Đề tài này tiến hành điều tra khảo sát, thu thập thông tin và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nhằm cung cấp thông tin cho du khách khi lựa chọn địa điểm ăn uống và nghỉ ngơi khi đến Quảng Trị. Tổng số nhà hàng, khách sạn được điều tra, xây dựng cơ sở dữ liệu là 61 cơ sở (36 khách ạn và 25 nhà hàng) với 14 lớp thông tin cần thiết cho du khách. Đây sẽ là nguồn dữ liệu quan trọng được tích hợp vào bản đồ du lịch nhằm quảng bá, thu hút và lưu giữ du khách góp phần thúc đẩy phát triển ngành du lịch của tỉnh Quảng Trị.
Trang 1MỞ ĐẦU
Hiện nay trên thế giới với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ
đă được ứng dụng vào phát triển kinh tế - xă hội hết sức hiệu quả GIS là một hệthống phần mềm được ứng dụng rất rộng răi và hết sức thiết thực trong lĩnh vựcquản lý tài nguyên và môi trường, phục vụ cho phát triển kinh tế - xă hội nói chung
và ngành du lịch nói riêng Trong thời gian qua, việc ứng dụng GIS vào công tácquản lý và phát triển du lịch ở Việt Nam đang trong giai đoạn đầu nhưng đă thểhiện nhiều tính năng ưu việt Với những khả năng mạnh về lưu trữ, phân tích và xử
lý các dữ liệu không gian, GIS đáp ứng được hầu hết các yêu cầu đặt ra trong quátrình khai thác và sử dụng tài nguyên du lịch, giúp ngành du lịch Việt Nam pháttriển có hiệu quả hơn Riêng ở tỉnh Quảng Trị, công tác quản lý tài nguyên du lịchnói chung và quản lý hệ thống nhà hàng, khách sạn nói riêng nếu có sử dụng hệthống phần mềm này th́ì sẽ đem lại nhiều lợi ích thiết thực như: có thể hệ thống hoá,
số hoá hiện trạng nhà hàng, khách sạn của địa phương cần quản lý Từ đó việc đánhgiá và kết hợp chúng nhằm quản lý nhà hàng và khách sạn mang đầy đủ các thôngtin kèm theo về các chỉ tiêu, đặc trưng của từng nhà hàng và khách sạn sẽ giúp chocác nhà quản lý có những biện pháp thích hợp đồng thời giúp du khách được thuậntiện hơn trong việc lựa chọn cơ sở lưu trú khi tham quan du lịch
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tỉnh Quảng Trị nằm ở vùng du lịch Trung Bộ, trên con đường di sản miềnTrung có điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển một ngành du lịch đặc thù cósức hấp dẫn riêng đối với du khách Đặc biệt, Quảng Trị nằm trên con đường
“Trường Sơn huyền thoại”, nhờ nằm trên con đường này mà Quảng Trị được đưavào 1 trong 21 trọng điểm du lịch Quốc gia Bên cạnh đó, Quảng Trị nằm trên tuyếnhành lang kinh tế Đông - Tây, là cửa ngỏ đầu tiên vào Việt Nam trên tuyến hànhlang, hàng năm đã thu hút một lượng lớn khách du lịch quốc tế từ các nước ĐôngDương và các nước khác đi qua tuyến đường này Quảng Trị có khoảng trên 500điểm di tích lịch sử, văn hóa, tôn giáo, danh lam thắng cảnh,… có thể khai thác vàphát triển du lịch
Trang 2Theo kết quả thống kê, năm 2007 lượng du khách đến tỉnh Quảng Trị là354.348 người, trong đó khách quốc tế là 28.348 người Số khách do các cơ sở lưutrú phục vụ là 332.348 người, trong đó khách quốc tế là 16.348 người Thời gianlưu trú của khách trung bình chỉ khoảng 1,5 ngày đêm/người Đây là một chỉ số rấtthấp trong hoạt động du lịch, sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu từ hoạt động này Nguyênnhân của thực trạng trên có rất nhiều: hệ thống cơ sở hạ tầng thấp kém chưa đảmbảo yêu cầu phục vụ du khách, chưa có sự kết hợp giữa du lịch và vui chơi giải trí,khả năng lưu giữ khách … trong đó một phần rất quan trọng là thiếu thông tin về hệthống các cơ sở lưu trú và ăn uống tại Quảng Trị Hiện nay, số cơ sở lưu trú trongtoàn tỉnh là 142 cơ sở, trong đó khách sạn là 36 cái, số phòng khách sạn là 800phòng… Tuy nhiên du khách không tiếp cận được với các nguồn thông tin này,hoặc chủ yếu biết được thông tin là do các cơ sở lữ hành tại Quảng Trị cung cấp saukhi du khách đã đến Quảng Trị Vì vậy, khi trước khi tiến hành đi du lịch, du khách
đã chọn nơi lưu trú chủ yếu ở Huế (cùng trên tuyến du lịch Bắc Trung Bộ)
Việc kết hợp công nghệ GIS cùng với các thông tin chi tiết các vùng miền dulịch, đặc biệt là các thông tin về cơ sở lưu trú và ăn uống là rất cần thiết cho dukhách và các cơ sở kinh doanh du lịch khi thiết kế và tổ chức tour Đây sẽ là điềukiện thuận lợi để tổ chức quảng bá, thu hút và lưu giữ du khách góp phần thúc đẩyphát triển ngành du lịch của tỉnh Quảng Trị, một tỉnh có nhiều tiềm năng nhưng dulịch vẫn chưa phát triển Việc “Điều tra, xây dựng cơ sở dữ liệu về hệ thống nhàhàng, khách sạn phục vụ cho việc thành lập bản đồ du lịch tỉnh Quảng Trị” là mộtviệc làm rất cần thiết để hoàn thiện bản đồ du lịch và thúc đẩy phát triển ngành dulịch tỉnh Quảng Trị
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về nhà hàng, khách sạn phục vụ cho việc tracứu thông tin trên bản đồ du lịch tỉnh Quảng Trị nhằm khai thác và phát triển dulịch tại địa phương
Đề tài này tiến hành điều tra khảo sát, thu thập thông tin và xây dựng hệthống cơ sở dữ liệu nhằm cung cấp thông tin cho du khách khi lựa chọn địa điểm ănuống và nghỉ ngơi khi đến Quảng Trị Tổng số nhà hàng, khách sạn được điều tra,xây dựng cơ sở dữ liệu là 61 cơ sở (36 khách ạn và 25 nhà hàng) với 14 lớp thông
Trang 3tin cần thiết cho du khách Đây sẽ là nguồn dữ liệu quan trọng được tích hợp vàobản đồ du lịch nhằm quảng bá, thu hút và lưu giữ du khách góp phần thúc đẩy pháttriển ngành du lịch của tỉnh Quảng Trị.
3 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài này tiến hành điều tra khảo sát, thu thập thông tin và xây dựng hệthống cơ sở dữ liệu của tất cả các nhà hàng, khách sạn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.Nhưng do thời gian, kinh phí có hạn cũng như tình hình phát triển du lịch của tỉnhnên chúng tôi đã tập trung vào nghiên cứu ở thành phố Đông Hà và thị xã QuãngTrị một cách chi tiết hơn các huyện còn lại
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đă sử dụng các phương pháp nghiên cứusau:
- Phương pháp phân tích hệ thống:
Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng trong hầu hết các đề tài về du lịch
Cơ sở của phương pháp này là dựa vào phân tích và xử lư số liệu, tài liệu đă đượcđiều tra thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau từ Sở Văn hoá, Thể thao và Dulịch tỉnh Quảng Trị, các cơ quan liên quan, từ tài liệu trên mạng và kế thừa cácthông tin có được từ các đề tài nghiên cứu đi trước
- Phương pháp nghiên cứu thực địa:
Đây là một phương pháp truyền thống được sử dụng để đi khảo sát, điều tranghiên cứu thực tế nhằm thu thập được những số liệu chính xác về hệ thống nhàhàng, khách sạn ở địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp thống kê du lịch:
Thống kê du lịch nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ chặt chẽ với mặt chất củacác hiện tượng và quá tŕnh kinh tế - xă hội trong ngành du lịch, nghiên cứu biểuhiện về lượng của các quy luật trong lĩnh vực, đặc biệt là:
+ Thống kê số lượng các điểm nhà hàng, khách sạn có trên địa bàn Tỉnh, tậptrung chủ yếu ở Đông Hà và Quảng Trị
Trang 4+ Thống kê đặc trưng và số lượt khách đến nhà hàng, khách sạn, doanh thu
du lịch…
- Phương pháp sử dụng công nghệ xây dựng bản đồ:
+ Sử dụng các phần mềm có sẵn để xây dựng và cập nhật dữ liệu
+ Sử dụng máy định vị GPS để thu thập dữ liệu
+ Các phần mềm phục vụ số hóa bản đồ như Mapinfo
5 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của đề tài gồm có 3 chươngsau:
Chương 1 Khái quát các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch và hệ thốngnhà hàng, khách sạn ở tỉnh Quảng Trị
Chương 2 Hiện trạng phát triển du lịch và hoạt động của hệ thống nhà hàng,khách sạn ở tỉnh Quảng Trị
Chương 3 Xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống nhà hàng, khách sạn ở tỉnhQuảng Trị
Trang 5CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
VÀ HỆ THỐNG NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Ở TỈNH QUẢNG TRỊ 1.1 CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN
1.1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Quảng Trị kéo dài từ 16º12’ – 17º10’vĩ Bắc và 106º24’ – 107º25’ kinhĐông và được giới hạn: phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình; phía Nam giáp tỉnh ThừaThiên Huế; phía Tây giáp CHDCND Lào; phía Đông giáp biển Đông
Với vị trí đó, Quảng Trị nằm trên con đường di sản miền Trung có điều kiệnthuận lợi để phát triển một ngành du lịch đặc thù có sức hấp dẫn riêng Hơn nữaQuảng Trị nằm trên hành lang kinh tế Đông Tây và có các hệ thống giao thông quantrọng đi qua như Quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 9qua Lào và Thái Lan , về đường biển có cảng Cửa Việt và đang có dự án xây dựngcảng Mỹ Thuỷ Vì vậy, du khách có thể đến với Quảng Trị được dễ dàng hơn
1.1.2 Địa chất – địa hình
a Địa chất:
Trong phạm vi tỉnh Quảng Trị phân bố các thành tạo địa chất có tuổi từProterozi đến Đệ tứ, gồm các đá magma xâm nhập, phun trào, các thành tạo trầmtích và biến chất Hoạt động kiến tạo xảy ra mạnh mẽ, đặc biệt là hoạt động tân kiếntạo, tổ hợp với quá trình ngoại sinh đã tạo nên sự đa dạng của cảnh quan với các tàinguyên thiên nhiên độc đáo, trở thành các điểm du lịch hấp dẫn
Sự phong phú và đa dạng của các thành tạo địa chất là cơ sở tạo nên tính đadạng của cảnh quan - một trong nững yếu tố tạo nên sức hấp dẫn cho du lịch Cácthành tạo và quá trình địa chất cũng có thể trực tiếp tạo nên các tài nguyên du lịchnhư hang động Karst, các khối đá có hình thái đẹp được thiên nhiên chạm khắc, cácvách núi trên đá chắc tạo cảm giác mạnh cho du lịch mạo hiểm; các bãi biển vớitính đa dạng cảnh quan do phân bố thành phần vật chất khác nhau Các quá trình địachất còn tạo điều kiện cho sự hình thành và xuất lộ các nguồn nước nóng khoáng -một dạng tài nguyên du lịch có giá trị Mỗi thành tạo địa chất có vai rò khác nhau
Trang 6trong việc tạo nên giá trị tài nguyên du lịch, chúng cần được đánh giá một cáchđúng đắn cho quy hoạch phát triển du lịch.
b Địa hình:
Cũng như nhiều tỉnh khác ở Trung Bộ , Quảng Trị là tỉnh có sự đa dạng về địahình, bao gồm cả địa hình núi cao trung bình, núi thấp, đồi, đồng bằng ven biển,biển và đảo ven bờ
Cấu trúc dạng tuyến theo phương Tây Bắc – Đông Nam là đặc trưng cho địahình QuảngTrị Tại đây đường chia nước - đường sống núi của dãy Trường Sơnkhông ở biên giới mà nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam, song vẫn giữ phương kéodài chung là Tây Bắc – Đông Nam Địa hình dãy Trường Sơn có tính bất đối xứngkhá rõ, từ 1500 – 1700m hoặc 1000 – 1400m ở đỉnh đến 1000 – 1300m, 600 –900m, 200 – 500m, 100 – 200m và < 100m ở phần sườn phía nam Hoạt động xâmthực bào mòn của sông suối đã phá vỡ tính liên tục của các tầng độ cao trên, hìnhthành các dãy núi trung bình, núi thấp và đồi, phân bố kế tiếp nhau từ chiều Tâysang Đông, tạo nên tính đa dạng cảnh quan tỉnh Quảng Trị
Dải đồng bằng Quảng Trị có chiều ngang chỉ rộng chừng 10 – 20 km, kéo dàidạng tuyến theo phương Tây Bắc – Đông Nam khá điển hình Cấu trúc của hệ đầmphá – đê cát cũng được phát triển trong mối liên quan với hệ đứt gãy cùng phương,tạo nên móng đá gốc sâu dần về phía Đông Đặc điểm hình thái chung của dải đồngbằng Quảng Trị là có độ dốc rất nhỏ, nhiều nơi còn tồn tại các dải trũng giáp chânsườn đồi núi (nguyên là hệ thống đầm phá cổ), phía Đông của đồng bằng thườngđược giới hạn với biển bởi đê cát thiên nhiên cao từ 5 – 8m đến vài chục mét, cáccửa sông đều hẹp và thường bị thu lại đáng kể vào mùa khô bởi sự kéo dài của cácdoi cát biển
Địa hình do phun trào bazan cũng là một đặc thù của vùng Quảng Trị Các khốibazan với đại hình dạng vòm hoặc nghiêng thoải, phân bố ở Khe Sanh, Gio Linh,Vĩnh Linh, đảo Cồn Cỏ… Qúa trình phong hóa feralit trên các thành tao bazan đãtạo nên tầng phong hóa với lớp đất đỏ dày, hiện đã được khai thác trồng cây côngnghiệp dài ngày
Trang 71.1.3 Khí hậu – thuỷ văn
a Khí hậu:
Dãy Trường Sơn đã phân chia lãnh thổ Quảng Trị thành 2 vùng khí hậu:Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn theo sự phân hóa chế độ mưa - ẩm Đườngranh giới giữa 2 vùng khí hậu đông và tây Trường Sơn chính là đường sóng núi củadãy Trường Sơn chạy từ Động Vàng Vàng, Động Sa Mùi, Động Voi Mẹp qua vùngnúi thấp phía đông Khe Sanh đến Động Ba Lê, Động Ngài
Trong vùng khí hậu tây Trường Sơn (Khe Sanh, Tà Rụt), mùa mưa bắt đầu từ tháng
V (một số năm là tháng IV) và kết thúc là tháng XI, kéo dài 7 (hoặc 8) tháng, mà ítmưa kéo dài 5 (4) tháng Ở vùng khí hậu đông Trường Sơn ( Đông Hà) mùa mưabắt đầu từ tháng VIII và kết thúc vào tháng XII, kéo dài 5 tháng; mùa ít mưa kéo dài
7 tháng
Tính mùa của nền nhiệt ẩm sẽ quy định nhịp điệu mùa của hoạt động du lịchcủa mỗi vùng: Tây Trường Sơn, Đông Trường Sơn Ngay cùng ở phía ĐôngTrường Sơn được thể hiện rõ mùa du lịch nghỉ dưỡng ven biển và nghỉ dưỡng vennúi
Hai vùng khí hậu phân biệt nhau theo sự phân hóa mưa - ẩm, nhưng trongmỗi vùng còn tồn tại sự phân hóa tương đối rõ nét trong chế độ nhiệt - ẩm theo độcao địa hình Lãnh thổ Quảng Trị gồm 3 vùng: vùng đồng bằng ven biển, vùngtrung du và núi thấp và vùng núi cao Như vậy, ở vùng khí hậu đông Trường Sơn
có 3 loại địa hình vừa nêu và ở vùng khí hậu tây Trường Sơn chỉ có 2 loại địa hình:vùng núi thấp và vùng núi cao
Theo quan điểm điều kiện địa hình chi phối điều kiện khí hậu, ta có thể phânchia vùng khí hậu Đông Trường Sơn thành 3 tiểu vùng khí hậu: Tiểu vùng khí hậuđồng bằng ven biển; Tiểu vùng khí hậu trung du và núi thấp và Tiểu vùng khí hậunúi cao Tây Trường Sơn có 2 tiểu vùng: Tiểu vùng núi thấp tây Trường Sơn; Tiểuvùng núi cao tây Trường Sơn
Trong các tiểu vùng khí hậu trên, đáng chú ý là Tiểu vùng khí hậu đồng bằngven biển đông Trường Sơn với nền nhiệt cao, chịu tác động của gió Lào Nơi đây lạitập trung nhiều trung tâm các huyện lỵ, tỉnh lỵ với lượng dân cư đông Do đó, cần
Trang 8tìm kiếm các khu vực có điều kiện để tránh những ngày thời tiết khắc nghiệp nơiđây
Tiểu vùng khí hậu núi cao Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn có độ caođại hình xấp xỉ 1000m trở lên, tương ứng với mức giảm nhiệt độ trung bình trên 5ºC
và lượng mưa trung bình đạt trên 2800mm/năm Ở vùng núi cao, nhiệt độ trungbình năm có thể đạt 16 – 20ºC, nhiệt độ tối thấp có thể đạt giá trị thấp đáng kể,nhưng nhiệt độ tối cao chắc chắn đạt giá trị không cao Không gian ở đây thoángrộng , nhưng gió mạnh đạt mức độ không cao, vì bão sau khi đổ bộ vào đất liền bịtan đi nhanh chóng Đó là các khu vực rất thích hợp với việc xây dựng các trungtâm nghỉ mát
+ Đất mặn: Diện tích 1.430 ha
+ Đất phèn: Đất phèn ít và trung bình - mặn ít (Sj): Diện tích 418 ha
+ Nhóm đất phù sa (P): Diện tích 40.492 ha
+ Đất lầy và đất than bùn: Diện tích 405 ha
+ Đất xám bạ màu trên phù sa cổ: Diện tích 1.404 ha
+ Đất đen trên bazan (R): Diện tích 79 ha
Trang 9Các kiểu thảm thực vật và những đặc trưng cơ bản
* Các kiểu thảm thực vật trên đất địa đới:
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi: Phân bố chủyếu ở tây bắc Hướng Hóa, thường gặp ở độ cao 500 m đến 600 m và che phủ phầnlớn diện tích đất rừng trong khu vực
- Kiểu rừng kín thường xanh cây lá rộng á nhiệt đới núi trung bình: Phân bốchủ yếu ở độ cao từ 700 – 1.500 m, như ở dãy núi trung bình động Voi Mẹp, trênkhối núi thuộc động A Pông ở Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp: Kiểu quần xã thựcvật này ở Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông thường ít bị tác động, về căn bản vẫngiữ được tính nguyên sinh
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh nhiệt đới phục hồi saukhai thác: Rừng ở đây bị tác động mạnh qua việc khai thác gỗ xây dựng và thưongmại
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín tường xanh mưa ẩm nhiệt đới phụ hồisau nương rẫy: Kiểu rừng này có nguồn gốc từ rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệtđới, nhưng do các hoạt động khai phá nương làm rẫy và nạ cháy rừng đã làm mất đilớp thảm rừng nguyên sinh, sau đó được bỏ hoang nhiều năm và rừng non đã xuấthiện
Trang 10- Rừng hỗn giao tre - nứa - gỗ phục hồi sau nương rẫy và khai thác kiệt: Kiểunày cũng có nguồn gốc gián tiếp từ kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới.
- Trảng co cây bụi thứ sinh nhân tác: Đây cũng là hậu quả trực tiếp của quátrình canh tác nương rẫy lâu dài và của chiến tranh
* Các kiểu thảm thực vật trên đất phi địa đới:
- Rừng trên các đụn cát: Rừng còn trên các đụn cát tương đối ổn định
- Trảng cây bụi thứ sinh trên các đụn cát: Đây là trạng thái thảm thực vật câybụi thứ sinh hình thành sau khi rừng trên các đụn cát bị khai thác làm đất canh tác
và cả sau khi khai thác gỗ
- Trảng cỏ thứ sinh: Trên các đụn cát ở Quảng Trị thường có các trảng cỏ cao0,1 – 0,2 m phân bố thành các mảng, thay thế vào trảng cây bụi và rừng bị mất đitrong quá trình khai thác
* Các kiểu thảm thực vật trên đất nội địa đới:
- Trảng cỏ chụi ngập thứ sinh và các quần xã thủy sinh ở đầm, ao, hồ:Phân
bố trên các địa hình bằng phẳng và trũng thấp ở đồng bằng hay các thung lũng núitồn tại các khu vực ẩm, lầy với mức độ ngập nước khác nhau
- Rừng ngập mặn: Chỉ phát triển ở sâu trong cửa sông và trong các vũng vịnhkhuất sóng
- Trảng cỏ, trảng cây bụi trên bãi cát biển và bãi đá ven biển: Kiểu thảm thựcvật này thường gặp ở các bãi cát ngập triều khá phổ biến ở các cung lõm bờ biển
Các kiểu rừng kín thường xanh là kiểu thảm thực vật có giá trị cao đối vớiphát triển du lịch Đặc biệt là du lịch nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái
Đặc điểm cơ bản của khu hệ thực vật Quảng Trị:
Hệ thực vật khu vực này có ít nhất là 2.500 loài thực vật bậc cao nằm trong
944 chi, 209 họ, trong đó có ngành Lá thông và nhành Tháp bút chỉ có 1 loài, 1 chi,
1 họ; ngành thông Đất có 8 loài, 2 chi , 2 họ; ngành Dương xỉ có khoảng 100 loài,
61 chi, 29 họ; ngành Hạt trần có 18 loài, 8 chi, 6 họ; ngành Hạt kín thì lớp Hai lá
Trang 11mầm có khoảng 2000 loài, 690 chi, 145 họ và Lớp một lá mầm có 400 loài, 189 chi,
126 người/km2 [Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Trị 2009].
Dân số Quảng Trị phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn,
tỷ lệ dân số ở vùng nông thôn chiếm đến 71,97% (năm 2009) Do các đô thị ởQuảng Trị phát triển chậm, tốc độ đô thị hóa chưa cao nên cơ cấu dân số nông thônvới thành thị qua các năm không có sự biến đổi lớn lắm Mặt khác, do chưa có cáckhu công nghiệp tập trung, quá trình hình thành các khu công nghiệp, khu vực kinh
tế trọng điểm mới bắt đầu nên hiện tượng di dân chưa xảy ra Các khu dân cư tậptrung trong tỉnh chủ yếu là ở thành phố, thị xã, thị trấn
b Lao động:
Tổng số lao động hiện có trong toàn tỉnh là 302.650 người, trong đó lao độngkhông có trình độ chuyên môn kỹ thuật lên đến 74%, lao động có trình độ cao đẳngđại học trở lên chiếm 6,8% Số lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp vàlâm nghiệp là 167.795 người chiếm 55,44% tổng số lao động
Lực lượng lao động giữa các vùng có sự chênh lệch về quy mô và chất lượnglao động, vùng đồng bằng là vùng có lực lượng lao động tập trung đông nhất và sốlao động có trình độ thâm canh sản xuất chiếm tỷ lệ lớn , đặc biệt là sản xuất nôngsản theo hướng hàng hóa
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng lao động nhìn chung đã có
sự chuyển biến tích cực Tuy nhiên, trong cơ cấu và chất lượng lao động còn bộc lộ
Trang 12rõ sự mất cân đối giữa các nghành như lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao,phần lớn là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động được đào tạo còn thấp, tỷ lệ lao độngthiếu việc làm ở khu vực thành thị còn chiếm 4,65% (2009) tổng số lao động trong
độ tuổi Cần có những chính sách hợp lý để tạo việc làm cho lao động thất nghiệp,đặc biệt là đưa lao động vào hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, phục vụ du lịch
1.2.2 Cơ sở hạ tầng – cơ sở vật chất kỹ thuật
Hệ thống giao thông thuận lợi, bao gồm cả đường bộ, đường sắt và đường thủy:Quốc lộ 1A, Đường Hồ Chí Minh, đường sắt chạy xuyên qua tỉnh theo hướng Bắc –Nam, Quốc lộ 9 gắn với Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo chạy theo hướng Đông – Tây;cảng Cửa Việt đang được đầu tư nâng cấp để đón tàu có trọng tải 5.000 đến 6.500DWT Cảng biển Mỹ Thủy có khả năng đón tàu có trọng tải 50.000 DWT ra vàothuận lợi đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạch và đang được tỉnh đẩy mạnh xúctiến đầu tư xây dựng Bưu chính viễn thông phát triển, có mạng cáp quang trang bịđến 100% huyện và thị xã Hệ thống cấp điện, nước dùng cho sinh hoạt và sản xuấtđược đảm bảo; Các dịch vụ vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục đang pháttriển nhanh chóng
1.2.3 Giáo dục – y tế
a Giáo dục:
Sự nghiệp giáo dục – đào tạo có những bước tiến khá toàn diện về quy mô, nângcao chất lượng dạy và học Hiện nay trên toàn Tỉnh có 158 trường mẫu giáo, 162trường tiểu học, 115 trường trung học cơ sở, 31 trường trung học phổ thông, 17trường phổ thông cơ sở, 3 trường trung học, 4 trường trung cấp chuyên nghiệp,1trường cao đẳng và một phân hiệu đại học Huế ở Quảng Trị 100% xã, phường, thịtrấn có trường tiểu học; 89% xã, phường, thị trấn có trường trung học cơ sở
Trong những năm qua sự nghiệp về giáo dục đã có nhiều tiến bộ đạt được nhiềuthành tựu đáng kể, đa dạng hóa được hình thức giáo dục
Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập, hiệu quả giáo dục chưa cao, chất lượng nguồnnhân lực còn thấp, tỷ lệ lao động chưa được đào tạo nghề còn cao…
Trang 13b.Y tế:
Công tác y tế, bảo vệ sức khỏe cộng đồng những năm gần đây đã có những tiến
bộ đáng kể Tính đến năm 2009 toàn tỉnh có 162 cơ sở y tế trong đó có: 11 bệnhviện; 9 phòng khám đa khoa khu vực; 141 trạm y tế xã, phường và 1 trạm điềudưỡng với 2.047 giường bệnh và 2.626 cán bộ y tế trong đó có 382 bác sĩ Các xãđều có trạm y tế nhờ đó chất lượng KCB và phục vụ được nâng lên ở các tuyến.Nhiều kỹ thuật mới được triển khai (mổ nội soi, chụp cắt lớp, mổ máu tụ sọ não, hồisức cấp cứu ) KCB cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, BHYT được triển khaiđến tuyến xã tạo điều kiện người bệnh được tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượnggần nhất, đảm bảo công bằng trong CSSK các đối tượng Các dự án mục tiêu quốcgia, quốc tế được thực hiện rộng khắp, đạt và đạt chỉ tiêu đề ra
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân nhất là đồng bào các dân tộc vùngbiên giới, vùng sâu, vùng xa được quan tâm đúng mức Ngoài ra công tác thanh tra,kiểm tra về hành nghề Y dược tư nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm và thực hiện cácchế độ pháp quy của nghành được triển khai đồng bộ, thường xuyên và có sự phốihợp liên ngành Công tác nghiên cứu khoa học đã được đẩy mạnh và có nhiều báocáo cấp ngành đạt chất lượng cao, có tính khả thi trong ứng dụng thực tế
1.2.4 Văn hoá – xã hội và các lễ hội
Hoạt động văn hóa, thông tin, TDTT có nhiều tiến bộ, thiết thực phục vụnhiện vụ chính trị của địa phương Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đờisống văn hóa cơ sở” có nhiều chuyển biến tích cực Các lễ hội văn hóa được quantâm, chú trọng bảo tồn văn hóa các dân tộc, xây dựng mô hình hoạt động văn hóathông tin phù hợp từng vùng, từng khu vực…
Đời sống dân cư ở thành thị và nông thôn đều được cải thiện rõ rệt Kết quảcác cuộc điểu tra khảo sát mức sống đân cư, điều tra giàu nghèo và điều tra hộ giađình cho thấy: Thu nhập bình quân mỗi người 1 tháng của các hộ đã tăng từ 227,3nghìn đồng năm 2002; 304,7 nghìn đồng năm 2004; 436,4 nghìn đồng năm 2006 và722,9 nghìn đồng năm 2008
Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được những thành tự nổi bật, đã xóa hộđói, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hàng năm Các đối tượng chính sách, người có công,
Trang 14gia đình thương binh, liệt sỹ thường xuyên được chăm lo Phong trào “đền ơn đápnghĩa” triển khai sâu rộng, đạt hiệu quả thiết thực…
Bên cạnh các thành quả trên đời sống văn hóa, xã hội của tỉnh vẫn còn nhiềubất cập, đặc biệt là tệ nan xã hội, nhất là tệ nạn ma túy đang có chiều hướng gia tăngtạo bộ mặt không tốt, ảnh hưỏng rất lớn đến việc phát triển du lịch
1.2.5 Đường lối, chính sách
Du lịch được xác định là một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, những nămqua, tỉnh Quảng Trị đã có sự đầu tư nâng cấp và xây dựng các trung tâm cụm dulịch Nhiều di tích lịch sử cách mạng được trùng tu, tôn tạo khôi phục và giữ gìn đểkhai thác tốt thế mạnh về du lịch theo tour DMZ: Nhà lưu iệm Cố Tổng Bí Thư LêDuẩn, Bãi tắm Cửa Việt, Cửa Tùng, Mỹ Thủy, Di tích đôi bờ Hiền Lương… mởthêm nhiều tour, tuyến mới như tổ chức nhiều tuyến du lịch trọn gói đi trong vàngoài nước
Với những chính sách ưu đãi của tỉnh thì hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở kinhdoanh phát triển nhanh với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Đặc biệt làsau khi Ban Quản lý các khu du lịch tỉnh được thành lập và việc tập trung xây dựng
cơ sở hạ tầng du lịch, hoàn thành tuyến đường Cửa Việt – Cửa Tùng và 2 cây cầulớn: cầu Cửa Tùng, cầu Cửa Việt đã tạo điều kiện để Quảng Trị thu hút đầu tư vàphát triển mạnh ngành du lịch trong tương lai
Trang 15CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG
NHÀ HÀNG, KHÁCH SẠN Ở TỈNH QUẢNG TRỊ 2.1 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
2.1.1 Tài nguyên du lịch
a Tài nguyên tự nhiên
* Các bãi biển
- Bãi biển Cửa Tùng
Đây được mệnh danh là “nữ hoàng của các bãi tắm” Bãi biển Cửa Tùng nằm trongmột cung lõm giữa hai mũi bazan nhô ra biển, có một vị trí khá đẹp Với danh tiếngcủa mình cũng như những điều kiện giao thông khá thuận lợi, Cửa Tùng có khảnăng thu hút khách rất lớn Tại đây cũng có điều kiện thuận lợi để xây dựng, pháttriển các hình thức vui chơi giải trí khác Cửa Tùng có khả năng kết hợp tốt với cácđiểm du lịch lân cận như rừng nguyên sinh Rú Lịnh, sông Bến Hải, Cầu HiềnLương…
- Bãi biển Thái Lai
Thuộc xã Vĩnh Thái, huyện Vĩnh Linh rất rộng, đẹp, có chiều dài trên 1km và đã cókhách đến tắm biển Tuy nhiên cảnh quan của bãi biển còn đơn điệu, thiếu nhữngđường nét đặc biệt để thu hút nhiều du khách
- Bãi biển Nam mũi Chặt
Bãi biển nằm cách mũi Chặt 300m về phía nam cũng là một bãi nằm trong cung bờlõm Khu vực này nằm cách bãi Cửa Tùng khoảng 4 – 5 km tính theo đường giaothông nên trong tương lai có thể liên kết phát triển tốt đồng thời có khả năng kếthợp với các tour du lịch đi địa đạo Vĩnh Mốc, cầu Hiền Lương, rừng nguyên sinh
Rú Lịnh…
* Đảo Cồn Cỏ
Đảo Cồn Cỏ là một nơi rất có tiềm năng để phát triển du lịch trên đảo và các vùngbiển lân cận gồm: Du lịch nghỉ dưỡng, ở đây có điều kiện khí hậu tốt, không khí
Trang 16trong lành nên rất thích hợp cho loại hình du lịch này Các bãi tắm của đảo khôngrộng, song cảnh quan bờ biển rộng và độc đáo, đa dạng, có thể trở thành các điểmtham quan, ngắm cảnh Thảm thực vật trên đảo dù không được bảo tồn tốt, song cóthể tự phục hồi nếu quản lý tốt, một số loài thực vật trên vùng đất khô hạn ven bòbiển có thể trở thành đối tượng tham quan của du khách, với mục tiêu tăng cường ýthức bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
* Các dạng cảnh quan sinh thái độc đáo của tỉnh
- Động Voi Mẹp: Đặc trưng của động này sự độc đáo của cảnh quan sinh thái phân
dị theo đai cao với sự khác biệt giữa cảnh quan Đông Trường Sơn và Tây TrườngSơn Thảm thực vật ở đây rất phong phú và đa dạng, bao gồm rừng kín cây lá rộngthường xanh nhiệt đới ẩm núi thấp, rừng kín cây lá rộng á nhiệt đới ẩm, rừng cây lákim, quần xã đặc biệt ở đỉnh núi
- Động Ba Lê: Các bề mặt san bằng địa hình phân thủy cao 1000 – 2000m tại núi
Ba Lê đã tạo nên ở đây hình thành một khu nghỉ dưỡng có giá trị Các mặt bằng ởđây đủ diện tích để xây dựng các khu nghỉ dưỡng, các công trình công cộng kháctrong một khu du lịch
- Khe Sanh: Là khu vực có độ cao tuyệt đối thấp nhất của đỉnh Trường Sơn , KheSanh có đầy đủ các điều kiện để trở thành một khu du lịch sinh thái đầy tiềm năng.Nằm trong một quần thể các tài nguyên du lịch tự nhiên và đặc biệt là tài nguyên dulịch nhân văn như các di tích lịch sử cách mạng phản ánh một vùng đất kiên cường
hy sinh chiến đấu vì sự nghiệp thống nhất đất nước đã khẳng định Khe Sanh là mộttrung tâm du lịch của tỉnh Quảng Trị
* Hệ sinh thái rừng nhiệt đới
- Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông: ở đây có thảm thực vật tự nhiên vành đaithực vật nhiệt đới (<800m) và thảm thực vật vành đai á nhiệt đới (>800m) và nhiềuđặc điểm độc đáo khác để có thể phát triển du lịch sinh thái
- Rú Lịnh: Sự hiện diện của Rú Lịnh đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn caocủa cụm du lịch sinh thái Cửa Tùng – Vĩnh Mốc Rú Lịnh thuộc địa phận 2 xã VĩnhHiền và Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Linh Đây là khu rừng nguyên sinh tồn tại trên mộtvùng đất đỏ bazan ở độ cao 94 m của vùng đồng bằng duyên hải, rộng khoảng 100
Trang 17ha Rú Lịnh có giá trị cao về du lịch sinh thái, ở đây có rất nhiều loại cây của khuvực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ như cây Gụ, cây Huỷnh Rú Lịnh gắnliền với các điểm du lịch khác như Cửa Tùng, Bến Hải, địa đạo Vĩnh Mốc, nghĩatrang Trường Sơn, giếng cổ Gio An Tất cả sẽ tạo nên tuyến du lịch tiếp cận vớithiên lý tưởng ở một vùng đồng bằng.
- Trằm Trà Lộc: Thuộc xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng Đây là một nơi cótiềm năng du lich sinh thái rất lớn của tỉnh Những dự án du lịch sinh thái đã vàđang được mở ra bằng việc quy hoạch diện tích Trằm Trà Lộc khoảng 100 ha TrằmTrà Lộc là một bức tranh thủy mặc hữu tình, một nơi du lịch sinh thái văn hóa hấpdẫn và lý tưởng
* Hệ thống sông suối và hồ nước
- Sông có tiềm năng du lịch sinh thái lớn nhất ở Quảng Trị là sông Đak Rông.Sông này có truyền thuyết về nguồn gốc đậm chất sử thi và nhân văn Du khách vừachiêm ngưỡng cảnh núi non hùng vĩ, vừa được lắng nghe câu chuyện về cô gáiĐakRong được xem là đoạn sông đẹp nhất
- Hệ thống hồ nước
Quảng Trị có khoảng 45 hồ chứa, đập dâng các loại với quy mô khác nhau, trong đókhoảng hơn 10 hồ là có thể bố trí các hình thức du lịch nghỉ dưỡng, thể thao dướinước và đua thuyền
+ Hồ Khe Mây: Nơi này có thể tổ chức các loại dịch vụ như đua thuyền, câu
cá trên mặt nước Khi khai thác hồ Khe Mây, vấn đề cần lưu ý nhất là gìn giữ thảmthực vật quanh hồ khỏi bị suy thoái, bảo vệ cảnh quan hồ
+ Hồ Trung Chỉ: Hồ rất đẹp với thảm rừng cọ hữu tình Chất lượng nướcđược coi là sạch đối với các chỉ tiêu nước sinh hoạt và hoạt động nghỉ dưỡng, thểthao dưới nước Nơi đây có thể khai thác sử dụng để nghỉ dưỡng, đua thuyền và câucá
+ Hồ Trúc Kinh: Thuộc huyện Gio Linh, là hồ chứa lớn nhất tỉnh Với lợi thếdiện tích mặt nước rộng mênh mông, có bãi đất nổi tự nhiên, cảnh quan thơ mộng,
kỳ vỹ Hồ Trúc Kinh là điểm thích hợp để tổ chức các hoạt động lễ hội như: các giảiđua thuyền thuyền thống, các giải bơi…
Trang 18* Các điểm nước nóng và nước khoáng
Quảng Trị có 4 nguồn nước nóng – khoáng có giá trị cho du lịch và nghỉdưỡng: Nguồn Tân Lâm, nguồn Làng Eo, nguồn Làng Rượu, Nguồn Dakrong (RaLân) Đây đều là những vùng có tiềm năng phát triển du lịch nghỉ dưỡng
b Tài nguyên nhân văn
Quảng Trị là tỉnh có hệ thống di tích lịch sử dày đặc, “tài sản” chỉ riêng mảnhđất này mới có để phát triển loại hình du lịch lịch sử chiến tranh: Vùng phi quân sự,
di tích Hiền Lương – Bến Hải, Thành Cổ, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh…đan xenvới hàng loạt các thắng cảnh như Cửa Tùng, Rú Lịnh, ĐakRong, Trằm Mỹ Thủy…Trên chặng hành trình “Con đường di sản Miền Trung” từ Nghệ An vào đến QuảngNam thì Quảng Trị là điểm nối Trên trục đường xuyên Á, Quảng Trị là điểm đầunhìn từ Việt Nam
* Các di tích lịch sử cách mạng
Quảng Trị có tới 389 di tích đã được nhà nước đánh giá, xếp hạng, trong đó
có 29 di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia Đây là những di sản vô cùng quýgiá có giá trị tham quan và nghiên cứu về lịch sử, nghệ thuật kiến trúc cổ nổi bậtnhư: thành cổ Quảng Trị, đường Hồ Chí Minh huyền thoại, hàng rào điện tửMcNamara, nhà thờ La Vang, làng Địa đạo Vĩnh Mốc, Căn cứ Khe Sanh, làng Vây,sân bay Tà Cơn, Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, nghĩa trang liệt sĩ Đường 9, nhà tùLao Bảo… Những địa danh này làm chúng ta tự hào, giúp chúng ta có nghị lực giữ
Tổ, giữ Tông, giữ sông, giữ núi cho mãi mãi muôn đời
Một số di tích điển hình
- Thành cổ Quảng Trị
Nằm ngay trung tâm thị xã Quảng Trị, cách quốc lộ 1A hơn 1 km về phíađông Là một thành lũy quân sự và trung tâm cai trị của Quảng Trị thời phong kiến
và ngụy quyền miền nam
Thành cổ Quảng Trị là một địa danh đã trở nên nổi tiếng trên thế giới khôngphải với tư cách là một công trình kiến trúc quân sự, trung tâm cai trị của một tỉnhdưới thời phong kiến mà là với cuộc chiến đấu 81 ngày đêm (từ 28 – 6 đến 16 – 9năm 1972) của quân dân ta chống lại cuộc phản kích tái chiếm thị xã Quảng Trị củangụy quân Sài Gòn Từ tháng 2 – 1992, thành cổ Quảng Trị được Bộ Văn hóa -
Trang 19Thông tin đầu tư, tôn tạo và xây dựng thành một công viên tưởng niệm lớn,ghi nhớ công ơn của các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh.
- Khu di tích đôi bờ Hiền Lương
Cầu Hiền Lương là tâm điểm thể hiện cao nhất những vấn đề lịch sử về mộtthời kỳ đất nước bị chia cắt
Cầu Hiền Lương nằm trên quốc lộ 1A, bắc qua sông Bến Hải, thuộc địa phận
xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Linh ở bờ Bắc và thuộc xã Trung Hải, huện Gio Linh ở
1966 đến đầu năm 1968, trước tình thế bị đánh ác liệt của không quan và pháo binh
Mỹ Địa đạo Vĩnh Mốc là tổng thể kiến trúc độc đáo được xem như một tòa lâu đài
cổ, nó đã tượng trưng cho lòng quyết tâm, ý chí sắt đá, nổ lực phi thường sự linhhoạt sáng tạo tự tin và đầy bản lĩnh của quân và dân Quảng Trị, là bằng chứng sángngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tiêu biểu cho thời kỳ chống Mỹ cứu nướccủa dân tộc ta, để lại ý thức tự hào sâu sắc cho các thế hệ kế thừa, sự ngưỡng mộtôn vinh trong lòng bạn bè gần xa
- Nhà tù Lao Bảo: nằm ở phía tây nam quốc lộ 9, trên địa bàn thôn Duy Tân,
thị trấn Lao Bảo, nguyên là một vùng rừng núi hiểm trở, xa dân cư, gần biên giớiLào – Việt Do hội đủ các điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, biệt lập nên dưới thờiphong kiến, triều Nguyễn đã cho xây dựng tại đây một đồn tránh thủ vùng biên giớigọi là Bảo Trấn lao (Lao Bảo), nơi ở của binh lính thuộc người dân tộc thiểu số vàcũng là nơi lưu đày tù nhân
- Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn: nằm trên khu đồi Bến Tắt, cạnh đường
quốc lộ 15, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh, là nơi tưởng niệm vàsuy tôn những người con thân yêu của đất nước đã anh dũng hy sinh xương máu củamình trên trên các nẻo đường Trường Sơn vì sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trang 20- Nghĩa trang đường 9: nằm bên cạnh quốc lộ 9, trên vùng đồi thuộc địa bàn
phường 4, TP Đông Hà Đây là nơi yên nghĩ của hơn một vạn các anh hùng liệt sỹcủa đầy đủ 3 thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích vàthanh niên xung phong
- Cửa Tùng: là điểm du lịch kỳ thú, một vùng đất có nền văn hóa lâu đời, một
cửa biển quan trọng, có bề dày lịch sử của vùng đất Quảng Trị Cửa Tùng cũng làtâm điểm của đường chia giới tuyến quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, lànơi chứng kiến những tội ác dã man của kẻ thù và ghi dấu các chiến công hiển hách
của quân và dân ta
2.1.2 Thực trạng khai thác và phát triển du lịch
Công tác quảng bá, giới thiệu hình ảnh, tiềm năng du lịch của địa phươngđược chú trọng Tỉnh đã có những cơ chế, chính sách khuyến khích các thành phầnkinh tế tham gia hoạt động kinh doanh du lịch và tăng cường đầu tư cho ngành dulịch Chỉ tính trong năm 2007, tỉnh đã đầu tư hơn 98,7 tỷ đồng phát triển cơ sở hạtầng, nâng tổng vốn đầu tư cho du lịch lên hơn 200 tỷ đồng Nhiều doanh nghiệpmạnh dạn bỏ vốn đầu tư xây dựng thêm các loạt cơ sở lưu trú Đến nay, nhiềukhách sạn đã hoàn thành, đưa vào khai thác như khách sạn Hoàng Long, Melody,Phú Sỹ Long nâng tổng số cơ sở lưu trú từ 61 lên 69 khách sạn Công tác đào tạođội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ trong ngành du lịch cũng được chútrọng Đặc biệt, 3 loại hình du lịch đặc trưng được lựa chọn đầu tư là du lịch hànhlang Đông-Tây, Du lịch Hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội, Du lịch sinhthái rừng và biển Do đó, lượng khách du lịch đến Quảng Trị năm 2007 đạt gần 310ngàn lượt, trong đó khách quốc tế 71 ngàn lượt, tăng 18,6% so với năm 2006 Đặcbiệt, lượng khách du lịch hành lang Đông-Tây qua cửa khẩu Lao Bảo tăng cao.Trong tháng 9 và tháng 10/2007, có ngày có từ 3.500 – 4.000 lượt khách, khách Dulịch về thăm chiến trường xưa cũng tăng mạnh Tổng doanh thu kinh doanh du lịchnăm 2007 hơn 491 tỷ đồng, đạt 112% kế hoạch Tuy nhiên phát triển du lịch chưatương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương Theo Phó giám đốc sở Thươngmại - Du lịch Nguyễn Văn Dùng, khó khăn lớn nhất hiện nay là cơ sở hạ tầng phục
vụ các hoạt động du lịch Chất lượng các dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu ngày càngcao của du khách, số khách sạn cao cấp đáp ứng yêu cầu của khách quốc tế còn ít
Trang 21Bên cạnh đó, quy mô hoạt động du lịch còn nhỏ, phương thức kinh doanhchậm được cải tiến, đổi mới và chưa chuyên nghiệp Hoạt động kinh doanh lữ hànhcòn nhiều hạn chế, nhất là tình trạng lợi dụng lượng khách Thái Lan vào Việt Namtăng đột biến, nhiều doanh nghiệp sử dụng hướng dẫn viên là người chưa đủ điềukiện cấp thẻ hướng dẫn viên quốc tế Bên cạnh đó, các doanh nghiệp kinh doanh dulịch ít đầu tư cho các hoạt động quảng bá, xây dựng thương hiệu để thu hút dukhách.
Chính vì vậy, để đạt mục tiêu thu hút 357 ngàn lượt khách du lịch với tổngdoanh thu 380 tỷ đồng trong năm 2008, Phó chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban quản
lý Nhà nước về Du lịch Lê Hữu Thăng nhấn mạnh: Vấn đề quan trọng là phải tăngcường công tác quảng bá tiềm năng du lịch bằng nhiều hình thức, tích cực kêu gọithu hút đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực du lịch
Bên cạnh đó, ngành chức năng và chính quyền các cấp cần đẩy nhanh tiến độxây dựng Khu du lịch Cửa Việt, Cửa Tùng, Rú Lịnh, Trằm Trà Lộc; Quy hoạch khu
du lịch sinh thái Hồ Rào Quán, Hồ Ái Tử; Đầu tư và tổ chức tốt các hoạt động dulịch ở các bãi biển, nghiên cứu phương thức khai thác có hiệu quả Dự án đường HồChí Minh huyền thoại; Triển khai tốt Dự án phát triển du lịch bền vững hành langĐông - Tây do ADB tài trợ để đầu tư Dự án du lịch cộng đồng tại huyện Đăkrông
và cơ sở hạ tầng khu vực cửa khẩu quốc tế Lao Bảo Ngành chức năng của QuảngTrị cũng cần chỉ đạo các doanh nghiệp mở thêm nhiều tour, tuyến du lịch có thếmạnh, nhất là tour Caravan đưa khách Thái Lan và xe tay lái nghịch qua hành langkinh tế Đông - Tây; Đặc biệt, chú trọng hơn công tác đào tạo, từng bước chuyênnghiệp hoá hoạt động kinh doanh du lịch Tỉnh sẽ nghiên cứu một số cơ chế, chínhsách để sớm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương
2.1.3 Hiệu quả của hoạt động kinh doanh du lịch
Ðể khai thác có hiệu quả tiềm năng, tạo động lực cho thương mại và du lịchphát triển, tỉnh Quảng Trị đã quan tâm việc quảng bá kết hợp xúc tiến thương mạithông qua hội thảo, hội chợ quốc tế; thông qua các đối tác theo chuyên ngành cótiềm lực, vị thế trên thương trường để kêu gọi đầu tư từ bên ngoài vào lĩnh vựcthương mại và du lịch
Trang 22Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Trị, thời gian qua, ngành dulịch đã khai thác có hiệu quả tiềm năng nên hoạt động kinh doanh du lịch đã thuđược những kết quả làm tăng ngân sách nhà nước trên địa bàn Tổng lượng kháchchín tháng đầu năm 2008 đạt 253.500 lượt, trong đó có 202 nghìn lượt khách nộiđịa và 51 nghìn lượt khách quốc tế Tổng doanh thu kinh doanh du lịch đạt 430 tỷđồng Về hoạt động lữ hành, tổng lượt khách chín tháng là 14.665 lượt Một sốtrung tâm lữ hành được tổ chức tốt nên đã thu hút đông khách tham quan, du lịchnhư: Trung tâm lữ hành Công ty CP Du lịch Quảng Trị, Trung tâm lữ hành Công ty
CP Mê Công, Trung tâm lữ hành Sê Pôn
Bên cạnh đó, sự phát triển của hoạt động kinh doanh nhà hàng khách sạn đãđóng góp vào ngân sách của tỉnh một khoản thu lớn Đó cũng chính là một khoảnchi phí giúp cho công tác quản lý, quy hoạch và phát triển du lịch một cách tốt hơn
2.2.2 Quy mô và phân bố của hệ thống nhà hàng, khách sạn
Trong giai đoạn gần đây, số cơ sở nhà hàng, khách sạn có tăng lên nhưng vẫnchưa đáng kể so với nhu cầu cũng như chiến lược phát triển du lịch của tỉnh
Nếu như năm 2002, cả tỉnh chỉ có 6 khách sạn dược xếp hạng thì đến năm
2008 thì đã có 32 cơ sở được xếp đạt chuẩn, chứng tỏ sự chú tâm vào việc pháttriển, đầu tư cho cơ cở hạ tầng tỉnh và đặc biệt là sự tham gia ngày càng nhiều củakhối kinh tế tư nhân, tạo nên sức mạnh cạnh tranh mạnh mẽ trong ngành
Hiện nay, các cở sở lưu trú, ăn uống đã có sự kết hợp với các doanh nghiệp
lữ hành nhằm tạo mối liên kết phục vụ tốt cho du khách, cũng như giới thiệu cho dukhách biết về mình Do đó mà một số cơ sở đã tạo nên tầm ảnh hưởng rất lớn đến
Trang 23du khách, tạo nên các mối quan hệ bền lâu giữa hai bên Thông qua đó thúc đẩy cơ
sở phát triển, cũng chứng tỏ các cở sở đã có sự đầu tư kĩ lưỡng hơn trong công tácquảng bá Một số cơ sở còn mạnh dạng phát triển lên cả trên lĩnh vực công nghệthông tin: như website, đường dây nóng, tạp chí … tạo nên những chuyển biến tíchcực cho sự phát triển của các cơ sở
Trên địa bàn hiện nay có 100 cơ sở lưu trú du lịch, tăng gấp đôi so với năm
Còn hệ thống nhà hàng cũng đã có nhiều biến đổi, cung cách phục vụ đãđược chú trọng hơn, đội ngũ tay nghề qua đào tạo đã được nâng lên đáp ứng nhữngđòi ngày càng cao của khách du lịch
Hiện nay, các cơ sở nhà hàng, khách sạn lớn và có sự đầu từ mạnh mẽ đềutập trung chủ yếu ở các trung tâm lớn như Thành Phố Đông Hà, Thị xã Quảng Trị,Khu kinh tế Lao Bảo… ở đây có nhiều điều kiện tốt để phát triển, còn một số ít tậptrung ở các huyện lân cận, đa phần là các nhà nghỉ qua đêm Với tình hình trên, cần
có sự thiết kế các tuyến, tour du lịch sao cho khai thác hết đươc tất cả các nhà hàng,khách sạn nhằm tạo tiền đề để phát triển hài hòa trong toàn tỉnh
2.2.3 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống nhà hàng, khách sạn
Trong cơ cấu doanh thu du lịch, doanh thu từ lưu trú chiếm phần lớn, từ 60%, ăn uống 30-35%, còn các dịch vụ khác chiếm phần còn lại Có thể thấy doanhthu từ các nhà hàng, khách sạn là rất quan trọng Do đó, việc đầu tư vào lĩnh vựcnày là rất cần thiết trong sự phát triển của tỉnh
55-Nắm bắt xu thế trên các doanh nghiệp tư nhân đã chuyển sang lĩnh vực nàytạo nên sức hút mạnh mẽ cho sự phát triển đi lên của du lịch tỉnh.Nhờ thế mà đã
Trang 24đóng góp vào ngân sách nhà nước một lượng lớn, tạo nên nguồn kinh phí để thúcđẩy ngành du lịch ngày một phát triển.
Trong những năm gần đây lượng khách đến với Quảng Trị ngày một tăng lêndẫn theo là doanh thu của các cơ sở ăn uống lưu trú cũng tăng theo thúc đẩy sự pháttriển du lịch của tỉnh tiến lên
Trong năm 2008 số khách do các cơ sở trên phục vụ là 230000 lượt khách,trong đó khách quốc tế là 20000 lượt tăng so với các năm trước Với thời gian lưutrú là 1,45ngày/người tăng hơn so với các năm trước, nhưng lại thấp so với mặtbằng chung của cả nước Lượng khách nội địa trong những năm gần đây bắt đầu giatăng mạnh mẽ Bên cạnh lý do mức sống người dân ngày càng cao, nhu cầu du lịchtrở thành một phần tất yếu trong cuộc sống sau những ngày làm việc và học hànhcăng thẳng, thì một nguyên nhân rất quan trọng khác là sự phát triển mạnh mẽ củacác vùng lân cận như Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng cộng thêm đó là đưa vào hoạtđộng các con đương huyết mạch như hành lang Đông Tây, đường mòn Hồ ChíMinh, con đường di sản miền trung làm cho Quảng Trị ngày càng hấp dẫn với dukhách hơn, lượng khách quốc tế cũng có dấu hiệu khả quan nhung nhìn chung vẫncòn thấp Qua đây, cũng chứng tỏ khách du lịch đã quan tâm đến Quảng trị nhiềuhơn Cơ quan chức năng cần và phải từng bước hoàn thiện hơn các khâu nhằm thuhút tối đa mọi thành phần để phát triển du lịch tỉnh
Tổng quan cho thấy, cở sở của nhà nước chiếm doanh thu 10%, các cơ sởngoài nhà nước chiếm 90% chủ yếu là các cơ sở tư nhân Với sự đầu tư mạnh mẽcủa các khối tư nhân vào lĩnh vực này sẽ hứa hẹn có sự phát triển manh mẽ hơn nữatiềm năng du lịch tỉnh
Lợi nhuận thuế năm sau là cao hơn năm trước và có chiều hướng tăng nhiềuhơn Đặt biệt là khối kinh tế tư nhân, khối này phát triển một cách nhanh chóng đãtạo nên những chuyển biến tích cực cho sự phát triển của ngành Có thể nói khốinày là nguồn đầu tư rất giàu tiềm năng và cần được chú trọng khai thác
Từ những nhận định trên, có thể thấy hiệu quả kinh tế của các cơ sở nhàhàng, khách sản tiến triển rất tốt Lượng khách và doanh thu đều gia tăng
Lĩch vực khách sạn nhà hàng chiếm 5,6% so với GDP toàn tỉnh
Trang 252.2.4 Tình hình quản lý hệ thống nhà hàng, khách sạn
Cơ quan quản lý cao nhất trực tiếp của tỉnh về hệ thống nhà hàng khách sạn
là Sở Văn hóa - Thể thao & Du Lịch tỉnh, trụ sở nằm ngay tại Thành phố Đông Hà– khu vực sầm uất nhất của tỉnh Dưới Sở Văn hóa - Thể thao & Du Lịch tỉnh làcác phòng, ban, ngành tạo thành một guồng mấy làm việc từ trên xuống dưới, cũng
là mô hình chung của các tỉnh và Nhà nước ta Tuy nhiên với cách thức tổ chức nhưthế này thì cung cách làm việc, nhất là các thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp, làmtrở ngại lớn cho các nhà đầu tư vào đây Việc phát triển theo cách thức “1dấu, 1cửa” là cần đòi hỏi cấp bách ở Quảng Trị mới có cơ hội phát triển kinh tế tỉnh nóichung, lĩnh vực đầu tư phát triển hệ thống nhà hàng khách sạn nói riêng
Trong khi với cánh thức làm việc như vậy đã làm hạn chế đi khả năng hoạtđộng của các cơ sở thì với công nghệ lạc hậu và đội ngũ cán bộ chưa được chuyênsâu Với lại hằng năm phải làm đi làm lại các công việc trên với khối lượng ngàymột nhiều làm cho công việc càng ngày càng quá tải, làm cho công tác quản lý đãkhó khăn lại gặp khó khăn hơn Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệthong tin đòi hỏi con người và công việc cần phải giải quyết nhanh và hiệu quả Do
đó việc áp dụng công nghệ mới là rất cần thiết
Sự phức tạp của việc làm thủ công và chồng xếp các năm lại làm cho ta khó
mà quản lý, chỉ nhìn được cái lượng bên ngoài chưa nắm rõ được tình hình cốt lõinhư thế nào? Nên làm cho ta có cái nhìn phiến diện một chiều thiếu đi các cơ sở đểđầu tư phát triển đúng hướng Công nghệ thông tin làm giảm các công việc không
có gì thay đổi so với năm trước cũng như xử lý các thông tin nhanh gọn hơn Sựphân tích nhanh và chính xác mà không phải tôt nhiều công sức công với quá nhiềuthong tin Đặc biệt là việc quản lý hệ thống nhà hàng phát triển hợp lý lại cần có cáccông cụ phù hợp mới đảm bảo cho quá trình phát triển của tỉnh được tốt hơn
Bên cạnh đó là đào tạo chuyên sâu về cách quản lý Chính sách ngoại giaocũng là vấn đề quan trọng góp phần thúc đẩy du lịch tỉnh đi lên Có chính sách thuhút nguồn lực từ bên ngoài nhằm tạo điều kiện học hỏi, tiếp thu chon lọc các kinhnghiệp của họ áp dụng vào tỉnh để phát triển thế mạnh của mình
Trang 262.2.5 Nhận xét chung về hệ thống nhà hàng, khách sạn ở tỉnh Quảng Trị
a Ưu điểm:
- Trong những năm qua, tỉnh đã ưu tiên đầu tư phát triển, nâng cấp hệ thốngnhà hàng, khách sạn để từng bước bắt kịp được với mặt bằng chung của cả nước Vìvậy hệ thống nhà hàng, khách sạn đã tăng về số lượng lẫn chất lượng
- Hiện nay trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là khu vực Cửa Tùng và Cửa Việt đã vàđang có nhiều dự án đầu tư phát triển khách sạn với quy mô lớn Có nhiều kháchsạn ở Cửa Việt có thể đón tiếp một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước
- Đội ngũ nhân viên làm việc trong hệ thống này ngày càng tăng về số lượng
và chất lượng
- Giá cả của các cơ sở lưu trú và giá trong thực đơn của các nhà hàng cònthấp hơn mặt bằng chung so với cả nước Đây là một lợi thế so sánh rất lớn của nhàhàng, khách sạn ở đây Nhờ giá cả phải chăng sẽ thu hút một lượng lớn khách dulich đến với Quảng Trị, đặc biệt là khách nội địa vì chi phí thấp (Thông thường 40%chi phí du lịch là để chi trả cho việc lưu trú tại khách sạn)
b Hạn chế:
- Hệ thống nhà hàng khách sạn ở Quảng Trị phân bố chưa đều Mặc dùnhững năm qua, tỉnh đã có cố gắng trong việc phát triển hệ thống này sao cho đápứng được nhu cầu khai thác, phát triển du lịch trên cả tỉnh Nhưng nhìn chung thì hệthống nhà hàng, khách sạn vẫn phân bố chủ yếu ở thành phố Đông Hà và ở CửaViệt Trong khi đó một số nơi khác có tiềm năng rất lớn về du lịch thì hệ thống nàyrất hạn chế Đây sẽ là một trở ngại rất lớn để thu hút khách du lịch đến với QuảngTrị Bởi lẽ, ngoài việc tham quan các điểm du lịch thì nhu cầu ăn uống nghỉ ngơi làmột việc rất thiết yếu của việc đi du lịch
- Hệ thống này, đặc biệt là nhà hàng không phát triển ở những nơi có nhữngmón ăn đặc sản sẽ là một lãng phí rất lớn Bởi lẽ nhu cầu ẩm thực cũng là một trongnhững tiêu chí quan trọng để du khách quyết định chuyến đi của mình
Trang 27- Số lượng của hệ thống nhà hàng, khách sạn còn ít Trừ ở thành phố Đông
Hà và Cửa Tùng thì hầu hết ở những huyện khác, hệ thống này chưa được đầu tưphát triển
+ Mặc dù số lượng lao động làm việc trong hệ thống này ngày càng tăng về
số lượng và chất lượng Nhưng nhìn chung thì đội ngũ nhân viên còn thiếu về sốlượng và yếu về nghề nghiệp Có rất nhiều cơ sở lưu trú hay nhà hàng thuộc sở hữu
tư nhân mà lao động chủ yếu là người trong nhà và chưa qua đào tạo
+ Cơ sở lưu trú được xếp hạng còn ít Theo số liệu chúng tôi khảo sát thìkhông có khách sạn nào ở Quảng Trị đạt tiêu chuẩn 5 sao Trong khi đó số lượngcác khách sạn đạt tiêu chuẩn này ở các địa phương khác ngày càng tăng Hầu hếtcác khách sạn ở Quảng Trị chỉ ở mức đạt tiêu chẩn và khách sạn 1 sao Đây sẽ làmột trở ngại lớn đối với việc thu hút những khách du lịch có thu nhập cao, đặc biệt
là khách quốc tế đến với Quảng Trị
+ Chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở lưu trú, giữa cơ sở lưu trú vớinhà hàng với nhau Nhu cầu ăn uống và nghỉ ngơi là những việc thường liên quanvới nhau Nhưng việc liên kết này của hệ thống ở đây còn hạn chế Số khách sạn cónhà hàng đi kèm là rất hạn chế Hầu hết các cơ sở lưu trú đều hoạt động một các độclập Việc liên kết giữa các tour và các tuyến du lịch còn rất hạn chế Vì vậy khôngkhai thác được tối đa nhu cầu du lịch của du khách, lãng phí một nguồn thu rất lớn
- Việc áp dụng công nghệ thông tin để quản lý và quản bá hình ảnh còn ít Córất ít các cơ sở lưu trú có website riêng của mình Điều này sẽ là một trở ngại rất lớncủa du khách trong việc tìm kiếm cho mình một cơ sở lưu trú phù hợp với mục đíchchuyến đi
CHƯƠNG 3
Trang 28XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU HỆ THỐNG NHÀ HÀNG, KHÁCH SẠN Ở
TỈNH QUẢNG TRỊ 3.1 VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN VỀ NHÀ HÀNG, KHÁCH SẠN ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI KHÁC
Thông tin về nhà hàng, khách sạn không những có ý nghĩa rất lớn đến mụcđích du lịch mà nó còn đóng vai trò quan trọng về mặc nhu cầu lưu trú, nghĩ ngơi,
ẩm thực… đối với người dân, cán bộ, du khách
Khi đi du lich hay nghĩ ngơi, nghĩ dưỡng thì đầu tiên người dân, du khách sẽtìm hiểu thông tin về cơ sở lưu trú mà ở đây là hệ thống nhà hàng, khách sạn Việcnắm được thông tin về nhà hàng khách sạn giúp cho du khách có thể lựa chọn đượcnơi lưu trú thích hợp nhất Nó có vai trò rất quan trọng cung cấp các thông tin như:địa chỉ, giá cả phòng, các loại ẩm thực, thái độ phục vụ, các hình thức giải trí…
Tuy nhiên trong những năm đầu hoạt động của hệ thống nhà hàng khách sạnvẫn còn yếu kém, cơ sở vật chất cung cấp dịch vụ thông tin còn nghèo nàn Cácdịch vụ quảng bá thông tin còn yếu kém chủ yếu mới dừng lại ở mức phục vụ chongười dân địa phương, cơ quan, các doanh nghiệp và một lượng khách không lớn cảtrong và ngoài nước
Đến nay, hệ thống nhà hàng khách sạn đã được thay đổi căn bản, bước đầu
đã xây dựng dược một hệ thống nhà hàng khách sạn phục vụ nhu cầu du lịch củatĩnh
Theo kết quả thống kê, năm 2007 lượng khách du lịch đến với Quảng Trị là354.348 người trong đó khách quốc tế là 28.348 người Số khách do các cơ sở lưutrú phục vụ là 332.348 người, trong đó khách quốc tế là 16.348 người.Thời gian lưutrú của khách trung bình chỉ khoảng 1,5 ngày đêm/người Đây là một chỉ số rất thấptrong hoạt động du lịch sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu từ hoạt động này
Nguyên nhân của thực trạng trên là do: hệ thống cơ sở hạ tầng thấp kém chưađảm bảo yêu cầu phục vụ du khách, chưa có sự kết hợp giữa du lịch và vui chơi giảitrí, khả năng lưu giữ khách…trong đó phần quan trọng là do thiếu thông tin về hệthống các cơ sở lưu trú và ăn uống tại Quảng Trị
Trang 29Hiện nay, số cơ sở lưu trú trong toàn tỉnh là 142 cơ sở, trong đó khách sạn là
36 cái, số phòng khách sạn là 800 phòng… Tuy nhiên du khách không tiếp cậnđược với các nguồn thông tin này, hoặc biết được thông tin qua các cơ sở lữ hànhtại Quảng Trị cung cấp sau khi du khách đã đến Quảng Trị
Trên lĩnh vực du lịch ở tỉnh còn nhiều hạn chế, hiệu quả sử dụng phòng cũngnhư nhu cầu về ăn uống nghĩ nghơi chưa cao, chưa khai thác hết tiềm năng, thếmạnh hiện có của địa phương
Vì vậy, vai trò của thông tin về hệ thống nhà hàng, khách sạn rất quan trọng,
nó giúp cho du khách trong và ngoài nước nắm bắt được thông tin trước khi đến dulịch ở Quảng Trị Khi họ nắm được thông tin đầy đủ qua các hình thức quảng báhình ảnh về nhà hàng khách sạn thì lược khách du lịch đến với Quảng Trị ngày mộtđông hơn Cơ sở vật chất kĩ thuật và thái độ phục vụ ngày càng được hoàn thiện,nâng cao thì thời gian lưu lại của du khách sẽ lâu hơn
Quảng Trị với lợi thế về tiềm năng phát triễn du lịch là rất lớn, nơi đây cónhiêu danh lam thắng cảnh cùng nới nhiều di tích lịnh sử nỗi tiếng thì sẽ thu hútnhiếu du khách trong và ngoài nước Bên cạnh việc tham quan tìm hiểu thì nhu cầu
về ăn uống, nghĩ ngơi của du khách là không thể thiếu Do đó, để cho khách du lịchnắm bắt được thông tin về các dịch vụ giải trí, ăn uống nghĩ ngơi thì phải có cáchình thức quảng bá, hoàn thiên cơ sở vật chất Vì vậy, hệ thống nhà hàng khách sạnphải mang đầy đủ các thông tin kèm theo về các chỉ tiêu, đặc trưng của từng nhàhàng và khách sạn sẽ giúp cho các nhà quản lý có những biện pháp thích hợp đồngthời giúp du khách được thuận tiện hơn trong việc lựa chọn cơ sở lưu trú khi thamquan du lịch
Trang 303.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY TRÌNH XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU
3.2.1 Cơ sở lý luận của việc xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống nhà hàng, khách sạn
a Dữ liệu bản đồ:
* Dữ liệu bản đồ giấy: Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Trị tỷ lệ 1: 50000
* Dữ liệu bản đồ số: Bản đồ về hệ thống giao thông và mạng lưới sông suối ởQuảng Trị
b Dữ liệu đo vẽ thực địa:
Số liệu về tọa độ các điểm nhà hàng, khách sạn và các cơ sở khác như ngânhàng, quán café… được thu thập thông qua hệ thống định vị toàn cầu GPS
c Dữ liệu thống kê:
Các thông tin về khách sạn như địa chỉ, đơn giá phòng, số phòng, xếphạng về nhà hàng như địa chỉ, đặc sản, điện thoại được thu thập dựa trên việcđiều tra thực tế tại các điểm nhà hàng, khách sạn trên địa bàn tỉnh trong thời giantháng 8 năm 2009 và tháng 8 năm 2010 Ngoài ra còn có các số liệu thu thập được
cơ quan ban nghành cung cấp và trên niên giám thống kê Quảng Trị