1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sinh địa tầng trong các thành tạo trầm tích Oligoxen trên và Mioxen dưới lô 15-2 thuộc buồn trũng Cửu Long

68 632 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sinh địa tầng trong các thành tạo trầm tích Oligoxen trên và Mioxen dưới lô 15-2 thuộc bồn trũng Cửu Long
Tác giả Bùi Thị Trương Chi
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Địa chất
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 3,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm làm rõ các vấn đề về địa tầng, xây dựng thang sinh địa tầng làm cơ sở cho việc đối sánh địa tầng giữa các giếng khoan thuộc lô 15-2 ở bồn trung Cửu Long

Trang 1

MỤC LỤC Trang

LỜI MỞ ĐẦU

Phần A: CÁC ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỒN TRŨNG CỬU LONG

Chương I: Vị trí địa lý và lịch sử nghiên cứu bồn trũng Cửu Long 5

I Vị trí địa lý 5

II Lịch sử nghiên cứu 7

Chương II: Đặc điểm địa tầng của bồn trũng Cửu Long 10

I.Đặc điểm địa tầng trước Kainozoi 10

II.Đặc điểm địa tầng trầm tích Kainozoi 11

Chương III: Đặc điểm cấu kiến tạo bể Cửu Long 22

I.Cấu trúc địa chất của vùng trũng Cửu Long 22

II.Lịch sử phát triển kiến tạo 27

Phần B : SINH ĐỊA TẦNG CÁC GIẾNG KHOAN TRONG TRẦM TÍCH OLIGONXEN MUỘN–MIOXEN SỚM Ở BỒN TRŨNG CỬU LONG Chương I : Vài nét về lô 15–2 30

Chương II : Các phương pháp và tài liệu nghiên cứu 32

I Tài liệu và phương pháp nghiên cứu 32

II.Mô tả một vài hóa thạch đặc trưng trong trầm tích Oligoxen-Mioxen 38

Chương III : Các kết quả về sinh địa tầng ở giếng khoan 4TK và 5TK thuộc lô 15-2 48

I Giếng khoan 15-2 RD 4TK 48

II.Giếng khoan 15-2 RD 5TK 52

Chương IV: Liên kết và so sánh địa tầng giữa các giếng khoan 56 Kết luận.

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 1

Trang 2

Hiện nay các mỏ dầu khí lớn nhất được phát hiện ở thềm lục địa Việt Namđều tập trung ở bể trầm tích Cửu Long Và hầu hết các tên mỏ không chỉ quen thuộcvới những người làm công tác dầu khí mà còn được biết bởi hàng triệu người dânViệt Nam : ví dụ mỏ Bạch Hổ, nơi cung cấp những tấn dầu đầu tiên cho đất nước tavà nhiều mỏ khác với trữ lượng dầu khá lớn trong tầng chứa vụn tuổi đệ tam vàtrong móng phong hoá bị nứt nẻ.Vì vậy, bể Cửu Long đã và đang trở thành nguồnhydrocacbon hấp dẫn đối với các công ty dầu khí tìm kiếm thăm dò dầu khí nướcngoài muốn đầu tư vào Việt Nam

Chúng ta phải thừa nhận rằng tiềm năng dầu khí ở bể trầm tích Cửu Long làcực kỳ to lớn và vô cùng quan trọng đối với kinh tế Việt Nam, nhưng để đánh giáđúng mức về triển vọng dầu khí của bể Cửu Long chúng ta cần phải phối hợp chặtchẽ các nghiên cứu về địa hoá, nghiên cứu về địa tầng và nghiên cứu về hệ thốngdầu khí về các tầng sinh-chắn-chứa.Vì vậy, công việc đầu tiên trước khi nghiên cứumột khu vực nào đó ở bồn trũng Cửu Long chúng ta cần phải nắm rõ về cấu trúc địachất và các đặc điểm địa tầng ở nơi đó, do đó phải kết hợp nhiều phương phápnghiên cứu khác nhau: phương pháp thạch địa tầng, phương pháp sinh địa tầng,phương pháp địa vật lý giếng khoan, phương pháp địa chấn để có thể phân tích vàđánh giá được thành phần thạch học, môi trường trầm tích và điều kiện lắng đọngcủa vật liệu trầm tích Đặc biệt là các tầng có dấu hiệu (sinh vật, hoá thạch, thạchhọc…) đặc trưng cho địa tầng và biểu hiện cho sự tồn tại dầu khí

Đối với các thành tạo trầm tích của bồn trũng Cửu Long, theo các nghiên cứucủa các nhà địa chất dầu khí đi trước cho rằng hầu như các tầng đá mẹ sinh dầu đềutập trung vào các tầng sét thuộc Oligoxen muộn và Mioxen sớm

Trang 3

Do đó việc nghiên cứu các thành tạo trầm tích Oligoxen và Mioxen dướinhằm khôi phục lại lịch sử phát triển địa chất ở giai đoạn này cũng rất quan trọng,đòi hỏi phải có sự hiểu biết về cổ sinh địa tầng của khu vực nghiên cứu Vì vậy, emđã chọn đề tài:

“Sinh điạ tầng trong các thành tạo trầm tích Oligoxen trên và Mioxen dướilô 15-2 thuộc bồn trũng Cửu Long” (trên cơ sở tài liệu nghiên cứu cổ sinh địa tầnggiếng khoan 15-2-RD-4TK và 15-2-RD- 5TK)

Nhằm làm rõ các vấn đề về địa tầng, xây dựng thang sinh địa tầng làm cơsở cho việc đối sánh địa tầng giữa các giếng khoan thuộc lô 15-2 ở bồn trũng CửuLong, góp phần khôi phục lại lịch sử phát triển địa chất khu vực của vùng, xác lậplại môi trường trầm tích cổ, điều kiện lắng đọng của vật liệu vô cơ cũng như hữu cơ.Từ đó càng hiểu rõ thêm cấu trúc địa chất vùng góp phần trong việc tìm kiếm cáctích tụ dầu khí mang tính công nghiệp và thương mại

Với kiến thức còn hạn hẹp, do đó trong bài tiểu luận này không tránh khỏinhững sai sót cả nội dung và hình thức Mong các quý thầy cô tham khảo, và chỉ bảonhững thiếu sót và hạn chế trong bài, cùng với sự góp ý của các bạn đọc Rất mongsự giúp đỡ của các quý thầy cô để bài tiểu luận có thể tốt hơn

Trang 3

Trang 4

PHẦN A ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỒN TRŨNG CỬU LONG

Trang 5

Chương I

VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU BỒN CỬU LONG.

Bồn trũng Cửu Long nằm ở phía Đông Nam thềm lục địa Việt Nam, có tổngdiện tích khoảng 56.000 km2 Định vị tại 9O-11O vĩ độ Bắc và 106O30’-109O kinh độĐông, kéo dài từ Phan Thiết tới sông Hậu, cách bờ biển Vũng Tàu khoảng 135 km,phía Đông Nam ngăn cách bồn trũng Nam Côn Sơn bởi khối nâng Côn Sơn, phíaTây được ngăn cách bồn trũng Vịnh Thái Lan bởi khối nâng Korat, phía Tây Bắcnằm trên phần rìa địa khối Komtum (hình 1)

Với thời gian tìm kiếm, khai thác dựa vào khoa học kĩ thuật thì bồn trũngCửu Long đang góp phần trữ lượng lớn dầu khí đã được khai thác được ở Việt Nam.Kết qủa cho thấy đó là một trong những bồn dầu có trữ lượng dầu khí lớn nằm trongmóng được được phát hiện trên thế giới

Bể nằm giữa hai hệ thống đứt gãy thuận Hòn Khoai- Cà Cối (Tây Bắc) vàNam Côn Sơn _Phú Quốc (Đông Nam), phía Tây Nam bị đứt gãy sông Hậu cắt xénvà dịch trượt Bồn rift Kainozoi sớm Cửu Long có chiều dài trên 400km, (theohướng Đông Bắc Tây Nam) và chiều rộng 50-75km Trên bình đồ cấu trúc bể CửuLong chịu hai hệ thống đứt gãy chính khống chế các hoạt động là Đông Bắc TâyNam và vĩ tuyến, còn ảnh hưởng ít hơn là hệ thống á kinh tuyến ở phía Tây Nam

Trang 5

Trang 8

II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU BỒN

Giai đoạn trước 1975:

Năm 1969 công ty địa vật lý Manrel tiến hành khảo sát địa chấn vớimạng lưới tuyến 30 x 50 km Sau đó công ty Mobil tiếp tục đan dầy mạng lưới tuyếnkhảo sát địa chấn với tỷ lệ 8 x 8 km và 4 x 4 km trên khu vực cấu tạo Bạch Hổ vàvùng kế cận Từ kết quả xử lý và luận giải các tài liệu địa chấn này, năm 1974Mobil quyết định khoan giếng khoan BH-1X đầu tiên trên cấu tạo Bạch Hổ pháthiện dầu thô trong trầm tích tuổi Mioxen sớm với lưu lượng 2400 thùng/ ngày Cùngthời gian đó công ty Retty Ray đã tiến hành khảo sát địa chấn chi tiết hơn với mạnglưới tuyến 2 x 2 km trên khu vực nói trên

Giai đoạn sau 1975

+ Thời kỳ 1976 – 1989:

-1976 : Công ty địa vật lý CGG của Pháp đã phối hợp với tổng cục dầukhí Việt Nam tiến hành khảo sát địa chấn vùng đồng bằng sông Cửu Long và biểnnông để liên kết địa chấn giữa lô 9 và lô16 với khu vực đất liền

-1977 : Công ty vật lý GECO của NaUy dành được hợp đồng khảo sátđịa chấn ở bể Cửu Long với mạng lưới tuyến 8 x 8 km và 4 x 4km đặc biệt ở lô 09và lô 17 mạng lưới này được đan dầy với tỷ lệ 2 x 2km và 1 x 1km, đồng thời công

ty GECO, công ty Deminex trúng thầu ở lô15 và xúc tiến công tác khảo sát địa chấnvới mạng lưới 3,5 x 3,5km song dấu hiệu của Hydrocacbon ở các giếng không đủmạnh nên công ty Deminex đã không tiếp tục công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ởlô 15 và rút khỏi Việt Nam năm 1981 -Tháng 6-1981: hiệp định giưã chính phủLiên Xô và Việt Nam trong tìm kiếm thăm dò dầu khí ở khu vực Bạch Hổ và Rồngđược ký kết

- Năm 1987: Công ty địa vật lý Thái Bình Dương đã tiến hành khảo sátđịa chấn với mạng lưới 2 x 2km và 0.5 x 0.5km trên cấu tạo Bạch Hổ, Trà Tân, và

Trang 9

Cửu Long Tổng số tuyến được khảo sát lên tới 3000km Kết quả là đã phát hiện radầu thô trong trầm tích tuổi Oligoxen và Mioxen hạ ở cấu tạo Bạch Hổ.

-Năm 1986–1990: Viện dầu khí tiến hành hàng loạt các đề tài vềnghiên cứu cấu trúc địa chất và đánh giá tiềm năng dầu khí ở bể Cửu Long Vì vậy,giai đoạn này là thời kỳ phát triển mạnh mẽ các công tác nghiên cứu địa chất dầukhí ở bể Cửu Long nói riêng và Việt Nam nói chung

+ Thời kỳ năm 1990 đến nay :

-Là thời kỳ sôi động nhất của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam vớisự kiện không thể nào quên là việc phát hiện ra dầu thô trong móng phong hoá bịnứt nẻ trước Đệ Tam của công ty Vietsopetro trên cấu tạo Bạch Hổ, thúc đẩy công

ty Vietsopetro mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên khu vực nghiên cứu (đầu

tư khá lớn vào các giếng khoan khai thác ở vùng mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng cũng nhưcác giếng khoan thăm dò ở các cấu tạo kế cận: Bà Đen; Tam Đảo; Ba Vì)

-Nhìn chung từ năm 1970 đến nay đã tiến hành khoan thăm dò 30 giếngtrong đó 16 giếng phát hiện dầu trong trầm tích tuổi Oligoxen và Mioxen sớm vàmóng phong hóa bị nứt nẻ trên 4 mỏ Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông và Ruby được khaithác và nhiều phát hiện dầu khí cần được thẩm lượng

- Dầu được khai thác đầu tiên ở mỏ Bạch Hổ từ ngày 26-6-1986 đến nayđã có thêm 3 mỏ dầu được đưa vào khai thác: mỏ Rồng (12/1994); mỏ Rạng Đông(8/1998); mỏ Ruby (10/1998) Tổng sản lượng đến năm 31-12-1999 là 78,3 triệu tấnvà đưa khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ vào bờ sử dụng phát điện khoảng 3,5 tỷ métkhối

-Với lưu lượng khai thác hàng trăm tấn ngày đêm từ các mỏ Bạch Hổ,Rồng, Ruby, Rạng Đông… chủ yếu từ trong đá móng phong hóa bị nứt nẻ Ngoài ra,các dạng bẫy phi cấu tạo trong trầm tích Oligoxen-Mioxen sớm đang là đối tượngtìm kiếm thăm dò hy vọng có thể phát hiện các mỏ dầu khí mới ở đây Tiềm năng

Trang 9

Trang 10

dầu khí của vùng trũng Cửu Long được đánh giá là hạn chế do trầm tích mỏng, tiềmnăng đá sinh chưa rõ ràng Tuy nhiên, ở trũng Cửu Long ngoài các thành tạoKainozoi, dự báo còn có thể tồn tại các trũng Mezozoi, mà tiềm năng của nó đượcchứng minh ở các bồn trũng vùng Đông Bắc Thái Lan Bởi vậy trong thời gian tớicần phải đầu tư nghiên cứu đánh giá tiềm năng dầu khí của các thành tạo Mezozoi ởtrũng Cửu Long.

- Hiện nay tất cả công ty có mặt ở bể Cửu Long như: Vietsopetro;Petronas; JVPC; Conoco đang tiếp tục khoan thêm các giếng khoan mới Đồng thờicũng có nhiều công ty nước ngoài đang đàm phán để ký kết hợp đồng phân chia sảnphẩm (PSC) với PetroVietNam tại những khu vực chưa được đấu thầu tại bể CửuLong Chính vì vậy, lịch sử của thời kỳ này không chỉ dừng lại ở hiện tại mà sẽ tiếpdiễn trong tương lai, có nghĩa là tiềm năng dầu khí sẽ được phát hiện nhiều hơn ởcác giếng khoan mới Lúc đó có lẽ sẽ là thời gian thích hợp để đánh giá trọn vẹnkết quả tiềm kiếm thăm dò dầu khí trong tương lai ở bể Cửu Long vào thời kỳ sau1990

Trang 11

Chương II ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG BỒN CỬU LONG

I ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG TRƯỚC KAINOZOI:

I.1 Các thành tạo trầm tích biến chất :

Được phát hiện ở khoảng 3038-3095 ở giếng khoan 15-A-I X có thành

phần là các đá phiến sét (Phylit) màu xám đen và màu nâu đen Các đá phiến nàytương ứng với phiến sét ở Bản Đôn có tuổi Jura sớm (J1-2) hay còn gọi là hệ tầng LaNgà

I.2 Các thành tạo xâm nhập nông ( Plutonic):

Bao gồm diorit thạch anh, granodiorit Granit và granit á kiềm được

phát hiện trong một số giếng khoan ở tất cả các lô về mặt kiến trúc và thành phầnthạch học, các đá này khá giống với phức hệ Plutonic Mezozoi muộn lộ ra trên đấtliền và ở các đảo kế cận

I.3 Các thành tạo phun trào :

Trong hầu hết các giếng khoan ở bể Cửu Long, các thành tạo phun

trào đều có mặt với các đặc điểm thạch học giống như phun trào tuổi Mezozoi lộ ratrên đất liền Có thể phân chúng ra các nhóm : basalt-andezit, andezit, dacite-lipharit, lipharit song phổ biến nhất là andezit và basalt Trong đó nhóm basaltthường chiếm chủ yếu là basalt kiềm, diabase porphia, còn andezit phổ biến làandezit kiềm, trachy andezit

Trang 11

Trang 12

II ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG TRẦM TÍCH KAINOZOI:

II.1 Hệ tầng Cà Cối ( Eoxen –P 2 cc )

Mặt cắt chuẩn của hệ tầng Cà Cối được xác lập tại giếng khoan

CL-1, làng Cà Cối, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh ở đồng bằng Nam Bộ trong khoảng độsâu 1220- 2100m

Thành phần thạch học của hệ tầng chủ yếu gồm các đá vụn thô màuxám trắng, nâu đỏ, đỏ tím, như cuội kết sạn kết, cát kết hạt vừa đến hạt thô đến rấtthô chứa cuội sạn và ít lớp sét kết Các trầm tích này nằm bất chỉnh hợp trên mónglà đá phun trào(granit, granitporphia) có tuổi trước Kainozoi Cuội kết, sạn kếtthường có cấu tạo dạng khối hoặc phân lớp rất dày, độ lựa chọn kém, gắn kết yếu.Thành phần chính của cuội và sạn là các đá phun trào (granit, andezit, tuf andezit,dacit, ryolit), đá biến chất (quarzit), đá vôi và mảnh granitoid Đây là các trầm tíchđược thành tạo trong môi trường lục địa(deluvi , proluvi , aluvi…) Bề dày của hệtầng Cà Cối tại giếng khoan CL-1 là 880m

Theo tài liệu địa chấn, hệ tầng Cà Cối phủ bất chỉnh hợp lên các thành

tạo trước Đệ Tam Các di tích cổ sinh nghèo nàn, chỉ có bào tử phấn, tạo thành phức

hệ Trudopollis-Plicapollis Hiện nay các phức hệ này được tìm thấy ở lỗ khoan 1(trong khoảng 1255-2100m).Thành phần chính gồm: Pinuspollenites spp., Pterisporites spp., Polypodiaceaesporites undiff., Ericipites spp., Gleicheniacidites, Podocarpidites, Myricacidites, Triporopollenites spp., Betulapollenites spp., Cicatricosispotites dorogensis, đặc biệt có Trudopollis spp và Plicapollis spp là

CL-những hóa thạch đánh dấu định tuổi Eoxen cho trầm tích chứa chúng

Hệ tầng Cà Cối nằm không chỉnh hợp trên đá móng

II.2 Hệ tầng Trà Cú ( Oligoxen dưới – P 3 1 tc ):

Hệ tầng Trà Cú được xác lập tại giếng khoan CL-1 thuộc vùng Cà Cối,huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh, trong khoảng độ sâu 1082–1220m Hệ tầng Trà Cú

Trang 13

được đặc trưng bởi sự xen kẽ giữa cát, sỏi kết với những lớp bột sét chứa cuội, sạn,sỏi(anderzit, granit) Ở trung tâm bể Cửu Long, thành phần trầm tích của hệ mịn dầnlên phía trên, phần lớn chủ yếu là lớp sét kết giàu vật chất hữu cơ, nhiều vụn thựcvật và than Phần lớn đá sét bị biến đổi thứ sinh và bị nén ép mạnh thành đá phiếnsét màu xám xẫm, xám lục, xám nâu, xen kẽ với lớp mỏng bột kết và cát kết.Thành phần của tập sét kết này gồm kaolinit, chrolit phủ trực tiếp lên đá móng vàđóng vai trò tầng chắn tốt cho các vỉa dầu trong đá móng ở mỏ Bạch Hổ, Tây NamRạng Đông , Sư Tử Đen

Thành phần cát kết, bột kết thuộc loại đá khoáng (arkos), hạt từ nhỏ đếnthô, đôi khi rất thô, cát chứa cuội hoặc sạn, hạt vụn có độ lựa chọn và mài tròn trungbình và kém, thành phần giàu felspat, thạch anh, và mảnh đá chứng tỏ vật liệu tạonên hệ tầng Trà Cú chủ yếu từ các sản phẩm phong hóa bóc mòn từ đá móngGranitoid Nhìn chung hệ tầng Trà Cú hình thành trong các điều kiện môi trườngtrầm tích khác nhau từ sườn tích, lũ tích bồi tích, sông, kênh lạch, đến hồ hoặc đầmlầy ven sông …

Về tài liệu cổ sinh trong hệ tầng rất nghèo nàn, mới chỉ phát hiện thấyphức hệ bào tử phấn hoa nghèo nàn về giống loài cũng như số lượng trong các mẫuvụn từ các giếng khoan được phân tích Thành phần chủ yếu của phức hệ này là

Magnastriatites howardi, Stenochlaena palustris, Crassoretitriletes nanhaiensis, Trilites, Pinuspollinites Tuổi Oligoxen sớùm được xác định Magnastriatites hawardi và Crassoretitriletes nanhaiensis, Crassoretitriletes vanraadshooveni (xuất hiện đầu

tiên trong Oligoxen sớm)

Hệ tầng nằm không chỉnh hợp có nơi trên hệ tầng Cà Cối, có nơi trên đámóng trước Đệ Tam Hệ tầng này tương đương với tập địa chấn E

Trang 13

Trang 14

II.3 Hệ tầng Trà Tân (Oligoxen giữa và trên –P 3 tt ) :

Hệ tầng Trà Tân lần đầu tiên được mô tả tại giếng khoan 15-A-IX đặttrong cấu tạo Trà Tân ở khoảng độ sâu 2535-3038 m Tại đây, trầm tích chủ yếu baogồm cát kết hạt nhỏ đến vừa màu xám trắng, xi măng cacbonat, chuyển dần lên trêncó nhiều lớp bột kết, sét kết màu nâu và đen xen lẫn với lớp than mỏng, có chỗchứa glauconit Đá biến đổi ở giai đoạn Catagenes muộn Bề dày của hệ tầng ởgiếng khoan này đạt 503m Hệ tầng Trà Tân phân bố rộng rãi hơn so với hệ tầngTrà Cú và có bề dày thay đổi khá mạnh ở các vùng khác nhau, ở các mặt cắt địatầng có sự xen kẽ giữa sét kết và bột kết và ở nhiều nơi có sự liên quan tới hoạtđộng các đứt gãy có sự xuất hiện các lớp đá phun trào có thành phần khác nhau(diabas, basalt , andezit ,tuf andesit) với bề dày từ vài mét đến hàng trăm mét

Nhìn chung hệ tầng Trà Tân được thành tạo trong điều kiện môi trườngkhông giống nhau giữa các khu vực: từ điều kiện sông bồi tích, châu thổ, đầm hồ–vũng vịnh xen kẽ với các pha biển nông, vì vậy mà thành phần trầm tích chủ yếu làsét giàu vật chất hữu cơ và các tàn tích thực vật thuộc tướng đầm hồ, đầm lầy vũngvịnh chịu ảnh hưởng của biển ở các mức độ khác nhau

Về tài liệu cổ sinh, chỉ phát hiện thấy bào tử phấn hoa thuộc các đới :

- Phức hệ Cicatricosisporites , Verrutricolporites pachydermus

- Đới Florschuetzia trilobata

- Tầng sét “ tướng sapropel”

Nhìn chung bào tử phấn hoa có thành phần rất phong phú bao gồm:

Cicatricosisporites dorogensis, Lycopodiumsporites neogenicus, Riccia spp., Magnastriatites howrdi, Crassoretitriletes nanhaiensis, Brownlowia spp., Potamogeton spp., Pinuspollenites spp., Triletes, Tsugapollenites, Stenochlaena palustris, Florschuetzia trilobata, Jussiena spp., Alnipollenites verus, Caryapollenites spp.,Gothanipollis basensis, Tricolpollenites

Trang 15

spp.,Tricolporopollenites spp., Verrutricolporites pachydermus Đặc biệt hệ tầng

chứa nhiều vật liệu hữu cơ dạng sapropel vô định hình, dạng vật liệu hữu cơ nảysinh trong điều kiện hồ không có oxy Ngoài ra còn gặp nhiều tảo nước ngọt như

Pediastrum, Bosidinia, Botryococcus spp., Botryococcus braunii, Micrhystridinium spp., Tasmanites spp

Hệ tầng Trà Tân nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Trà Cú Tuổi Oligoxen muộncủa hệ tầng Trà Tân đã được xác định bởi tập hợp phong phú của

Cicatricosisporites dorogensis, Lycopodiumsporites neogenicus, Jussiena spp., Verrutricolporites pachydermus và Florschuetzia trilobita Hệ tầng này tương đương

tập địa chấn D và C

II.4 Hệ tầng Bạch Hổ (Mioxen sớm – N 1 1 bh ):

Mặt cắt chuẩn của hệ tầng Bạch Hổ được mô tả tại giếng khoan BH-1,

từ độ sâu 2037-2960m Hệ tầng Bạch Hổ phát triển rộng khắp các khu vực và gồmhai phần rõ rệt :

+ Phần dưới gồm cát kết kích thước hạt khác nhau xen kẽ với bột kếtvà sét kết, đôi nơi có chứa vụn than hình thành trong môi trường aluvi đến đồngbằng châu thổ

+ Phần trên ở hầu hết mọi nơi phát triển sét kết tương đối sạch,chứa nhiều hóa thạch biển nông Rotalia, xen kẽ với lớp bột kết, ít lớp cát kết hạtnhỏ, màu xám lục có chứa nhiều glauconit Nhìn chung hệ tầng được thành tạo trongmôi trường biển, biển nông có xu hướng tăng dần từ rìa Tây Nam qua phần trungtâm đến khu vực Đông Bắc bể

Cấu tạo phân lớp ngang, phân lớp ngang gợn sóng, phân lớp xiên vàxiên mỏng rất phổ biến trong các lớp trầm tích của hệ tầng, cát kết thường là đákhoáng, phần lớn là loại arkos mảnh vụn với sự có mặt cao của felpat, thạch anh, vàmảnh đá (granitoid, phun trào) Xi măng gắn kết gồm khoáng vật sét carbonat, đôi

Trang 15

Trang 16

nơi có anhydrit Tập sét kết chứa Rotalia màu lục xám lục, phân lớp mỏng, xiên, vàsong song, dạng khối, có thành phần tương đối đồng nhất gồm kaolinit, chlorit, vàmột lượng đáng kể monmorilonit Thực tế tập này được coi như tầng đánh dấu, cònlà một tầng chắn dầu khí tốt mang tính khu vực cho toàn vùng trung tâm và phíaĐông của bể.

Hệ tầng Bạch Hổ có hóa thạch khá phong phú bao gồm bào tử phấn hoa, visinh vật cực nhỏ và trùng lỗ thuộc các phức hệ và các đới sau :

+ Phức hệ Magnastriatites howardi – Pediastrum- Botryococcu + Đới Florschuetzia levipoli.

+ Đới Rotalia

Bào tử phấn hoa rất phong phú và thường gặp ở phần trên của hệ tầng, trong

các trầm tích chủ yếu là sét kết, bột kết những dạng đặc trưng như : Florschuetzia levipoli, Fl Trilobata, Retimonocolpites, Magnastriatites howardi, Echiperiporites estaela, tảo nước ngọt Pediastrum Ngoài ra còn có Tripollenites, Crudia, Leguminosea, Crassoretitriletes nanhaiensis, Alnipollenites, Carya , Dipterocarpidites , Browlowia, Pterospermum, Illexpollenites, Durio, Lycopodium, Gemmamonoles, Palmae, Perfotricollpites digitatus, Retitricolpites, Tricolporopollenites… và rất nhiều tảo nước ngọt nước lợ / nước ngọt Botryococcus.

Phần dưới của hệ tầng Bạch Hổ chứa nhiều cát, nên bào tử phấn hoa ít đi nhiều, chỉ

gặp ít Magnastriatites howardi , tảo Botryococcus Trong toàn bộ hệ tầng, ngoài lớp chứa Rotalia, các vi cổ sinh gặp lác đác xen kẽ với các hóa thạch Ostracoda đầm lầy–nước lợ và Ammonia.

Tuổi Mioxen sớm của hệ tầng Bạch Hổ được xác định trên cơ sở sự biến mất

cuối cùng của hóa thạch tảo biển dinoflagellate Cribroperidinium spp., Apteodinium spp ở phần trên cùng tầng sét chứa “Rotalia”.

Trang 17

Hệ tầng Bạch Hổ phủ không chỉnh hợp lên hệ tầng Trà Tân Hệ tầng nàytương đương tập địa chấn B I.

II.5 Hệ tầng Côn Sơn ( Mioxen giữa N 2 1 cs):

Hệ tầng Côn Sơn được mô tả lần đầu tiên tại giếng khoan 15B-1X trên

cấu tạo Côn Sơn từ độ sâu 1583- 2248m Hệ tầng bao gồm :

+ Phần dưới của hệ tầng chủ yếu gồm cát kết từ hạt nhỏ đến thôđôi khi chứa cuội, sạn màu xám, xám trắng, phân lớp dày tới dạng khối, độ chọn lọcvà mài tròn thay đổi từ trung bình đến kém Cát kết thường chứa các mảnh vụntrùng lỗ, và đôi khi có glauconit cùng nhiều vụn than Đá gắn kết bởi xi măng sét vàcarbonat

+ Phần trên chuyển dần sang cát kết hạt mịn, hạt nhỏ xen kẽ vớilớp sét kết, sét chứa vôi hoặc đôi khi là lớp đá vôi mỏng màu xám xanh đến xámlục, nâu đỏ, vàng nâu loang lỗ, các lớp sét chứa than, các thấu kính hoặc các lớpthan nâu mỏng màu đen

Trong hệ tầng Côn Sơn đã phát hiện được bào tử phấn hoa và các hóa thạchbiển như trùng lỗ và Nannoplankton thuộc các phức hệ Miocen giữa gồm :

+ Phức hệ Florschuetzia meridionalis

+ Phức hệ Tf2 Lepidocyclina- Orbulina universa thuộc đới N9-N14 Những bào tử phấn hoa đặc trưng gồm Darcydium, Florschuetzia meridionalis, Florschuetzia levipoli, Florschuetzia trilobata, Florschuetzia semilobata, Florschuetzia ovali, Magnastriatites howardi, Acrostichum, Stenochlaena palustris, Alnipollenites verus, Eugeisonia insignis, Calophyllum, Triletes, Caryapollenites, Brownlowia spp., Altingia spp., Polypodiacaesporites undiff … Rất nhiều Dinoflagellate và màng vỏ kitine trùng lỗ

Trang 17

Trang 18

Các hóa thạch vi động vật gồm Operculin, Myogypsina (Tf2), các dạng

Pseudorotalia, Ammonia beccerii, Lepidocyclia, Ephidium không cổ hơn N9 theo FAD và N14 của Globorotalia siakensis Các hoá thạch cực nhỏ gặp ít dạng có khoảng phân bố địa tầng rộng như : Calcidiscuc marcintyrei(NN4-NN19), Cleptopus(NN4- NN21), Thoracosphaera tuberosa, Umbilicosphaera sibogae foliosa (NN9-NN21).Môi trường của hệ tầng chuyển tiếp từ bồi tích đồng bằng ven biển sang tam giác châu (tướng Rhizophora) đến biển nông (tướng Operculina– Lepidocyclina – Myogypsina)

Hệ tầng Trà Tân nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Bạch Hổ, tuổi Miocen giữa

của hệ tầng được xác định theo sự xuất hiện cuối cùng của Florschuetzia trilobata , Florschuetzia ovalis và Florschuetzia semilobata, sự xuất hiện đầu tiên của Eugeisonia insignis và Camptostemon spp., sự xuất hiện cuối cùng của Myogypsina

(Tf2) và không cổ hơn NN9 của Umbilicosphaera sibogae foliosa (NN9-NN21)

II.6 Hệ tầng Đồng Nai ( Mioxen trên N 1 3 -đn ):

Mặt cắt chuẩn của hệ tầng Đồng Nai được xác lập tại giếng khoan

15-G-1X trên cấu tạo Đồng Nai từ độ sâu 650m-1330m Hệ tầng Đồng Nai bao gồm cáctrầm tích được hình thành trong môi trường sông, đồng bằng châu thổ, đầm lầy venbiển :

+ Phần dưới chủ yếu là các trầm tích hạt thô như cát hạt vừa thô đếnlẫn sạn, sỏi đôi khi chứa cuội phân lớp dày hoặc dạng khối, độ chọn lọc và mài tròntrung bình đến kém, thường chứa nhiều hóa thạch động vật, pyrit và đôi khi cóglauconit Chuyển lên trên là cát-cát kết chủ yếu là hạt nhỏ, màu xám đến, xámsáng, xám phớt nâu, bột-bột kết, sét -sét kết xen kẽ với những vỉa than nâu hoặcsét chứa phong phú các di tích thực vật hóa than

+ Phần trên là các đá hạt mịn, gồm cát hạt nhỏ, bột và sét có màukhác nhau chứa nhiều hóa thạch động vật

Trang 19

Hệ tầng Đồng Nai đã được phát hiện có nhiều hóa thạch trùng lỗ,Nannoplankton và bào tử phấn hoa chúng được xếp vào các phức hệ và đới sau : + Đới N17- N18

+ Đới Stenochlaena laurifolia

+ Phức hệ Amphistegina (Tf3)

+ Đới NN11

Trong thành phần trùng lỗ chiếm chủ yếu là các dạng phát triển trong Miocen

muộn như: Pseudorotalia, và nhiều Operculina, Amphistegina, Lepidocyclina( T f3)

trong đá vôi rất đặc trưng Trùng lỗ trôi nổi phong phú như: Orbulina universia, Globigerinoides sacculifer , Globigerinoides immaturus Hóa thạch cực nhỏ gồm có Amautholithus delicatus, Calcidiscus leptoporus, Calcidiscus marcintyrei, Coccolithus miopelagicus, Coccolithus pliopelagicus, Discoaster brouweri, Discoaster variabilis, Helicophaera cateri, Reticulofenestra pseudoumbilica thuộc đới NN10- NN11 dựa theo Discoaster quinqueramus …

Dấu hiệu xác định Miocen muộn của bào tử phấn hoa là sự xuất hiện đầu

tiên của bào tử Stenochlaena laurifolia và sự biến mất cuối cùng của Caryapollenites spp Ngoài ra rất phong phú các dạng khác như Florschuetzia levipoli, Floschuetzia merdionalis, Zonocostites ramonae, Caryapollenites spp.,Pinuspollenites spp ,Dacrydium nhiều Polypodiaceaesporites undiff., Acrostichum aureum cùng với nhiều màng vỏ trùng lỗ và Dinoflagellata khác, ở phía

Đông của bể các hóa thạch biển kể trên gặp nhiều hơn

Hệ tầng Đồng Nai nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Côn Sơn Dựa vàocác di tích hóa thạch và quan hệ địa tầng nói trên, hệ tầng được xếp vào Mioxenmuộn

II.7 Hệ tầng Biển Đông ( Plioxen – Đệ tứ – N 2 –Q bđ ):

Trang 19

Trang 20

Mặt cắt chuẩn của hệ tầng Biển Đông được đặt tại giếng khoan 15-G-1X

ở độ sâu từ 250m-650m Hệ tầng có thể chia làm hai phần :

+ Phần dưới đặc trưng bằng cát thạch anh thô, xám trắng chứanhiều hóa thạch trùng lỗ thuộc nhóm Operculina

+ Phần trên chủ yếu là sét, bột phong phú trùng lỗ đa dạng vàNannoplakton

Mặt cắt của hệ tầng chủ yếu là cát thạch anh màu xám, xám lục hoặcxám phớt nâu hạt từ vừa đến thô, xen kẽ với lớp bột sét kết Cát phân lớp dày hoặcdạng khối, hạt vụn có độ chọn lọc và mài tròn trung bình đến tốt, thường chứa nhiềumảnh vụn hóa thạch động vật biển, pyrit, đôi khi có mảnh vụn trong các lớp của hệtầng Biển Đông đã phát hiện phong phú hóa thạch động vật biển có ý nghĩa địnhtầng thuộc nhóm trùng lỗ trôi nổi và Nannoplankton Ngoài ra còn có bào tử phấn

hoa, chúng được xếp vào các đới Dacrydium – Pseudorotalia ; N19 và NN1 Trong số trùng lỗ phong phú các loại bám đáy thuộc giống Pseudorotalia sp., Ammonia sp., Asterorolia, Bigeneriana sp., Elphidium sp và ít dạng trôi nổi thuộc Globorotalia sp., Grobigerrinoides sp., trong đó các dạng có và sự biến mất cuối cùng trong N19 gồm Globigerinoides obliquus, Globoquadrina altispira, Globoratalia miocenica, Sphaerodinella subdehiscens có sự xuất hiện đầu tiên trong N19 tuổi Plioxen Hóa

thạch cực nhỏ tảo carbonate cũng phong phú, dạng xác định đới NN12 trong tuổi

Pliocen là Dicoaster intercalcaris khi vắng các dạng của NN11.

Bào tử phấn hoa rất đa dạng nhưng cũng rất phong phú là Darcydium spp., Stenochlaena laurifolia và Altingia spp., nhiều Dinoflagellate biển.

Hệ tầng biển Đông phân bố trên toàn bộ bể Cửu Long và môi trường thuộctrầm tích biển nông Dựa trên hóa thạch động vật, hệ tầng được xếp vào Pliocen-ĐệTứ

Trang 21

BẢNG ĐƠN VỊ ĐỊA TẦNG CỦA BỒN TRŨNG CỬU LONG (Thạch học)

Trang 21

.

Cuội, sạn, sỏi Cát và cát kết Bột và bột kết Sét và sét kết Than Đá phun trào Đá xâm nhập Hóa thạch động vật .

. . .

Giới Hệ Thống thống ĐiệpPhụ tầngĐịa Bề dày(m) Cát bột sét màu xám xanh Phần dưới: cát thạch anh thô, xám trắng chứa nhiều hóa thạch nhóm Operculina. Phần trên: sét, bột, phong phú trùng lỗ đa dạng và Nannoplankton. Phần dưới: cát kết xen lẫn sét kết Phần trên: cát hạt nhỏ, bột và sét, chứa nhiều hóa thạch Sét kết, bột kết, cát kết xen kẽ nhau, nhiều nơi thấy xuất hiện các lớp đá phun trào có thành phần khác nhau Cát kết xen kẹp với sét kết, sét chứa vôi, đôi chỗ gặp các thấu kính than Phần dưới: cát kết xen kẽ bột kết và sét kết Phần trên: sét kết chứa nhiều hóa thạch biển nông Rotalia xen kẽ các lớp bột kết Các lớp sét kết tương đối rắn chắc, giàu vật chất hữu cơ xen kẽ với các lớp cát, sỏi kết Cuội, sạn, cát kết cấu tạo dạng khối, phân lớp dày, độ lựa chọn kém, gắn kết yếu Granite, Granodiorite EO X K A I N O Z O I Đặc điểm thạch học Đ Ệ TƯ Ù 20 0 -3 00 40 0-70 0 50 0-70 0 66 0-10 00 40 0-80 0 10 0-50 0 88 0-10 00 40 0-80 0 N EO G EN PA LE O G EN O IG O EN M IO X PL IO X D Ơ TR ÊN G ÕA C Ø C O TR A U TR A A B ÏC H Å C ÂN Ơ Đ ÀN N A B ÅN O G D Ơ TR ÊN M EZ O ZO I .

.

.

.

. .

.

. .

.

.

.

.

.

.

. .

. .

. .

.

. .

. .

J-K .

.

. .

.

Trang 22

BẢNG PHÂN CHIA ĐỊA TẦNG THEO TIÊU CHUẨN CỔ

SINH CỦA BỒN TRŨNG CỬU LONG

Trang 23

ĐẶC ĐIỂM CẤU KIẾN TẠO CỦA BỂ CỬU LONG

I.CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT CỦA VÙNG TRŨNG CỬU LONG :( hình 2 và 3)

Đầu Kainozoi, các trầm tích lấp đầy các trũng sâu trên bề mặt địa hình cổtrước Kainozoi, bể trầm tích Cửu Long được hình thành và sau đó tiếp tục phát triểnrồi mở rộng dần trong suốt Đệ Tam tạo ra một bể trầm tích tương đối hoàn chỉnh códạng Ovan, có trục kéo dài của nó theo hướng Đông Bắc–Tây Nam Cùng với tiếntrình đó cùng với các hoạt động kiến tạo kéo theo là sự hình thành các đứt gãy phâncắt bể Cửu Long ra các đới cấu trúc khác nhau, hình thành hệ thống đứt gãy ĐôngBắc-Tây Nam và Đông Tây đóng vai trò chủ yếu Các đứt gãy này hoạt động khámạnh vào các kỷ Oligoxen đến kỷ Mioxen sớm Do đặc điểm phủ chồng gối trênmóng trước Đệ Tam và chịu sự chi phối của các hoạt động kiến tạo trong suốt lịchsử hình thành và phát triển, bể Cửu Long được phân chia thành các đơn vị cấu trúcchính sau đây: đơn nghiêng, các đới trũng, các đới nâng và các đới không phân dị

I.1 Các đơn nghiêng:

+ Các đơn nghiêng Tây Bắc :

Trang 23

Trang 24

Còn gọi là địa trũng Vũng Tàu Phan Rang nằm ở rìa Tây–TâyBắc của bể, do sự phân cắt của các đứt gãy Tây Bắc–Đông Nam và Đông–Namnên đơn nghiêng có dạng cấu trúc bậc thang

+ Các đơn nghiêng Đông Nam

Nằm ở phía Nam Đông Nam của bể và kề áp với khối nâng CônSơn So với đơn nghiêng Tây Bắc thì đơn nghiêng này ít bị phân dị hơn và đượcngăn cách với đới trung tâm bởi đứt gãy chính có hướng Đông Bắc -Tây Nam

I.2 Các đới trũng :

Các đới trũng quan trọng là các cấu trúc lõm kế thừa từ mặt móngKainozoi, và sau đó được mở rộng trong quá trình tách giãn vào thời kỳ Oligoxenrồi trầm tích bị oằn võng trong Mioxen, có 4 đới trũng chủ yếu sau:

+ Đới trũng Tây Bạch Hổ :

Nằm ở phía Tây cấu tạo Bạch Hổ và là một trong số các trũng sâunhất của bể Cửu Long với độ dày trầm tích đệ Tam lên đến 7000m Cấu trúc nàyphát triển theo hướng của hệ thống đứt gãy Đông Bắc–Tây Nam và bị phức tạp hoá

do sự chi phối của hệ thống đứt gãy Đông Tây

+ Đới trũng Đông Bạch Hổ :

Nằm ở phía Đông cấu tạo Bạch Hổ và cũng phát triển theo hướngcủa hệ thống đứt gãy Đông Bắc - Tây Nam Phần dưới của đới này phát triển theokiểu Rift và phần trên theo kiểu oằn võng

+ Đới trũng Bắc Bạch Hổ :

Là đới trũng sâu nhất (>8km) và lớn nhất (80x20km) kéo dài theohướng Đông Bắc-Tây Nam So với các vùng trũng khác thì trũng này phức tạp hơnbởi sự phân cắt của các đứt gãy và các dải nhô cục bộ

Trang 25

+Đới trũng Bắc Tam Đảo :

Nằm ở phía Bắc Tam Đảo và là nhánh kéo dài của trũng trung tâmvới bề dày trầm tích tới 5000m

I.3 Các đới nâng :

Đa phần các đới nâng của bể Cửu Long là các cấu tạo kế thừa các

khối nhô của móng trước Kainozoi và trung tâm, chủ yếu ở phần trung tâm của bể.Các đới nâng trung tâm gồm có:

+ Đới nâng Rồng-Bạch Hổ-Cửu Long :

Còn gọi là đới nâng trung tâm có phương kéo dài theo hướng ĐôngBắc–Tây Nam Đới nâng này bị phân cách với các đới trũng kế cận bởi các đứt gãylớn đặc biệt là hệ thống đứt gãy Đông Bắc-Tây Nam Qua các bản đồ đẳng dày, tathấy đới nâng này phát triển kế thừa một cách bền vững và liên tục từ móng trướcKainozoi đến tầng “Rotalid”

+ Đới nâng Trà Tân – Đồng Nai :

Nằm ở phía Bắc Đông Bắc của bể và phát triển theo hướng ĐôngBắc-Tây Nam và có xu thế nối vơí các cấu tạo Ba Vì qua sườn dốc của đơn nghiêngTây Bắc Đặc điểm cấu trúc của đới này thể hiện khá rõ ở bề mặt móng và trongcác thành tạo trước Mioxen Toàn bộ đới nâng Trà Tân-Đồng Nai bị khống chế bởihệ thống đứt gãy Đông Bắc-Tây Nam và bị phân cách bởi các đứt gãy Tây Bắc–Đông Nam sau đó bị chặn lại ở phía Tây Nam bởi đứt gãy có hướng Đông–Tây + Đới nâng Tam Đảo – Bà Đen :

Phát triển kế thừa trên các khối nhô của móng Đệ Tam và phát triểnliên tục tới đầu Mioxen Dươí tác động phân cắt của các đứt gãy Đông–Tây tạo ramột số cấu tạo nhỏ cục bộ và phức tạp thêm đặc tính cấu trúc của đới

I.3 Đới phân dị cấu trúc Tây Nam :

Trang 25

Trang 26

Là loạt các cấu trúc địa phương bị khống chế bởi hệ thống đứt gãy hướng

Đông–Tây và bị phân cắt bởi các đứt gãy địa phương có hướng Đông Bắc–Tây Namvà Tây Bắc–Đông Nam tạo ra các khối nâng, khối sụt cục bộ và phân dị theo hướnghạ dần về trung tâm của bể

Hình 2 : CÁC YẾU TỐ CẤU TRÚC CỦA BỒN TRŨNG CỬU LONG

Trang 27

Trang 27

Trang 29

II LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN KIẾN TẠO :

Trong suốt tiến trình hình thành và phát triển bể Cửu Long đã bị tác động vàchi phối bởi các chế độ địa động lực được thể hiện ở các giai đoạn khác nhau Đó làcác giai đoạn cố kết móng, tách giãn oằn võng, sau cùng là giai đoạn hoạt động tânkiến tạo

II.1 Giai đoạn cố kết móng :

Giai đoạn này liên quan với sự hội tụ của lục địa Gonvana (Ấn-Úc)

và Nauraxia (Âu-Á) vào cuối nguyên đại Mezozoi tạo ra sự hình thành thềm Sundavà tiêu huỷ hoàn toàn đại dương Tethys Quá trình xâm nhập và phun trào mạnh mẽcủa các thể Plutonic, và Vocanic ở các khu vực xung quanh bể Cửu Long đã kéotheo các chuyển động khối tảng tạo nên hàng loạt đứt gãy làm phân cắt và phân dịhoàn toàn bề mặt địa hình cổ ở cuối nguyên đại Mezozoi tạo thành các khối nângsụt Bể Cửu Long đã hình thành trên khối sụt khu vực vào thời kỳ tiền tách giãn kỷPaleoxen–Eoxen

II.2 Giai đoạn tách giãn và oằn võng :

Thời kỳ tách giãn xảy ra trong giai đoạn Oligoxen tạo nên các địahào hẹp phân bố dọc theo các đứt gãy sâu nằm kề các khối Plutonic Lấp đầy cácđịa hào này là các trầm tích vụn thô được bào mòn từ các khối nâng kế cận Quátrình tách giãn tiếp tục vào cuối Oligoxen, các địa hào này được mở rộng và nốithông với nhau trở thành đầm hồ thuận lợi cho sự tích tụ các trầm tích hạt mịn giàuvật chất hữu cơ Đồng thời, sự thông thương giữa các địa hào không chỉ tạo ra đầmhồ mà còn mở ra con đường liên hệ giữa chính các đầm hồ với biển Chính vì vậymà ở cuối kỉ Oligoxen có mặt các trầm tích không chỉ đầm hồ mà còn châu thổ vàbiển Tổ hợp các loại trầm tích này đã tạo ra tầng đá mẹ tuổi Oligoxen muộn giàuvật chất hữu cơ của bể Cửu Long

Trang 29

Trang 30

Đầu kỉ Mioxen, thời kỳ tách giãn kết thúc nhường chỗ cho thời kỳ mới đó làthời kỳ oằn võng Vào thời kỳ này, quá trình sụt lún vẫn tiếp tục đồng thời với quátrình co rút thể tích của các trầm tích tuổi Oligoxen đã được tích tụ ở các trũng sâu.Hoạt động của các đứt gãy đã suy giảm hẳn so với thời kỳ tách giãn Vì lẽ đó, thờikỳ oằn võng xảy ra từ từ và môi trường tích tụ có động năng thấp Do vậy các trầmtích sét được thành tạo chủ yếu và đáng kể là sét màu nâu lục “Rotalid” Vào cuốikỷ Mioxen, do có sự tham gia của sông Mekong môi trường trầm tích thay đổi, đồngthời bể được mở rộng về phía đồng bằng châu thổ hiện nay Xuất phát từ lý do này

mà có mặt các trầm tích châu thổ và sự hiện diện của vật liệu hữu cơ lục địa

III.3 Giai đoạn tách giãn :

Sau thời kỳ oằn võng, giai đoạn tân kiến tạo được kế tiếp với sự sụplún không chỉ tiếp tục ở trung tâm bể mà còn ở cả khối nâng Côn Sơn Do đó, bểCửu Long không còn là một cấu trúc riêng biệt với hình dạng Ovan nữa mà nó đãhoà chung với cấu trúc của toàn thềm lục địa Nam Việt Nam Vào thời kỳ này, đáybiển Đông trầm tích sụt lún đồng thời của Đông Dương được nâng cao cùng với cáchoạt động núi lửa Basalt kiềm Các hoạt động tân kiến tạo nêu trên đã góp phầntạo nên bình đồ thềm lục địa hiện nay

Trang 31

PHẦN B SINH ĐỊA TẦNG CỦA CÁC GIẾNG KHOAN TRONG TRẦM TÍCH OLIGOXEN MUỘN VÀ MIOXEN SỚM Ở BỂ TRŨNG

CỬU LONG

Trang 31

Trang 32

Chương I

VÀI NÉT VỀ HAI GIẾNG KHOAN 15-2RD 4TK VÀ15-2RD 5TK

Lô 15-2 được định vị ở ngoài khơi phía Nam Việt Nam khoảng 40 đến 160 kmkéo dài từ Vũng Tàu đến khu vực biên giới của các lô ở phía Tây(hình 3) Lô 15-2được đặt ở trung tâm và phần Đông Bắc của bồn trũng Cửu Long, nơi trầm tích ĐệTam che phủ và các mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng đã được tìm thấy ở đây

Hướng trầm tích lắng đọng chính ở bồn trũng Cửu Long chạy dọc theo phầntrung tâm của lô 15-2 với trục của nó theo hướng Đông Bắc–Tây Nam của đá móngvà phát triển hầu hết các phía của lô

Có 2 kiểu tập đá chứa dầu được tìm thấy ở lô 15-2 :

 Lớp đá móng granit bị phong hóa và nứt nẻ

 Các thành tạo trầm tích vụn tuổi Mioxen hạ–Oligoxen phủ bên trên tầng đámóng

Từ tháng 10-1992 xấp xỉ 20000km các cuộc khảo sát địa chấn bao gồm: địa chấn3D, và nhiều cuộc khảo sát khác được đề ra Tổng cộng có 25 giếng khoan: 5 giếngkhoan tìm kiếm, 7 giếng thẩm lượng, 13 giếng phát triển được khoan ở lô 15-2 Hai giếng khoan 15-2RD-4TK và 15-2RD-5TK được khoan ở khu vực mỏ RạngĐông thuộc cấu tạo Phương Đông và được khoan bởi JVPC trên thềm lục địa ViệtNam Giếng khoan 15-2RD-4TK đã được phân tích với tổng cộng là 84 mẫu (77mẫu vụn và 10 mẫu sườn) trong nghiên cứu bào tử phấn ở độ sâu từ 2010m đến3137m, và 104 mẫu (94 mẫu vụn và 10 mẫu sườn)để nghiên cứu về vi sinh vật trongkhoảng độ sâu 690m-3137m Ở giếng khoan 15-2RD-5TK thì gồm có tổng cộng 43mẫu vụn được đưa vào phân tích bào tử phấn trong khoảng độ sâu từ 2110m-2950m

Trang 33

Trang 33

Ngày đăng: 21/03/2013, 09:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ks Đỗ Bạt,2000 – Địa tầng và quá trình phát triển trầm tích Đệ Tam thềm lục địa Việt Nam(trang 90-99) Hội nghị khoa học công nghệ 2000 “ Ngành dầu khí trước thế kỷ 21”, tập 1- Nhà xuất bản thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành dầu khí trước thế kỷ 21
Nhà XB: Nhà xuất bản thanh niên
1. JVPC 2000, Report On Hydrocacbon Initial in Place and Reserves Assessmnet For Rang Dong Field Khác
3. Moore / Webb / Collinson – Pollen Analysis – Blackwell Scientific Publications Khác
4. Đào Thanh Tùng, 2003 – Môi trường trầm tích tầng Oligoxen bồn trũng Cửu Long – Tiểu luận tốt nghiệp Khác
5. Nguyễn Thị Thu Thảo, 2002 – Môi trường trầm tích tầng Mioxen bồn trũng Cửu Long- Tiểu luận tốt nghiệp Khác
6. Nhiều tác giả – Địa tầng và sơ đồ liên kết địa tầng của các thành tạo trầm tích ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam ( trang 29-40) – tài liệu lưu trữ ở vieọn daàu khớ Khác
7. Trần Công Tạo - Quá trình hình thành Hydrocacbon trong trầm tích Đệ Tam ở bể trầm tích Cửu Long _ Luận án phó tiến sĩ khoa học địa lý–địa chất _lưu trữ ở thư viện quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Khác
8. Vietnam Petroleum Institute, Biostratigraphical Report 15 – 2RD - 4X well- lưu trữ ở viện dầu khí Khác
9. Vietnam Petroleum Institute, Biostratigraphical Report 15 – 2RD - 5X well- lưu trữ ở viện dầu khí Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 : SƠ ĐỒ VỊ TRÍ BỒN TRŨNG CỬU LONG - Sinh địa tầng trong các thành tạo trầm tích Oligoxen trên và Mioxen dưới lô 15-2 thuộc buồn trũng Cửu Long
Hình 1 SƠ ĐỒ VỊ TRÍ BỒN TRŨNG CỬU LONG (Trang 6)
BẢNG PHÂN CHIA ĐỊA TẦNG THEO TIÊU CHUẨN CỔ SINH  CỦA BỒN  TRŨNG CỬU LONG - Sinh địa tầng trong các thành tạo trầm tích Oligoxen trên và Mioxen dưới lô 15-2 thuộc buồn trũng Cửu Long
BẢNG PHÂN CHIA ĐỊA TẦNG THEO TIÊU CHUẨN CỔ SINH CỦA BỒN TRŨNG CỬU LONG (Trang 21)
Hình 3 : CÁC YẾU TỐ CẤU TRÚC  PHỤ BỒN TRŨNG BẮC CỬU LONG - Sinh địa tầng trong các thành tạo trầm tích Oligoxen trên và Mioxen dưới lô 15-2 thuộc buồn trũng Cửu Long
Hình 3 CÁC YẾU TỐ CẤU TRÚC PHỤ BỒN TRŨNG BẮC CỬU LONG (Trang 27)
Hỡnh 3:  Sễ ẹO ÀVề  TRÍ ẹềA LYÙ LOÂ 15-2 - Sinh địa tầng trong các thành tạo trầm tích Oligoxen trên và Mioxen dưới lô 15-2 thuộc buồn trũng Cửu Long
nh 3: Sễ ẹO ÀVề TRÍ ẹềA LYÙ LOÂ 15-2 (Trang 32)
Bảng 1 : SƠ ĐỒ ĐỚI BÀO TỬ PHẤN HOA ÁP DỤNG CHO TRẦM TÍCH THỀM  LUẽC ẹềA VIEÄT NAM - Sinh địa tầng trong các thành tạo trầm tích Oligoxen trên và Mioxen dưới lô 15-2 thuộc buồn trũng Cửu Long
Bảng 1 SƠ ĐỒ ĐỚI BÀO TỬ PHẤN HOA ÁP DỤNG CHO TRẦM TÍCH THỀM LUẽC ẹềA VIEÄT NAM (Trang 36)
Bảng 2: MÔ HÌNH MÔI TRƯỜNG LẮNG ĐỌNG TRẦM TÍCH - Sinh địa tầng trong các thành tạo trầm tích Oligoxen trên và Mioxen dưới lô 15-2 thuộc buồn trũng Cửu Long
Bảng 2 MÔ HÌNH MÔI TRƯỜNG LẮNG ĐỌNG TRẦM TÍCH (Trang 37)
Bảng 3 : SƠ ĐỒ PHÂN BỐ BÀO TỬ  PHẤN THEO MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH - Sinh địa tầng trong các thành tạo trầm tích Oligoxen trên và Mioxen dưới lô 15-2 thuộc buồn trũng Cửu Long
Bảng 3 SƠ ĐỒ PHÂN BỐ BÀO TỬ PHẤN THEO MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH (Trang 38)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w