìn chung, ký

sinh vật sống ở dạ dày và phần phía trên ruột non thì thường gây tác hại nặng nhất.

3 Sự đề kháng của ký chủ: thú trưởng thành đề kháng mạnh hơn thú non Sự đề

kháng ký sinh vật có thể được nghiên cứu bởi hai hiện tượng sau:

Thứ nhất, đề kháng được kết hợp bởi phản ứng kháng nguyên – kháng thể Kháng thể

có thể thừa hưởng hoặc có được bởi liều không gây chết của trứng hoặc ấu trùng

Trang 4

Thứ hai, có thể xuất hiện tỷ lệ đề kháng cá thể do tình trạng sức khoẻ và dinh dưỡng Phải nhận thấy rằng hiệu quả của việc sử dụng thuốc đối với thú nhiễm ký sinh trùng đường ruột chỉ ở khía cạnh điều trị được ký sinh trùng trong đường ruột, sự lây nhiễm trở lại chắc chắn sẽ xảy ra, do đó thuốc điều trị giun sán không phải là vũ khí duy nhất Chế độ ăn uống phù hợp, chuồng nuôi, tình trạng sạch sẽ, vận động, quản lý bãi chăn v.v… và những yếu tố khác góp phần ngăn chặn và kiểm soát bệnh ký sinh trùng cũng như các bệnh nhiễm khác.Sau cùng, sự có mặt ký sinh trong đường tiêu hóa không có biểu hiện rỏ rệt, thường chỉ khi nhiễm nhiều ký sinh trùng hoặc số lượng trứng đếm được trong phân mới được nhận biết (phát hiện 3000 Haemochus contortus trong dạ dày và 9000 trứng đếm được trên 1g phân) Tuy nhiên, cần hiểu được để quản lý thuốc điều trị tiêu diệt giun sán, ngay cả ở thú không có dấu hiệu nhiễm bệnh, đặc biệt khi những thú nhiễm là một phần của bầy hoặc đàn Những thú mắc bệnh khác biểu hiện rỏ ràng phải luôn được loại trừ trước khi sử dụng thuốc trị giun sán.

5.1.4 Những giun sán thường gặp ở thú nuôi

Giun sán được phân làm ba loại dựa vào giải phẩu học:

1 Sán dây dẹp, phân đốt (cestodes)

2 Sán lá dẹp, không phân đốt (trematodes)

3 Giun tròn (nematoda) hình trụ tròn Nhóm này có thể chia thành hai phân nhóm: Strongyloid và Ascaroid

5.1.5 Các loại giun sán ở ngựa

Ba loài sán dây Anoplocephala được tìm thấy trong ruột non Sán lá thường đượcphát hiện nhưng thỉnh thoảng cũng có dịp phát hiện ở các vị trí như phổi, dưới da v.v… Giun tròn là giun sán quan trọng nhất ở ngựa

Trang 5

Anoplocephala perfoliata (trên ngựa)

5.1.5.1 Strongylidae

Strongylidae có thể gây ra nhiều triệu chứng nghiêm trọng; thiếu máu, bệnh lỵ

và có thể chết khi nhiễm nặng Gồm 4 giống sau:

Trang 6

Parascaris equorum Oxyuris equi

5.1.6 Một số loài giun sán ở thú nhai lại

Giống ký sinh trùng gây nhiễm ở trâu, bò, dê, cừu rất tương đồng về cách điều trị bệnh, ngoại trừ một số trường hợp chỉ khác nhau về liều lượng sử dụng.

Giun ở dạ dày bao gồm các loài Haemonchus, Ostertagia và Trichostrongylus

có thể gây thiệt hại nghiêm trọng Giun trong ruột non bao gồm các loài Nematodirus,

Bunostomum (hookworm) và Cooperia 2 loài trước gây bệnh quan trọng Một số loài của giống Trichostrongylus sống trong ruột non và có thể gây bệnh quan trọng Chabertia và Oesophagostomum (giun kết hạt) sống trong ruột già, đều gây bệnh lý quan trọng

Giun phổi gồm 3 giống strongyloid: Dictyocaulus filaria và D vivipara,

Protostrongylus và Muellerius Giống đầu tiên thường gây bệnh lý nhất, gây bệnh ho khan

ở trâu bò, một trong ba loài ký sinh nhiều nhất ở nước Anh

5.1.7 Một số loại ký sinh trùng ở heo

1 Sán dây

Dạng trưởng thành của sán dây Taenia không thường được phát hiện trong ruột heo, heo là ký chủ trung gian của Taenia solium Diphyllobothrium latum được tìm thấy trong ruột non nhưng người là ký chủ cuối cùng của sán dây này

2 Sán lá

Giống như ở ngựa, sán lá có thể được tìm thấy ở heo, nhưng thường không gây

bệnh

3 Giun tròn

Strongylidae và Ascarididae đều ký sinh ở heo Strongylidae gồm 3 giống chủ yếu:

1 Hyostrongylus được tìm thấy trong dạ dày heo và gây ra tình trạng mệt mỏi.

Trang 7

2 Oesophagostomum (nodular worm) gây bệnh tích đoạn ruột kết.

3 Metastrongylus là giun sống ở phổi heo.

5.1.8 Một số loại ký sinh trùng ở chó mèo

1 Sán dây

Sán dây thường phát hiện ở chó nhưng ở mèo thì ít hơn Gồm 4 giống: Taenia,

Echinococcus, Dipylidium và Dyphyllobothrium Taenia và Dipylidium là 2 loài thường gây

bệnh ở Anh, tất cả đều sống trong ruột non Chúng ít gây hại thú nuôi nhưng ảnh hưởng sức khoẻ người chăn nuôi khi nó là nguồn lây nhiễm của thức ăn thú và người

2 Sán lá: sán lá không quan trọng đối với chó mèo ở Anh.

3 Giun tròn

Giun tròn thường gây bệnh hơn sán dây và đặc biệt quan trọng ở chó con

Ascarididae được tìm thấy trong ruột non là các loài của Toxocara và Toxascaris Ancylostomatidae được tìm thấy trong ruột non là các loài Ancylostoma và Uncrinaria

(hookworm) Một thành viên của Trichuridae (whipworm), Trichuria vulpis, được tìm thấy trong đoạn ruột tịt Một loài thuộc Filaridae là Dirofilaria immitis, giai đoạn trưởng thành sống trong tim và mạch máu chó

5.1.9 Một số loại ký sinh trùng ở gia cầm

1 Sán dây

Sán dây ở gia cầm, Davaineidae, sống trong ruột non gồm 4 giống: Davainea và

Raillietina quan trọng hơn so với Amoebotaenia và Hymenolepis.

2 Sán lá

Sán lá đã được phát hiện ở vịt nhưng không quan trọng các gia cầm khác.

3 Giun tròn

Strongylidae được tìm thấy ở gia cầm gồm: Syngamus (gapeworm) và

Amidostomum (giun ở dạ dày ngỗng).

Ascarididae ảnh hưởng gia cầm là Heterakis (giun ở ruột tịt) và Ascaridia được tìmthấy ở ruột non

Giống Trichuridae cũng được tìm thấy ở Anh Đây là Capillaria annulata được tìmthấy ở thực quản, diều và ruột non, gây bệnh lý nghiêm trọng Thí nghiệm ở bồ câu đếm được 4000 trứng/g phân

Đối với chăn nuôi gia cầm, giun sán ảnh hưởng kinh tế rất quan trọng

Trang 8

5.1.10 Đặc tính của thuốc trị giun sán

Thuốc điều trị giun sán lý tưởng có các tính chất sau:

1 Đạt được chỉ số điều trị rộng nhất Đây là tỷ lệ của liều hiệu lực đến liều gây độc,

ví dụ một chỉ số điều trị 1:2 rất hẹp, khi dùng liều gấp đôi vừa diệt ký sinh trùng vừa diệt ký chủ Chỉ số điều trị hẹp hơn 1:4 không an toàn Nhiều thuốc trị giun sán có tỷ lệ hẹp nhưng kiểm soát được cả giun sán dạ dày – ruột và sán lá gan, được chứng minh an toàn đặc biệt khi sử dụng

2 Phổ hoạt động rộng

3 Tác động lên giun sán cả giai đoạn trưởng thành và giai đoạn chưa trưởng thành

4 Thuốc điều trị giun sán lý tưởng phải không gây các tác dụng phụ nguy hiểm cho thú khi điều trị

5 Đơn giản trong việc cấp thuốc

5 Giá thành chấp nhận được trong tổng chương trình kiểm soát bệnh

6 Giai đoạn tồn dư ngắn trong mô

5.1.11 Cách sử dụng thuốc điều trị giun sán

Giá trị của thuốc điều trị giun sán trong chương trình kiểm soát bệnh được quyết định bởi kết quả sự hiểu biết của chúng ta về dịch tể học của ký sinh trùng có ý nghĩa rất quan trọng về mặt kinh tế Thuốc điều trị giun sán rẻ tiền như carbon tetrachloride có thể ít giá trị nếu sử dụng ở nơi mà hoạt động cao chống lại giai đoạn ấu trùng của sán lá Chi phí để tập trung điều trị giun sán cả cừu và trâu bò hiện nay lớn đến nổi mục tiêu phải luôn luôn dùng thuốc điều trị hiệu quả nhất suốt chu kỳ sống của giun sán

5.1.12 Kiểu hoạt động của thuốc điều trị giun sán

Từ những nghiên cứu ở những năm 1970 người ta đã xác định năng lượng được

tạo ra từ sự lên men kỵ khí của carbonhydrate, khác với sự trao đổi chất hiếu khí xảy ra ở

mô của thú có vú Hệ thống fumarate reductase giữ vai trò quan trọng trong sự trao đổi năng lượng của ký sinh vật nhưng nó không hiện diện ở các mô của ký chủ Từ đó các loại thuốc điều trị thường có kiểu tác động làm ngăn chặn sự phát triển và trao đổi năng lượng ở cả 2 giai đoạn ấu trùng và trưởng thành của ký sinh vật thông qua sự ức chế loại enzym này Sự

ức chế hấp thu glucose cũng gây chết được giun sán Những thuốc điều trị giun sán khác, chẳng hạn như hợp chất phospho hữu cơ và levamisole ảnh hưởng sự dẫn truyền thần kinh

Trang 9

của giun sán trên cơ sở ức chế Acetylcholinesterase, làm tê liệt và giun sán không còn khả năng bám gắn vào thành ruột.

Cơ chế tác động của thuốc trị giun sán 5.1.13 Sự đề kháng với thuốc điều trị giun sán

Sự đề kháng với thuốc điều trị giun sán đã được báo cáo từ nhiều năm qua, ban

đầu là phenothiazine (1959) và sau đó là thiabendazole vào năm 1964, tại Australia (Le Jambre, Southcote và Dash) đã công bố đầu tiên sự đềø kháng vào năm 1972 khi khám phá khoảng 20% Haemonchus contortus trên cừu (tại CSIRO Pastoral Reseach Station in Armidale) sống sót khi điều trị một liều bình thường Thiabendazole 50 mg/kg trọng lượng, một liều sẽ hy vọng diệt 95% giun trưởng thành Le Jambre và ctv cũng cho biết sự đề kháng với thiabendazole chỉ xảy ra trên một gen do đó sự đề kháng có thể hình thành rất nhanh Trong trường hợp sử dụng thuốc điều trị giun sán khác như morantel, sự đề kháng có thể xảy ra trên nhiều gen vì vậy sự phát triển của tiến trình đề kháng có thể chậm hơn Ngày nay thuốc điều trị giun sán đã được dùng rộng rãi, tuy nhiên sự đề kháng đã không trở thành vấn đề lớn trong thực tế như thuốc trừ sâu hoặc kháng sinh nhờ sự đa dạng với rất nhiều loại thuốc thông qua sự áp dụng luân phiên

Trang 10

Từ những kết quả nghiên cứu về đề kháng của ký sinh trùng với thuốc các khuyến cáo sau đây nếu áp dụng sẽ hạn chế được sự đề kháng.

1 Sử dụng thuốc điều trị giun sán có phổ rộng, mục tiêu diệt tất cả giun sán khỏi vật chủ

2 Luân phiên thay đổi thuốc điều trị giun sán

Trang 11

5.2 Tóm tắt các nhóm thuốc trị ký sinh trùng và nấm

5.2.1 Nhóm trị cả nội và ngoại ký sinh

(1) Nhóm Avermectines

AbamectinDoramectinIvermectinEprinomectin(2) Nhóm Milbemycines

MoxidectinMilbenmycin oxim

ThiophanateFebantelNetobimin(5) Nhóm Imidazothiazoles

TetramisoleLevamisole(6) Nhóm Tetrahydropyrimidines

Pyrantel pamoatePyrantel tartrateMorantel

(7) Nhóm Organophosphates

DichlorvosHaloxon Trichlorfon FenthionCythioateMetrifonateCoumaphosMalathion(8) Nhóm Salicylanilide

ClosantelNiclosamideOxyclozanideRafoxanide (9) Nhóm Piperazine

PiperazinDiethylcarbamazine citrate(10)Nhóm khác:Nitroscanate, Praziquantel

5.2.2.2 Thuốc trị sán dây

(1) Nhóm Halogenophenol

Bithinoloxyle(2) Nhóm Salicylanilide (Niclosamide)(3) Nhóm Benzimidazole

(4) Nhóm khác : Nitroscanate, Praziquantel Bunamidine hydrochloride, Epsiprantel

5.2.2.3 Thuốc trị sán lá gan chưa trưởng thành.

(1) Nhóm Halogenophenol (Bithinoloxyle)(2) Nhóm Salicylanilide (Oxyclozanide)(3) Nhóm Disulfonamides

Trang 12

CarbarylMethomylBendiocarb(4) Nhĩm Carbamate

CarbarylMethomylBendiocarb(5) Nhĩm Pyrethines

PyrethrinDeltamethrinCyfluthrinPhenotrine(6) Nhĩm Avermectines(7) Nhĩm Phenylpyrazoles

Fipronil(8) Nhĩm khác

AmitrazClosantelPiperonylRotenone(9) Nhĩm Organo arsenic

Roxarsone(10) Nhĩm Polyether ionophore

5.2.5 Thuốc trị ký sinh trùng đường máu

(1) Nhĩm Diamidine

PentamidinePhenamidine, Lomidin(2) Nhĩm Carbanilides

Imidocarbe(3) Nhĩm khác: Berenil, Trypamidium

5.2.6 Thuốc trị nguyên sinh đợng vật

A Boric

A Salicylic(5) Nhĩm khác

FluconazolAmphotericin BNystatin

Trang 13

5.2.1 Nhóm trị cả nội và ngoại ký sinh

 Lưu trữ /tính bền /khả năng tương hợp thuốc

Ivermectin nhạy với ánh sáng, lưu trữ ivermectin 1% ở nhiệt độ phòng (15–30oC)Ivermectin 1% dùng đường uống và tiêm đăở ngựa đặt ống) pha loãng tỉ lệ 1:20 và 1:40, lưu giữ được trong 72h, giữ ở nhiệt độ phòng và tránh ánh sáng

 Dược lý

Trang 14

Ivermectin tăng cường phiên bản của (- amino butyric (GABA) nơron synap ảnhhưởng của GABA như 1 nơron và làm tê liệt nơron synap bên trong giun tròn hoặc cơ bắp ở động vật chân khớp.

Ivermectin gây ra chứng liệt của ký sinh và sau cùng là chết

Ivermectin không hiệu quả diệt sán lá và sán dây

 Sử dụng chỉ định

Ivermectin chích dùng điều trị và kiểm soát có hiệu quả các các loài ký sinh trùng có hại

Ivermectin chỉ định sử dụng cho ngựa, diệt những ký sinh trưởng thành (strongylus

vulgaris, S edentatus, S equinus, Triodontophorus spp) và những ấu trùng của giun phổi,

giun kim (con trưởng thành và ấu trùng 4 tháng tuổi, giun tóc (con trưởng thành), những con giun lươn trong dạ dày

Ở gia súc, ivermectin được chỉ định diệt giun tròn (con trưởng thành và ấu trùngkhoảng 4 tháng tuổi), giun phổi (con trưởng thành và ấu trùng 4 tháng tuổi), gia cầm, chấy rận và 1 phần nhỏ bệnh ghẻ Danh sách những loài được sử dụng thuốc, xin tham chiếu thông tin sản phẩm

Ở lợn, ivermectin được chỉ định sử dụng diệt giun tròn, chấy rận và mạt Danh sách những loài được sử dụng thuốc, xin tham chiếu thông tin sản phẩm

Ở chó, ivermectin được chỉ định sử dụng ngăn ngừa giun tim, ivermectin cũng được

sử dụng trị giun chỉ, ngoại ký sinh trùng và nội ký sinh Sử dụng liều 10mg/20kg thể trọng

 Dược động học

Ở thú dạ dày đơn, sự hấp thụ ivermectin sau khi uống được tăng 95% Động vật nhai lại dạ dày kép, sự hấp thu chỉ 1/4 – 1/3 của 1 liều thuốc trong dạ cỏ Trong khi ở đó giá trị sinh học dài sau khi tiêm dưới da, sử dụng đường uống hấp thu nhanh hơn tiêm dưới da

Ivermectin phân phối đến các mô bào tốt nhưng không xâm nhập vào trong CSF, do

đó hạn chế tính độc của nó Những con chó lông xù (Collie) cho phép thuốc vào bên trong nhiều hơn những chó khác và loài khác

Ivermectin có thời gian bán hủy dài ở đa số các loài, nó đi qua gan và được biến đổi

ở đó, chủ yếu được bài thải qua phân, < 5% thuốc được bài thải qua nước tiểu

 Tác động đối kháng/thận trọng khi sử dụng/tính an toàn cho sự sinh sản

Trang 15

Nhà sản xuất khuyến cáo rằng ivermectin không sử dụng cho ngựa nhỏ hơn 4 tháng tuổi nhằm tạo sự an toàn của thuốc cho những động vật nhỏ được chắc chắn Tuy nhiên ngựa nhỏ hơn 35 ngày tuổi dung nạp liều cao 1mg/kg mà không biểu hiện tiêu chảy, ngộ độc.

Ivermectin không sử dụng cho chó con < 6 tuần tuổi, đa số những kiểm tra lâm sàng cho thấy ivermectin không nên sử dụng cho những chó lông xù (Collie) trừ khi không có phương pháp chữa bệnh khác Sau khi chấp nhận loại thuốc phòng bệnh giun tim, nhà sản xuất thử nghiệm quan sát cho Collie sau khi sử dụng thuốc ít nhất 8h

Do ảnh hưởng đến sản lượng sữa nên thuốc không chỉ định sử dụng cho những động vật cho sữa, hoặc con cái giống

Thuốc được tiêm dưới da thú nuôi và lợn, không tiêm bắp hoặc tĩnh mạch

Ivermectin được xem là an toàn để sử dụng trong thời gian mang thai, những nghiên cứu về sinh sản, sức sản xuất của chó, ngựa, heo, gia súc không biểu hiện những ảnh hưởng bất lợi đến bào thai Sức sản xuất, sinh sản ở thú đực cũng không bị ảnh hưởng

 Tác động không mong muốn/cảnh báo

Ơû ngựa, sưng lên và ngứa ở vùng bụng giữa, có thể thấy sau 24h sử dụng thuốcphản ứng quá nhạy sẽ dẫn đến chết Onchocerca spp giun chỉ vàcó thể phòng sự phản ứng

là sử dụng glucocorticoid trước đóù, sau 1 – 2 ngày sử dụng ivermectin Nếu không điều trị, thường chổ sưng sẽ giảm sau 7–10 ngày và cơn ngứa sẽ ngưng ở tuần thứ 3

Ở chó có thể thấy shok phản vệ khi ivermectin được sử dụng trị giun chỉ, có thể đoán

do phản ứng liên kết với xác giun chỉ

Khi sử dụng trị ấu trùng Hypoderma bovis, ivermectin có thể gây bất lợi nghiêmtrọng do giết ấu trùng khi chúng ở những cơ quan quan trọng, ấu trùng khi bị giết trong kênh đốt xương sống có thể gây ra chứng liệt và lảo đảo, ấu trùng bị giết quanh thực quản sẽ ngăn cản, gây tiết nước bọt và làm phình lên, những hậu quả này có thể tránh bởi việc điều trị, cho ăn ngay đó sau mùa vụ hoặc sau khi những giai đoạn của sự phát triển mùa vụ của vùng bị ảnh hưởng (Warble ply).Ở gia súc có thể sẽ khó chịu hoặc nhất thời là phình lên ở

vị trí tiêm Sử dụng lượng lớn 10ml tại bất kỳ vị trí tiêm

Ở chim, sự chết, hôn mê hoặc chứng biếng ăn thấy được ở chim yến nhạy cảm với thuốc hơn những loài khác

 Sử dụng quá liều/độc tính cấp tính

Trang 16

Ở ngựa liều 1.8mg/kg, PO (9 lần liều đề nghị) không gây độc, nhưng liều 2mg/kggây suy giảm trực quan, bồn chồn và thất điều vận động.

Ở gia súc, liều gấp 30 lần liều điều trị, đường tiêm, sẽ gây độc Ở 8mg/kg, gia súcbiểu hiện triệu chứng thất điều vận động , buồn chán, đôi khi chết

Ở cừu, triệu chứng thất điều vận động và buồn chán khi sử dụng liều 4mg/kg

Ở lợn, triệu chứng của sự nhiễm độc (tê liệt, thất điều vận động , tư thế nằm 1 bên và giãn đồng tử) ở liều 30mg/kg Những con lợn có thể dễ bị ảnh hưởng hơn do ivermectin được sử dụng liều cao, điều này đã được thí nghiệm

Ở chó, ngộ độc hiếm khi xuất hiện ở liều 2mg/kg (2000(g/kg) hoặc ít hơn Liều2,5mg/kg gây giãn đồng tử , 5mg/kg sự run xuất hiện Liều 10mg/kg sự run mạnh hơn và chứng thất điều vận động, chó sẽ chết khi liều > 40mg/kg nhưng LD50 là 80mg/kg, những chó săn chấp nhận ở liều 0,5mg/kg, PO, 14 tuần mà không thấy biểu hiện của tính độc nhưng với 1 – 2mg/kg cũng thời kì như vậy làm tăng giãn đồng tử và giảm cân 1/2 chó với liều 2mg/kg/ngày, 14 tuần phát triển triệu chứng của sự buồn chán, run, biếng ăn, thất điều vận động và mất nước

Giống chó Collie ảnh hưởng là do sự nhạy cảm độc tính của ivermectin hơn chó khác

vì do thuốc được ngấm vào hàng rào máu não ở CNS ở giống chó này

Ivermectin nói chung có thể sử dụng an toàn cho chó Collie khi sử dụng phòng giun tim với liều thích hợp

Với liều cao chó nhạy cảm phát triển biểu hiện tính độc của phản ứng phụ (ảnhhưởng CNS, hoa mắt, mất sức, rối loạn, run rẩy, chảy nước bọt, lão đão, ngất, đờ đẫn và tử vong) cần phải nhận sự chăm sóc và điều trị triệu chứng, cần làm sạch ruột chó hoặc mèo

Những triệu chứng độc ở mèo được xuất hiện khoảng 10h tiêu hóa thức ăn

Triệu chứng gồm: lắc, kêu la, giãn đồng tử, biếng ăn, chân tay run, có sự đáp ứng không đầy

đủ, chứng mù, nặng tai, cơ mắt không hoạt động hệ thống thần kinh thường suy giảm vài tuần, những triệu chứng này xuất hiện vài ngày và đa số các động vật khôi phục lại 2 – 4 tuần Khuyến cáo về sự chăm sóc

 Tương tác thuốc phòng thí nghiệm

Khi sử dụng liều trị giun chỉ ivermectin có thể cho hiệu quả sai, phủ định kết qủa ở động vật với sự nhiễm giun tim

 Liều sử dụng

Ngày đăng: 07/08/2014, 07:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w