Tình huống 2: Thai phụ chưa điều trị ARV, nhưng đã đủ điều kiện để bắt đầu trị liệu • Hành động: – Bắt đầu điều trị.. – Chờ đến sau ba tháng đầu của thai kỳ nếu có thể... Phối hợp 3 thuố
Trang 1Tình huống 2: Thai phụ chưa điều trị ARV, nhưng đã đủ điều kiện để bắt đầu trị liệu
• Hành động:
– Bắt đầu điều trị
– Chờ đến sau ba tháng đầu của thai kỳ nếu có thể
Tuy nhiên không nên chờ đợi nếu việc bắt đầu điều trị ngay là cần thiết
• Phác đồ hàng 1 ưu tiên: AZT + 3TC + NVP
• Nếu CD4 > 250 tb/mm3, không dung nạp NVP, hoặc
có tiền sử viêm gan: sử dụng phác đồ thay thế:
AZT + 3TC + NFV
Trang 2Tình huống 3: Thai phụ nhiễm HIV nhưng
chưa cần điều trị cho bản thân
1) Phác đồ ưu tiên: Phối hợp 3 thuốc
2) Phác đồ thay thế
• AZT (300 mg x 2 lần/ngày) từ tuần 28 của thai
kỳ + liều đơn NVP 200 mg lúc sinh
• Liều đơn NVP 200 mg lúc sinh
Trang 3Phối hợp 3 thuốc ARV trong PLTMC
Phác đồ 3 thuốc có thể được sử dụng một cách an toàn bất kỳ thời kỳ nào sau 3 tháng đầu của thai kỳ
Lợi ích
– Giảm được nồng độ virút hữu hiệu nhất
– Giảm lây truyền xuống <2%
– Giảm nguy cơ kháng thuốc
Nhược điểm
– Giá thành cao
– Uống nhiều thuốc
– Cần phải theo dõi nhiều hơn
Trang 4AZT + Liều đơn Nevirapine (SDN)
Bắt đầu AZT ở tuần 28 cho đến lúc đẻ + liều đơn NVP lúc sinh
Lợi ích
– Giảm nguy cơ LTMC xuống khoảng 2% nếu không cho con
bú
– Giảm nguy cơ LTMC xuống 4,7-6,8% nếu có bú mẹ
– Chi phí thấp
– Giảm tác dụng phụ của thuốc
Nhược điểm
– Tỷ lệ lây truyền cao hơn phác đồ ba thuốc
– Nguy cơ kháng Nevirapine
Trang 5Liều đơn Nevirapine lúc sinh
Lợi ích
– Giá thành thấp
– Dễ thực hiện
– Hiệu quả cho thai phụ đến muộn
– Giảm tỷ lệ lây truyền từ 30% xuống 12%
Nhược điểm
– Không hiệu quả như các phác đồ khác
– Nguy cơ kháng NNRTI