1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau

76 1,9K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Tình Hình Thanh Tra Giải Quyết Tranh Chấp, Khiếu Nại- Tố Cáo Về Đất Đai Trên Địa Bàn Tỉnh Cà Mau
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Quản Lý Đất Đai
Thể loại Đề Tài Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2001-2005
Thành phố Cà Mau
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 490,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm mục đích khảo sát thực trạng công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau, từ đó tìm hiểu những thuận lợi- khó khăn cũng như qui trình giải quyết tranh chấp đất đai ở tỉnh hiện nay.

Trang 1

TÓM LƯỢC

Cùng với sự chuyển đổi cơ cấu từ trồng lúa sang nuôi tôm cũng là nguyên nhândẫn đến giá trị đất đai ngày càng tăng cao trên địa bàn tỉnh Cà Mau Người dân ngàycàng nhận thức được đất đai là tài sản quý giá và tìm hiểu về pháp luật đất đai nhiềuhơn Từ đó trong quá trình sử dụng đất không thể tránh khỏi những mâu thuẫn bấtđống và phát sinh thành tranh chấp buộc các cơ quan có thẩm quyền phải vận dụngLuật Đất đai và các văn bản pháp luật có liên quan để hòa giải hay giải quyết Vìnhững lý do trên, được sự đồng ý của Bộ môn Khoa học đất & Quản lý đất đai, KhoaNông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ và Ban Giám đốc SởTài Nguyên & Môi Trường Tỉnh Cà Mau cho em thực tập tốt nghiệp ngành Quản Lý

Đất Đai năm 2001-2005 với đề tài: “Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau” Nhằm mục đích khảo

sát thực trạng công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau, từ đótìm hiểu những thuận lợi- khó khăn cũng như qui trình giải quyết tranh chấp đất đai ởtỉnh hiện nay

Đề tài được thực hiện từ ngày 07/03/2005 đến 07/06/2005 tại phòng thanh tra

Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Cà Mau em đã ghi nhận được một số kết quả nhưsau:

Tổng lượng đơn yêu cầu, khiếu nại về đất đai từ năm 1998 - 2004 là 4555 đơn.Trong đó cấp tỉnh 660 đơn, chiếm tỷ lệ: 14,49%; cấp huyện: 3895 đơn, chiếm tỷ lệ:85,51 đơn Năm có số lượng đơn nhiều nhất là năm 1999: 915 đơn, chiếm tỷ lệ:20,09% tổng số đơn Tổng số đơn đã giải quyết trên toàn tỉnh là 2650/4555 đơn, còntồn đọng là 1905 đơn, đơn tố cáo vi phạm pháp luật đất đai là 07 vụ (đã giải quyếtxong 07 vụ) Qua nghiên cứu nhận thấy: Việc thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếunại- tố cáo về đất đai của công dân ở Sở Tài Nguyên & Môi trường Cà Mau đã được

sự quan tâm cũng như sự hướng dẫn kịp thời từ phía trung ương và của UBND tỉnh CàMau đã tạo điều kiện cho công tác xét khiếu nại - tố cáo, tranh chấp về đất đai củacông dân ngày càng đạt hiệu qua cao cả về số lượng cũng như chất lượng Trong quátrình giải quyết các khiếu nại - tố cáo, tranh chấp về đất đai Sở Tài nguyên & Môitrường đã dựa trên cơ sở của Luật Đất đai , Luật khiếu nại, tố cáo và các văn bản cóliên quan Bên cạnh đó cũng còn những khó khăn trong công tác thanh tra giải quyết

Trang 2

tranh chấp dẫn đến lượng đơn tồn đọng không giải quyết dứt điểm như: Người sử dụngđất không làm đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật: đất cho mượn, cho thuê,cầm cố, chuyển nhượng đều giao dịch bằng miệng (thiếu hồ sơ pháp lý) Khó khănnhất là tranh chấp, khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại dạng này rất khó giải quyết vàthường kéo dài thời gian nên đã ảnh hưởng đến tỷ lệ giải quyết đơn thư khiếu nại củacông dân làm cho lượng đơn tồn đọng qua các năm vẫn còn.

Vì vậy, giải quyết tranh chấp về đất đai là công việc phức tạp và cần thiết, làmtốt công tác này sẽ có ảnh hưởng tốt không chỉ các bên tham gia mà còn cho cả Nhànước Tóm lại công tác thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại - tố cáo cần được cácngành các cấp quan tâm chú trọng

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Đất đai luôn được coi là công thổ quốc gia, là tài nguyên vô giá, là tư liệu sảnxuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố khudân cư, là nền móng để xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội và cũng cố an ninhquốc phòng Đất đai là lãnh thổ không thể tách rời quốc gia, nó gắn liền với chủ quyềnquốc gia Không thể có quan niệm về quốc gia không có đất đai Tôn trọng chủ quyềnquốc gia trước hết thể hiện ở tôn trọng lãnh thổ quốc gia

Rõ ràng, đất đai có vai trò hết sức quan trọng Chính vì vậy, các cuộc cáchmạng trong lịch sử đều lấy đất đai làm đối tượng, coi đó là nhiệm vụ cần giải quyếthàng đầu

Ngay từ khi ra đời vào ngày 3/2/1930, trong cương lĩnh chính trị của ĐảngCộng Sản Việt Nam đã nghi: “Cách Mạng Việt Nam phải giải quyết hai nhiệm vụchiến lược: “Đánh đổ Đế Quốc xâm lược giành độc lập dân tộc và xóa bỏ chế độphong kiến giành lại ruộng đất cho nông dân”

Từ khi Đảng ta chủ trương phát triển cơ chế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa, nền kinh tế nước nhà phát triển vượt bậc trong các lĩnh vực công nghiệp,nông nghiệp số hộ nông dân có vốn mua thêm đất đầu tư sản xuất: Lúa, tôm, số kinhdoanh các ngành nghề khác cũng mua đất: Đầu tư cơ sở hạ tầng kinh doanh các ngànhnghề: Du lịch, dịch vụ, ăn uống, khách sạn… Với mức độ và qui mô ngày một lớn làmcho giá đất luôn tăng cao và trở thành tài sản lớn nhất trong từng gia đình, giá đất cũng

là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tranh chấp đất đai trong nhân dân.Chính vì vậy mà Luật Đất đai 2003 ra đời nhằm điều chỉnh các quan hệ đất đai chophù hợp với tình hình mới Tuy nhiên vẫn còn những bất cập vướng mắc ngày càng

hoàn thiện Do đó đề tài: “Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau”thực hiện nhằm mục đích:

-Khảo sát thực trạng công tác thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáođất đai Tìm hiểu về các hoạt động thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo.Những thuận lợi và khó khăn trong công tác thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại,

tố cáo Hoàn thiện quy trình giải quyết tranh chấp đất đai một cách hiệu quả nhằm giảiquyết tranh chấp được nhanh chóng

Trang 4

CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

I KHÁI NIỆM VỀ ĐẤT ĐAI:

1 Định nghĩa:

Theo Lê Tấn Lợi (ĐHCT, 1999): Đất đai là một diện tích khoanh vẽ trên bề mặtcủa trái đất, chứa đựng tất cả các đặc trưng của sinh khí quyển ngay bên trên và bêndưới của lớp mặt này bao gồm: Khí hậu gần mặt đất và dạng hình mặt nước (Bao gồmnhững hồ cạn, sông, hầm, trũng và đầm lầy), lớp trầm tích gần mặt và kết hợp nước dựtrữ ngầm, tập đoàn thực vật và động vật, mẫu hình định cư của con người và những kếtquả về tự nhiên của hoạt động của con người trong thời gian qua và hiện tại (làmruộng bậc thang, cấu trúc hệ thống trữ nước, đường xá, nhà cửa)

2 Vai trò đất đai:

Theo Bùi Quang Nhơn (ĐHCT, 2000): Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên vôcùng quí giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người Đất là nền tảng, là bệ đỡ của sựsống nói chung, của loài người nói riêng Trải qua quá trình phát triển lâu dài, cùng với

sự ra đời của Nhà nước, đất đai được đưa vào sử dụng với những chế độ pháp lý khácnhau, điều này phụ thuộc chế độ chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia ở từngthời kỳ nhất định

Với đặc thù độc đáo mà không một vật thể tự nhiên nào có được đó là độ phìnhiêu, đất cung cấp dinh dưỡng cho toàn bộ cây trồng vật nuôi, giúp cho nó sinh sôi,nảy nở và phát triển Đất là một tư liệu sản xuất quan trọng không thể thay thế đượccho một số ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đặc biệt đối với một nước cónguồn thu chủ yếu từ nông nghiệp như nước ta thì điều này quan trọng hơn

Ở một số vùng nhất định kết cấu đất có thể được sử dụng làm nguyên liệu củamột số ngành sản xuất phục vụ đời sống xã hội như: Gạch, ngói, đồ gốm, xi măng…điều đó không chỉ dừng lại ở chỗ là có được những vật liệu phục vụ cho xây dựng màcòn là nơi tạo nguồn thu về mặt kinh tế cho dân cư tham gia vào công việc đó nói riêng

và cho sự phát triển của một quốc gia nói chung

Trang 5

Khi đề cập đến vai trò của đất đai, hẳn nhiên chúng ta điều biết đất luôn luôn làđịa điểm mà con người xây dựng nhà cửa, các công trình văn hóa, đặt máy móc, khotàng, bến bãi, nhà xưởng… đồng thời cũng là nơi để phân bố dân cư, phân bố cácngành kinh tế quốc dân.

Đối với mọi trường hợp đất là chỗ dựa cho tất cả các hệ sinh thái, đất là mộttrong những yếu tố quan trọng để điều hòa nhiệt độ và điều hòa khí hậu bằng cách giữnhiệt độ làm giảm sức nóng thiêu đốt của mặt trời qua nhiều tầng đất của mình Đấtcòn là túi lọc chuyển nước bề mặt thành nước ngầm và chứa vô khối nước sạch tinhkhiết

Trong lịch sử hình thành và phát triển của đất nước, đất gắn liền với sự ra đời

và tồn tại của quốc gia là vấn đề lãnh thổ, vì ngoài ý nghĩa là vấn đề vật chất lãnh thổcòn có ý nghĩa đối với việc tồn tại và duy trì một ranh giới quyền lực Nhà nước trongmột cộng đồng dân cư nhất định Xét về mặt chính trị pháp lý, những bộ phận cấuthành lãnh thổ thì đất là một bộ phận không thể tách rời lãnh thổ và chiếm phần lớntrong tổng số các yếu tố cấu thành lãnh thổ Vì vậy, đất đai là dấu hiệu cơ bản nhất củamột quốc gia, một dân tộc, một cộng đồng Từ đó, có thể khẳng định xâm phạm đất đai

là xâm phạm lãnh thổ và chủ quyền quốc gia

Hội nghị các Bộ trưởng môi trường Châu Âu hợp năm 1973 tại Luân Đôn đánhgiá: “Đất đai là một trong những của cải quí nhất của loài người, nó tạo điều kiện cho

sự sống của thực vật, động vật và con người trên trái đất” Rõ ràng, đất đai có vai tròhết sức quan trọng, trong lịch sử một trong những nguyên nhân phổ biến và chủ yếucủa các cuộc chiến tranh ở các qui mô, khác nhau giữa các dân tộc và các quốc gia lànhững tranh chấp, xung đột mà đất đai là đối tượng mà các cuộc cách mạng tham vọng

về lãnh thổ Còn trong lao động sản xuất, đời sống xã hội và môi trường thì đất đaichính là yếu tố quyết định cho sự tồn tại động thực vật và con người

Đất đai chỉ có thể phát huy vai trò vốn có của nó dưới sự tác động tích cực củacon người một cách thường xuyên Ngược lại, đất đai không phát huy được khả năngsinh lợi nếu con người tác động vào nó với một thái độ thờ ơ, sử dụng một cách tùytiện, chỉ khai thác mà không thực hiện việc cải tạo và bồi bổ đất, các điều kiện đó phụthuộc vào bản chất của mỗi chế độ kinh tế xã hội từng quốc gia nhất định

Trang 6

Môi trường đất rất nhạy cảm với mọi sự biến đổi và khó khôi phục lại trạng tháiban đầu Chúng ta điều biết Việt Nam là quốc gia nằm ở vùng nhiệt đới, mưa nhiều,nhiệt đới không khí cao, khoáng hóa mạnh, dễ bị rửa trôi, bảo mòn và hiện nay có 13triệu hecta đất bị suy thoái thành đất trống, đòi núi trọc Vì vậy, việc bảo vệ, giữ gìn,cải tạo và bồi bổ đất cần tiến hành triệt để dưới nhiều hình thức khác nhau, áp dụngsong song các biện pháp hữu hiệu nhằm tạo điều kiện cho đất đai ngày càng phát huyvai trò to lớn của nó.

II PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI TRONG LỊCH SỬ:

Đất đai là tài sản vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phầnquan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựngcác cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng

Các nhà chính trị vĩ đại của thế giới đã từng chỉ ra rằng: Trong sự phát triển của

xã hội đất đai đóng vai trò kinh tế và chính trị hết sức to lớn Việt Nam là một quốc gia

có dân số đông mà đất đai hạn chế nên việc sử dụng phải được quản lý chặt chẽ và tiếtkiệm

Xuất phát từ những đặc điểm và vị trí hết sức quan trọng đó của đất đai, từ năm

1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cho đến nay, trải qua nhiềugiai đoạn lịch sử, Nhà nước ta luôn quan tâm thích đáng đến vấn đề đất đai và đã banhành nhiều văn bản luật về quản lý và sử dụng đất đai nhằm mục đích bảo vệ đất, sửdụng đất hợp lý có hiệu quả kinh tế cao (Tổng Cục Địa Chính, 2002)

1 Giai đoạn trước Cách Mạng Tháng 8 năm 1945:

Đất đai bị chi phối bởi quyền luật tối thượng của vua chúa Pháp luật phongkiến bảo vệ quyền tư hữu đất đai nhưng thực chất đất đai nằm trong tay của quan lại,địa chủ, nhân dân mà đặc biệt là nông dân không có điều kiện để tư hữu Khi nước tatrở thành xã hội thuộc địa nữa phong kiến thì người dân trở thành kẻ nô lệ, làm thuê và

bị bốc lột ngay trên chính mảnh đất của mình Do người dân không có quyền gì đốivới đất đai nên cũng không nói đến khiếu nại, tranh chấp đất đai, có chăng đó là nhữngcuộc nổi dậy chống lại các thế lực cầm quyền (Tổng Cục Địa Chính, 2002)

Trang 7

2 Thời kỳ sau Cách Mạng Tháng 8:

Khi đề cập đến đất đai thời kỳ này phải đề cập đến quan điểm của Đảng ta ngay

từ khi mới thành lập trong cương lĩnh cách mạng năm 1930 Cương lĩnh này tạo nềntảng cách mạng cơ bản cho việc thực hiện chính sách pháp Luật đất đai của nước tathực sự bắt đầu từ sau năm 1946 đến năm 1954 Miền Bắc nước ta bước vào thời kỳxây dựng xã hội chủ nghĩa và là hậu phương lớn cho Miền Nam tiền tuyến Tiếp đóĐiều 12 Hiến Pháp nắm 1959 nêu rõ: “Các hầm mỏ, sông ngòi, và những rừng cây, đấthoang mà luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân” là một bước tiếnquan trọng trong việc thiết lập quyền làm chủ của nhân dân đối với đất đai, nhưng mặtkhác Hiến pháp năm 1959 cũng khẳng định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộquyền sở hữu ruộng đất của nông dân”

3 Thời kỳ sau năm 1975:

Thời kỳ này có thể chia chính sách đất đai theo từng giai đoạn tương ứng từnggiai đoạn phát triển của đất nước

a) Giai đoạn sau năm 1975 đến trước khi có Hiến pháp năm 1980:

Sau giải phóng năm 1975, dù chưa xác lập bằng văn bản quản lý cao nhấtnhưng trong một số văn bản dưới luật

b) Giai đoạn từ khi Hiến pháp năm 1940 ra đời đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI:

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Điều 19: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai…những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất được tiếp tục sử dụng …” Điều 20 đã trởthành nguyên tắc hiến định quyền sở hữu tư nhân về đất đai chấm dứt Trên cơ sở đó,quyết định 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội Đồng Chính Phủ về việc thống nhất quản

lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất cả nước ra đời, có thể nói dùvăn bản này là văn bản dưới luật, nhưng khá đầy đủ và toàn diện về công tác quản lýcủa Nhà nước về đất đai trong thời kỳ này

c) Giai đoạn từ sau Đại Hội VI đến nay:

Phải đổi mới, đặc biệt là đổi mới kinh tế, là mệnh Lệnh lịch sử cả dân tộc ta, đốivới Đảng, Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VI diễn ra vào năm 1986 là một bướcngoặc lịch sử đánh dấu tiến trình phát triển mới của đất nước Hàng loạt các văn bản

Trang 8

pháp luật, chủ trương và chính sách pháp Luật đất đai ra đời, là những bước tiến cực

kỳ quan trọng trong chủ trương chính sách pháp Luật đất đai Có thể nói từ đó cuộccách mạng nông nghiệp đã diễn ra tạo sinh khí mới trong đời sống nhân dân đặc biệt lànông dân Nó đánh dấu cột mốc đổi mới và thời kỳ khủng hoảng, giải toả sự đình đốntrì trệ trong nông nghiệp, tạo nên sức sản xuất nông nghiệp chưa từng có trong lịch sửnước ta, đánh dấu nét son của thời kỳ đổi mới (các văn bản từ quyết định 201/CP ngày01/7/1980 của Hội Đồng Chính Phủ đến Luật Đất đai công bố năm 1988, từ chỉ thị100_CT/TW ngày 13/01/1981 và chỉ thị 19_CT/TW ngày 03/5/1983 của ban chấphành trung ương Đảng về hoàn thành điều chỉnh ruộng đất đẩy mạnh cải tạo ruộng đất

xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp nghị quyết 10_NQ/TW ngày 05/4/1988 của bộchính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và chỉ thị 47_CT/TW ngày31/8/1988 của Bộ Chính Trị về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộngđất…)

Tuy nhiên, với những quy định và chính sách quan trọng đó và cùng với Hiếnpháp năm 1980 một mặt đã đem lại ruộng đất vào tay người thật có nhu cầu nhất làngười nông dân, góp phần thúc đẩy trong việc vực dậy và phát triển kinh tế, nhưngmặt khác một thực tế không thể phủ nhận là một số quy định, chủ trương và chính sáchkhông xác thực tiễn của thời kỳ, sau năm 1975 vẫn còn để lại hậu quả, cùng với sự hạnchế của Luật Đất đai năm 1988, tất cả đã bộc lộ những khiếm khuyết vô hình chungtạo nên những mầm mống tranh chấp và khiếu nại về đất đai từ tích tụ dần trong mộtthời gian dài chỉ chờ có dịp là bộc phát một cách mạnh mẽ, quyết liệt Đảng và Nhànước đã mạnh dạn sửa chữa, đặc biệt phải xử lý các vấn đề về khiếu nại và tranh chấpđất đai rất gay gắt và phức tạp kéo dài hơn 10 năm (Bắt đầu sự ra đời của chỉ thị47_CT/TW ngày 31/8/1988 về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất)

Luật Đất đai năm 1993 ra đời không chỉ đơn thuần là bổ sung, thay đổi quanđiểm của Đảng và Nhà nước ta mà còn phản ánh sự đổi mới và phát triển của nền kinh

tế đất nước Việc quy định và thừa nhận 5 quyền của người sử dụng đất như nhữngquyền lợi dân sự thiết thực, không chỉ đánh dấu khuynh hướng phát triển mà còn Luậthóa những nhu cầu tồn tại khách quan trong xã hội vốn dĩ đã có từ bao lâu nay trongđời sống nhân dân (Bộ luật dân sự ban hành năm 1996 thể chế hóa 5 quyền của người

sử dụng đất thành 5 quyền năng dân sự, tạo hành lang pháp lý khá an toàn cho người

sử dụng đất khá hợp pháp)

Trang 9

Song song đó, quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức kinh tế trong việc sử dụngđất cũng gắn bó chặt chẽ với tình hình và tốc độ đổi mới của nền kinh tế, đất đai khôngchỉ đơn thuần là mặt bằng trụ sở làm việc, nơi ở hay sản xuất mà còn là nguồn vốntiềm tàng cần được khai thác một cách đặc biệt trong quá trình đầu tư, góp vốn sảnxuất kinh doanh Chính vì vậy, Luật Đất đai đã được sửa đổi năm 1998 và năm 2001

đã quy định thêm và mở rộng quyền cho người sử dụng đất, đặc biệt là các tổ chứckinh tế Quy định của pháp Luật đất đai trong lĩnh vực này khá nhạy cảm và cần sựthích ứng nhanh với tiến trình phát triển kinh tế

Pháp Luật đất đai nói chung và Luật Đất đai nói riêng trong cơ chế thị trườngvới sự đa dạng các thành phần kinh tế, tồn đọng triệt để quyền lợi của người sử dụngđất Khai thác tối ưu giá trị quyền sử dụng đất, tạo đà cho nhiều lĩnh vực kinh tế xã hộiphát triển luôn luôn cần sự thay đổi đó thực tiễn đòi hỏi về mặt lập pháp cần có những

dự báo chiến lược nhất định, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng pháp Luật đất đai liêntục sửa đổi một cách chấp vá, thậm chí nửa vời như đã diễn ra trong thời gian qua

Luật Đất đai năm 1993 thay đổi một cái nhìn cứng nhắc về đất đai với kháiniệm sở hữu toàn dân trong việc thu hồi đất làm các công trình công cộng hoặc phúclợi xã hội, vấn đề bồi thường đất đai được đặt ra Thế nhưng thực tế giải toả và bồi lợin

ở nhiều địa phương không tuân thủ đầy đủ theo Điều 73 và Điều 79 Luật Đất đai năm

1993 và nghị định 90_CP ngày 17/8/1994 của Chính Phủ, đồng thời với việc thu hồigiải tỏa gần như trắng tay (chỉ bồi hoàn hoa lợi trên đất theo Luật Đất đai năm 1988),

đã tạo nên thực trạng đầy bức xúc trong lĩnh vực này chỉ được xem xét một cách tươngđối bằng sự ra đời của Nghị định 22/1988/NĐ_CP ngày 24/4/1988 và chỉ thực sự phơibày một cách toàn diện khi đoàn công tác chính phủ xuất hiện (Tổng Cục Địa Chính,1997)

III MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI:

1 Khái niệm tranh chấp đất đai:

Các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp Luật đất đai không phải lúc nào cũngnhất trí với nhau về tất cả các vấn đề quan hệ pháp luật, vì thế sẽ xuất hiện những ýkiến khác nhau, những mâu thuẫn, những bất đồng nhất định, được thể hiện trên thực

tế bằng những hành động cụ thể, người ta gọi đó là hiện tượng tranh chấp

Trang 10

Như vậy, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham giaquan hệ pháp Luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đấtđai.

Đi ngược dòng thời gian về trước những năm 1980, khi Nhà nước còn duy trì 3hình thức sở hữu đối với đất đai: Sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân

Do đó, có thể tranh chấp về quyền sở hữu đất đai hoặc tranh chấp về quyền quản lý và

sử dụng đối với đất đai Sau Hiến pháp 1980, Nhà nước trở thành chủ sở hữu duy nhấttoàn bộ đất đai trên cả nước, vì thế không thể có tranh chấp về quyền sở hữu đất đai

Chủ thể các quan hệ tranh chấp chỉ là chủ của quá trình quản lý và sử dụng đấtđai Các bên tham gia tranh chấp không phải là chủ sở hữu đất đai mà họ chỉ được giaođất cho sử dụng trong khuôn khổ pháp luật quy định

2 Các dạng tranh chấp đất đai:

Tranh chấp giữa những người sử dụng đất với nhau về ranh giới giữa các vùngđất được phép sử dụng và quản lý Loại tranh chấp này thường do một bên tự ý thayđổi hoặc do hai bên không xác định được với nhau

Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất: Việcmột bên vi phạm quyền sử dụng đất, làm cản trở việc thực hiện quyền của phía bên kiahoặc một bên không làm đúng nghĩa vụ của mình cũng phát sinh tranh chấp

Tranh chấp về mục đích sử dụng, đặc biệt là tranh chấp giữa đất nông nghiệpvới đất lâm nghiệp, giữa đất trồng lúa với đất nuôi tôm, giữa đất trồng cà phê với đấttrồng cây cao su, giữa đất hương hỏa với đất thổ cư trong quá trình phân bố và quyhoạch sử dụng

Nhiều khi sự tranh chấp về quyền sử dụng đất dẫn đến tranh chấp những tranhchấp về địa giới hành chính Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa hai tỉnh, haihuyện, hai xã với nhau, tập trung ở những nơi có nguồn lâm sản quý, có ý nghĩa quantrọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, ở vị trí dọc theo các triền sông lớn, nhữngvùng có địa giới không rõ ràng, không có mốc giới nhưng là vị trí có tầm quan trọng

Trong những năm gần đây, do việc chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêubao cấp sang nền kinh tế thị trường, cùng với chủ trương giao đất một cách ổn định vàlâu dài cho người sử dụng đất thì tranh chấp giữa những người sử dụng đất với nhau

Trang 11

Đòi lại đất của người thân trong giai đoạn trước đây mà qua các cuộc điều trachỉnh ruộng đất đã được chia cho người khác

Tranh chấp giữa đồng bào địa phương với đồng bào nơi khác đến khai hoang,xen canh, xen cư

Tranh chấp giữa những người làm nghề thủ công, nay thất nghiệp trở về đòi lạiđất của những người làm nông nghiệp Tranh chấp giữa các thôn, đội sản xuất vớinhau trong việc chia tách các hợp tác xã Tranh chấp đất giữa các nông trường, lâmtrường và các tổ chức sử dụng đất khác với nhân dân địa phương (theo Bùi QuangNhơn)

3 Các chủ thể tranh chấp đất đai:

Chủ thể của quan hệ pháp Luật đất đai là chủ thể của quá trình quản lý và sửdụng đất đai Các bên tham gia tranh chấp không phải là chủ sở hữu của đất đai mà họchỉ được giao đất trong khuôn khổ pháp luật quy định

Các chủ thể tranh chấp đất đai:

Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân

Tranh chấp giữa các hộ gia đình với nhau

Tranh chấp giữa tổ chức với tổ chức

Tranh chấp giữa tổ chức với hộ gia đình hoặc cá nhân

(Nguyên Ngọc Điệp, Lê Kim Dung, 1998.)

4 Giải quyết tranh chấp:

Giải quyết tranh chấp đất đai với ý nghĩa là một nội dung của chế độ quản lýNhà nước đối với đất đai là hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằmgiải quyết các bất đồng, mâu thuẩn trong nội bộ của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân đểtìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm phục hồi các quyền bị xâm hạiđồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật (BùiQuang Nhơn, 2000)

Trang 12

5 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tranh chấp đất đai:

Tranh chấp đất đai xảy ra là hậu quả của những nguyên nhân nhất định Nó biểuhiện cụ thể những mâu thuẫn bất đồng về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể sử dụng đấtvới nhau

Nguyên nhân khách quan:

Lịch sử đã để lại những hậu quả khác nhau trên cả hai miền Ở Miền Bắc, saucách mạng tháng 8 và sau năm 1953, Đảng và Chính phủ đã tiến hành cải cách ruộngđất, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của thực dân, Phong kiến, thiết lập quyền sởhữu ruộng đất cho người nông dân Năm 1960, thông qua con đường hợp tác hóa nôngnghiệp, ruộng đất của người nông dân được đưa vào làm tư liệu sản xuất chung trởthành

Nguyên nhân chủ quan:

Trong cơ chế quản lý Nhà nước trước kia, Nhà nước phân công, phân cấp choquá nhiều ngành dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt chẽ, còn nhiều sơ hở Có thời

kỳ, mỗi loại đất do một ngành quản lý Đất nông nghiệp do ngành nông nghiệp quản

lý, đất lâm nghiệp do ngành lâm nghiệp quản lý, đất chuyên dùng thuộc ngành nàongành ấy quản lý, dẫn đến tranh chấp giữa đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp, cũngnhư với đất chuyên dùng xảy ra tình trạng: Có loại đất do nhiều cơ quan quản lý cũng

có loại đất không do cơ quan nào quản lý

Một số nơi có những chủ trương hoặc việc làm sai lầm làm cho nhân dân hiểurằng Nhà nước có chủ trương trả lại ruộng đất cũ, trả lại đất ông cha Việc Nhà nướcluôn tách, nhập hoặc thành lập các đơn vị hành chính mới, việc xác định địa giớikhông làm kịp thời hoặc không rõ ràng, làm cho tình hình tranh chấp đất đai phức tạpthêm

Việc tranh chấp đất đai ở mỗi địa phương khác nhau còn có còn có nhữngnguyên nhân đặc thù và tìm ra những nguyên nhân đó phải căn cứ vào thực tế sử dụngđất, vào phong tục, tập quán của từng địa phương để có được những phương pháp tốtnhất cho từng vụ tranh chấp (Bùi Quang Nhơn, 2000)

6 Mục đích, ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp:

Trang 13

Theo Bùi Quang Nhơn, 2000 Pháp luật xã hội chủ nghĩa là phương tiện quantrọng để Nhà nước quản lý xã hội, quản lý nền kinh tế Nhưng nếu Nhà nước chỉ banhành pháp luật mà không đảm bảo nhanh chóng được thực hiện thì pháp luật không thểphát huy được vai trò của mình Cho nên việc ban hành pháp luật, Nhà nước còn đảmbảo cho pháp luật được thi hành.

Trong quan hệ pháp Luật đất đai, việc giải quyết tranh chấp đất đai là mộttrong những biện pháp nhất định để pháp Luật đất đai phát huy được vai trò trong đờisống xã hội Thông qua việc giải quyết tranh chấp đất đai Nhà nước điều chỉnh cácquan hệ đất đai cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của xã hội, đồng thời giáodục ý thức pháp luật cho mỗi công dân, ngăn ngừa những vi phạm pháp Luật đất đaikhác có thể xảy ra Đó cũng là một trong những công việc có ý nghĩa quan trọng đểtăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực quản lý và sử dụng

IV QUAN ĐIỂM CẦN QUÁN TRIỆT KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO:

1 Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý:

Quan điểm này được nêu trong Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 vànêu trong Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993 và đến nay được nêu tạiĐiều 10 của Luật Đất đai năm 2003 Đây là quan điểm lớn, xuyên suốt, chi phối tất cảcác quan hệ đất đai Không còn sở hữu tư nhân về đất đai nên việc đòi lại đất gốc, đất

cũ mà Nhà nước đã có quyết định giao cho người khác sử dụng là trái quy định củapháp luật tại khoản 2 Điều 10 của Luật Đất đai quy định: “Nhà nước không thừa nhậnviệc đòi lại đất đã giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quátrình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chínhphủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam”

2 Lấy dân làm gốc để giải quyết:

Dựa vào dân, bàn bạc dân chủ, công khai, tăng cường giải quyết ở cơ sở và tăngcường hòa giải trong nhân dân, giáo dục, giải thích, thuyết phục, giải quyết có lý, cótình, không mệnh lệnh, gò ép

3 Đảm bảo người làm nông nghiệp có đất sản xuất, mọi người đều có nơi ở:

Trang 14

Khi giải quyết, không để người sử dụng đất tích cực bị thiệt thòi, chiếu cố đếnngười trực canh, trực cư.

4 Không “rũ rối”, tránh lây lan:

Không dỡ giải quyết toàn bộ, mà phát sinh đến đâu giải quyết đến đó, giải quyếtdứt điểm, cố gắng giữ ổn định tình hình sử dụng đất để phát triển sản xuất, ổn định đờisống cho nhân dân, nhất là trong trường hợp trả lại đất cũ và đền bù giải phóng mặtbằng Nhưng không thể vì thế mà bỏ qua các trường hợp bất hợp lý, ảnh hưởng đếnsản xuất, đến đời sống của người dân, ảnh hưởng đến sự đoàn kết trong nhân dân

5 Kết hợp hài hòa giữa căn cứ pháp luật với thực tiễn, giữa chính sách đất đai với chính sách xã hội khác:

Căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp, khiếu kiện vềđất là vấn đề rất quan trọng, là một trong những yếu tố đảm bảo cho việc thống nhấtquản lý Nhà nước về đất đai trong từng địa phương cũng như trong toàn quốc Nhưngchỉ có căn cứ pháp lý thì chưa đủ, mà cần thiết phải có các yếu tố thực tế để quyết địnhgiải quyết phù hợp pháp luật, có lý, có tình, được dư luận đồng tình ủng hộ

Trong khi giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về đất còn phải có sự kết hợp hàihòa giữa chính sách đất đai với chính sách xã hội khác như: Chính sách về người cócông với cách mạng, chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, chính sách dântộc, tôn giáo…

6 Mọi người, mọi tổ chức sử dụng đất đều bình đẳng trước pháp luật:

Khi giải quyết không thiên vị, đảm bảo công bằng trước pháp luật, bảo vệquyền lợi chính đáng của người sử dụng đất, song cũng xử lý nghiêm minh những viphạm về quản lý sử dụng đất

V GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ NHỮNG HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI:

1 Khái niệm khiếu nại:

Nếu tranh chấp đất đai là hiện tượng bình thường xảy ra trong đời sống xã hội ởbất kỳ thời đại nào thì hai phạm trù khiếu nại, tố cáo cũng xuất hiện từ khi xã hội có sựphân chia giai cấp, có sự ra đời của Nhà nước và có hiện tượng vi phạm pháp luật

Trang 15

Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về vấn

đề đất đai nhằm đảm bảo cho Nhà nước với người sử dụng đất và giữa những người sửdụng đất với nhau được thể hiện theo đúng đường lối, chính sách pháp Luật đất đai,nhằm bảo vệ Nhà nước đối với đất đai, làm cho đất đai được sử dụng một cách hợp lýtiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng đất

Khiếu nại là việc công dân yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, bảo vệhoặc khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của mình do bị xâm phạm do những quyếtđịnh hành chính hoặc vi phạm hành chính của cơ quan Nhà nước hoặc nhân viên Nhànước gây ra

Ví dụ: Đơn của người sử dụng đất khiếu nại về việc thu hồi đất đang được sửdụng một cách hợp pháp nhưng không được bồi thường hoặc bồi thường không đúngquy định pháp luật (Bùi Quang Nhơn, 2000)

2 Khái niệm tố cáo:

Theo Bùi Quang Nhơn: Tố cáo là sự phát hiện với cơ quan Nhà nước có thẩmquyền về những hành vi trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức

xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân thuộc các đơn vị đó hoặc của những ngườikhác, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể,quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Ví dụ:

- Tố cáo về việc UBND xã bán đất trái phép

- UBND huyện giao đất không đúng mục đích, làm hủy hoại đất đai…

- Người sử dụng đất sử dụng không đúng mục đích, làm hủy hoại đất đai…

VI MỘT SỐ VĂN BẢN LUẬT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THANH TRA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI:

Luật Đất đai 1988:

Tại Điều 5 Luật Đất đai năm 1988 quy định: “Nghiêm cấm việc mua, bán, lấnchiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sửdụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vàomục đích khác làm hủy hoại đất đai

Trang 16

Tại Điều 15_ Nghị định của Hội Đồng Bộ Trưởng số 30_HĐBT ngày23/3/1989 về việc thi hành Luật Đất đai quy định như sau:

+ Việc tranh chấp trong nội bộ nhân dân thì do UBND xã, thị trấn, quận, thị xã,thành phố tỉnh căn cứ vào tài liệu địa chính, khả năng lao động, đời sống của các bên

và vốn đất đai của địa phương để giải quyết đúng pháp luật, đúng thẩm quyền Nếugiải quyết không xong thì kiến nghị lên cấp trên Quyết định của chính quyền cấp trêntrực tiếp có hiệu lực thi hành

+ Khi giải quyết tranh chấp đất đai giữa cá nhân với tổ chức và giữa tổ chức vớinhau phải căn cứ vào các quy định sau đây:

a) Bảo đảm cho các tổ chức thực hiện nghĩa vụ được giao và bảo đảm đời sốngcho cá nhân

b) Đất đai sử dụng có hiệu quả hơn

c) Thuận tiện cho việc quản lý, sử dụng, bảo vệ đất của mỗi bên, đảm bảo đượcđoàn kết, ổn định sản xuất

Khi giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất đai có liên quan đến địa giới giữacác đơn vị hành chánh, UBND các đơn vị đó cùng phối hợp giải quyết trên cơ sở cáctài liệu địa chính Nhà nước Nếu các tài liệu trên còn thiếu hoặc không thống nhất thìtrong khi chờ đợi các cấp có thẩm quyền, phân vạch lại địa giới hành chính, hai bêndựa vào các chứng cứ lịch sử, đời sống, việc quản lý, xã hội và sản xuất thương lượnggiải quyết, phân vạch ranh giới sử dụng đất

Điều 1: Việc giải quyết các tranh chấp đất đai có liên quan đến 2 đơn vị hành

chính cấp tỉnh hoặc liên quan đến các tổ chức thuộc trung ương thì tổng cục quản lýruộng đất cùng với các bộ, ủy ban Nhà nước, cơ quan khác thuộc Hội Đồng BộTrưởng có liên quan đến UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các đơn vịhành chính tương đương giải quyết, nếu không đạt được thống nhất thì Hội Đồng BộTrưởng quyết định

Luật Đất đai năm 1993, 1998, 2001:

- Luật Đất đai ban hành năm 1993 có quy định rõ công tác Thanh tra đất đai là

01 trong 07 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai và nhiệm vụ chủ yếu của công tácthanh tra

Trang 17

Điều 13: Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm:

1 Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng, lập bản đồ địa chính

2 Qui hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất

3 Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiệncác văn bản đó

4 Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất

5 Đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất,thống kê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

6 Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất

7 Giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trongviệc quản lý và sử dụng đất đai

Điều 27:

1 Chánh thanh tra cấp tỉnh, chánh thanh tra cấp huyện có thẩm quyền:

a Xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyềngiải quyết của chủ tịch UBND cùng cấp

b Giải quyết khiếu nại do UBND cùng cấp ủy quyền theo qui định của chínhphủ

2 Chánh thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, chánh thanhtra sở và cấp tương đương có trách nhiệm xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyếtkhiếu nại thuộc thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan đó

Trang 18

trường hợp kết luận việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị ngườigiải quyết xem xét, giải quyết lại.

Điều 63: Tổng thanh tra Nhà nước có thẩm quyền:

1 Xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộcthẩm quyền giải quyết của Thủ tướng chính phủ khi được giao

2 Xem xét, kết luận về nội dung tố cáo mà Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quanngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc chính phủ, chủ tịch UBND cấp tỉnh đã giải quyếtnhưng vì có vi phạm pháp luật, trong trường hợp kết luận việc giải quyết tố cáo viphạm pháp luật thì kiến nghị người đã giải quyết xem xét, giải quyết lại

Điều 76:

Khoản 2: Thanh tra Nhà nước các cấp, các cơ quan khác của Nhà nước có tráchnhiệm tổ chức tiếp công dân thường xuyên theo qui định của pháp luật

Luật Đất đai năm 2003:

Công tác hòa giải, thẩm quyền giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo cũngđược quy định rõ tại các Điều 135; 136;138; 139

Nghị định 181/2004/NĐ-CP:

Điều 112: Giải quyết trường hợp Nhà nước đã mượn đất của hộ gia đình, cá nhân:

1 Cơ quan Nhà nước đã mượn đất của hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản

1, Điều 116 của Luật Đất đai là cơ quan, đơn vị, tổ chức của Nhà nước, của ĐảngCộng Sản Việt Nam, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị- Xã hội

2 Hộ gia đình, cá nhân đã cho cơ quan Nhà nước mượn đất mà giấy tờ vềquyền sử dụng đất, giấy tờ cho mượn đất chỉ còn lưu tại cơ quan Nhà nước thì cơ quanNhà nước có trách nhiệm cung cấp các giấy tờ lưu giữ để hộ gia đình, cá nhân hoànthiện hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều 116 của Luật Đất đai

3 Trường hợp cơ quan Nhà nước đã mượn đất ở gắn với nhà ở của hộ gia đình,

cá nhân trước ngày 01/07/1991 thì giải quyết theo quy định tại Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/08/1998 của ủy ban thường vụ Quốc hội

4 Việc bồi thường bằng tiền hoặc bằng đất mới được tính theo giá đất doUBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định

5 Việc giải quyết trả lại đất mà Nhà nước đã mượn của hộ gia đình cá nhân

Trang 19

Điều 113: Giải quyết trường hợp hộ gia đình cá nhân mượn đất, thuê đất của hộ gia

đình cá nhân khác:

1 Việc giải quyết trường hợp hộ gia đình, cá nhân mượn đất, thuê đất ở gắnliền với nhà ở của hộ gia đình cá nhân khác mà nay trên đất đó còn nhà ở hoặc khôngcòn nhà ở, hộ gia đình, cá nhân mượn đất, thuê đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh

có nhà xưởng của hộ gia đình, cá nhân khác được thực hiện khi có các điều kiện sau:

a Hộ gia đình cho mượn, cho thuê đất phải có GCNQSD đất hoặc một trongcác loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 củaLuật Đất đai

b Có văn bản thỏa thuận về việc mượn đất, thuê đất

2 Việc giải quyết trường hợp hộ gia đình, cá nhân mượn đất, thuê đất cho hộgia đình, cá nhân khác quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng như sau:

a Quyền sử dụng đất là tài sản của người cho mượn, cho thuê

b Nhà xưởng sản xuất, kinh doanh gắn liền với đất là tài sản của người chomượn, cho thuê nhà xưởng

c Quyền sử dụng đất, nhà xưởng sản xuất, kinh doanh gắn liền với đất , nhà ởgắn liền với đất không thuộc danh sách các trường hợp đã thực hiện các chính sách cảitạo của Nhà nước về đất đai, nhà ở, nhà xưởng

d Việc giải quyết đối với quyền sử dụng đất, nhà xưởng sản xuất, kinh doanhgắn liền với đất được thực hiện như đối với nhà ở gắn liền với đất quy định tại Nghịquyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/08/1998 của ủy ban thường vụ Quốc Hội

về giao dịch quân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/07/1991

3 Trường hợp hộ gia đình, cá nhân mượn đất, thuê đất của hộ gia đình, cá nhânkhác mà không có văn bản thỏa thuận về việc mượn đất, thuê đất quy định tại điểm bkhoản 1 điều này, nay tự nguyện trả lại đất đã mượn, đã thuê thì việc trả lại đất phảiđược UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định công nhận

Điều 114: Giải quyết trường hợp tổ chức mượn đất, thuê đất hoặc cho mượn đất, cho

thuê đất:

1 Trường hợp bên mượn đất, thuê đất là tổ chức không thuộc quy định tạikhoản 1 Điều 112 của Nghị định này thì việc giải quyết đối với trường hợp hộ gia

Trang 20

đình, cá nhân mượn đất, thuê đất của hộ gia đình, cá nhân khác quy định tại Điều 113của Nghị định này.

2 Trường hợp bên cho mượn đất, cho thuê đất là tổ chức thì việc giải quyếtđược thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 2 Điều 52 vàđiểm c khoản 2 Điều 53 của Nghị định này

Quyết định số 76/2003/QĐ-UB ngày 17 thang 11 năm 2003 của UBND tỉnh

Cà Mau: Về việc cải tiến quy trình tiếp nhận và giải quyết khiếu nại tranh chấp đất đai:

Phần 1: Những quy định chung.

Điều 1: Sự cần thiết phải cải tiến qui chế:

Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được Hiếnpháp nước ta nghi nhận, các ngành, các cấp chính quyền, mọi tổ chức và cá nhân đượcgiao nhiệm vụ thực hiện giải quyết khiếu nại và công dân thực hiện quyền khiếu nại tốcáo về tranh chấp đất đai phải thực hiện đúng quy định của pháp luật và nội dung đượcquy định tại qui chế này

Việc ban hành qui chế cải tiến quy trình thủ tục tiếp nhận và giải quyết khiếunại về tranh chấp đất đai nhằm khắc phục tình trạng biểu hiện rườm rà, nhiều tầng nấc,trì trệ và kém hiệu quả, không theo kịp với những yêu cầu về cải cách nền hành chínhNhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo tinh thần Nghị quyết trung ươngIII (khóa VIII)

Điều 2: Phạm vi điều chỉnh của qui chế:

Qui chế cải tiến quy trình thủ tục tiếp nhận và giải quyết khiếu nại về tranhchấp đất đai nhằm thực hiện đạt mục tiêu cơ bản sau: Cải tiến trình tự tiếp công dân,hướng dẫn giải đáp pháp luật cho nhân dân; cải tiến trình tự tiếp nhận; xử lý, phân loạiđơn khiếu nại; tố cáo; trình tự thẩm tra; xác minh; thu thập kiểm tra đánh giá chứng cứ

và đề xuất hướng giải quyết khiếu nại; tố cáo; cải tiến công tác hòa giải cơ sở; cải tiếntrình tự ban hành quyết định giải quyết; cải tiến trình tự tổ chức thực hiện các quyếtđịnh có hiệu lực thi hành; xây dựng và thực hiện việc đối thoại trực tiếp của cơ quanNhà nước với công dân và quản lý, lưu trữ hồ sơ vụ việc

Trang 21

Điều 3: Căn cứ ban hành qui chế:

Qui chế được ban hành trên cơ sở của Luật khiếu nại, tố cáo của công dân, Pháplệnh Luật sư, Pháp lệnh hòa giải cơ sở, Căn cứ Nghị quyết TW 3 (khóa VIII), Căn cứNghị quyết số 26/NQ-TW ngày 12 tháng năm 2003, Nghị quyết số: 67/1999/NĐ-CP,Nghị định số: 62/2002/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật khiếu nại, tốcáo Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về việc

tổ chức và hoạt động tư vấn pháp luật, Quyết định số: 734/TTg của Thủ tướng chínhphủ về việc thành lập trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước

Phần II: Quy trình tiếp nhận và giải quyết khiếu nại tranh chấp đất đai của công dân:

Điều 4: Cơ cấu tổ chức cơ quan tiếp công dân:

Cơ quan tổ chức tiếp công dân của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Đoàn đại biểuQuốc Hội, UBND tỉnh được tập trung thành một đầu mối Địa điểm tiếp dân đặt tạiban tiếp dân tỉnh

Cơ quan tiếp công dân của huyện ủy, Hội đồng nhân dân, UBND huyện, thànhphố được tập trung thành một đầu mối Địa điểm tiếp dân đặt tại phòng tiếp dân huyện,thành phố

Tiếp dân các cơ quan cấp xã được tập trung thành một đầu mối Địa điểm tiếpdân đặt tại trụ sở UBND

Điều 5: Phân công cán bộ phụ trách tiếp dân:

Cấp huyện và tỉnh phân công 1 phó văn phòng UBND trực tiếp theo dõi côngtác tiếp dân, cấp xã cử một phó Chủ tịch trực tiếp theo dõi và trực tiếp chỉ đạo công táctiếp dân

Điều 6: Phân công trách nhiệm các cơ quan tiếp công dân và các cơ quan tham mưu

giúp UBND tỉnh giải quyết khiếu nại tranh chấp đất đai:

Đối với cơ quan tiếp dân có trách nhiệm hướng dẫn, giải thích, thụ lý đơn thưkhiếu nại khi có đủ căn cứ pháp luật và thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp mình thụ

lý (có phiếu nhận đơn, phiếu thụ lý vụ việc, giao cho công dân một bản và một bảnkèm hồ sơ chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết)

Trang 22

Sở xây dựng có nhiệm vụ: Tham mưu giúp UBND tỉnh giải quyết các vụ việctranh chấp về nhà ở, đất ở đô thị khi cấp huyện giải quyết nhưng còn khiếu nại.

Sở Tài nguyên và Môi trường có nhiệm vụ: Tham mưu trực tiếp giúp UBNDtỉnh giải quyết các vụ việc tranh chấp đất đai được UBND cấp huyện giải quyết nhưngcòn khiếu nại

Sở tài chính- vật giá chủ trì phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở xâydựng tham mưu giúp UBND tỉnh giải quyết các vụ việc khiếu nại về bồi thường giảiphóng mặt bằng để đầu tư các công trình khi UBND cấp huyện, Hội đồng bồi thườnggiải tỏa giải quyết nhưng còn khiếu nại

Thanh tra tỉnh có nhiệm vụ: Tham mưu UBND tỉnh xem xét quyết định củaUBND tỉnh giải quyết cuối cùng nhưng đương sự còn khiếu nại trước khi tiến hành ápdụng biện pháp cưỡng chế thi hành, thời gian thực hiện không quá 30 ngày

Điều 7: Trình tự thực hiện thủ tục hòa giải:

Bộ phận tiếp dân của cấp xã thụ lý đơn và tổ chức hòa giải trong thời hạn 10ngày, thủ tục hòa giải tại cấp xã là bắt buộc, nguyên tắc thực hiện phải đảm bảo theoquy định pháp lệnh hòa giải cơ sở và Nghị định 160/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày

18 tháng 10 năm 1999, cấp huyện, tỉnh cũng có thể áp dụng biện pháp hòa giải giúpcho đương sự tự thương lượng và quyết định

Kết quả hòa giải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp vàxác nhận của UBND cấp xã, nếu hòa giải không thành, Tổ hòa giải có trách nhiệmchuyển hồ sơ cho ban tiếp dân huyện thụ lý

Điều 8: Các bước nhận đơn và thụ lý vụ việc:

Khi nhận đơn khiếu nại của công dân gửi đến, cơ quan tiếp dân có trách nhiệmlập phiếu tiếp nhận đơn, gửi cho công dân một bản, lưu lại hồ sơ một bản

Trong thời hạn 5 ngày cơ quan tiếp dân nghiên cứu hồ sơ do công dân cung cấp.Trong trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính, cơ quantiếp dân lập phiếu thụ lý vụ việc làm 2 bản giao cho người khiếu nại và cơ quan cóthẩm quyền giải quyết, ngày nghi trong phiếu thụ lý được xác định thời hạn giải quyết

vụ việc

Trang 23

Trong trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết, trong thời hạn 5 ngày, cơquan tiếp dân có văn bản thông báo và hướng dẫn cho người khiếu nại thực hiện việckhiếu nại tiếp theo.

Điều 9: Trình tự thu thập, thẩm tra, xác minh, đánh giá chứng cứ:

Người khiếu nại, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân bị khiếu nại có trách nhiệmcung cấp đầy đủ các chứng cứ có liên quan có thẩm quyền xem xét và chịu tráchnhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp các thông tin tài liệu cóliên quan được quy định tại Điều 17 Luật khiếu nại, tố cáo

Cơ quan có thẩm quyền chỉ xem xét, đánh giá các chứng cứ do các bên cungcấp, nếu xét thấy các chứng cứ có nhiều nghi vấn phải tiến hành xác minh cụ thể cácchứng cứ đó hoặc thu thập thêm những thông tin cần thiết làm rõ những vấn đề có liênquan

Trên cơ sở các chứng cứ do đương sự cung cấp và những tài liệu thu thập, cơquan có thẩm quyền tiến hành tổng hợp các chứng cứ và đánh giá chứng cứ đó dựatrên 3 tiêu chí cơ bản là: Tính hợp pháp, tính liên quan, tính khách quan của các tàiliệu chứng cứ Tổ chức thẩm tra lấy lời khai của các đương sự và những người có liênquan làm căn cứ đánh giá vụ việc

Tổ chức đối chiếu các quy định của pháp luật tại thời điểm và quy định phápluật tại thời điểm giải quyết còn hiệu lực thi hành để quyết định đảm bảo đúng quyđịnh pháp luật

Điều 10: Cơ chế phối hợp để giải quyết:

Cấp xã trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý phải tổ chức hòa giải, trườnghợp hòa giải không thành, trong thời hạn 5 ngày UBND

cấp xã chuyển toàn bộ hồ sơ đến cơ quan tiếp dân của huyện để thụ lý tiếp theo

Trường hợp UBND cấp huyện giải quyết lần đầu đương sự có quyền khiếu nạivới quyết định giải quyết, UBND huyện phải có văn bản trả lời cho người khiếu nạitrong thời hạn 30 ngày Nếu đương sự tiếp tục khiếu nại lên cơ quan hành chính cấptrên (UBND tỉnh) cơ quan tiếp dân huyện tiếp nhận đơn khiếu nại và chuyển toàn bộ

hồ sơ có liên quan đến ban tiếp dân tỉnh trong thời hạn 5 ngày để được thụ lý và có vănbản thông báo cho đương sự biết

Trang 24

Điều 11: Tổ chức đối thoại trực tiếp với công dân:

Cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo chỉthực hiện việc đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người cóquyền lợi ích hợp pháp có liên quan, người đại diện hợp pháp của các bên đương sự(luật sư, luật gia, trung tâm trợ giúp pháp lý, trung tâm tư vấn pháp luật)

Những trường hợp bắt buộc phải đối thoại được quy định tại Điều 12 khoản 4Nghị định 62/2002/NĐ-CP Có thể mở rộng thêm các trường hợp đơn lẻ nếu có tínhchất phức tạp cần phải làm rõ thêm những căn cứ cần thiết đảm bảo tính chính xáctrước khi ban hành quyết định, người có thẩm quyền ban hành quyết định sẽ có quyềnlựa chọn áp dụng biện pháp đối thoại

Điều 12: Đảm bảo quyền khiếu nại về tranh chấp đất đai của công dân:

Người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền lợi hợp pháp liên quan cóquyền nhờ luật sư, luật gia, trung tâm trợ giúp pháp lý, trung tâm tư vấn pháp luật giúp

đỡ thực hiện việc khiếu nại của mình, người tham gia tư vấn có quyền nêu quan điểm

vụ việc gửi kèm hồ sơ, được phát biểu quan điểm tại các cuộc giải quyết, đối thoại trựctiếp với công dân khi được mời tham dự

Điều 13: Quy trình ban hành quyết định:

Căn cứ các chứng cứ thu thập có trong hồ sơ, kết quả thẩm tra và kiến nghị của

cơ quan được phân công, trong thời hạn 10 ngày cơ quan thẩm quyền phải ban hànhquyết định giải quyết Trong trường hợp cần làm rõ thêm những vấn đề có liên quanngười có thẩm quyền ban hành quyết định trao đổi các đơn vị có liên quan nhưng thờigian không quá 45 ngày

Điều 14: Quản lý hồ sơ vụ việc:

Hồ sơ vụ việc được đánh số thứ tự từ 1 đến số cuối cùng, cơ quan thụ lý hồ sơ

có trách nhiệm quản lý không để tình trạng hư hỏng, thất lạc hồ sơ, khi chuyển giaocho cơ quan khác thụ lý phải tiến hành lập biên bản bàn giao kèm theo danh mụcthống kê từng loại hồ sơ

Khi vụ việc kết thúc, cơ quan trực tiếp tham mưu trình UBND tỉnh để ban hànhquyết định cuối cùng có trách nhiệm lưu trữ toàn bộ hồ sơ và kèm theo quyết định giảiquyết

Trang 25

Điều 15: Quy trình triển khai thực hiện quyết định:

Đối với quyết định giải quyết lần đầu, trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày quyếtđịnh được ban hành thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ phải triển khai quyết địnhviệc triển khai phải lập biên bản

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày triển khai quyết định các bên đương sựkhông có khiếu nại tiếp theo, cơ quan chức năng không kháng nghị, quyết định đó cóhiệu lực thi hành tổ chức triển khai thực hiện quá thời hạn trên không được thụ lý (trừtrường hợp có phát sinh những tình tiết mới làm thay đổi nội dung quyết định)

Đối với quyết định cuối cùng trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày quyết định đượcban hành thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ phải triển khai quyết định việc triểnkhai phải lập biên bản Người bị thi hành phải có thời gian tự nguyện là 15 ngày kể từngày quyết định được triển khai, quá thời hạn trên mà không tự nguyện thi hành thì sẽ

bị áp dụng biện pháp cưỡng chế (Thời hạn trên có thể kéo dài hơn tùy theo tính chất

vụ việc nhưng không được quá 90 ngày)

Điều 16: Trách nhiệm của Thủ trưởng và cá nhân tham gia giải quyết tranh chấp:

Thủ trưởng các cơ quan được phân công trong việc thẩm tra, xác minh, đề xuấtphải chịu trách nhiệm cá nhân trước UBND về tính khách quan của vụ việc và ý kiến

đề xuất của cơ quan đơn vị mình

Phần III: Biện pháp tổ chức thi hành án

Điều 17: Trách nhiệm các sở, ban, ngành đoàn thể:

Các Sở, Ban, Ngành, đoàn thể các cấp chính quyền có nhiệm vụ tổ chức tuyêntruyền nội dung của qui chế này tại ngành, đơn vị mình và nhân dân biết để thực hiện

Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở xây dựng, Thanh tra tỉnh theo chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm bố trí cán bộ, xây dựng quy trình giảiquyết của cơ quan mình, tổ chức thực hiện các giai đoạn của quy trình có liên quanviệc giải quyết tranh chấp đất đai

Văn phòng UBND tỉnh chủ trì phối hợp cùng văn phòng tỉnh ủy, văn phòng Hộiđồng nhân dân tỉnh Ban tiếp dân tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện công tác tiếp dân,tiếp nhận đơn thư khiếu nại của công dân của tỉnh, cấp huyện và xã UBND huyện chỉđạo thực hiện Xây dựng chương trình phần mềm về quản lý đơn thư khiếu nại, tố cáo

Trang 26

của công dân và chuyển giao chương trình quản lý cho các đơn vị Nối mạng nội bộ cơquan tiếp dân tỉnh với văn phòng UBND tỉnh trong năm 2003 và cấp huyện, xã thựchiện theo đề án 112 Xây dựng hệ thống hóa văn bản có liên quan đến công tác quản lýNhà nước về đất đai phục vụ cho công tác tra cứu.

Sở Tài chính- Vật giá, Sở Tài nguyên- Môi trường, Sở xây dựng có kế hoạchphối hợp giải quyết các vụ việc khiếu nại về bồi thường giải phóng mặt bằng các côngtrình đầu tư và xây dựng

Điều 18: Trách nhiệm của UBND cấp xã và huyện:

Chủ tịch UBND cấp xã, huyện có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện đề ántại cấp mình Trang bị các dụng cụ phương tiện cần thiết để phục vụ cho công tác quản

lý nhằm đảm bảo việc thực hiện đề án có hiệu quả, theo dõi quá trình thực hiện của cácđơn vị thuộc mình phụ trách

Điều 19: Về kinh phí:

Kinh phí tổ chức triển khai, thực hiện qui chế được xuất từ nguồn ngân sáchNhà nước ở mỗi cấp

Điều 20: Thời gian tổ chức thực hiện:

Từ nay đến tháng 2 năm 2004 kiện toàn bộ máy cơ quan tiếp dân phải củng cốxong và đi vào hoạt động Các quy trình giải quyết khiếu nại được thực hiện vào quí 1năm 2001

Phần IV: Khen thưởng, kỷ luật

Điều 21: Khen thưởng:

Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong quá trình tổ chức thực hiện thìđược khen thưởng theo qui định chung của pháp luật

Điều 22: Xử lý vi phạm:

1 Đối với cán bộ: Xử lý nghiêm những hành vi trì hoãn, chậm trễ, làm sai lệch

hồ sơ, không được can thiệp trái pháp luật hoặc lẩn tránh trách nhiệm cá nhân đối vớicán bộ thuộc quyền vi phạm

2 Đối với những người tham gia tư vấn: Khi thực hiện tư vấn pháp luật khôngđược làm các việc sau đây:

Trang 27

+ Xúi giục đương sự khiếu nại, khiếu kiện, tố cáo không có căn cứ và trái vớichủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

+ Lợi dụng danh nghĩa tư vấn pháp luật, vì mục đích tư lợi hoặc để tiến hànhcác hoạt động trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

3 Cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định này tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị ápdụng hình thức xử lý tương ứng; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định củapháp luật

Trang 28

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN

I PHƯƠNG PHÁP:

1 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, chứng minh vàthực tế hóa các vấn đề cần nghiên cứu:

Các bước tiến hành:

+ Thu thập tài liệu- số liệu có liên quan

+ Nghiên cứu các quy định của Nhà nước thể hiện trong Luật Đất đai, Luậtkhiếu nại, tố cáo, pháp lệnh thanh tra, qui chế tổ chức và hoạt động thanh tra của thanhtra Sở Tài Nguyên và Môi trường Cà Mau, các nghị định, thông tư, quyết định, côngvăn cùng với các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tácthanh tra đất đai, các văn bản hướng dẫn thi hành luật Vấn đề chủ yếu là nghiên cứucác quyết định, công văn của tỉnh Cà Mau trong lĩnh vực thanh tra đất đai trên địa bàntỉnh Cà Mau từ năm 1998 đến năm 2004

+ Tham gia các hoạt động thực tế

+Tổng hợp tài liệu, số liệu và viết bài

+ Hoàn chỉnh luận văn

2 Nội dung nghiên cứu:

Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đaitrên địa bàn tỉnh Cà Mau

Tìm ra những thuận lợi khó khăn trong công tác thanh tra, những nguyên nhândẫn đến tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai

Những vướng mắc trong thanh tra khi áp dụng Luật Đất đai 1993, sửa đổi bổsung một số điều năm 2001, pháp lệnh thanh tra năm 1990, Luật khiếu nại và tố cáo

1998, qui chế tổ chức hoạt động thanh tra địa chính 1994 và những lợi thế khi LuậtĐất đai năm 2003 và Nghị định 181 được thực hiện

Trang 29

Từ đó đề xuất những biện pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác thanh trađất đai tại tỉnh sao cho phù hợp với tình hình với đặc thù kinh tế- văn hóa- chính trị- xãhội của tỉnh.

II PHƯƠNG TIỆN:

Địa điểm: phòng thanh tra Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Cà Mau

+ Luật khiếu nại, tố cáo 1998

+ Quyết định 76/2003/QĐ-UB của UBND tỉnh Cà Mau

Trang 30

CHƯƠNG III KẾT QUẢ THẢO LUẬN

I ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU:

1 Vị trí địa lý:

Tỉnh Cà Mau là mảnh đất cuối cùng nằm về phía cực Nam của lãnh thổ ViệtNam, trải rộng từ 80 33’ 02’’ đến 90 33’ 25’’ vĩ độ Bắc và từ 1040 42’ 44’’ đến 1050 25’ 26’’

kinh độ Đông

+ Phía Đông giáp tỉnh Bạc Liêu

+ Phía Tây giáp vịnh Thái Lan

+ Phía Nam giáp Biển Đông

+ Phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang

2.Các đơn vị hành chính:

Cà Mau là tỉnh được tái lập ngày 01/01/1997 tách từ tỉnh Minh Hải thành tỉnh

Cà Mau với diện tích 519.507,0 ha, gồm 08 huyện, 01 thành phố và 89 xã, phường, thịtrấn

Bảng 1: Diện tích tự nhiên phân theo đơn vị hành chính.

STT Đơn vị hành chính Diện tích (ha) Tỉ lệ (%)

Trang 31

II TÌNH HÌNH TRANH CHẤP VÀ CÁC DẠNG TRANH CHẤP:

1 Tình hình tranh chấp:

a Tình hình tranh chấp, khiếu nại- tố cáo:

Từ năm 1998 đến khi có chỉ thị 09-CT/TW, ngày 06/03/2002 và sau khi có chỉthị 09-CT/TW đến nay theo chiều hướng giảm so với giai đoạn năm 1991 đến năm

1999 Nguyên nhân giai đoạn này Nhà nước chủ trương đổi mới cơ chế quản lý xóabao cấp, mở rộng cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều chủtrương, chính sách, quan điểm chỉ đạo thông thoáng cởi mở hơn, trước ngày15/10/1993, nhân dân nhận thức Nhà nước sẽ trả lại toàn bộ đất đai đã điều chỉnh theochỉ thị 57 của Bộ Chính Trị, cũng vào thời điểm này các tập đoàn, hợp tác xã, làm ănkém hiệu quả tự động tan rã, chủ cũ ngang nhiên vào chiếm lại đất cũ, (đất đã đượcđiều chỉnh cho các hộ không đất và thiếu) Hộ được giao đất, do nhận thức không đầy

đủ, cộng với áp lực của chủ đất cũ nên họ đành để cho chiếm lại, có hộ cũng làm đơnthưa, nhưng chính quyền cơ sở một số nơi nhận thức mơ hồ nên không kiên quyết xử

lý Tuy vậy tranh chấp dạng này không nhiều, tranh chấp nhiều nhất ở Cà Mau hiệnnay là đất cầm cố, sang nhượng, cho mượn đều không giấy tờ cá biệt Có chủ đất cũ đã

bỏ đi mười năm, hai mươi năm nay đất có giá nên trở về đòi lại, thậm chí nhảy vàochiếm giữ tranh chấp rất quyết liệt, có số trường hợp đất hoang hóa sau giải phóngNhà nước ta xây dựng nông trường (gần 30 năm) nay chủ cũ ngang nhiên vào giànhlại Mặt khác do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Việc thu hồi lại một phần đất sảnxuất nông nghiệp của nhân dân để mở rộng đô thị, mở rộng khu công nghiệp, các côngtrình công cộng của Nhà nước việc thực hiện chính sách đền bù giải tỏa từng thời điểm

có khác nhau, trước Luật Đất đai năm 1993 ta thu hồi chỉ bồi hoàn hoa màu và các vậtkiến trúc có trên mặt đất, nay đất đó đã giao cấp lại cho cán bộ và nhân dân, và đất cógiá rất cao, người bị thu hồi đất có cảm giác họ như bị mất trắng còn số hộ nhận đượcđất, được hưởng lợi rất lớn

b Công tác giải quyết các tranh chấp, khiếu nại:

b.1 Tình hình: Do kinh tế phát triển, trình độ dân trí được nâng cao, việc đưa

chính sách pháp luật vào cuộc sống ngày càng rộng rãi nên người dân lỉnh hội đượcchính sách pháp luật tăng lên đáng kể, làm cho người dân xóa đi những tập tục, nhữngcái tôi của địa phương mình là những việc không rõ ràng cũng đi yêu cầu, khiếu nại

Trang 32

Kết quả đơn yêu cầu của người dân gửi đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét giảiquyết ngày càng giảm.

b.2 Kết quả: Tổng số đơn nhận được từ năm 1998 đến nay là 4555 đơn (từ

năm 1999-2001: 3115 đơn, từ năm 2002 đến nay: 1440 đơn) Đã xử lý 2650 đơn, còntồn động 1905 đơn

Số vụ thuộc thẩm quyền từ năm 1998 đến nay là 4555 đơn (năm 1999-2001:

3115 đơn, năm 2002 đến nay: 1440 đơn), số vụ việc được giải quyết là 2650 đơn

c Công tác giải quyết tố cáo, vi phạm pháp Luật đất đai:

c.1 Tình hình: Đơn tố cáo vi phạm pháp luật về đất đai thời gian qua tuy

không nhiều (từ năm 1998 đến nay có 07 đơn) nhưng nó cũng cho ta thấy được việcthụ lý, giải quyết đơn yêu cầu của cán bộ ta còn yếu kém Từ khi có chỉ thị 09/CT-TW,việc đơn tố cáo vi phạm pháp luật về đất đai theo chiều hướng giảm (trước khi có chỉthị 09/CT-TW là 04 đơn, sau khi có chỉ thị 09/CT-TW là 03 đơn)

Do sự chỉ đạo kịp thời và kiên quyết của trung ương Đảng, của chính phủ,đồng thời cấp ủy Đảng chính quyền ban ngành toàn thể các cấp đã quan tâm chỉ đạosâu sắc giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân, cơ sở pháp lý để giải quyết khiếu nại,

tố cáo đã tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh, nên đã phát huy tính tích cực và hiệu quảcủa công tác hòa giải ở cơ sở trong giải quyết khiếu nại tố cáo Cán bộ làm công tácgiải quyết khiếu nại, tố cáo nhiều người có trình độ, năng lực và kinh nghiệm, có bảnlĩnh vững vàng, có trách nhiệm Trong giải quyết biết lấy dân làm gốc, thực hiện tốtquy chế dân chủ ở cơ sở và tuân thủ nghiêm chính sách pháp luật của Đảng và Nhànước

c.2 Kết quả: Tổng số vụ tố cáo vi phạm về đất đai từ năm 1998 đến nay là 07

vụ (năm 1999 - 2001: 04 vụ, năm 2002 đến nay: 03 vụ), số lượng đã giải quyết: 07 vụ.

2 Các dạng tranh chấp:

Qua thực tiễn diễn biến tranh chấp đất đai xảy ra tại tỉnh Cà Mau từ năm 1998đến nay nhìn chung có nhiều loại hình tranh chấp khác nhau, mỗi dạng tranh chấp phátsinh tại một thời điểm nhất định do những nguyên nhân khác nhau Phân loại tranhchấp đất đai là việc làm cần thiết nhằm nghiên cứu tìm ra giải pháp thích hợp cho từngloại tranh chấp đất đai

Trang 33

Có hai kiểu phân loại tranh chấp đất đai, hoặc là phân theo mục đích sử dụng(tranh chấp về quyền sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn,đất đô thị, đất chưa sử dụng, đất chuyên dùng) hoặc là phân theo chủ thể tham giaquan hệ tranh chấp đất đai gồm: tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân; giữa cá nhân với

tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị (gọi chung là tổ chức); giữa tổ chức với tổ chức

Tại tỉnh Cà Mau đã nổi lên một số dạng tranh chấp và biện pháp giải quyết củacác cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong thời gian qua chỉ mang tính chất vận dụngchung Luật Đất đai năm 1993; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm

1998, năm 2001 và mới đây nhất là sự ra đời của Luật Đất đai năm 2003 và các vănbản để áp dụng vào thực tế của từng vụ tranh chấp Tỉnh Cà Mau chưa có văn bản nàoquy định biện pháp giải quyết cho từng dạng tranh chấp đất đai khác nhau Đây là mộtkhó khăn chính trong quá trình giải quyết tranh chấp nhưng nhìn chung có thể kháiquát một số dạng tranh chấp và biện pháp giải quyết trong thời gian qua như sau:

Khi giải quyết dạng tranh chấp trên nếu căn cứ theo điều 2 Luật Đất đai năm

1993 và Luật sửa đổ bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 thì không giảiquyết trả lại đất cho chủ cũ Nhưng trong giải quyết tranh chấp đất đai phải kết hợpLuật Đất đai với các chính sách xã hội khác và đảm bảo người làm nông nghiệp có đấtsản xuất Chính vì vậy có trường hợp giải quyết trả lại một phần, có trường hợp trả lạitiền công khai phá ban đầu

* Đòi lại đất thời kỳ 1980 - 1990 đưa vào hợp tác xã hay tập đoàn sản xuất:

Khi các hợp tác xã, tập đoàn bị giải thể thì phần lớn đất được trả về chủ cũnhưng có một số bộ phận nông dân không lấy được đất vì người đang sử dụng phầnđất đó ngoài ra không còn phần đất nào khác hoặc đã làm nhà ở vì không có chổ ở

Trang 34

Ở dạng tranh chấp này cũng tương tự như dạng trên cũng kết hợp Luật Đất đaivới các chính sách xã hội khác nhau và đảm bảo cho người làm nông nghiệp có đất sảnxuất Chẳng hạn nếu người chủ cũ đòi lại đất mà hiện tại người này có kinh tế ổn địnhhoặc đã có đất canh tác đảm bảo cuộc sống, còn người đang canh tác chỉ sống nhờ chủyếu vào phần đất đó thì giải quyết bằng cách người hiện đang canh tác phải trả tiềncông cải tạo, khai phá trước đây cho chủ cũ hay là chia đôi khi có trường hợp trả lạihoàn toàn phần đất đó.

Khi giải quyết dạng tranh chấp này gặp một số khó khăn như trường hợp chủ cũhiện nay gặp khó khăn không có đất sản xuất và người đang sử dụng đất thì đời sốngchủ yếu dựa vào phần đất nói trên Khi giải quyết trả lại một phần hay chia đôi thìngười đang sử dụng phần đất đó cho rằng họ sử dụng ổn định lâu dài và có đóng thuế

sử dụng đất về phía chủ cũ họ đưa ra chứng cứ chứng minh đất này là của họ nay giađình gặp khó khăn nên xin lại một phần Khi giải quyết dạng này chủ yếu là hòa giải

* Đòi lại đất hay đòi lại tiền hoa lợi khi thực hiện chính sách “trang trải” đất đai thời kỳ 1981 – 1983:

Khi thực hiện chủ trương này có Quyết định 13/HĐ-BT của Hội Đồng BộTrưởng là phải bồi thường hoa lợi trên phần đất đó (công cải tạo, cây trồng, hoa màutrên phần đất đó)

Riêng tỉnh Cà Mau có quyết định 152/QĐ-UB của UBND tỉnh Cà Mau quyđịnh nếu người được nhường đất phải trả tiền hoa lợi cho người nhường, giá trị bồihoàn được tính 50 -70%

Năng suất của năm gần nhất (hay tính theo hạng đất)

Trường hợp trong thời gian thực hiện chủ trương, người nhận đất không bồihoàn hoa lợi theo những quy định lúc bấy giờ đến những năm gần đây khi phát sinhtranh chấp thì người nhận đất phải thực hiện theo quyết định mới số 214/QĐ-UB củaUBND tỉnh ban hành năm 1994 là bồi hoàn 100% giá trị đất tính theo giá trị hiện tại.Khó khăn ở dạng này là tìm ra chứng cứ xác minh là đã trả hoa lợi hay chưa cho chủlúc bấy giờ

* Đòi lại đất của chủ cũ mà trước đây chủ cũ đã tự ý bỏ đất đi:

Khi mà giá trị đất ngày càng tăng cao thì vấn đề tranh chấp đòi lại đất diễn ra

Trang 35

cho người gần đó canh tác, hay tự ý bỏ đi một thời gian, chính quyền nơi đó đã giaocho một số hộ hiện thời không có đất để canh tác.

Giải quyết dạng tranh chấp này nếu thông qua kết quả xác minh mà chủ cũ tự ý

bỏ đất không canh tác mà được chính quyền giao cho người khác sử dụng ổn định lâudài từ trước đến nay thì không giải quyết trả lại (theo điều 2 Luật Đất đai năm 1993),

có trường hợp giải quyết bồi hoàn hay trả lại một phần đất

Khi giải quyết ở dạng tranh chấp này thường là vấn đề chứng cứ để xác nhậnphần đất này là của họ trước kia là tự ý bỏ đi hay vì một lý do khác nay gia đình gặpkhó khăn về xin lại một phần đất để sinh sống

Ví dụ: Báo cáo xác minh đơn yêu cầu của bà Phạm Thị Trọng, ngụ ấp 6, xã trí Phải, huyện Thời Bình, tỉnh Cà Mau.

* Nội dung đơn yêu cầu: Bà Phạm Thị Trọng yêu cầu UBND tỉnh Cà Mau

xem xét lại Quyết định số 914/QĐ-UB ngày 14 tháng 6 năm 2002 của UBND huyệnThời Bình là không trả lại phần đất đang tranh chấp 32.760 m2 cho bà Trọng

* Nguồn gốc đất: Do Ông Phạm Văn Huê chồng bà Trọng khai phá vào năm 1940.

* Hiện trạng: Phần đất đang tranh chấp là phần đất sản xuất nông nghiệp do

các ông Phát, Đạt, Giàu trực tiếp quản lý

* Diễn biến: Theo trình bày của bà Phạm Thị Trọng vào năm 1960 gia đình bà

có cho gia đình bà Hồ Thị Thời (mẹ ruột của ông Phát, Đạt, giàu) thuê để sản xuấtnông nghiệp với diện tích là 3 ha mỗi năm bà Thời đóng 30 dạ lúa, bà Thời đóng được

7 năm (năm 1960- 1967) Năm 1986 ông Huê mất, bà Thời có đưa 3 tấm dán để đónghòm, vì vậy được trừ vào 3 năm thuê đất Từ thời điểm này, ông Phát, Đạt, Giàu tiếptục canh tác trên phần đất tranh chấp, bà Trọng cho rằng vào năm 1970 cho đến cácnăm trở về sau năm nào bà cũng trở về yêu cầu các ông Phát, Đạt, Giàu trả lại đất Sựviệc được chuyển đến UBND xã Trí Phải hòa giải nhưng không thành, vụ việc đượcchuyển đến UBND huyện Thời Bình giải quyết Ngày 14/06/2002 chủ tịch UBNDhuyện Thời Bình ra Quyết định số 914/ QĐ-UB giữ nguyên hiện trạng phần đất đó chocác ông Phát, Đạt, Giàu tiếp tục quản lý sử dụng Bà Trọng yêu cầu đến UBND tỉnh

Trang 36

Sau khi xem xét hồ sơ và biên bản làm việc lúc 13 giờ ngày 11/09/2002 bàPhạm Thị Trọng cũng thừa nhận phần đất nói trên do các ông Phát, Đạt, Giàu quản lý

sử dụng ổn định đến nay, gia đình bà Trọng không canh tác trên phần đất này

Báo cáo số 49/BC-ĐC báo cáo về việc xác minh đơn yêu cầu của bà Trọngngày 04/11/2002 và thanh tra Sở Địa chính có kiến nghị như sau (nay là Sở Tàinguyên & Môi trường)

+ Kiến nghị với UBND tỉnh Cà Mau ra quyết định chuẩn y Quyết định số 914/QĐ-UB ngày 14/02/2002 của UBND huyện Thời Bình

+ Bác đơn yêu cầu của bà Phạm Thị Trọng

Qua vụ việc ta thấy giải quyết không trả lại đất cho bà Trọng là hợp lý căn cứvào điều 2 tiết 2 của Luật Đất đai năm 1993 thì việc khiếu nại yêu cầu của bà Trọng làkhông có căn cứ Vì đất bà Trọng bỏ đi và các ông Phát, Đạt, Giàu sử dụng ổn định

b Đất sang bán trái phép không có giấy tờ hợp lệ:

Trường hợp này thường là đất mượn của người khác canh tác rồi sang bánkhông có giấy tờ, chỉ làm giấy chuyển nhượng bằng tay không có xác nhận của chínhquyền địa phương… giải quyết dạng này thu hồi đất trả về chủ cũ

Ví dụ: Báo cáo kết quả xác minh đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Khoen ngụ ấp 6 xã An Xuyên, TP Cà Mau.

* Nội dung yêu cầu: của bà Khoen khiếu nại quyết định số 418/ QĐ của

UBND Thành phố Cà Mau buộc hộ bà Khoen giao trả phần đất có diện tích 3240 m2

cho hộ bà Trần Kim Nhỏ quản lý sử dụng

* Nguồn gốc đất: Đất của bà Trần Kim Nhỏ sang lại cho ông Từ Văn Minh

năm 1994

* Diễn biến: Theo trình bày của bà Khoen: Đất này là đất của bà Trần Kim

Nhỏ đã sang lại cho ông Từ Văn Minh diện tích 3.240 m2, bà Nhỏ canh tác sản xuấtđến năm 1996 thì bà nhượng lại cho ông Trần Việt Hòa (tên thường gọi là ông Mót)ông Hòa sản xuất đến năm 1998 thì sang lại cho bà Nguyễn Thị Khoen, đến vụ mùanăm 1999 thì xảy ra tranh chấp

Vụ việc được ấp hòa giải nhưng không thành, hồ sơ chuyển đến UBND thànhphố Cà Mau giải quyết Ngày 19/04/2002 UBND thành phố Cà Mau ra quyết định số

Trang 37

418/QĐ-UB buộc bà Khoen trả lại phần đất cho bà Trần Kim Nhỏ và buộc ông Hòa trảlại cho bà Khoen 17 chỉ vàng 24k nhưng phía bà Khoen cho rằng nếu lấy lại vàng hiệngiờ không mua được 3.240 m2 đất nên bà tiếp tục khiếu nại lên cấp tỉnh giải quyết.

Phía bà Trần Kim Nhỏ trình bày: Đất này bà cho em ruột là ông Trần Việt Hòasản xuất đến năm 1996 ông Hòa sản xuất đến năm 1998 thì sang lại cho bà Khoen và

bà Trần Kim Nhỏ cho là không hay, Vì ở với mẹ tại phường 6 TP Cà Mau, khi bà hayđược vào vụ mùa năm 1999 đến động viên bà khoen xin chuộc lại đất, bà khoen khôngđồng ý từ đó xảy ra tranh chấp

24 k (có giấy tay bàn cận ký, nhưng không có chính quyền địa phương xác nhận) ôngHòa nhận được của bà Khoen 17 chỉ vàng 24 k (ngoài đất đang tranh chấp bà Khoencòn có 5.100 m2 đất vườn + ruộng)

Từ những cơ sở xác minh trên, căn cứ vào điều 1 khoản 2 và Điều 85 của LuậtĐất đai năm 1993 đồng thời căn cứ vào Điều 697 của bộ Luật dân sự nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Đủ chứng cứ giải quyết đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Khoen

* Kiến nghị:

Hủy bỏ tờ hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Trần Việt Hòa và bà NguyễnThị Khoen giao trả lại 3.240 m2 đất trồng lúa cho bà Trần Kim Nhỏ, ông Hòa có tráchnhiệm trả lại 17 chỉ vàng cho bà khoen

Kiến nghị với UBND tỉnh Cà Mau ra quyết định chuẩn y quyết định số 418/QĐ-UB của UBND TP Cà Mau ngày 19/04/2002

Bác đơn yêu cầu của bà Khoen đồng thời có biện pháp xử lý đối với ông Hòa,nếu ông Hòa không nhận thấy sai trái và trách nhiệm khắc phục sai trái

Trang 38

Qua ví dụ trên ta thấy tranh chấp đất đai là vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi phảitìm chứng cứ thật đầy đủ và chính xác Vụ việc trên Sở Địa chính kiến nghị bác đơnyêu cầu của bà Khoen, hủy bỏ tờ nhượng đất giữa bà Nguyễn Thị Khoen và ông TrầnViệt Hòa, trả lại đất cho bà Trần Kim Nhỏ là phù hợp Theo điều 6 của Luật sửa đổi bổsung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, năm 2001 “nghiêm cấm việc chuyểnquyền sử dụng đất trái phép” và tại Điều 31 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LuậtĐất đai năm 1998- 2001 “thủ tục chuyển quyền sử dụng đất ở nông thôn làm tạiUBND xã nơi có đất”.

c Tranh chấp đất nội tộc, hương hỏa:

Dạng tranh chấp diễn ra với số lượng khá phổ biến và phức tạp, như đất của ông

bà cha mẹ cho con cháu nay đòi lại Khi xác minh vụ việc người cho đất nói trước đây

là cho mượn khi kinh tế gia đình khá hơn thì lấy lại, còn người nhận đất thì cho rằng làcho luôn Thật sự dạng tranh chấp này gặp khó khăn cho công tác giải quyết

Đất hương quả là phần đất mà người nào chịu trách nhiệm thờ cúng ông bà, cha

mẹ thì được hưởng quyền lợi trên phần đất đó như là được trực tiếp sản xuất trên phầnđất đó Nhưng khi trong cuộc sống gia đình đang thờ cúng gặp khó khăn nên anh emxin được thờ cúng cha mẹ, ông bà… Có trường hợp người anh, em đi chiến tranh nayhòa bình trở về xin được thờ cúng, nuôi dưỡng ông bà, cha mẹ và một thời gian sauông bà, cha mẹ đã chết nay người đó xin được thờ cúng và quản lý phần đất đó

Giải quyết dạng tranh chấp này gặp khó khăn ở chỗ lấy ý kiến của thân tộc, nếumọi người trong thân tộc công minh, vô tư nhìn nhận sự việc một cách thẳng thắnkhách quan thì không có gì phức tạp Nhưng trong thân tộc có một số người cho rằngngười này đúng và một số người khác lại cho là người kia đúng thì công tác giải quyết,kết luận gặp khó khăn

Ví dụ: Báo cáo kết quả xác minh đơn yêu cầu của bà Quách Thị Thâu, ngụ

ấp 3 xã Nguyễn Phích huyện U Minh tỉnh Cà Mau.

* Nguồn gốc đất: Đất của ông Lý Văn Hậu (cha của ông Trợ và ông Kiệt), đến

đây khai phá khoảng năm 1940, đất trồng lúa diện tích 130 công tầm 3m

* Diễn biến: Lúc vợ chồng ông Hậu còn sống phần đất này đã phân chia cụ thể.

Cho vợ chồng ông Lý Tương Trợ 30 công tầm 3m năm 1962, phần đất này hiện

Ngày đăng: 21/03/2013, 08:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Diện tích tự nhiên phân theo đơn vị hành chính. - Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Bảng 1 Diện tích tự nhiên phân theo đơn vị hành chính (Trang 30)
Hình 1:  Sơ đồ quy trình giải quyết tranh chấp đất đai tại tỉnh Cà Mau. - Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Hình 1 Sơ đồ quy trình giải quyết tranh chấp đất đai tại tỉnh Cà Mau (Trang 52)
Hình 3: Biểu đồ lượng đơn yêu cầu GQTCĐĐ thuộc thẩm quyền của cấp tỉnh các  năm 1998 - 2004. - Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Hình 3 Biểu đồ lượng đơn yêu cầu GQTCĐĐ thuộc thẩm quyền của cấp tỉnh các năm 1998 - 2004 (Trang 55)
Hình 4: Biểu đồ lượng đơn yêu cầu GQTCĐĐ của toàn tỉnh  năm 1998 - 2004. - Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Hình 4 Biểu đồ lượng đơn yêu cầu GQTCĐĐ của toàn tỉnh năm 1998 - 2004 (Trang 56)
Bảng 3: Lượng đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp, khiếu nại - tố cáo và kết  quả giải quyết từ năm 1998 – 2004. - Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Bảng 3 Lượng đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp, khiếu nại - tố cáo và kết quả giải quyết từ năm 1998 – 2004 (Trang 57)
Hình 5: Biểu đồ lượng đơn đã giải quyết trên địa bàn tỉnh Cà Mau từ năm 1998-  2004. - Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Hình 5 Biểu đồ lượng đơn đã giải quyết trên địa bàn tỉnh Cà Mau từ năm 1998- 2004 (Trang 58)
Bảng 4: Lượng đơn yêu cầu khiếu nại thuộc thẩm quyền cấp tỉnh giai đoạn  1998- 2004. - Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Bảng 4 Lượng đơn yêu cầu khiếu nại thuộc thẩm quyền cấp tỉnh giai đoạn 1998- 2004 (Trang 59)
Hình 7:  Biểu đồ tỷ lệ đã giải quyết qua các năm (1998- 2004) của tỉnh Cà Mau. - Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Hình 7 Biểu đồ tỷ lệ đã giải quyết qua các năm (1998- 2004) của tỉnh Cà Mau (Trang 60)
Hình 8: Sơ đồ trình tự giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của  UBND - Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Hình 8 Sơ đồ trình tự giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của UBND (Trang 64)
Hình 9: Sơ đồ trình tự giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của tòa án - Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Hình 9 Sơ đồ trình tự giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của tòa án (Trang 65)
Hình 10: Sơ đồ trình tự giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai năm  2003. - Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Hình 10 Sơ đồ trình tự giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai năm 2003 (Trang 66)
Hình 11: Sơ đồ giải quyết khiếu nại đất đai theo Luật Đất đai năm 2003. - Khảo sát tình hình thanh tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại- tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Hình 11 Sơ đồ giải quyết khiếu nại đất đai theo Luật Đất đai năm 2003 (Trang 68)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w