Đánh giá các mô hình sử dụng đất nông nghiệp cho thu nhập cao tại thị trấn Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là thành phần quantrọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn bố trí các khu dân cư, xâydựng các cơ sở kinh tế, an ninh quốc phòng Do vậy, việc sử dụng đầy đủ vàhợp lý nguồn tài nguyên này nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao, đem lại lợi íchcho con người và cho toàn xã hội là điều hết sức quan trọng và cần thiết
Đất đai rất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Nó là tư liệu sảnxuất đặc biệt không thể thiếu, cho dù khoa học có phát triển đến đâu thì nócũng chỉ có thể tác động và là động lực để sử dụng đất có hiệu quả hơn, nếuthiếu đất thì không thể tiến hành sản xuất nông nghiệp
Nước ta là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống ở khu vựcnông thôn và trên 70% lao động sản xuất nông nghiệp, Đảng và Nhà nước ta
đã xác định chiến lược phát triển nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong quátrình tiến hành CNH-HĐH đất nước, đưa nước ta theo kịp sự phát triển củathế giới Nước ta với tổng diện tích đất tự nhiên là 32,9 triệu ha trong đó diệntích đất nông nghiệp chỉ có 9,34 triệu ha (chiếm 28% tổng diện tích đất tựnhiên) Bình quân đất tự nhiên cũng như đất nông nghiệp trên đầu người đượcxếp vào loại thấp nhất thế giới do vậy việc xây dựng các mô hình sử dụng đấtnông nghiệp đạt hiệu quả cao đang là vấn đề cấp bách đặt ra cho các nhà quản
lý cũng như các nhà khoa học
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh
tế, tốc độ đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm,thách thức lớn đặt ra cho ngành nông nghiệp cũng như khu vực nông thôn làlàm thế nào với diện tích ngày càng bị thu hẹp như vậy nhưng vẫn tạo ra đượcnhiều sản phẩm cho thu nhập cao đáp ứng được nhu cầu nông sản của xã hội
1
Trang 2Sau khi phát động phong trào xây dụng2 cánh đồng 50 triệu 1 ha của Bộ nôngnghiệp và phát triển nông thôn, đã được đẩy lên phong trào xây dựng cánhđồng thu nhập cao, hộ làm ăn giỏi, nhiều địa phương đã xây dung thành côngnhững mô hình sử dụng đất nông nghiệp cho thu nhập cao tại các vùng khácnhau như ở Đông Anh, Từ Liêm, Gia Lâm…
Trâu Quỳ là một xã ngoại thành Hà Nội, thu nhập của người lao độngchủ yếu dựa vào nông nghiệp nhất là snr xuất lúa,trong khi đó diện tích lại eohẹp Hiện nay tại xã quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi đangdiễn ra mạnh mẽ, tăng tỷ trọng sản xuất hàng hoá, đặc biệt sau khi xây dựng
mô hình thí điểm về sử dụng đất nông nghiệp cho thu nhập cao được trườngĐại học nông nghiệp I thực hiện vào năm 2004 – 2005 thì hiện nay đã cónhiều mô hình được phát triển đạt hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên trong quátrình xây dựng cũng như phát triển các mô hình sử dụng đất nông nghiệp chothu nhập cao tại xã Trâu Quỳ còn gặp nhiều khó khăn và bất cập Yêu cầu đặt
ra là phảI, có những đánh giá đầy đủ và cụ thể về sự phát triển của các môhình sử dụng đất cho thu nhập cao tại xã nhằm thúc đẩy quá trình phát triển
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá các mô hình sử dụng đất nông nghiệp cho thu nhập cao tại thị trấn Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế sửdụng đất nông nghiệp
- Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế các mô hình sản xuất điển hìnhcho thu nhập cao trên đất nông nghiệp tại xã, từ đó phát hiện các hạn chế cũngnhư tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp của xã
Trang 3- Đề xuất các giải pháp phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệpcho thu nhập cao phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nôngnghiệp của xã.
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề kinh tế-kỹ thuật sử dụng đất nông nghiệp, trong
đó tập trung chủ yếu các mô hình sử dụng đất nông nghiệp điển hình cho thunhập cao trên địa bàn toàn xã
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi về nội dung : Điều tra đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình
sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn toàn xã, trong đó tập trung chủ yếu vàocác mô hình sản xuất ở các hộ điển hình của xã
Phạm vi về không gian: Địa bàn xã Trâu Quỳ- Gia Lâm-Hà Nội
Trang 4PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Cơ sở lý luận về mô hình sản xuất
2.1.1.1 Khái niệm về mô hình sản xuất
Để nghiên cứu các hiện tượng, vấn đề kinh tế kinh tế xã hội, chúng taphải sử dụng phương pháp gián tiếp, trong đó các đối tượng nghiên cứu tronghiện thực được thay thế bởi “hình ảnh” của chúng gọi là các mô hình Đây làphương pháp tiếp cận mô hình các đối tượng, các vấn đề kinh tế
Phương pháp mô hình toán kinh tế với việc sử dụng lý thuyết quy hoạchtuyến tính là phương pháp mang lại tính thuyết phục và hiệu quả trong việcgiải quyết vấn đề tối ưu
Mô hình của một số đối tượng là sự phản ánh hiện thực khách quan củađối tượng, sự hình dung, tưởng tượng đối tượng đó bằng những ý nghĩ củanhững người nghiên cứu và việc trình bày, thể hiện, diễn đạt những ý nghĩ đóbằng lời văn, sơ đồ, hình vẽ
Mô hình của các đối tượng trong lĩnh vực hoạt động kinh tế gọi là môhình kinh tế Những vấn đề liên quan đến đối tượng này là những vấn đề hếtsức phức tạp, đặc biệt là những vấn đề đương đại Để xây dựng mô hình kinh
tế cần thu thập sử dụng các thông tin về những công trình nghiên cứu có liênquan, các dữ liệu đã được công bố và thậm chí phải sử dụng kiến thức của cácngành khoa học khác
Trang 5Như vậy nói đến mô hình là nói đến 1 hệ thống bao gồm các yếu tốquan hệ hoà đồng lẫn nhau Sự bố trí 1 cách hợp lý các yếu tố trong mô hìnhgiúp cho hệ thống phát triển toàn diện.
Mô hình kinh tế sử dụng đất chính là hệ thống sản xuất trên đất nôngnghiệp gồm các yếu tố như loại đất, cây trồng, vật nuôi được bố trí sản xuấtmột cách hợp lý
Mô hình sản xuất cho thu nhập cao tức là những mô hình đã bố trí đượcsản xuất hợp lý để có được hiệu quả kinh tế cao nhất Đây là mô hình trên cơ
sở thực trạng đất đai và dưới tác động của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xãhội và thị trường cụ thể, con người đưa ra quyết định về cơ cấu sản xuất, vềcác loại mô hình sản xuất cũng như việc đầu tư các yếu tố sản xuất hợp lý chođược thu nhập cao nhất
2.1.1.2 Lý thuyết hệ thống trong nghiên cứu và đánh giá mô hình sản xuất
Lý thuyết hệ thống được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong nhiều lĩnhvực khoa học để phân tích và giải thích các mối quan hệ tương hỗ Trong thực
tế sản xuất nông nghiệp cho thấy nông nghiệp muốn phát triển nhanh chóng
và có hiệu quả cần phải phát triển một cách toàn diện bằng việc tác động đồngthời vào nhiều mặt, tức là giải quyết vấn đề theo quan điểm hệ thống
Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ
và tác động qua lại Một hệ thống có thể xác định như tập hợp các đối tượnghoặc các thuộc tính liên kết để tạo thành một chỉnh thể
Quan điểm hệ thống là phương pháp luận khoa học chung để nghiêncứu các đối tượng phức tạp gồm nhiều bộ phận có quan hệ mật thiết vớinhau Khi nghiên cứu một hệ thống không chỉ nghiên cứu riêng rẽ các phần tử
mà phải nghiên cứu mối quan hệ giữa chúng với các phần tử khác
5
Trang 6Theo nguyên lý hệ thống, sự tác động đồng bộ, có phối hợp, có tổ chứccủa các bộ phận có thể tạo nên hiệu quả khác nhiều so với phép cộng đơnthuần tác động.
Sản xuất nông nghiệp của mỗi vùng là một hệ thống bao gồm nhiềungành sản xuất và nhiều nhân tố kinh tế xã hội tự nhiên và môi trường khác.Mặt khác trong mỗi ngành lại bao gồm nhiều yếu tố rất phong phú và đadạng Chính những điểm này là yếu tố thúc đẩy hay kìm hãm hệ thống pháttriển bởi vì nó có tác động trực tiếp đến từng nhân tố hệ thống
Như vậy, mục đích của việc vận dụng quan điểm hệ thống là để nghiêncứu một cách hệ thống và điều khiển sự hoạt động của nó Nội dung của việcđiều khiển hệ thống nông nghiệp thực chất là sử dụng các biện pháp kinh tế –
kỹ thuật tác động lên hệ thống nông nghiệp và phát triển một nền nông nghiệpbền vững
* Hệ thống nông nghiệp (HTNN)
Khái niệm hệ thống nông nghiệp có từ thế kỷ 19, trải qua một quá trìnhtriển khai và thực nghiệm, từng bước đúc rút và bổ sung Cho đến nay có cácđịnh nghĩa sau về HTNN:
- Theo Vissac 1979: HTNN là sự biểu hiện không gian của sự phối hợpcác ngành sản xuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoản mãn các nhucầu Nó biểu hiện sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học – sinh thái
mà môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xã hội – văn hoá, qua cáchoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật
- Theo Mozoyes 1986: HTNN trước hết là một phương thức khai thácmôi trường được hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống sản xuấtthích ứng với các điều kiện và nhu cầu của thời điểm ấy
Trang 7- Theo Touve 1988: HTNN thích ứng với các phương thức khai thácnông nghiệp của không gian nhất định do một xã hội tiến hành, là kết quả của
sự phối hợp các nhân tố tự nhiên, xã hội – văn hoá kinh tế và kỹ thuật
Thực tế sự phát triển nông nghiệp trên thế giới cho thấy quá trình thayđổi cơ bản nhất của HTNN là tiến hoá của hộ nông dân từ tình trạng sản xuất
tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá Sự thay đổi theo hướng phát triển đódiễn ra không đều giữa các vùng, các hộ Vì vậy không thể có giải pháp đồngnhất cho các hệ thống, thậm chí của mộ hệ thống
* Hệ thống canh tác (HTCT)
Theo đánh giá của IRRI 1989 : HTCT là hình thức tập hợp của một tổhợp đặc thù các tài nguyên trong nông trại ở một môi trường nhất định, bằngnhững phương pháp sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp sơ cấp Địnhnghĩa này không bao gồm hoạt động chế biến vốn thường vượt qua hình thứcphổ biến của trang trại cho các sản phẩm chăn nuôi và trồng trọt riêng biệt.Nhưng nó bao gồm những nguồn lực của nông trại được sử dụng cho việc tiếpthị sản phẩm đó
* Hệ thống cây trồng ( HTCTr) :
Khái niệm của GS TS Đào thế Tuấn 1984: HTCTr là thành phần cácgiống và loại cây được bố trí trong không gian các loại cây trồng trong mọi hệsinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh
Trang 8trồng và mối quan hệ gữa chúng với môi trường, các hợp phần này bao gồmtất cả các yếu tố vật lý và sinh học cũng như kỹ thuật, lao động và quản lý.
Từ các khái niệm trên có thể tổng quát lại là: HTTr là một hệ thốngnhất trong mối quan hệ tương tác giữa các loại cây trồng, giống cây trồngtrong từng vụ khác nhau trong một mảnh đất, trong mọi hệ sinh thái
Như vậy, nghiên cứu HTCTr trong một hệ thống nông nghiệp nhằm bốtrí lại hoặc chuyển đổi chúng để tăng hệ số sử dụng ruộng đất, sử dụng cóhiệu quả tiềm năng đất đai, lợi thế so sánh của từng vùng sinh thái nôngnghiệp, cũng như có hiệu quả tiền vốn, cơ sở vật chất, kỹ thuật và laođộng để năng cao năng xuất, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng và lợi nhuậntrên một đơn vị diện tích đất canh tác trong một năm Tóm lại nhằm xây dựngmột HTNN bền vững có hiệu quả kinh tế cao
2.1.2 Hiệu quả kinh tế
2.1.2.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Mỗi nhà sản xuất một loại sản phẩm hàng hoá nào đó trước khi có kếhoạch sản xuất đều suy nghĩ xem liệu sản xuất hàng hoá đó có tốt không? cóhiệu quả kinh tế hơn các hàng hoá khác không? Về phía người tiêu dùng cũngvậy họ cũng luôn chọn cho mình loại hàng hoá phù hợp với túi tiền và sở thíchcủa mình Mỗi một cách lựa chọn khác nhau đem lại những hiệu quả kinh tếkhác nhau và hiệu quả kinh tế là một vấn đề mà được toàn xã hội quan tâm
Vậy hiệu quả kinh tế là gì? Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệuquả kinh tế nhưng nhìn chung chúng ta có thể nói hiệu quả kinh tế là mộtphạm trù kinh tế chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoádịch vụ và với tất cả phạm trù, quy luật kinh tế khác Mặt khác hiệu quả kinh
tế cũng là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt độngkinh tế nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất
Trang 9kinh doanh Trong khi các nguồn lực rất có hạn, nhu cầu hàng hoá của xã hộingày càng tăng và đa dạng, nâng cao hiệu quả kinh tế là một xu thế kháchquan của sản xuất.
Cụ thể đối với ngành nông nghiệp, hiệu quả kinh tế được hiểu là mốitương quan so sánh với lượng hiệu quả thu được và lượng chi phí bỏ ra trongmột thời gian nhất định của một phương án sản xuất nhất định, hay một câytrồng, một con gia súc nào đó đạt được trong tương quan so sánh tối ưu giữađầu vào và đầu ra trong điều kiện sản xuất khác nhau như điều kiện tự nhiênkinh tế xã hội của ngành sản xuất nào đó Khi xác định hiệu quả kinh tế chúng
ta cần xem xét và kết hợp chặt chẽ giữa lượng tuyệt đối với tương đối, qua đóbiết được tốc độ và quy mô sản xuất đó Tuy nhiên trong điều kiện thị trườnghiện nay, mục tiêu hàng đầu của người sản xuất kinh doanh là thu nhập và lợinhuận cao, do vậy hiệu quả kinh tế trong sản xuất thiên hướng về mặt kinh tếnhiều hơn so với mặt xã hội
Có nhiều quan điểm về khái niệm hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế ở mỗinơi, mỗi vùng khác nhau thì khác nhau Nhưng hầu hết các quan điểm đều phảnánh mối quan hệ giữa kết quả hoạt động sản xuất với chi phí bỏ ra để đạt đượckết quả đó Theo quan niệm của LN CARIMÔP – Kinh tế chính trị Mác Lê Nin,
cho rằng: “ Hiệu quả của sản xuất xã hội được tính toán và kế hoạch hoá trên cơ
sở những nguyên tắc chung đối với nền kinh tế quốc doanh, bằng cách so sánh hiệu quả của sản xuất với chi phí hoặc nguồn dự trữ sử dụng”.
Ngày nay người ta đồng nhất giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả sảnxuất mà hiệu quả sản xuất là một hiện tượng bao gồm nhiều mặt như hiệu quảkinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường và trên các cơ sở đó người tađưa ra một số quan điểm về hiệu quả kinh tế
Quan điểm I: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả
9
Trang 10đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Theo quan điểm này chophép chúng ta xác định được các chỉ tiêu tương đối của hiệu quả kinh tế bằngcách so sánh kết quả với chi phí cần thiết để đạt được hiệu quả đó.
H =
K Q
Trong đó: H là hiệu quả kinh tế
Q là kết quả sản xuất
K là tổng chi phí sản xuất
Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi hoạt động sản xuất kinh doanh màchúng ta tính toán và nghiên cứu các chỉ tiêu khác nhau Khi nghiên cứu vềvốn, chúng ta có hiệu suất vốn bằng cách lấy tổng số sản phẩm chia cho vốnsản xuất Bằng cách đó sẽ xác định được hiệu suất lao động, với quan điểmnày sẽ không xác định được quy mô sản xuất các đơn vị kinh tế Trên thực tếhai cơ sở có quy mô sản xuất rất khác nhau, nhưng lại có hiệu suất sử dụngvốn như nhau, nghĩa là có hiệu quả kinh tế về sử dụng vốn như nhau
Quan điểm II: Hiệu quả kinh tế đo bằng hiệu số những giá trị sản xuấtđạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
HQKT = KQSX – CPSX ( H = Q – K ) Quan điểm này cho phép xác định được các chỉ tiêu tuyệt đối của hiệuquả kinh tế Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế theo quan điểm này thì phản ánh rõ nét
về qui mô sản xuất của các đơn vị kinh tế, cơ sở sản xuất nào có qui mô sản xuấtlớn sẽ đạt được tác động của từng yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinhdoanh đến hiệu qủa sản xuất Như vậy, các chỉ tiêu này sẽ không giúp cho ngườisản xuất có những tác động cụ thể để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất kinhdoanh
Trang 11Quan điểm III: Xem xét hiệu quả kinh tế trong phần biến động giữa chiphí và kết quả sản xuất Như vậy, hiệu quả kinh tế biểu hiện ở tỷ lệ giữa phầntăng thêm của chi phí để đạt được kết quả đó hay quan hệ tỷ lệ giữa kết quả
bổ sung và chi phí bổ sung
Còn trong kinh tế học vĩ mô chú ý tới quan hệ tỷ lệ giữa mức độ tănglên của kết quả sản xuất xã hội và chi phí sản xuất xã hội tăng lên
Ta có: H = K/ C
Trong đó:
K là phần tăng trưởng của kết quả sản xuất xã hội
C là phần tăng lên của chi phí lao động xã hội
Theo quan điểm này, các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế đã phản ánh đượcchất lượng của quá trình sản xuất kinh doanh và nhờ đó người sản xuất sẽ cóbiện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất Nhưngtrong thực tế kết quả sản xuất đạt được luôn là hệ quả của chi phí sẵn có ( chiphí nền) và chi phí bổ sung Tại các mức chi phí nền khác nhau thì hiệu quảcủa chi phí bổ sung khác nhau
11
Trang 12Ngoài ra còn một số quan điểm tương đồng về hiệu quả kinh tế của quátrình sản xuất kinh doanh Theo tác giả Lê Thị Thụ – vũ khí cạnh tranh thị
trường – tạp chí thống kê Hà Nội năm 1992 cho rằng “ Hiệu quả kinh tế là chỉ
tiêu tổng hợp nhất về chất lượng của sản xuất kinh doanh Nội dung của nó
so sánh kết quả thu được với chi phí bỏ ra” Bên cạnh đó còn có những quan
điểm nhìn nhận hiệu quả kinh tế trong tổng thể xã hội Quan điểm này cho
rằng: “ Hiệu quả kinh tế của sản xuất xã hội được tính toán và kế hoạch hoá
trên cơ sở những nguyên tắc chung đối với nền kinh tế quốc dân Hiệu quả kinh tế được xác định bằng so sánh kết quả của nền sản xuất chung với chi phí hoặc nguồn dự trữ đã sử dụng Quan điểm này được đưa ra khi đánh giá
sự tiến bộ của nền sản xuất xã hội Từ đó người ta xác định các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong tương lai”.
Nhìn chung quan điểm của các nhà khoa học về hiệu quả kinh tế tuy cónhững khía cạnh phân biệt, nhưng đều thống nhất với nhau Hiệu quả kinh tế
là lợi ích tối ưu mang lại của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh
2.1.2.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường ở nước tahiện nay đang khuyến khích các doanh nghiệp, các hộ gia đình và các thànhphần kinh tế khác nỗ lực tham gia sản xuất kinh doanh trong các ngành và cáclĩnh vực khác nhau
Mục đích yêu cầu đặt ra đối với quá trình sản xuất ở các thành phầnkinh tế là khác nhau Do vậy, việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quảkinh tế cũng rất đa dạng Các hộ nông dân, công nhân trong nông nghiệp họtiến hành sản xuất trước tiên là để đáp ứng nhu cầu việc làm có thu nhập đảmbảo cuộc sống, sinh hoạt thường ngày sau đó mới tính đến lợi nhuận và tíchluỹ Còn đối với các doanh nghiệp tư nhân tiến hành sản xuất nhằm tìm kiếm
Trang 13cơ hội đầu tư tiền vốn để có thêm lợi nhuận.
Đối với một quốc gia thì hiệu quả nó còn thể hiện trên nhiều mặt: kinh
tế, xã hội, an ninh quốc phòng,….Điều đó có nghĩa là hiệu quả nó mang tínhchất không gian và thời gian, nó thể hiện ở chỗ: Một hoạt động kinh tế củamột đơn vị sản xuất là công ty hay cá thể có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao,song so với một quốc gia thì nó lại chưa chắc đã đạt hiệu quả
Để hiểu rõ vấn đề này, ta có thể xem xét một số vấn đề kinh tế xã hộinhư việc chặt phá rừng làm nương rẫy, trên thực tế là đem lợi ích cho một cánhân, một tập thể nào đó nhưng điều đó có thể ảnh hưởng tới sinh thái môitrường, gây lũ lụt, hoả hoạn,… vậy xét trên toàn xã hội thì đó lại là một tổnthất, một gánh nặng lớn cho toàn xã hội
Ngoài ra, hiệu quả kinh tế còn có tính chất về mặt thời gian Nó luônluôn có xu hướng thay đổi một hoạt động kinh tế diễn ra ở hôm nay có hiệuquả kinh tế cao song trong tương lai thì chưa chắc đã có hiệu quả và ngượclại, bởi vì giá trị sức lao động ngày một tăng Chính vì vậy, nâng cao hiệu quảkinh tế không chỉ là nhiệm vụ của một cá nhân, một đơn vị kinh tế mà còn lànhiệm vụ của tất cả các ngành, các cấp và mỗi quốc gia Việc nỗ lực tìm cách
để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất hàng hoá là một hoạt động đượccoi là quyết định cho mọi nền kinh tế, chỉ có nâng cao hiệu quả sản xuất thìmới có cơ hội đưa nền kinh tế tồn tại và phát triển
Nội dung của việc xác định và nâng cao hiệu quả xuất phát từ nhữngnội dung chủ yếu sau:
+ Mọi quá trình sản xuất liên quan mật thiết đến hai yếu tố cơ bản, đó
là chi phí sản xuất và kết quả sản xuất thu được từ chi phí đó Mối quan hệcủa hai yếu tố này là nội dung cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế trong sảnxuất
13
Trang 14+ Việc nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất, xuất phát từ nhu cầuphát triển sản xuất và tái sản xuất mở rộng Đây là một trong những quy luật
cơ bản của quá trình tái sản xuất xã hội
+ Mức độ hiệu quả đạt được nó phản ánh trình độ phát triển lực lượngsản xuất và trình độ phát triển của xã hội Từ những nội dung trên chúng tôicho rằng hiệu quả là một vấn đề trung tâm nhất của mọi quá trình kinh tế và
có liên quan đến tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Hiệu quảkinh tế đi liền với nội dung tiết kiệm chi phí tài nguyên cho sản xuất trênmột đơn vị sảm phẩm tạo ra Bản chất của hiệu quả kinh tế có nội dung làtương quan so sánh cả về tuyệt đối và tương đối gữa lượng kết quả thu được
và lượng chi phí bỏ ra
Đối với nước ta, xuất phát từ một nền kinh tế thị trường, có nhiều vấn
đề kinh tế được đánh giá và xem xét lại Trong đó, vấn đề hiệu quả được coi
là một nội dung quan trọng nhất, nó quyết định sự tồn tại và phát triển củamỗi doanh nghiệp Việc xem xét hiệu quả trên tất cả các khâu sản xuất, phânphối và lưu thông sản phẩm có nội dung phản ánh trình độ sử dụng các nguồnlực sẵn có để đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất trong kinhdoanh
Để làm rõ bản chất của hiệu quả cần phải phân định sự khác nhau giữa “hiệu quả” và “ kết quả” và mối quan hệ giữa chúng Trong đó, kết quả là phầnvật chất thu được từ mục đích hoạt động của con người, nó được thể hiện bằngnhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung tuỳ thuộc vào những trường hợp cụ thể Do tínhmâu thuẫn giữa khả năng hữu hạn về tài nguyên với nhu cầu không ngừng tănglên của con người, mà yêu cầu người ta phải xem xét kết quả đạt được tạo ra nhưthế nào, chi phí bỏ ra là bao nhiêu… Chính vì vậy, khi đánh giá hoạt động sảnxuất kinh doanh người ta không chỉ dừng lại ở việc đánh giá chất lượng hoạt
Trang 15động sản xuất kinh doanh để tạo ra kết quả đó Việc đánh giá chất lượng hoạtđộng sản xuất kinh doanh là một nội dung đánh giá hiệu quả kinh tế
Trên phạm vi toàn xã hội các chi phí bỏ ra để thu được kết quả là chiphí lao động xã hội Vì vậy, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả của laođộng xã hội Từ đó ta có thể kết luận rằng: Thước đo hiệu quả là sự tiết kiệmhao phí lao động xã hội còn tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả
và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện nguồn lực nhất định
2.1.2.3 Phân loại hiệu quả kinh tế
a) Phân loại hiệu quả kinh tế theo nội dung và bản chất
Hiệu quả kinh tế có thể xem xét theo các góc độ độc lập tương đối như sau:+ Hiệu quả kinh tế biểu hiện mối tương quan giữa kết quả đạt được vềmặt kinh tế với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, bao gồm: Bảo vệ môitrường, lợi ích công cộng, trật tự an toàn xã hội,…
+ Hiệu quả kinh tế thể hiện sự phát triển của công ty, của vùng lãnhthổ, của một quốc gia,… Đây là kết quả của nhiều yếu tố tổng hợp lại nhưtình hình đời sống, trình độ dân trí, vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng, sự pháttriển sản xuất của cả vùng…
b) Phân loại hiệu quả kinh tế theo phạm vi và đối tượng xem xét
Phạm trù này được đề cập đến mọi đối tượng của nền sản xuất xã hộinhư các địa phương, các ngành sản xuất, từng cơ sở, đơn vị sản xuất hay mộtquyết định quản lý,… có thể phân loại phạm trù này như sau:
+ Hiệu quả kinh tế quốc dân: Là hiệu quả kinh tế chung trong toàn bộnền sản xuất xã hội
+ Hiệu quả kinh tế ngành: Là hiệu quả tính riêng từng ngành sản xuấtvật chất như ở ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ,… Trong nông
15
Trang 16nghiệp được chia thành hiệu quả kinh tế của cây nông nghiệp, hiệu quả kinh
tế của cây lương thực, hiệu quả kinh tế chăn nuôi gia súc, gia cầm,…
+ Hiệu quả kinh tế theo vùng lãnh thổ: Là tính riêng đối với từng vùng,khu vực và địa phương,…
+ Hiệu quả kinh tế của từng quy mô sản xuất – kinh doanh như: Hộ giađình, hợp tác xã, nông trường quốc doanh, công ty, tập đoàn sản xuất
+ Hiệu quả kinh tế của từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố chi phí đầu tư vàosản xuất như: biện pháp về giống, chi phí phân bón, chi phí bảo vệ thực vật…
c) Phân loại hiệu quả kinh tế theo từng các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất
+ Hiệu quả sử dụng đất
+ Hiệu quả sử dụng lao động
+ Hiệu quả sử dụng vốn
+ Hiệu quả ứng dụng công nghệ mới
+ Hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật
2.1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
a) Một số yêu cầu khi sử dụng hệ thống chỉ tiêu
Đánh giá hiệu quả kinh tế là một vấn đề, đòi hỏi phải có một hệ thốngchỉ tiêu để phản ánh đúng đắn chất lượng sản xuất kinh doanh Hệ thống chỉtiêu đánh giá hiệu quả kinh tế phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Đảm bảo tính thống nhất với hệ thống chỉ tiêu của nền kinh tế quốc dân.+ Đảm bảo tính toàn diện, tức là đánh giá đúng đắn vấn đề nghiên cứu,
Trang 17b) Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Để xác định các chỉ tiêu hiệu quả trước hết ta cần xác định các chỉ tiêucủa kết quả
Kết quả kinh tế của nền sản xuất xã hội gồm nhiều chỉ tiêu và đầu vàocủa nó cũng có nhiều chỉ tiêu Vì vậy, hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xãhội được xác định bằng một hệ thống chỉ tiêu Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảocác yêu cầu sau:
+ Phải đảm bảo tính toàn diện của hệ thống bao gồm chỉ tiêu tổng quát, chỉtiêu bộ phận, chỉ tiêu chính thức và chỉ tiêu bổ sung( tính hệ thống của chỉ tiêu)
+ Phải đảm bảo tính thống nhất nó thể hiện ở nội dung trong phươngpháp xác định tính toán các chỉ tiêu
+ Phải đảm bảo tính thiết thực trong nhận thức đời sống kinh tế xã hộiquản lý nền sản xuất cũng như các bộ phận cấu thành nên nó,
+ Phải phù hợp với chế độ tính toán thống kê, đặc điểm của từng giaiđoạn sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, đảm bảo tính chấtlịch sử cụ thể
+ Chỉ tiêu phải phù hợp với nội dung, phương pháp tính toán quốc tế để
có thể so sánh hoà nhập với kinh tế thế giới trong phát triển kinh tế mở củaĐảng và Nhà nước
Trong nền kinh tế vi mô quan điểm kinh doanh tư nhân được xuất phát
từ lợi ích riêng của từng công ty, xí nghiệp nên hiệu quả sản xuất tức là mức
độ lợi nhuận Phạm vi chi phí để đạt được hiệu quả trong sản xuất không phải
là toàn bộ chi phí lao động xã hội nói chung mà là chi phí cá biệt Đối với nhàdoanh nghiệp, lợi ích thực tế không phải là kết quả của chi phí xã hội mà chỉ
17
Trang 18là kết quả của những chi phí cá biệt mà họ bỏ ra.
Trong nền kinh tế vĩ mô, yêu cầu cơ bản đặt ra khi xác định hiệu quả làphải tính tới kết quả hữu ích của nền kinh tế quốc dân Phải xuất phát từ lợiích xã hội khi xác định hiệu quả phải tính toán tất cả các chi phí lao động xãhội không chỉ tính hiệu quả của từng cơ sở sản xuất mà điều quan trọng làhiệu quả vĩ mô của từng ngành, lãnh thổ, địa phương, thậm chí toàn bộ nềnsản xuất xã hội
* Chỉ tiêu đánh giá kết quả:
+ Tổng giá trị sản xuất: GO
+ Tổng giá trị gia tăng : VA
+ Lợi nhuận : Pr
+ Phần kết quả tăng thêm: Q
* Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:
Với chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và chỉ tiêu phản ánh chi phí ta
có chỉ tiêu tổng quát hiệu quả kinh tế:
H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả sản xuất
CF: Chi phí sản xuất
* Từ các quan điểm về các chỉ tiêu kết quả thu được từ sản xuất kinh
Trang 19doanh và phí bỏ ra ta có thể đưa ra các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế qua bảng sau:
B ng 1: Các ch tiêu tính hi u qu kinh t ảng 1: Các chỉ tiêu tính hiệu quả kinh tế ỉ tiêu tính hiệu quả kinh tế ệu quả kinh tế ảng 1: Các chỉ tiêu tính hiệu quả kinh tế ế
Chỉ tiêu
Tổng giá trị sản xuất (GO)
Giá trị tăng(VA)
Lợi nhuận ( Pr)
Phần tăng kết quả(
Q)
-Chi phí trung gian( IC) GO/IC VA/IC Pr/IC
-Chi phí của từng yếu tố
* Một số chỉ tiêu phản ánh nguyên nhân
Như chúng ta đã biết đánh giá hiệu quả kinh tế là một công việc hết sứckhó khăn và phức tạp Do đó, muốn đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế mộtcách đầy đủ và toàn diện chúng ta phải kết hợp bổ sung với những chỉ tiêudưới đây:
+ Chỉ tiêu về năng suất lao động
N = M/ T hay N = T/MTrong đó : N là năng suất lao động
M là khối lượng sản phẩm sản xuất trong khoảng thời giannhất định
T là thời gian hao phí để sản xuất ra M sản phẩm
+ Chỉ tiêu về năng suất đất đai
19
Trang 20ND = GO( N)/ D( CT)
Trong đó : GO( N) là giá trị sản xuất nông nghiệp
D (CT) là diện tích canh tác sử dụng trong sản xuất nông nghiệp
+ Thu nhập bình quân đầu người
+ Suất hao phí vật tư nguyên liệu
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Trên thế giới viện nghiên cứu nông nghiệp các nước hàng năm đã đưa
ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới, những công thức luân canh mới,những mô hình sản xuất mới Đặc biệt các viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI)cũng đã đóng góp nhiều thành tựu về giống và hệ thống canh tác trên đấttrồng lúa Tạp chí “Farming Japan” của Nhật ra hàng tháng đã giới thiệunhiều công trình nghiên cứu của Nhật
Xu hướng chung trên thế giới hiện nay là các nhà khoa học nôngnghiệp đang tập trung mọi nỗ lực nghiên cứu cải tiến hệ thống giống câytrồng vật nuôi có năng suất cao vào sản xuất nhằm tăng giá trị trên 1 đơn vịdiện tích trong 1 năm Ví dụ ở Châu âu đã đưa chế độ luân canh 4 năm, 4 khuvới hệ thống cây trồng gồm: khoai tây, cây củ quả, ngũ cốc mùa xuân, cây có
3 lá và ngũ cốc mùa đông vào thay thế chế độ luân canh 3 năm, 3 khu với hệthống cây trồng chủ yếu là ngũ cốc – ngũ cốc – bỏ hoá làm cho năng suất ngũcốc tăng gấp 2 lần và sản lượng lương thực, thực phẩm trên 1 ha tăng gấp 4lần Ở Châu á trong những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ trước đã đưacác cây hoa màu trồng cạn vào hệ thống cây trồng trên đất lúa đạt hiệu quảcao
Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp được phát triển mạnh
mẽ ở các nước trên thế giới, đặc biệt là ở Châu á như Đài loan, Hàn Quốc,
Trang 21Thái Lan cho hiệu quả kinh tế cao Các nước này có những điều kiện tựnhiên cũng như con người khá tương đồng với Việt Nam nên việc nghiên cứu
kỹ các mô hình này sẽ giúp nước ta có kinh nghiệm trong việc xây dựng các
mô hình trang trại cho thu nhập cao phù hợp với những điều kiện cụ thể củanước ta Đặc biệt là các trang trại chăn nuôi ở các nước này rất phát triển, đây
sẽ là một thế mạnh rất quan trọng cho những nước đang phát triển đi sau nhưnước ta áp dụng vào xây dựng và phát triển
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở nước ta trong những năm gần đây ngành nông nghiệp đang phát triểnmạnh theo hướng sản xuất hàng hoá Nhiều giống cây trồng vật nuôi mới đưavào sản xuất làm phong phú thêm hệ thống giống về chủng loại và chất lượng,thích nghi với các vùng sinh thái, góp phần đáng kể đưa năng suất và sảnlượng nông nghiệp cả nước tăng lên
Khi trình độ nông nghiệp còn thấp thì sản xuất chủ yếu tập trung vàolương thực Còn ngày nay khi cuộc sống ngày càng được nâng cao thì các loạicây trồng, thức ăn cao cấp, các sản phẩm chăn nuôi, cây ăn quả nhu cầu củathị trường ngày càng lớn, chính vì thế mà nông nghiệp đang có sự chuyểndịch cơ cấu đáng kể Với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, các sản phẩmmang tính hàng hoá cao được đẩy mạnh
Cùng với việc nghiên cứu đưa ra các giống mới vào sản xuất, các cơqaun nghiên cứu đã đưa ra các công thức luân canh mới, các mô hình sản xuấtmới được áp dụng vào xây dựng, sản xuất đã khai thác tốt hiệu quả đất nôngnghiệp, góp phần tăng tổng sản phẩm xã hội và nâng cao thu nhập cho ngườinông dân
Các vấn đề này đã được nhiều tác giả nghiên cứu như Bùi Huy Đáp,Ngô Thế Dân
21
Trang 22Các đề tài nghiên cứu trong chương trình KN01 (1991-1995) do Bộnông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì cũng nghiên cứu hệ thống câytrồng vật nuôi trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung duphía bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long…
Trong những năm gần đây chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồngbằng sông hồng VIE/89/023 cũng đã nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đadạng hoá nông nghiệp đồng bằng sông Hồng Trong đó nội dung quan trọng
là phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi để nâng cao hiệu quả sử dụng đấtnông nghiệp từ 1993-2010
Các công trình nghiên cứu của Lê Trọng Cúc (1971), Nguyễn NgọcBình (1987), Lê Duy Thước (1991), Lê Thanh Hà (1993), Lê Đình Sơn(1993) đã đề cập tới hệ thống cây trồng trên đất dốc cho phép nâng cao năngsuất cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta Trong những nămgần đây, do tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường đã xuất hiện những môhình sử dụng đất nông nghiệp mới, những công thức luân canh mới đạt hiệuquả kinh tế cao trên từng vùng sinh thái
Trên vùng sinh thái gò đồi đã xuất hiện những mô hình nông lâm kếthợp, mô hình vườn đồi kết hợp với cây trồng lâu năm với cây trồng ngắnngày, mô hình trang trại VAC quy mô lớn, mô hình chăn nuôi lớn Ở vùngđồng bằng sông hồng đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây trồng 3 – 4 vụ
1 năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái gần ven đô, tướitiêu chủ động đã bố trí lại hệ thống cây trồng, vật nuôi và đưa vào các loại câytrồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao như gà thịt, lợn hướng nạc, hoa, rausạch cho giá trị sản lượng bình quân đạt trên 50 triệu đồng/ha trong 1 năm.Trên những vùng sinh thái không thuận lợi đã lợi dụng những lợi thế so sánhtrên từng chân đất để phát triển mô hình kết hợp giữa trồng trọt và nuôi trồng
Trang 23thuỷ sản, đưa vào những giống cây trồng có khả năng chống chịu chua mặn,nhằm nâng cao năng suất cây trồng.
Trong những năm gần đây phong trào chuyển đổi diện tích đất nôngnghiệp để chuyển sang làm kinh tế theo kiểu trang trại đang phát triển mạnh
mẽ trên địa bàn toàn quốc Cùng với sự giúp đỡ của các cơ quan nghiên cứu,các địa phương trong cả nước đã xây dựng được các trang trại kiểu mẫu cóhiệu quả kinh tế cao giúp các hộ đúc rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình
có đạt hiệu quả , phát huy tối đa tiềm năng đất nông nghiệp mang lại
Tại các vùng ven đô Hà Nội như Đông Anh, Từ Liêm, Gia Lâm đã cónhiều cong thức luân canh mới, các mô hình sử dụng đất nông nghiệp mớicho hiệu qảu kinh tế cao Đặc biệt là ngành trồng hoa cây cảnh, sinh vật cảnh,rau thực phẩm sạch, chăn nuôi lợn hướng nạc, gà thịt cho thu nhập rất cao sovới các công thức luân canh, các mô hình sử dụng đất nông nghiệp cũ truyềnthống
Tóm lại, việc nghiên cứu và phát triển kinh tế trên đất nông nghiệpđược nhiều cơ quan và tác giả trong và ngoài nước đề cập đến và đưa ra cácgiải pháp phát triển khác nhau Như vậy đưa ra các giống mới vào hệ thốngcây trồng, vật nuôi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi hệ thốngsản xuất theo hướng hàng hoá đã phát triển khả quan, đặc biệt ở vùng đồngbằng sông Hồng và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn rất nhiều so với các môhình sản xuất truyền thống Tuy nhiên thực thực tế áp dụng vẫn còn hạn chế,chưa phát huy hết tiềm lực kinh tế trong vùng, dẫn đến hiệu quả sản xuấtngành nông nghiệp ở các địa phương vẫn chưa cao, chưa khai thác tốt tiềmnăng sẵn có của địa phương
Ở phạm vi đề tài này, với địa điểm nghiên cứu xã Trâu Quỳ, chúng tôitiếp tục nghiên cứu, điều tra, đánh giá và phát triển một số mô hình sử dụngđất nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị sản xuất và thu nhập trên một
23
Trang 24diện tích, đồng thời coi trọng việc nâng cao hiệu quả đầu tư chi phí vật chất
và lao động trên các mô hình sản xuất của các nông hộ
Trang 25PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Quá trình phát triển
Xã Trâu Quỳ tiền thân là Quang Trung I, khu đồn điền 16 ấp thuộc BắcNinh ngày xưa Trước Cách Mạng Tháng 8 – 1945, phần lớn là dân tá điềnnghèo khó làm thuê, cấy mướn cho đồn điền Mácty, chủ yếu là dân Hà Nam,Hưng Yên và một số tỉnh khác cùng nhau sinh cơ lập nghiệp sống rải rác trên
9 thôn và một phố Trâu Quỳ Hoà bình lập lại dưới sự lãnh đạo của Đảng vànhà nước, với chính sách giao đất cho người nông dân, cuộc sống cũng đỡ vất
vả khó khăn hơn Qua quá trình cải tạo xã, hệ thống sông ngòi mương máng,thuỷ nông tương đối hoàn chỉnh, đất đai trù phú rất phù hợp cho phát triển câynông nghiệp và nuôi trồng các loại cây, con giống Ngày nay, Trâu Quỳ làmột xã phát triển tương đối toàn diện và là 1 xã điển hình về phát triển kinh tếcủa khu vực ngoại thành TP Hà Nội, ngày 01/04/2005 xã Trâu Quỳ đã đượccông nhận là một thị trấn và có thể nói Trâu Quỳ sẽ là trung tâm của huyệnGia Lâm
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
3.1.2.1 Vị trí địa lý
Trâu Quỳ là một xã nằm giữa trung tâm của huyện Gia Lâm cách thủ
đô Hà Nội 3 km về phí đông bắc Hiện nay xã có tất cả là bảy thôn và hai phốvới vị trí tiếp giáp của xã như sau :
Phía Bắc giáp xã Cổ Bi, Đặng Xá, Phú Thị
Phía Nam giáp xã Đa Tốn, Đông Dư
Phía Tây giáp xã Cự Khối, Thạch Bàn
25
Trang 26Phía Đông giáp xã Dương Xá, Kiêu Kỵ
Xã có điều kiện thuận lợi về giao thông với tuyến đường quốc lộ 5 chạyqua và xã còn gần kề với ga Phú Thụy đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giaolưu, trao đổi kinh tế, văn hoá trong vùng
Mặt khác xã còn nằm gần các trung tâm nghiên cứu và giáo dục lớnnhư Trường Đại học Nông nghiệp I, Viện Rau quả Trung ương, Viện kinh tếtạo điều kiện thuận lợi để xã có điều kiện đào tạo đội ngũ lao động nghiên cứuứng dụng khoa học kỹ thuật cũng như ứng dụng các thành tựu nghiên cứu vàosản xuất
Địa hình xã tương đối bằng phẳng Độ cao trung bình là 15,8% so vớimặt nước biển Địa hình thấp về phía Đông Nam
3.1.2.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết sông ngòi
Trâu Quỳ là xã nằm ở vùng đồng bằng Bắc bộ nên chịu ảnh hưởng củakhí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa trong năm, nóng ẩm vào mùa hè, khô rétvào mùa đông Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,40C Tháng nóng nhất làtháng 6, 7, nhiệt độ cao nhất là 42,80C Tháng 1, 2 là tháng lạnh nhất, nhiệt độthấp nhất vào khoảng 8 – 90C
3.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 724,8 ha theo địa giới hành chínhnhưng xã chỉ quản lý 356,95 ha Còn lại 367,83 ha do Trường Đại học Nôngnghiệp I, Viện Rau quả TW, Viện kinh tế quản lý (được thể hiện qua biểu 1).Qua biểu 1 ta thấy diện tích đất nông nghiệp giảm dần qua các năm do diệntích đất canh tác cũng như đất vườn tạp giảm Diện tích đất nông nghiệp năm
2005 so với năm 2006 giảm 1,12%, cụ thể giảm 2,86 ha Sang năm 2006 lạitiếp tục bị giảm xuống, nếu so với năm 2005 thì thì nó giảm 1,2%, cụ thể
Trang 27gỉam 3,03 ha Bên cạnh đó diện tích đất vườn tạp cũng giảm mạnh, năm 2005
so với 2006 đã giảm 7,27%, cụ thể giảm 1,86 ha Năm 2006 cũng vậy, nó đãgảim 9,19% so với năm 2005 và cụ thể giảm 2,15 ha Nguyên nhân của việcgiảm trên là do nhu cầu xây dựng nhà cửa cũng như cơ sở hạ tầng của địaphương ngày một tăng lên Đây là một điều phù hợp với xu thế phát triểnchung của đất nước, đó là qúa trình CNH – HĐH cũng như quá trình đô thịhoá đang diễn ra mạnh mẽ
Trong diện tích đất canh tác của địa phương thì diện tích đất trồng lúachiếm đa phần, cụ thể chiếm đến hơn 90% trong số tổng diện tích canh tác.Tuy nhiên trong những năm gần đây do nhu cầu về cây giống, cây ăn quả tănglên nên đã có sự chuyển dịch dần về cơ cấu cây trồng từ lúa sang các câytrồng khác cho thu nhập cao hơn Có thể thấy được điều này qua các con số
cụ thể sau: Diện tích đất trồng lúa bình quân trong 3 năm từ 2006 – 2006 đãgiảm 0,94%, năm 2005 đã giảm 3,04 ha so với năm 2006, còn sang năm 2006
đã giảm 1,01 ha so với năm 2005 Việc giảm diện tích trồng lúa đã dẫn tớidiện tích đất trồng cây hàng năm khác trên địa bàn xã tăng lên, trung bìnhtrong 3 năm tăng 7,51% Việc đưa những cây trồng mới vào sản xuất đã tănghiệu quả viẹc sử dụng đất nông nghiệp, góp phần tăng thu nhập cho các hộnông dân
Đối với đất chuyên dùng của xã thì hàng năm đều tăng lên, năm 2005 tăng2,78 ha so với năm 2006 còn sang năm 2006 tăng 2,04 ha so với năm 2005, bìnhquân trong 3 năm tăng 3,73% Đây là một tỷ lệ khá cao trong đó chủ yếu là tỷ lệtăng của đất dành cho giao thông, bình quân trong 3 năm đất dành cho giaothông tăng 7,55% còn các đất khác không thay đổi hoặc thay đổi không đáng kể.Điều này chứng tỏ là vấn đề quy hoạch phát triển của địa phương đã được chútrọng hơn để địa phương phát triển một cách toàn diện, cân đối
27
Trang 28Đất chưa sử dụng tại địa phương còn rất ít, chỉ vào khoảng 3 ha và thayđổi không đáng kể trong 3 năm, đây hầu hết là những đất khó sử dụng chohiệu quả kinh tế thấp Tuy nhiên trong điều kiện quỹ đất dành cho nôngnghiệp ngày càng ít đi thì rõ ràng đây vẫn là một lãng phí lớn cần phải cải tạo
để đưa vào sử dụng
Trang 30Các chỉ tiêu bình quân về đất nông nghiệp cũng như đất canh tác chomột nhân khẩu nông nghiệp là tương đối thấp và thay đổi không đáng kểtrong 3 năm qua Do vậy vấn đề nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân trongthời gian tới là rất khó khăn, cần phải mở rộng và phát triển ngành nghề ởnông thôn để giảm bớt tỷ lệ lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệp cũngnhư tăng hiệu quả sản xuất trên diện tích hiện có Có như vậy thì mới thúcđẩy được sản xuất và nâng cao thu nhập cho người nông dân
3.1.3.2 Tình hình dân số và lao động của xã
Trâu Quỳ là một xã có dân số khá đông, với tổng số nhân khẩu hơn
7000 người và đều có sự tăng lên qua các năm Năm 2005 tổng số nhân khẩucủa xã là 7181 người so với 7060 người của năm 2004 (mức tăng 1,71%), cònnăm 2006 tổng số nhân khẩu của xã là 7311 người (mức tăng 1,81%) Mứctăng dân số bình quân trong 3 năm qua là 1,67% Như vậy tốc độ tăng dân số
là tương đối ổn định và tỷ lệ tăng này là tương đối hợp lý (được thể hiện quabảng 2)
Trong 3 năm qua, xét cơ cấu về số nhân khẩu của xã ta có thể thấy được
số nhân khẩu làm nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao so với số khẩu phi nôngnghiệp Cụ thể trong năm 2006 số nhân khẩu làm trong ngành nông nghiệp là
4476 người chiếm 61,10%,còn số khẩu phi nông nghiệp là 2844 người chiếm38,90% tổng số nhân khẩu Cùng với việc gia tăng dân số qua các năm làm cho
số nhân khẩu trong ngành nông nghiệp cũng như số nhân khẩu trong ngành phinông nghiệp đều tăng lên Tuy nhiên mức tăng dân số trong ngành nông nghiệpđang có xu hướng chậm hơn so với mức gia tăng dân số trong các ngành phinông nghiệp Đây là một tỷ lệ tăng phản ánh đúng xu thế phát triển chung củađất nước, quá trình CNH- HĐH đang diễn ra mạnh mẽ và đây cũng là điều kiệnthuận lợi cho địa phương trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn
Trang 31Nguồn lao động của địa phương tương đối dồi dào Năm 2005 có 2974lao động , năm 2004 có 2896 lao động, như vậy so với năm 2004 thì năm
2005
31
Trang 33số lao động đã tăng lên 78 lao động tương ứng với tỷ lệ 2,96% Trong đó laođộng trong ngành nông nghiệp năm 2004 là 1862 lao động còn năm 2005 là
2888 lao động, như vậy đã tăng lên 28 người tương ứng với tỷ lệ tăng 1,40%.Trong năm 2006 ta có thể thấy được tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệptăng ít hơn so với tỷ lệ tăng của lao động nông nghiệp ( 0,16% so với 1,58%).Điều này chứng tỏ lao động tại địa phương đang chuyển dần sang các ngànhnghề khác cho thu nhập cao hơn Cùng với việc gia tăng dân số, số lượng laođộng tại địa phương cũng tăng nhanh, tạo áp lực rất lớn về việc làm cho địaphương, lao động dư thừa của địa phương ngày một nhiều hơn Điều này chỉ
có thể được giải quyết khi địa phương phải kìm hãm được tỷ lệ gia tăng dân
số cũng như khuyến khích thâm canh tăng vụ, tìm ra mô hình sản xuất hợp lýcũng như mở rộng ngành nghề sản xuất để tăng nhanh quá trình chuuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn
Các chỉ tiêu bình quân về nhân khẩu trên một hộ tại địa phương ngàymột giảm chứng tỏ địa phương đã quan tâm tới vấn đề kế hoạch hoá gia đìnhcũng như các biện pháp thực hiện của địa phương đã phát huy được hiệu quả
3.1.3.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật của xã
Về thuỷ lợi: Với đặc điểm là xã thuộc trung tâm của huyện, có địa hìnhtương đối bằng phẳng và hơi trũng so với các xã khác trong vùng, nên hệthống thuỷ lợi được ưu tiên xây dựng để phục vụ cho việc phát triển nôngnghiệp Hiện nay xã có tất cả 10 trạm bơm chủ động với tổng công suất3700m3/h đủ để tưới tiêu cho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của xã Hệthống kênh mương cũng đã được nâng cao đáng kể với 10 km mương kiên cố
và khoảng 8 km mương đất, có thể tưới tiêu chủ động cho 238 ha đất nôngnghiệp chiếm 97% tổng diện tích đất nông nghiệp của xã Qua đây chúng tathấy công tác thuỷ lợi ở xã được quan tâm tương đối tốt, tao điều kiện choviệc phát triển sản xuất nông nghiệp của địa phương
33
Trang 34Về giao thông: đường giao thông của được đầu tư khá tốt với 100%đường liên thôn, liên xóm được bê tông hoá nên việc đi lại, giao lưu, trao đổihàng hoá của nhân dân trong xã rất thuận lợi.
Về công trình điện: Hiện nay xã có tổng số 4 trạm biến áp với côngsuất 1320 KVA đảm bảo đủ điều kiện cung cấp điện cho việc phát triển sảnxuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã Đồng thời hệ thống đường dây cũngtương đối lớn với 2 km đường dây cao thế và 12 km đường dây hạ thế Tỷ lệ
hộ dùng điện trong xã đạt 100%
Về giáo dục: Hiện tại có thể nói việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của
xã đã tương đối hoàn chỉnh cho tất cả các cấp học Toàn xã hiện nay có 1trường trung học cơ sở với 12 phòng học tương đối khang trang sạch đẹp vàcũng có 12 phòng ở cấp tiểu học đạt tiêu chuẩn Ở cả 7 thôn của xã đều có hộitrường và nhà trẻ mẫu giáo, các cơ sở này đều được xây dựng khang trangkiên cố Có thể nói hệ thống cơ sở hạ tầng giáo dục của địa phương đượcquan tâm khá tốt và đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân trongxã
Về cơ sở y tế: Xã có trạm xá với 3 giường bệnh và 5 nhân viên y tếtrong đó có một bác sỹ
Bên cạnh đó thì các cơ sở hạ tầng khác cũng được chính quyền địaphương quan tâm như nước sạch, vệ sinh môi trường Ở các khu phố cũngnhư ở các khu tập thể quanh trường thì 100% số hộ đã đượ dùng nước sạch và
có người thu gom rác thải đảm bảo vệ sinh môi trường sạch sẽ
Qua đây có thể thấy được cơ sở hạ tầng cảu địa phương hiện nay tươngđối hoàn chỉnh, đáp ứng tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như sinhhoạt của nhân dân trong xã
Trang 35Bi u 3: Tình hình c s v t ch t k thu t c a Xã n m 2006 ểu 3: Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của Xã năm 2006 ơ sở vật chất kỹ thuật của Xã năm 2006 ở vật chất kỹ thuật của Xã năm 2006 ật chất kỹ thuật của Xã năm 2006 ất kỹ thuật của Xã năm 2006 ỹ thuật của Xã năm 2006 ật chất kỹ thuật của Xã năm 2006 ủa Xã năm 2006 ăm 2006.
% diện tích canh tác được tưới tiêu chủ động 97
3.1.3.4 Một số kết quả sản xuất kinh doanh của xã
Qua biểu 4 cho chúng ta thấy kết quả sản xuất kinh doanh của xã quacác năm đều có xu hướng tăng lên và tăng với một tỷ lệ khá cao Bình quân
35
Trang 36trong 3 năm qua giá trị sản xuất của xã tăng 20,34% Giá trị sản xuất năm
2005 đạt 38,213 tỷ đồng so với năm 2004 thì giá trị sản xuất đã tăng 7,209 tỷđồng ứng với tỷ lệ tăng 23,25% Còn năm 2006 giá trị sản xuất của toàn xãđạt 44,90 tỷ đồng so với năm 2005 đã tăng 6,687 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệtăng 17,50% Trong đó các ngành có mức tăng cụ thể nhu sau:
Ngành trồng trọt: Nhờ việc đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất mà giastrị sản xuất của ngành trồng trọt đã có sự tăng trưởng Tuy nhiên do gặpnhững điều kiện bất lợi như chuột, sâu bệnh phá hoại, ngoài ra còn nhiều diệntích thường xuyên bị ngập úng, diện tích đất canh tác thì không ngừng giảmqua các năm nên tăng trưởng của ngành trồng trọt không thể lớn hơn được,bình quân trong 3 năm qua tỷ lệ tăng trưởng của ngành nông nghiệp chỉ đạt2,84% Mức tăng trưởng cụ thể trong năm qua của ngành trồng trọt như sau:Năm 2005 giá trị sản xuất của ngành trồng trọt đạt 8,80 tỷ đồng tăng 0,10 tỷđồng so với năm 2004 Năm 2006, giá trị sản xuất ngành trồng trọt đạt 9,2 tỷđồng tương ứng với tỷ lệ tăng 0,40 tỷ đồng so với năm 2005 tức tăng 4,45%
Ta thấy trong năm 2006 tỷ lệ tăng trưởng của ngành trồng trọt đã có được sựnhảy vọt so với mức tăng trưởng của những năm trước, điều này có được là
do địa phương đã đã đưa những giống mới có năng suất cũng như giá trị kinh
tế cao hơn vào sản xuất nhằm nâng cao thu nhập cho người nông dân
Ngành chăn nuôi là một ngành có hiệu quả kinh tế cao nên đã được địaphương cũng như bà con nông dân chú trọng phát triển, chuyển dịch theohướng nuôi công nghiệp, chính vì vậy mà trong mấy năm qua tỷ lệ tăngtrưởng luôn ở mức cao, mức tăng trưởng bình quân trong 3 năm đạt 26,43%.Được thể hiện cụ thể như sau:
Trong năm 2005 địa phương có tổng đàn lợn từ 2800 – 3000 con, trong
đó lợn nái trên 200 con, trâu bò nuôi thịt đạt 179 – 190 con Đàn gia cầm các
Trang 37loại được duy trì ở mức 125 – 135 nghìn con, tổng giá trị của ngành chăn nuôitrong năm 2005 đạt 5,6 tỷ đồng, tăng 46,75%, ứng với con số 1,784 tỷ đồng
so với năm 2004 Sang năm 2006, tổng số đàn lợn của địa phương đạt 3.300con trong đó có 360 con lợn nái, đàn gia súc đạt 135 con, đàn gia cầm đạt200.000 con đạt doanh thu cả năm 6,10 tỷ đồng So với năm 2005 thì giá trịcủa ngành chăn nuôi tăng 0,60 tỷ đồng, ứng với tỷ lệ tăng 8,93% Trong điềukiện đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp ngày càng ít đi như hiện nay,hướng phát triển ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp nhằm nâng cao thunhập cho người nông dân cũng như đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao củangười nông dân của con người là một hướng đi đúng và phù hợp với điều kiệncủa địa phương hiện nay
Ngành thương mại dịch vụ: ở nông thôn hiện nay ngoài phát triển sảnxuất trồng trọt và chăn nuôi thì việc mở rộng ngành nghề, làm thêm các nghềphụ để giải quyết việc làm trong những tháng nông nhàn đã trở thành yêu cầucấp thiết đối với các hộ nông dân Họ có thể tham gia vào nhiều công việcnhư cơ khí, may mặc, vận tải, buôn bán Theo từng năm số hộ này ngày càng
có xu hướng tăng lên, đến năm 2006 đã có trên 300 hộ làm các dịch vụthương mại, điều này làm cho giá trị sản xuất của ngành luôn có mức tăngtrưởng cao Mức tăng trưởng của ngành thương mại dịch vụ trong 3 năm quađược cụ thể như sau: Năm 2004 giá trị sản xuất của ngành thương mại dịch vụđạt 17,30 tỷ đồng chiếm 55,80% tổng giá trị sản lượng của toàn xã, năm 2005giá trị sản xuất của ngành thương mại dịch vụ đạt 21,383 tỷ đồng, tăng 4,083
tỷ đồng so với năm 2006, ứng với mức tăng 23,60% Năm 2006 giá trị sảnxuất ngành thương mại dịch vụ đạt 26,29 tỷ đồng, chiếm 58,55% tổng giá trịsản xuất của toàn xã, so với năm 2005 thì giá trị tăng 4,907 tỷ đồng, tỷ lệ
37
Trang 38tăng là 22,95% Mức tăng trưởng bình quân trong 3 năm qua đạt 23,27%, đây
là một tỷ lệ tăng trưởng khá cao Qua cơ cấu của ngành dịch vụ thương mạitrong tổng giá trị sản xuất của địa phương ta thấy nó luôn chiếm một tỷ lệ khácao, cùng với
Trang 39B ng 4 Giá tr s n xu t c a các ng nh trong xã (2004-2006) ảng 1: Các chỉ tiêu tính hiệu quả kinh tế ị sản xuất của các ngành trong xã (2004-2006) ảng 1: Các chỉ tiêu tính hiệu quả kinh tế ất kỹ thuật của Xã năm 2006 ủa Xã năm 2006 ành trong xã (2004-2006)
II Các chỉ tiêu bình quân Triệu đồng
Trang 40điều kiện thuận lợi là có nhiều cơ quan lớn đóng trên địa bàn cũng như giaothông thuận tiện tạo cho ngành thương mại dịch vụ tại địa phương phát triển
Do vậy, xã cần có hướng phát triển đúng đắn để không ngừng nâng cao giá trịngành sản xuất thương mại dịch vụ của địa phương
Kinh tế vườn: Với điều kiện xã tiếp giáp với Trường ĐHNNI nên cóđiều kiện tiếp thu ứng dụng KHKT vào sản xuất, đặc biệt là việc phát trồngcác loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như nhãn, vải Một số diện tích đấtcao gần làng đã được chuyển sang trồng cây ăn quả cũng như làm vườn ươmcây giống cho hiệu quả kinh tế cao Chính vì vậy mà giá trị kinh tế vườnkhông ngừng gia tăng trong các năm, tốc độ tăng trưởng bình quân trong 3năm qua của kinh tế vườn đạt 66,92% Cụ thể như sau: Năm 2004 giá trị sảnxuất của ngành kinh tế vườn đạt 1,188 tỷ đồng chiếm 3,83% giá trị sản xuấtcủa địa phương Năm 2005 giá trị sản xuất của kinh tế vườn đạt 2,43 tỷ đồng,
so với năm 2004 thì giá trị tăng 1,142 tỷ đồng tăng với tỷ lệ 104,55% Sangnăm 2006 giá trị sản xuất của kinh tế vườn đạt3,31 tỷ đồng, so với năm 2005thì giá trị kinh tế vườn đã tăng 0,88 tỷ đồng ứng với mức tăng trưởng 36,21%,chiếm tỷ trọng 7,37% giá trị sản xuất của địa phương Qua đây chúng ta cóthể thấy mức tăng trưởng của kinh tế vườn là rất cao, có thể nói đây là mộttiềm năng rất lớn của địa phương.Trong những năm tới nếu địa phương tậptrung các biện pháp hợp lý để phát triển kinh tế vườn thì nó sẽ là một ngànhkinh tế chiếm 1 vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của địa phương
Cùng với việc gia tăng các chỉ tiêu về số lượng thì các chỉ tiêu chấtlượng của xã Trâu Quỳ cũng không ngừng gia tăng, điều này phản ánh sựphát triển cân đối của địa phương, được thể hiện cụ thể qua các chỉ tiêu bìnhquân trong 3 năm qua Năm 2005 tổng GTSX bình quân/khẩu đạt 5,32 triệuđồng/năm, tăng 21,8% so với năm 2004 Bên cạnh đó thì các chỉ tiêu tổng