1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh

72 976 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra Hiện Trạng Kỹ Thuật Và Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế - Xã Hội Của Nghề Nuôi Lồng Bè Một Số Loài Cá Biển Có Giá Trị Kinh Tế Tại Thành Phố Hạ Long - Tỉnh Quảng Ninh
Tác giả Vũ Trọng Hội
Người hướng dẫn TS Phạm Xuân Thủy
Trường học Trường Đại học Nha Trang
Chuyên ngành Nghiên cứu thủy sản
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 3,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Trên thế giới, nghề nuôi cá lồng bè trên biển đã và đang được quan tâm phát triển trong nhiều năm qua và trở thành một nghề sản xuất kinh doanh quan trọng, có ý nghĩa chiến lược c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn ký tên

VŨ TRỌNG HỘI

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang và Ban lãnh đạo dự án SUDA, cán bộ Phòng đào tạo Đại học - Sau Đại học trường Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện cho em được học tập và nghiên cứu, tại trường Đại học Nha Trang, em đã có được một môi trường thuận lợi để học tập và nghiên cứu chuyên môn

Em xin cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo trong và ngoài trường Đại học Nha Trang đã tận tình truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em trong thời gian qua Kiến thức và kinh nghiệm của các thầy, cô thực sự bổ ích trong quá trình làm việc và nghiên cứu sau này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Phạm Xuân Thủy đã tận tình hướng dẫn và định hướng cho em trong suốt quá trình làm luận văn Kiến thức và phương pháp làm việc của thầy sẽ là hành trang cho em làm việc sau này

Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình, vô tư của các cán bộ phòng Kinh tế - Ủy ban Nhân dân Thành phố Hạ Long, cán bộ Chi cục NTTS, cán bộ Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban nhân dân phường Hùng Thắng – thành phố Hạ Long, Ban quản lý vịnh Hạ Long cùng sự hợp tác quý báu của

bà con nhân dân làng chài Cửa Vạn, Vông Viêng và Hoa Cương

Tôi xin cám ơn tới các anh, chị học viên lớp cao học SUDA 2009 đã giúp đỡ và động viên tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Hy vọng sẽ còn nhận được sự giúp đỡ, động viên của các anh, chị trong thời gian tới

Cuối cùng tôi xin cám ơn tới gia đình và bạn bè, đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi để tôi tập trung hoàn thành khóa học này

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC……… iii

DANH MỤC CÁC BẢNG……….vi

DANH SÁCH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 TÌNH HÌNH NUÔI CÁ BIỂN TRÊN THẾ GIỚI 3

1.2 HIỆN TRẠNG NUÔI CÁ BIỂN TẠI VIỆT NAM 8

1.3 TÌNH HÌNH NUÔI CÁ LỒNG BÈ TRÊN BIỂN TẠI QUẢNG NINH 9

1.3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VHL 9

1.3.1.1 Vị trí địa lý 9

1.3.1.2 Đặc điểm địa hình 10

1.3.1.3 Khí hậu 10

1.3.1.4 Thủy văn 11

1.3.2 MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG 11

1.3.2.1 Thủy triều 11

1.3.2.2 Sóng 12

1.3.2.3 Dòng chảy 12

1.3.2.4 Độ mặn 12

1.3.2.5 Độ pH 12

1.3.2.6 Nhiệt độ nước biển 13

1.3.2.7 Muối dinh dưỡng 13

1.3.2.8 Oxy hòa tan (DO) 13

1.3.2.9 Các nguồn gây ô nhiễm nước biển VHL 14

1.3.2.10 Hiện trạng môi trường VHL 16

1.3.3 Tình hình nuôi cá lồng bè 19

1.3.4 Các chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản 20

Trang 6

1.4 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HẠ LONG 20

1.4.1 Số lượng lồng bè và mật độ dân số sống trên lồng bè trên VHL 20

1.4.2 Tình hình phát triển nhà bè 22

1.4.3 Tổ chức chính quyền, đoàn thể nhà bè 22

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 24

2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 24

2.3 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 24

2.4 THU THẬP Số LIỆU 24

2.4.1 Số liệu đã được công bố 24

2.4.2 Phương pháp đánh giá nông thôn 25

2.4.3 Số liệu điều tra 25

2.4.4 Xử lý số liệu 26

2.4.5 Các chỉ tiêu xác định kết quả sản xuất 26

2.4.6 Các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế 27

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 HIỆN TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA CÁC HỘ NUÔI CÁ BIỂN 31

3.1.1 Những thông tin về chủ hộ nuôi 31

3.1.1.1 Tuổi của chủ hộ 31

3.1.1.2 Giới tính của chủ hộ nuôi 31

3.1.1.3 Trình độ học vấn của chủ hộ nuôi 32

3.1.1.4 Kinh nghiệm của chủ hộ nuôi 32

3.1.2 Những thông tin về hộ nuôi cá biển lồng bè 33

3.1.2.1 Số nhân khẩu và lao động của hộ nuôi cá biển lồng bè 33

3.1.2.2 Số lồng bè của hộ nuôi 34

3.2 HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT NUÔI CÁ BIỂN LỒNG BÈ TRÊN VHL 34

3.2.1 Hình thức nuôi và kích cỡ lồng 34

3.2.1.1 Hình thức nuôi 34

3.2.1.2 Kích cỡ lồng 34

Trang 7

3.2.2 Đối tượng và mùa vụ nuôi 34

3.2.2.1 Đối tượng nuôi 34

3.2.2.2 Mùa vụ nuôi 35

3.2.3 Nguồn giống và kích cỡ giống 36

3.2.3.1 Nguồn giống 36

3.2.3.2 Kích cỡ giống 36

3.2.4 Chăm sóc và quản lý 36

3.2.4.1 Thức ăn 36

3.2.4.2 Theo dõi chất lượng nước 37

3.2.4.3 Xác định trọng lượng, kích thước và phân kích cỡ 38

3.2.4.4 Vệ sinh, bảo dưỡng định kỳ lồng nuôi 38

3.2.4.5 Các bệnh thường gặp 39

3.3 KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI 40

3.3.1 Kết quả và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá lồng bè 41

3.3.2 Phân tích đánh giá các chỉ tiêu kết quả sản xuất 43

3.3.3 Phân tích đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của 1 m3 lồng 44

3.3.4 Hiệu quả về mặt xã hội 45

3.4 NHỮNG KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP 46

3.5 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT 49

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 50

1.KẾT LUẬN 50

1.1 Hiện trạng kỹ thuật của nghề nuôi cá biển lồng bè trên VHL 50

1.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi cá biển lồng bè trên VHL 50

1.2.1 Mức độ đầu tư cho 1 lồng nuôi cá biển lồng bè trên VHL 50

1.2.2 Kết quả và hiệu quả kinh tế của 1m 3 lồng nuôi cá biển lồng bè 50

1.2.3 Hiệu quả về xã hội của nuôi cá biển lồng bè trên vịnh Hạ Long 51

2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 8

DANH MỤC BẢNG Bảng 1 1: Sản lượng nuôi cá biển ở một số nước trên thế giới……….….5 Bảng 1 2: Sản lượng và số lượng lồng nuôi cá biển tại Việt Nam, năm 2001 – 2005 9 Bảng 1.3: Nhiệt độ, lượng mưa, số giờ nắng, độ ẩm trung bình năm 2006…… ……11 Bảng 1 4: Một số loài cá biển đang được nuôi phổ biến tại Quảng Ninh………… 19 Bảng 1 5: Tình hình nuôi cá lồng bè trên biển tại Quảng Ninh năm 2007 – 2009… 20 Bảng 1 6: Kết quả khảo sát số lượng và số nhân khẩu sống trên lồng bè tại VHL 21 Bảng 2 1: Chọn vùng nghiên cứu và số mẫu điều tra……… 26 Hình 2.1: Sơ đồ hiện trạng và quy hoạch nuôi lồng bè trên VHL……….30 Bảng 3 1: Phân bố tuổi của chủ hộ nuôi cá biển lồng bè trên VHL………… …… 31 Bảng 3 2: Trình độ học vấn của chủ hộ nuôi cá biển lồng bè tại VHL………32 Bảng 3 3: Số năm kinh nghiệm chủ hộ nuôi cá biển lồng bè trên VHL………….… 33 Bảng 3 4: Phân bố lao động trong gia đình hộ nuôi cá biển lồng bè trên VHL…… 33 Bảng 3 5: Số lượng ô lồng của các hộ nuôi cá biển trên VHL………….……… …34 Bảng 3 6: Các đối tượng cá biển chủ yếu nuôi trong lồng bè tại VHL………35 Bảng 3 7: Kích cỡ giống thả nuôi và mật độ thả tại VHL, năm 2008 – 2009… … 37 Bảng 3 8: Thời gian thay lưới lồng nuôi cá lồng bè trên VHL……… …39 Bảng 3 9: Mức độ đầu tư, kết quả thu được của ngư dân trên VHL… ………… 41 Bảng 3.10: Một số chỉ tiêu kinh tế của 1 lồng nuôi cá biển tại VHL …… ….…… 42 Bảng 3 11: Chi phí và cơ cấu chi phí sản xuất của 1 lồng nuôi cá lồng bè 43 Bảng 3 12: Chi phí và kết quả sản xuất của 1 m3 lồng nuôi cá biển tại VHL… … 44

Bảng 3.13: Hiệu quả kinh tế của 1 m3 lồng nuôi cá biển tại VHL……… 44

Bảng 3 15: Những khó khăn gặp phải của ngư dân nuôi cá biển trên VHL………….47 Bảng 3 16: Hướng phát triển của các ngư dân nuôi cá lồng bè trên VHL …………48 Bảng 3.17: Những kiến nghị của các ngư dân trên VHL………… ………… …….48

Trang 9

DANH SÁCH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BOD : Nhu cầu ô xy sinh hóa

COD : Nhu cầu ô xy hóa học

Trang 10

MỞ ĐẦU

Trên thế giới, nghề nuôi cá lồng bè trên biển đã và đang được quan tâm phát triển trong nhiều năm qua và trở thành một nghề sản xuất kinh doanh quan trọng, có ý nghĩa chiến lược của nhiều quốc gia có biển Nghề nuôi cá lồng bè trên biển tạo ra một lượng sản phẩm lớn trên một đơn vị diện tích nhỏ Do vậy nghề nuôi cá biển không chỉ góp phần đem lại kim ngạch xuất khẩu, góp phần cải thiện và đảm bảo chất lượng thực phẩm của con người mà còn góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ và môi trường thủy sinh

Việt Nam là quốc gia biển với hơn 3.260 km chiều dài bờ biển trải dài từ Bắc vào Nam, trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ cùng nhiều diện tích mặt nước eo vịnh, đầm, phá nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi cá lồng, bè trên biển và hải đảo Chỉ tính riêng các khu vực có diện tích nuôi tập trung như Quảng Ninh (Hạ Long), Hải Phòng (Cát Bà), Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Vũng Tàu, Côn Đảo, Phú Quốc đã có hàng ngàn ha diện tích mặt nước có thể nuôi lồng, bè trên biển Năm

2009 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đã đạt 4,21 tỷ USD, trong đó xuất khẩu chủ yếu là tôm nuôi, tuy nhiên trong những năm tới xuất khẩu tôm sẽ khó khăn hơn nhiều thậm chí có thể giảm

Trong giai đoạn 2010 - 2020, xuất khẩu thuỷ sản sẽ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của Việt Nam, ngành Thủy sản sẽ đóng góp khoảng 3% tổng sản phẩm xã hội (GDP), giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 4,5 - 5 tỷ USD Do vậy, chỉ có thể tăng mức xuất khẩu cá biển, nhuyễn thể và các hải đặc sản cùng với tăng sản lượng các sản phẩm thuỷ sản có giá trị gia tăng cao thì mới có thể đạt chỉ tiêu 4,5 - 5 tỷ USD/năm

Hiện nay kỹ thuật nuôi cá lồng bè của ngư dân ở nước ta chủ yếu là theo phương pháp nuôi truyền thống, cộng với sự phát triển của nghề nuôi cá lồng bè ngày càng tăng và thiếu quy hoạch đã làm cho môi trường tại các khu vực nuôi ngày càng ô nhiễm và dịch bệnh xảy ra ngày càng nhiều Đây là một trong những nguyên nhân làm cho nghề nuôi cá lồng bè phát triển kém bền vững

Trang 11

Đứng trước thực trạng trên, để góp phần vào nghiên cứu đánh giá và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá lồng bè trên biển giúp nghề nuôi cá lồng bè phát triển bền vững Được sự đồng ý của Khoa Nuôi trồng

Thủy sản Trường Đại học Nha Trang, tôi thực hiện đề tài “Điều tra hiện trạng kỹ

thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại Thành phố Hạ Long – Tỉnh Quảng Ninh”

* Đề tài gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến nghề nuôi cá biển lồng bè tại VHL – tỉnh Quảng Ninh

- Điều tra hiện trạng kỹ thuật nuôi lồng bè một số loài cá biển tại VHL – tỉnh Quảng Ninh

- Điều tra kết quả sản xuất của nghề nuôi cá biển bằng lồng bè trên VHL – tỉnh Quảng Ninh

* Đề tài được thực hiện với các mục tiêu chính:

- Đánh giá thực trạng kỹ thuật nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh

tế trên VHL – tỉnh Quảng Ninh

- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi cá biển lồng bè trên VHL – tỉnh Quảng Ninh

- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật phù hợp để nâng cao năng suất các đối tượng nuôi

* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm căn cứ cho các nhà khoa học và các nhà quản lý quy hoạch, cải tiến kỹ thuật nuôi phù hợp đối với nghề nuôi cá biển lồng bè trên VHL

- Ý nghĩa thực tiễn: kết quả của đề tài giúp cho cán bộ kỹ thuật và ngư dân trên VHL thấy rõ được hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế - xã hội mà nghề nuôi cá lồng bè mang lại Từ đó có những giải pháp cụ thể giúp cho nghề nuôi cá biển lồng bè trên VHL phát triển bền vững

Trang 12

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 TÌNH HÌNH NUÔI CÁ BIỂN TRÊN THẾ GIỚI

Nuôi cá biển có từ lâu đời song nuôi cá biển phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu mới phát triển vào những năm 1980 của thế kỷ XX Trong những năm qua nghề nuôi cá biển thực sự trở thành hướng đi rất quan trọng để phát triển kinh tế của nhiều quốc gia Những thành tựu khoa học công nghệ nuôi mới như sản xuất giống nhân tạo, sản xuất thức ăn công nghiệp và các trang thiết bị phục vụ cho nuôi cá biển được áp dụng nhanh chóng giúp cho ngành công nghiệp nuôi cá biển phát triển rất nhanh và nó đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho hầu hết các quốc gia có biển

Theo thống kê của FAO, sản lượng cá biển nuôi năm 2002 của khu vực Thái Bình Dương đạt khoảng 1 triệu tấn, giá trị 3,2 tỷ USD, tăng 240% so với năm 1990 và chiếm 95% sản lượng nuôi cá biển của thế giới [24] Cá biển luôn là nguồn thực phẩm

có giá trị cao, hầu hết các nước có biển đều mong muốn tăng nhanh sản lượng nuôi để

bù đắp sản lượng cá biển khai thác tự nhiên đang có xu hướng giảm sút Theo các báo cáo được công bố, nuôi cá biển sẽ phát triển nhanh và đạt sản lượng từ 3,5 – 4 triệu tấn vào năm 2010 [13] Các đối tượng nuôi quan trọng là: cá hồi sẽ đạt khoảng 2 triệu tấn vào năm 2010, trong đó riêng Nauy sẽ đạt 1 triệu tấn, Chile khoảng 0,5 triệu tấn; các loài cá quý hiếm như cá song, cá tráp, cá hồng, cá cam… sẽ được chú trọng phát triển nuôi ở khu vực Đông Á, Đông Nam Á và Địa Trung Hải Sản lượng của nhóm cá này ước tính sẽ đạt 0,5 – 0,6 triệu tấn vào năm 2010 [24]

Trung Quốc có lịch sử nuôi cá biển khá lâu, nhưng nuôi cá biển ở Trung Quốc mới phát triển mạnh vào những năm đầu thế kỷ và hiện nay đang đứng đầu thế giới về sản lượng cá biển nuôi Năm 1979 thì chỉ có 1 vài lồng được nuôi ở Quảng Đông lưu giữ các loài cá song để xuất khẩu tới Hồng Kông và Ma Cao Sau đó nuôi cá biển tăng lên khoảng 960.000 lồng phân bố chủ yếu ở Sơn Đông và Triết Giang…[33] Sản lượng cá biển của Trung Quốc tăng lên nhanh chóng: năm 1990 sản lượng nuôi là 101.000 tấn, năm 1995 là 503.000 tấn chiếm khoảng 58% sản lượng nuôi của Châu Á, năm 2004 là 526.000 tấn, năm 2005 là 660.000 tấn [41] Sau 10 năm sản lượng nuôi cá

Trang 13

biển tăng gấp 5 lần nhưng giá trị nuôi cá biển của Trung Quốc lại không cao, tổng giá trị nuôi năm 1999 chỉ đạt 962 triệu USD, giá trị trung bình của sản phẩm cá biển nuôi thương phẩm chỉ đạt 1,91 USD/kg Với sản lượng chiếm 20,5% tổng sản lượng cá biển nuôi trên thế giới nhưng giá trị chỉ chiếm 11% Trung Quốc là thị trường tiêu thụ cá biển lớn nhất thế giới và mục tiêu của họ chủ yếu là tiêu thụ nội địa Trung Quốc sử dụng lồng thông dụng (98%) là lồng gỗ nổi lên mặt nước có kích thước 3 x 3 x 3 m Sau đó khoảng 6 năm gần đây có các loại lồng bằng phao kích thước 6 x 6 x 6m và kiểu lồng hình trụ có chu vi 60 – 100 m, sâu 8 – 12 m Tuy nhiên, do còn hạn chế về mặt kỹ thuật và chi phí cao, loại lồng cỡ lớn chưa được áp dụng phổ biến [40]

Nauy là cường quốc về nuôi cá biển trong 2 thập kỷ qua, là nước xuất khẩu cá biển nuôi số 1 thế giới Từ đầu những năm 1960 tại Nauy lồng bè đã được sử dụng để

nuôi cá hồi đại dương (Salmo salar) [14] Đến thập kỷ 80, Nauy đã xác định nuôi cá

biển là mũi nhọn để phát triển kinh tế của đất nước, trong đó cá hồi là đối tượng chủ đạo Sau 20 năm liên tục nghiên cứu và phát triển, Nauy đã đạt tới đỉnh cao về nuôi cá biển, sản lượng và giá trị liên tục tăng Năm 1985 sản lượng nuôi đạt 40.000 tấn với giá trị 53 triệu USD, năm 1990 đạt 146.000 tấn giá trị 776 triệu USD, năm 1995 đạt 250.000 tấn giá trị 1,018 tỷ USD, đến năm 2000 sản lượng nuôi đạt 420.000 tấn giá trị 1,35 tỷ USD Sản phẩm cá hồi của Nauy rất đa dạng với 7 chủng loại từ 1kg/con đến trên 7kg/con [41], chu kỳ nuôi rất khác nhau từ 2 – 6 năm Cá hồi được nuôi trong lồng đơn hình tròn là chủ yếu, ngoài ra còn nuôi trong các lồng hình chữ nhật xếp thành từng khối hay nuôi trong các bể bê tông xây sát bờ biển Điều đáng chú ý là mặc dù nuôi cá ở quy mô công nghiệp tập trung mật độ cao nhưng về cơ bản vẫn giữ được độ trong sạch cho môi trường nước biển và thành công của công nghệ vacxin nên 20 năm nuôi liên tục cá hồi Nauy vẫn chưa bị dịch bệnh gây tổn hại lớn Thị trường tiêu thụ cá hồi của Nauy rất rộng lớn: EU, Nhật Bản, Mỹ, Đông Âu, Trung Quốc, Đài Loan và một số nước Đông Nam Á Theo kế hoạch phát triển, dự kiến đến năm 2010 sản lượng

cá hồi của Nauy sẽ đạt 1 triệu tấn, cá tuyết đạt 0,5 triệu tấn [33]

Sau thành công của Nauy, nuôi cá lồng biển ở khu vực Bắc Âu phát triển rất mạnh mẽ, các loài nuôi chính vẫn là cá hồi Đại Tây Dương và cá hồi vân Phần lớn sản

Trang 14

lượng 2 đối tượng trên là ở Nauy, Scốtlen, Aixơlen, và đảo Faeroe, tuy nhiên một số nước như Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Điển đang tiếp cận công nghệ nuôi này Sản lượng khu vực Bắc Âu năm 2004 đạt 800.000 tấn cá hồi Đại Tây Dương và 80.000 tấn

cá hồi vân [42]

Bảng 1.1: Sản lượng nuôi cá biển ở một số nước trên thế giới [35], [39], [41]

cá biển nuôi ở dạng sống (chủ yếu là cá chình từ Trung Quốc, cá song từ Đài Loan),

710 triệu USD cá hồi nuôi từ Nauy, Canada, Chile [33]

Chile là nước trước đây nghề cá khá đơn điệu chỉ tập trung vào khai thác cá nổi

có giá trị thấp Do có bờ biển khúc khuỷu, nhiều eo ngách, vịnh, khí hậu ôn hòa, nước biển trong sạch rất thích hợp trong việc phát triển các loài cá ôn đới Chính vì vậy

Trang 15

Chile đã chọn mô hình nuôi cá hồi Đại Tây Dương của Nauy và cá hồi Thái Bình Dương của Nhật Bản làm đối tượng nuôi chính Bắt đầu từ những năm 80, nhưng chỉ vài năm sau nuôi cá biển ở Chile đã có những tiến bộ vượt bậc, sau 10 năm phát triển Chile đã trở thành cường quốc đứng thứ 4 thế giới về sản lượng, thứ 3 về giá trị và thứ nhì thế giới về xuất khẩu Ngoài 2 đối tượng trên Chile còn phát triển mạnh mẽ nghề nuôi cá hồi sông với sản lượng đạt 50.000 tấn vào năm 2000 [24] Khi áp dụng công nghệ nuôi cá lồng của Nauy và Nhật Bản họ không dập khuân mà sáng tạo xây dựng thành mô hình riêng của mình Lợi dụng địa hình thuận lợi, họ tiến hành quây lưới ở các eo ngách, vịnh nhỏ rồi nuôi cá hoặc đào các ao dọc biển để nuôi cá hồi, hạn chế nuôi cá trong lồng Chile lại có công nghiệp chế biến bột cá rất phát triển đạt tiêu chuẩn cao nên thức ăn cho nuôi cá biển ở Chile có giá thành thấp Đây chính là lợi thế nên Chile có giá thành cá biển thấp nhất thế giới dẫn đến xuất khẩu đạt lợi nhuận cao [33]

Sau Nhật Bản, Đài Loan phát triển nuôi cá biển từ rất sớm và có nhiều đóng góp quan trọng cho sự tiến bộ của nghề nuôi cá biển của thế giới Hiện nay tại Đài Loan đang nuôi khoảng 20 loài cá biển và hầu hết đều được sinh sản nhân tạo thành công (trừ cá chình) Vào những năm 1960, ngoài việc cho sinh sản nhân tạo thành công loài

cá Hồi (Salmo gairrdreri), Đài Loan tiếp tục đạt được thành công trong sinh sản nhân tạo một số loài cá khác như: cá đối mục (Mugil cephalus), cá măng biển (Chanos

chanos), cá vền đen (Acanthopagrus schlegeli), cá vền đỏ (A major) (1970), cá vền

vàng (A lates), cá chẽm Nhật Bản (Lateobrax japonicus) (1980) Hiện nay, Đài Loan

đang tập trung phát triển nghề nuôi cá lồng trên biển để hạn chế những tác động bất lợi của môi trường do việc mở rộng diện tích và các hình thức nuôi trong ao Tính đến năm 2000, có khoảng 1.500 lồng, trong đó khoảng 80% số lồng được sử dụng để nuôi

cá Giò (R canadum), số lồng còn lại được sử dụng để nuôi các đối tượng: cá mú chấm

đỏ (E coioides), cá hồng (L erythropterus), cá hồng bạc (L argentimaculatus) và cá tráp đỏ (Pagrus major) Năm 1990 sản lượng cá chỉ đạt 103 tấn, năm 1997 sản lượng

đã tăng gấp 7 lần, đạt 873 tấn, và đến năm 1998 tăng gấp 3 lần đạt 2.673 tấn, trong đó

cá giò chiếm 50% tổng sản lượng, đạt 1.500 tấn [40] Đài Loan có trình độ cao về khoa học công nghệ nuôi cá biển đặc biệt là sinh sản nhân tạo Hình thức nuôi cá biển của

Trang 16

Đài Loan cũng đa dạng nhưng chủ yếu nuôi trong ao đất (bờ đúc xi măng) và có hệ thống lồng hiện đại chịu được sóng gió lớn Từ đầu những năm 1990, Đài Loan còn xuất khẩu cá giống đi hầu hết các nước Châu Á [33]

Ở khu vực Trung Âu, năm 1970, Pháp thành công trong việc nghiên cứu sản xuất cá tráp Châu Âu, cuối năm 1980 Italia thành công trong việc sinh sản nhân tạo cá

mú Địa Trung Hải Đến năm 2002 tổng số cá giống của 2 đối tượng này đạt 650 triệu con [24]

Ở khu vực Địa Trung Hải, Hy Lạp là nước đứng đầu có nghề nuôi cá biển phát triển nhờ tiếp cận kỹ thuật sản xuất giống tiến bộ của Pháp, Italia, Anh, Nauy, Nhật Bản chỉ sau một thời gian ngắn, họ đã thành công trong khâu cho cá sinh sản nhân tạo, sản xuất được cá giống chất lượng cao, công nghệ nuôi được phát triển nhanh chóng Năm 2000 sản lượng nuôi đạt 79.000 tấn, giá trị 491 triệu USD, sau 10 năm phát triển, năm 2000 Hy Lạp trở thành cường quốc số 1 thế giới về nuôi cá tráp Châu Âu: 35.000 tấn và cá mú Địa Trung Hải: 44.000 tấn Thành công của Hy Lạp về nuôi cá biển đã trở thành phong trào nuôi cá biển rầm rộ ở các quốc gia ven Địa Trung Hải như Tây Ban Nha, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ… đều đưa các đối tượng trên vào nuôi và đã cho kết quả tốt Sản lượng năm 1995 ở khu vực này đạt 34.700 tấn, năm 2000 đạt 100.000 tấn, năm

2004 đạt 175.000 tấn [35] Tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 17% Kích cỡ nuôi thương phẩm 2 đối tượng (cá tráp Châu Âu và cá mú Địa Trung Hải) tại khu vực này giao động trong khoảng 300 – 400 gam với thời gian nuôi từ 12 – 20 tháng Mục tiêu của Hy Lạp là nuôi cá biển xuất khẩu, hơn 70% sản lượng được xuất khẩu sang các nước EU Cỡ cá xuất khẩu rất đa dạng từ 250 – 700 gam/con Cá được chế biến dưới dạng cá đông nguyên con, cá tươi nguyên con, cá phi lê Mặc dù giá cá thương phẩm liên tục rớt giá: cá tráp Châu Âu từ 16,7 USD/kg năm 1990 xuống còn 10,5 USD năm

1994 và 6,5 USD năm 1999 nhưng nghề nuôi cá biển Hy Lạp vẫn đứng vững và phát triển ổn định do luôn cải tiến công nghệ nuôi, quản lý, tăng cường tiếp thị hơn nữa đầu vào luôn được giảm một cách hợp lý nên nghề nuôi vẫn phát triển vững chắc [33]

Các nước Đông Nam Á chưa có nghề nuôi cá biển phát triển như các nước ở khu vực trên Thái Lan là nước có điều kiện tự nhiên, môi trường biển gần giống với

Trang 17

Việt Nam, thế nhưng nghề nuôi cá biển đã phát triển từ hơn 2 thập kỷ qua, sản lượng

tăng một cách ổn định, với hai đối tượng nuôi chính là cá mú (Epinephelus spp) và cá chẽm (Lates calcarifer) Từ năm 1988 đến năm 1996 sản lượng cá chẽm đạt từ 654 -

2.998 tấn, cá mú đạt từ 357 - 723 tấn [10] Hiện nay Thái Lan đang sản xuất hơn 100 triệu cá giống hàng năm, trong đó trạm thuỷ sản Satul sản xuất hơn 30 triệu cá giống [11] Tuy nhiên từ sau năm 2000, do sự cạnh tranh của cá tráp Châu Âu, sự thành công của Trung Quốc và các nước khác trong sản xuất giống và nuôi cá vược, giá cá vược giảm nhanh làm cho nghề nuôi cá vược của Thái Lan bị đình chệ Philippin là nước dẫn

đầu thế giới về nuôi cá măng biển (Chanos chanos) và đang tiếp tục phát triển tuy giá

trị cũng đang ngày càng giảm sút Sản lượng cá măng năm 2005 của Philippin trên 37.000 tấn Tuy nhiên sản phẩm xuất khẩu còn khá hạn chế [33] Tại Indonesia, các lồng nổi bằng tre hay gỗ cũng đã được sử dụng để ương nuôi cá giống được đánh bắt tự

nhiên ngoài hồ từ những năm 1920 Ngay cả cá rô phi thuộc dòng Oreochromis cũng

đã được trường đại học Auburn đưa vào nuôi trong lồng từ cuối những năm 1960 [36]

1.2 HIỆN TRẠNG NUÔI CÁ BIỂN TẠI VIỆT NAM

Với bờ biển dài 3260 km, vùng đặc quyền kinh tế trên 1 triệu km2, có trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ cùng nhiều eo vịnh, điều kiện tự nhiên thuận lợi, đối tượng cá nuôi phong phú: cá mú, cá hồng, cá cam, cá tráp, cá giò, cá vược… đều phân bố ở biển Việt Nam nhưng nuôi cá biển ở Việt Nam chỉ mới được quan tâm nghiên cứu từ gần 10 năm nay Khởi đầu nuôi cá biển ở Việt Nam là những lồng giữ cá giống bắt từ tự nhiên để bán cho khách du lịch ở tỉnh Khánh Hòa và Quảng Ninh Đến năm 1995, Việt Nam mới bắt đầu nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi cá biển Sau hơn 10 năm, nuôi cá biển ở Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định [33]

- Xuất phát từ tiềm năng về điều kiện tự nhiên, nhu cầu của thị trường tiêu thụ cá biển trong và ngoài nước, phương án 3 của Chương trình 224 của Chính phủ đặt mục tiêu 200.000 tấn cá biển trong tổng số 1,13 triệu tấn của nuôi trồng hải sản nước mặn, nước lợ nói chung vào năm 2010 Tuy nhiên đến năm 2008 sản lượng cá biển mới chỉ đạt 5.029 tấn [27], do vậy mục tiêu đến năm 2010 đạt 200.000 tấn cá biển là rất khó

thành hiện thực [33]

Trang 18

- Năm 2001 tổng số lồng nuôi trên biển là 3.990 lồng, sản lượng đạt 2.150 tấn, một

số địa phương đã đưa cá biển vào nuôi trong ao đất như ở Cam Ranh – Khánh Hòa đạt sản lượng trên 100 tấn với 71 ha nuôi [20], năm 2002 tổng số lồng nuôi 4.077 chiếc sản lượng cá nuôi đạt 2.626 tấn, trong đó miền Bắc đạt 599 tấn; Nam Trung Bộ đạt 919 tấn, miền Nam đạt 1.108 tấn [21]

- Theo báo cáo của Bộ Thủy sản [22], năm 2005 hình thức nuôi cá lồng trên biển đã phát triển ở các tỉnh ven biển Vịnh Bắc Bộ như Hải Phòng, Quảng Ninh, ven biển miền Trung: Đà nẵng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, ven biển phía Nam Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiên Giang Tổng số lồng bè nuôi cá biển là 7.115 chiếc, sản lượng đạt 3.556 tấn

Bảng 1 2: Sản lượng và số lượng lồng nuôi cá biển tại Việt Nam năm 2001 - 2005 [23]

1.3 TÌNH HÌNH NUÔI CÁ LỒNG BÈ TRÊN BIỂN TẠI QUẢNG NINH

1.3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VHL

Trang 19

Năm 1962, VHL được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia với diện tích 1.553 km2 với 1.969 hòn đảo Khu trung tâm VHL với diện tích

434 km2 và 775 hòn đảo có giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất địa mạo được

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (chữ viết tắt tiếng Anh là UNESCO) 2 lần công nhận là di sản thiên nhiên thế giới (năm 1994 và năm 2000) [30]

1.3.1.2 Đặc điểm địa hình

VHL có quá trình tiến hóa carxtơ đầy đủ trải qua trên 20 triệu năm nhờ sự kết hợp đồng thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi dày, khí hậu nóng ẩm và quá trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể, với nhiều dạng địa hình carxtơ kiểu Phong Tùng gồm một cụm đá vôi thường có hình chóp nằm kề nhau có đỉnh cao trên dưới 100 m, cao nhất khoảng 200 m; hoặc kiểu Phong Linh đặc trưng bởi các đỉnh tách rời nhau tạo thành các tháp có vách dốc đứng, phần lớn các tháp có độ cao từ 50 - 100 m Tỉ lệ giữa chiều cao và rộng khoảng 6 m

Cánh đồng carxtơ của Hạ Long là lòng chảo rộng phát triển trong các vùng carxtơ có bề mặt tương đối bằng phẳng, thường xuyên ngập nước, được tạo thành theo những phương thức: hoặc nhờ kiến tạo liên quan các hố sụt địa hào; hoặc nhờ sụt trần của các thung lũng sông ngầm, hang động ngầm; hoặc cũng có thể nhờ tồn tại các tầng

đá không hòa tan bị xói mòn mạnh mẽ nằm giữa vùng địa hình carxtơ cao hơn vây quanh mà thành

VHL còn bao gồm địa hình carxtơ ngầm là hệ thống các hang động đa dạng trên Vịnh, được chia làm 3 nhóm chính: nhóm 1 là di tích các hang ngầm cổ, tiêu biểu là hang Sửng Sốt, động Tam Cung, động Lâu Đài, động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, Thiên Long, Nhóm 2 là các hang nền carxtơ tiêu biểu là Trinh Nữ, Bồ Nâu, Tiên Ông, Hang Trống Nhóm 3 là hệ thống các hàm ếch biển mà tiêu biểu như 3 hang thông nhau ở cụm hồ Ba Hầm, hang Luồn, Ba Hang…

1.3.1.3 Khí hậu

VHL là vùng biển đảo có khí hậu phân hóa 2 mùa rõ rệt: mùa hạ nóng ẩm với nhiệt độ khoảng 27 - 32°C và mùa đông khô lạnh với nhiệt độ 16 - 18°C, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 15 - 25°C Lượng mưa trên VHL vào khoảng từ

Trang 20

2.000 mm – 2.200 mm với khoảng trên 300 mm vào mùa nóng nhất trong năm (từ tháng 6 đến tháng 8) và dưới 30 mm vào mùa khô nhất trong năm (từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau)

Bảng 1.3: Nhiệt độ, lượng mưa, số giờ nắng, độ ẩm trung bình của tỉnh Quảng Ninh

1.3.2 Một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến nghề nuôi cá biển lồng bè

1.3.2.1 Thủy triều

Thủy triều ở VHL thuộc chế độ nhật triều đều điển hình với hầu hết số ngày trong tháng chỉ có một lần nước lớn và một lần nước ròng Trong 1 tháng có hai kỳ triều cường với cường độ cao, mực nước trung bình đạt 3,9 m và hai kỳ triều kiệt với

Trang 21

mực nước trung bình đạt 1,9 – 2 m Biên độ triều cực đại ở đây lên tới 4 m, mực nước trung bình đạt 2,06 m Thủy triều có ảnh hưởng khá quan trọng đến nguồn lợi hải sản trong biển Nhiều sinh vật lợi dụng lúc thủy triều lên và xuống để tiến hành các hoạt động kiếm mồi hay sinh sản [29],[4]

1.3.2.2 Sóng

VHL là một vực nước tương đối kín, không gian vịnh lại không lớn (đà sóng nhỏ, sóng gây bởi gió không có điều kiện phát triển), lại có nhiều đảo xen kẽ nên ảnh hưởng của sóng từ ngoài biển vào là không lớn Độ cao sóng trung bình 1.5 – 2 m vào mùa hè vào khoảng 0,5 m vào mùa đông [12], [37]

1.3.2.3 Dòng chảy

Dòng chảy là yếu tố cần phải được cân nhắc trước khi nuôi lồng bè Dòng chảy

ở VHL là dòng chảy tổng hợp của dòng chảy sông, dòng chảy gió và dòng triều, trong

đó dòng triều là thịnh hành và mang tích chất thuận nghịch Hướng dòng chảy cũng khác nhau giữa trong và ngoài vịnh [29], [5] Do VHL là một vực tương đối kín, không gian vịnh cũng hẹp nên tốc độ dòng chảy trong vịnh tương đối thấp (khoảng 0,1 m/s) Đây là một trong những lý do VHL được coi là thích hợp cho nuôi cá lồng bè

1.3.2.4 Độ mặn

Độ mặn là yếu tố giới hạn của nhiều loài sinh vật và đa số cá biển đều cần môi trường sống có độ mặn cao và ổn định Nếu độ mặn thay đổi một cách đột ngột sẽ làm cho nhiều đối tượng nuôi bị xốc, thậm chí bị chết Độ mặn nước biển trung bình năm ở vùng nay dao động khoảng 20‰ - 31‰ Khu vực giữa vịnh và đáy vịnh có độ mặn cao

và tương đối ổn định, khoảng 31‰ Độ mặn nước VHL cũng thay đổi khác nhau theo mùa [12] Nhìn chung, độ mặn phân bố theo hướng tăng dần từ bờ ra khơi và từ Bắc xuống Nam Vịnh [28],[37]

1.3.2.5 Độ pH

Cùng với nhiệt độ, độ pH có vai trò rất quan trọng đối với quá trình sinh hóa trong môi trường nước Độ pH quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng bất lợi tới các loài sinh vật nuôi, thậm chí có thể gây chết Nước biển VHL có tính kiềm yếu (pH = 7,5 – 8,5) và thường ổn định (nếu không gần nguồn thải công nghiệp lớn) Tuy nhiên, nếu tại các nguồn nước thải khác nhau sẽ có giá trị pH khác nhau [34]

Trang 22

1.3.2.6 Nhiệt độ nước biển

Các loài thủy sản và sinh vật biển trong chuỗi thức ăn của vực nước VHL rất nhạy cảm đối với nhiệt độ Mỗi loài sinh vật chỉ có khả năng phát triển tốt trong một khoảng nhiệt độ nhất định phù hợp với tập tính sinh thái của chúng và nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến tốc độ và các dạng phân hủy các hợp chất hữu cơ trong nước [28] Thông thường các đối tượng sinh vật biển phát triển tốt trong ngưỡng nhiệt độ cao khoảng 25 – 30oC [38] Tại VHL, nhiệt độ nước biển trung bình 25 – 29oC từ tháng 5 –

11 và 15 – 23oC vào những tháng khác [2], [37] Nhiệt độ có xu hướng giảm dần từ Bắc và Nam và từ bờ ra khơi

1.3.2.7 Muối dinh dưỡng

Các muối dinh dưỡng vô cơ trong nước VHL như photphat (PO43-), photphat tổng số (P), amonia (NH3), nitrit (NO2

ˉ ), nitrat (NO3

ˉ ) là những muối dinh dưỡng quan trọng với quá trình phát triển, sinh trưởng của sinh vật và quyết định năng suất thủy vực Các muối dinh dưỡng thường rất cần thiết cho thủy vực, nhưng khi vượt quá giới hạn sẽ gây hiện tượng “phù dưỡng” làm giảm lượng DO trong nước, ảnh hưởng tới các sinh vật sống trong đó, làm mất cân bằng sinh thái trong thủy vực [37] Các muối dinh dưỡng trong nước được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau: chủ yếu từ các loại phân bón, sự phân hủy các chất hữu cơ, lượng thức ăn dư thừa không được hấp thụ hết, các chất thải của sinh vật và xác sinh vật… nhìn chung, hàm lượng của muối dinh dưỡng trong tầng nước mặt cao hơn ở tầng đáy ở vùng ven bờ cao hơn vùng xa bờ Hàm lượng NH4

+

từ 12,1 – 93,7 µgN/L hàm lượng PO43ˉ thay đổi từ 7,3 – 32,9 µgN/L [2]

1.3.2.8 Oxy hòa tan (DO)

Oxy hòa tan là một trong những yếu tố quan trọng của môi trường nước: cần thiết cho quá trình trao đổi chất của các loài sinh vật sống trong môi trường nước, cung cấp oxy cho các quá trình chuyển hóa vật chất trong thủy vực Chính nhờ các quá trình chuyển hóa vật chất trong thủy vực mà các chất thải (trong một giới hạn nhất định) sẽ được chuyển thành các chất dễ bay hơi, không gây ô nhiễm hay các chất dễ dàng được các sinh vật hấp thụ (khả năng tự làm sạch của thủy vực) Trong biển, nhờ có sóng, gió

và thủy triều nên khả năng khuếch tán oxy không khí vào nước biển khá lớn, trung

Trang 23

bình khoảng 4 – 5 mg/L Nguồn cung cấp oxy trong nước còn do quá trình quang hợp của tảo nên DO thường biến động theo quy luật ngày đêm [2],[34]

1.3.2.9 Các nguồn gây ô nhiễm nước biển VHL

* Thủy văn sông và ô nhiễm nước sông

VHL chịu ảnh hưởng chủ yếu của các sông đổ vào vụng Bãi Cháy, gồm: sông Diễn, sông Trới, sông Mỹ, sông Mãn, sông Oai Vũ, sông Yên Lập… Đặc điểm chính của các sông nay là lòng sông nhỏ, độ dốc lớn, chiều dài lòng sông ngắn nên tốc độ dòng chảy, lưu lượng ít, biến đổi mạnh theo mùa, khí hậu [28], [5] Nằm trong khu vực

có địa hình tương phản, chịu nhiều sức ép của các hoạt động của con người, nên tỷ lệ xói mòn đất tăng nhanh Khi mưa tất cả các lớp đất đá, chất thải đều bị rửa trôi Cùng với lượng bồi tích nói trên, một lượng lớn nước thải, hóa chất, phân bón hóa học, thuốc trừ sâu hòa tan từ nội địa được đổ vào các dòng sông gây ô nhiễm nghiêm trọng [6]

* Các hoạt động kinh tế làm ảnh hưởng đến điều kiện môi trường trên VHL

- Công nghiệp và chất thải công nghiệp

Hầu hết các khu công nghiệp ở Quảng Ninh đều tập trung ở dải ven biển cảng than, dầu và vận tải biển, các nhà máy chế biến và khu chế xuất,… do sản xuất còn ở trình độ công nghệ lạc hậu, thiết bị xử lý chất thải chưa được chú trọng và thiếu sự quản lý chặt chẽ về môi trường nên đã gây ô nhiễm nặng ở một số khu vực, số khu ven

bờ [5]

Quá trình khai thác mỏ cũng tạo ra một lượng lớn vật chất lơ lửng làm giảm độ trong, tăng độ đục, gây ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của thực vật trong nước VHL Nghiêm trọng hơn khi nó lắng đọng xuống trầm tích sẽ ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển của các hệ sinh thái biển như rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển,… [4], [37] Hoạt động tàu thuyền và các vụ tai nạn trên biển đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường như ô nhiễm dầu, chất thải sinh hoạt từ tàu thuyền,…

- Hoạt động phát triển du lịch

Do đặc thù của du lịch Hạ Long là du ngoạn trên vịnh và tham quan các đảo, do

đó việc mở rộng các hoạt động du lịch sinh thái gây sức ép lớn tới môi trường VHL [30]:

+ Một lượng lớn chất thải bao gồm các loại chất thải rắn và nước thải sinh hoạt chưa được xử lý đồng bộ thải vào môi trường;

Trang 24

+ Ô nhiễm chất dinh dưỡng ảnh hưởng đến chất lượng nước, sự sống của các loài thuỷ sinh, làm thay đổi hệ sinh thái;

+ Ý thức bảo vệ môi trường của du khách còn thấp;

+ Quá trình lấn biển để phát triển cơ sở hạ tầng cho ngành du lịch làm thu hẹp diện tích và phá huỷ một số hệ sinh thái ven bờ Vịnh;

+ Bên cạnh đó, ngành du lịch phát triển còn kéo theo một loạt các loại hình dịch

vụ khác cũng góp phần gây ô nhiễm VHL như: quá tải các phương tiện vận chuyển khách du lịch trên Vịnh, tăng đột biến các hoạt động kinh doanh nhà bè, phá huỷ các rạn hô làm quà lưu niệm bán cho khách du lịch…

- Quá trình đô thị hoá

Trong những năm gần đây, tại Hạ Long - Thành phố ngay bên bờ Di sản, cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ Do đặc điểm của Hạ Long nhiều đồi núi nên việc mở rộng thành phố sẽ phát triển theo chiều dài (hướng Đông - Tây) và lấn biển Toàn bộ khu vực từ Yên Cư tới Cẩm Phả phía bên biển là đất lấn vịnh với hàng ngàn hecta Cộng với sự gia tăng của dân số thì

đây là một sức ép rất lớn đối với VHL [30]:

+ Diện tích các bãi triều bị thu hẹp, rừng ngập mặn bị phá huỷ, làm giảm sự đa dạng của các hệ sinh thái ven biển

+ Thay đổi kết cấu đất ven bờ vịnh, tăng nguy cơ xói lở, bồi lắng, tăng độ đục của nước

+ Ảnh hưởng đến cảnh quan bờ vịnh, phát sinh tiếng ồn, nồng độ bụi…

- Hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản

Theo dữ liệu của sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 1972 khi chưa

có nhiều hoạt động nuôi trồng thuỷ sản thì diện tích rừng ngập mặn ở Quảng Ninh là 39.400 ha nhưng đến năm 1996 thì chỉ còn 12.670 ha [30]

+ Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản đã làm giảm đáng kể diện tích rừng ngập mặn, thay đổi chế độ thuỷ văn, mất cân bằng sinh thái

+ Nước thải của các ao nuôi trồng thuỷ sản (lượng thức ăn thừa, thuốc kháng sinh…) làm thay đổi tính chất hoá học của nước và là nguyên nhân gây ô nhiễm hữu cơ tầng nước ven bờ

+ Các hoạt động đánh bắt thuỷ sản quá mức, đánh bắt bằng một số phương pháp mang tính huỷ diệt như đánh cá bằng xung điện, hoá chất độc, chất nổ, lưới mắt nhỏ… làm suy thoái nguồn lợi biển, giảm tính đa dạng sinh học

- Một số hoạt động khác

Trang 25

Một thực tế đáng lo ngại đối với môi trường VHL đó là hiện tượng bùng nổ các nhà bè Theo thống kê vào tháng 9/2005 của đoàn kiểm tra liên ngành (Phòng kinh tế – UBND thành phố Hạ Long; Phòng cảnh sát giao thông đường thủy; Sở thủy sản; Sở KHCN&MT; Ban quản lý VHL) thì tổng số nhà bè neo đậu trên vịnh là 537 nhà bè với 1.762 nhân khẩu, đến tháng 3/2007 số nhà bè neo đậu trên VHL là 618 bè, với tổng số nhân khẩu là 2.214 người (tăng 11,4% so với năm 2005) trong đó có hơn một nửa dùng nuôi trồng thuỷ sản, số còn lại dùng để cư trú, kinh doanh dịch vụ Sự phát triển không kiểm soát được của các nhà bè trên vịnh đã gây ra những bất ổn về mặt môi trường, an ninh xã hội [30]:

+ Trong số 393 bè nuôi trồng thuỷ sản thì chỉ có 2 doanh nghiệp lớn là Công ty ngọc trai Hạ Long và Nhà hàng Biển Mơ là có hệ thống thu gom chất thải, còn các nhà

bè khác, chất thải lại là đổ trực tiếp xuống biển

+ Hầu hết các nhà bè của ngư dân đều không có các biện pháp thu gom và xử lý chất thải Một lượng lớn chất thải từ các nhà bè không được xử lý đổ trực tiếp ra VHL, nguy hiểm hơn là trong đó có các chất thải độc hại, khó phân huỷ như dầu máy, dầu

DO, xỉ than…

+ Việc neo đậu các nhà bè sai vị trí ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường Di sản

1.3.2.10 Hiện trạng môi trường VHL

Cụ thể chất lượng môi trường nước tại các điểm nuôi được quan trắc trong khu vực nuôi có những đặc điểm sau [30]:

- Nhiệt độ nước dao động trong khoảng 25,1 - 26,90C; độ muối từ 31,5 đến 33,5‰; Hàm lượng DO khoảng 4,8 - 6,8 mg /L, trung bình 5,7 mg/L; Giá trị pH 7,98 - 8,13; Độ đục 2,0 - 27,0 NTU; Độ sâu 1,9 -19,7 m; Độ trong dao động từ 0,8 đến 3,1 m

- Các muối dinh dưỡng có hàm lượng thấp nằm trong khoảng an toàn cho hoạt động nuôi hải sản, tuy nhiên một số điểm nuôi cá lồng bè ở khu vực Vông Viêng, làng chài Cửa Vạn có hàm lượng các muối dinh dưỡng khá cao

- Hàm lượng dầu mỡ tại các điểm quan trắc thấp nhất là 0,143 mg/L - cao nhất đạt 0,477 mg/L (ở khu nuôi trai cấy ngọc, khu nuôi cá lồng bè gần luồng tàu chạy ở Núi Đất), trung bình cũng vượt giới hạn cho phép (0,3 mg/L) là 3,6 lần

- Hàm lượng CN- trong khu vực dao động trong khoảng 1,679 - 2,736 mg/L, trung bình 2,114 mg/L (cao hơn tiêu chuẩn của Bộ Thủy sản 2006 là 0 mg/L)

Trang 26

- Hàm lượng kim loại nặng như Zn trong khu vực vượt giới hạn cho phép (10 mg/L) khoảng 2,3 - 3,9 lần; tương tự hàm lượng As cũng cao hơn giới hạn cho phép (1 mg/L) từ 2,3 đến 3,9 lần; hàm lượng Cu khoảng dao động 8,316 - 13,667 mg/L trung bình là 10,650 mg/L cao hơn giới hạn cho phép (10 mg/L) Hàm lượng Cd và Pb có giá trị thấp nằm trong giới hạn cho phép Hàm lượng Fe trong khu vực cao hơn giới hạn cho phép (0,1 mg/L) từ 0,9 đến 5,1 lần

- Thực vật phù du: Trong khu vực xác định được 31 - 46 loài, mật độ dao động khoảng 138 - 1.034 tế bào/mL; Chỉ số đa dạng sinh học (H’) có giá trị từ 2,90 đến 4,00

- Vi sinh vật: Mật độ Coliforms trong khu vực tại điểm thấp nhất là 200 MPN/100mL cao nhất đạt 13.000 MPN/100mL ở Vạn Giò, lớn hơn giới hạn cho phép (1.000 MPN/100mL) Tổng số vi sinh vật hiếu khi dao động trong khoảng 0,2 - 15,6x103 CFU/mL, trung bình 3,26 x 103 CFU/mL Chỉ tiêu Vibrios cũng phát hiện thấy ở một số điểm nuôi cá lồng bè gần hòn Phất Cờ và điểm nuôi cá lồng bè ở Vạn Giò

* Sự suy giảm một số hệ sinh thái chính

Thu hẹp diện tích RNM đồng nghĩa với việc thu hẹp diện tích phân bố của các loài hải đặc sản, làm mất nơi lưu giữ và cung cấp nguồn giống thủy hải sản tự nhiên, khiến cho năng suất nuôi và sản lượng khai thác giảm [31], [15] Ngoài ra mất RNM đã làm tăng sa bồi luồng cảng Cái Lân và gây đục hóa VHL do mất yếu tố duy trì phù sa sông mang ra Để bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy hải sản ven biển, một trong những biện pháp cơ bản là cần bảo vệ, khôi phục và phát triển RNM [7], [31]

- Rạn san hô

Rạn san hô (RSH) ở VHL phân bố quanh các đảo Bồ Hòn, Trinh Nữ, Bồ Hóng, Hang Thầy, Cặp La… chúng phát triển trên các nền đáy đá hoặc các tảng san hô chết

Trang 27

[6], [18] Theo Ban quản lý VHL, đến nay đã thống kê được 170 loài san hô trên vùng VHL, trong đó có khoảng 122 loài san hô cứng RSH ở đây còn là nơi sinh cư của 81 loài chân bụng, 130 loài 2 mảnh vỏ, 55 loài giun nhiều tơ, 57 loài cua Đây cũng là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao và là bộ lọc giúp làm sạch môi trường nước [19]

Hệ sinh thái này vẫn đang có nguy cơ bị đe dọa bởi các hoạt động vô tình hay cố

ý của con người và thiên nhiên như:

+ Khai thác nguồn lợi hải sản trên các RSH với cường độ cao, và mang tính hủy diệt như bằng mìn, chất độc xyanua…[1], [5], [18]

+ Khai thác san hô làm đồ mỹ nghệ, hàng lưu niệm phục vụ du lịch hay làm vật liệu xây dựng [12]

+ Hoạt động của các ngành như giao thông vận tải (chất thải từ tàu, neo đậu tàu), du lịch, nông nghiệp (hóa chất),… làm xuất hiện ô nhiễm [29], [12]

+ Thời tiết, khí hậu thời gian gần đây diễn ra phức tạp như bão, lũ quét làm ngọt hóa nước vịnh, tăng độ đục, lắng đọng trầm tích gây hủy hoại, làm chết đáng kể san hô [15]

- Thảm rong tảo – cỏ biển

Thảm rong tảo – cỏ biển ở VHL cũng là nơi cư trú của nhiều loài sinh vật thích nghi chủ yếu như sinh vật sống bám (periphyton), sinh vật ăn tạp (omivorous), các loài

cá, giáp xác, rùa, giun nhiều tơ, sinh vật ăn mùn bã hữu cơ, vi khuẩn phân hủy [15]… thống kê của Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng, trong thảm rong tảo – cỏ biển ở VHL có 17 loài rong biển (trong tổng số 99 loài trên VHL), 41 loài động vật đáy, 3 loài giun nhiều tơ, 29 loài nhuyễn thể, 9 loài giáp xác [8], [16] Đây cũng là nơi sinh cư, kiếm ăn, đẻ trứng của nhiều loài sinh vật, nơi cung cấp nguồn hải sản giá trị (ngao, ngó đen, hải sâm,…) và là hệ sinh thái có nhiều chức năng quan trọng như RSH [8], [12]

Cũng như RSH, hàng loạt thảm cỏ biển ven bờ đã biến mất trong những năm gần đây Việc khai thác hải sản bằng thuốc nổ đã phá hỏng nền đáy, nơi cỏ biển phát

triển, một vài loài như cỏ xoan ở xung quanh đảo Tuần Châu, cỏ Zostera japonica ở

vùng hang Đầu Gỗ đến nay còn rất ít [9],[8] Mất thảm cỏ biển cũng do nguyên nhân phá rừng đầu nguồn, làm phù sa từ lục địa theo các sông ra biển và phủ lên cỏ [3], [9]

Trang 28

1.3.3 Tình hình nuôi cá lồng bè

Nghề nuôi cá biển bằng lồng bè ở Quảng Ninh đã xuất hiện từ khá lâu, nhưng trước đây chủ yếu chỉ phát triển tự phát với hình thức đơn sơ và quy mô nhỏ lẻ ở một vài hộ gia đình Nhưng từ năm 2001 cho tới nay đã phát triển nhanh chóng về số lượng lồng bè, đối tượng nuôi, hình thức nuôi ngày càng đa dạng và phong phú hơn

Bảng 1.4: Một số loài cá biển đang được nuôi phổ biến tại Quảng Ninh [25]

1 Cá song mỡ Epinephelus tauvina (Forskal, 1775) Greasy grouper

2 Cá song chấm đen

đầu Epinephelus bleekeri (Vaillant, 1878)

Bleeker’s grouper

3 Cá song chấm nâu Epinephelus amblycepalus (Bleeker,

4 Cá song vạch xám

đen, song vân mây

Epinephelus coioides

6 Cá vược, cá chẽm Lates calcarifer (Bloch, 1790) Sea bass

7 Cá đù đỏ Sciaenops ocellatus (Linné, 1766) Red drum

8 Cá tráp vây vàng Sparus latus (Houttuyn, 1782) Yellowfin

seabream

9 Cá hồng đỏ Lutjanus sanguineus (Cuvier, 1828) Blood snapper

10 Cá hồng chấm đen Lutjanus ruselli (Bleeker, 1849) Rusllus snapper Hiện nay tại Quảng Ninh các đối tượng nuôi chủ yếu là: cá song, cá hồng, cá tráp, cá vược và cá giò… Tuy nhiên hiện nay nguồn giống chủ yếu được vớt từ tự nhiên và mua từ các thương lái lấy giống từ Thái Lan và Trung Quốc, một phần nhỏ được các ngư dân mua từ trường Cao đẳng Thủy sản IV [25] Nguồn thức ăn chủ yếu vẫn là cá tạp (cá sơn, cá nhâm, cá phèn, cá ót, cá lượng…) được ngư dân khai thác ngoài tự nhiên bằng nghề chài, chụp và nghề giả cào trên biển Do ảnh hưởng của mùa

vụ nên sản lượng cá tạp khai thác được không ổn định, lúc nhiều lúc ít dẫn đến lượng thức ăn cho cá nuôi cũng không ổn định và không đảm bảo chất lượng và vệ sinh

Trang 29

Bảng 1.5: Tình hình nuôi cá lồng bè trên biển tại Quảng Ninh năm 2007 – 2009 [25]

ha ao đầm nuôi cá biển Tổng sản lượng đạt 3.347 tấn, trong đó nuôi cá bằng lồng bè là 2.717 tấn, nuôi cá trong ao đầm là 304 tấn [25]

1.3.4 Các chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản

Với một số chính sách mới ưu tiên khuyến khích NTTS của Đảng, Nhà nước và tỉnh Quảng Ninh như: Chương trình phát triển NTTS thời kỳ 1999 – 2010, chương trình kinh tế trang trại, chương trình phát triển xuất khẩu thủy sản và chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản Một số chính sách, biện pháp khuyến khích phát triển nghề, thu hút lao động giải quyết việc làm của UBND tỉnh Quảng Ninh Các chương trình này đã tạo ra một phong trào phát triển mạnh mẽ nghề NTTS nói chung

và nghề nuôi cá biển bằng lồng bè nói riêng Diện tích NTTS ngày một phát triển, năng suất sản lượng ngày một nâng cao

1.4 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HẠ LONG

1.4.1 Số lượng lồng bè và mật độ dân số sống trên lồng bè trên VHL

Hiện nay trên VHL có 19 khu vực có nhà bè neo đậu gồm [30]:

- Các điểm có quy hoạch: Khu 3 cửa chân Voi; Vạ Giá; Vông Viêng, Cặp Dè; Hòn Sao Chổi, Phơi Lưới; Cặp La; Cống Đầm và Vạn Giò (theo Quyết định số 3981/QĐ-UB ngày 25/10/2001 của UBND tỉnh) Khu vực neo đậu nhà bè không nuôi trồng thủy sản gồm: Hòn Rùa - Hòn Lõm Vịt thuộc phường Bạch Đằng, vụng con Rùa phường Hồng Hải, từ hòn Bài Thơ đến Hải đội biên phòng Hồng Hà; và 01 điểm cho tàu thuyền, sà lan vận tải chở hàng tại vùng nước trước cảng than Cột 5 (Theo Văn bản

số 182/UB, ngày 21/2/2003 của UBND tỉnh)

Trang 30

- Các điểm nhà bè neo đậu tự phát: Bồ Nâu, Ba Hang, Hoa Cương, Cống Tầu, ven biển Đại Yên, Tuần Châu, Cảng Mới

- Điểm neo đậu tầu thuyền ngủ qua đêm gồm 04 điểm: Khu vực Hồ Động Tiên

- Hang Luồn; hang Trinh Nữ - hang Trống; hòn 690 Lạch Đầu xuôi, hòn Lờm Bò; Hòn 587 - hang Bồ Nâu - Sửng Sốt - Hang Lát (theo Quyết định số 2086/QĐ-GTVT ngày 12/9/2005 của Sở Giao thông vận tải Quảng Ninh)

- Điểm tránh bão cho tàu thuyền khu vực thành phố Hạ Long gồm các điểm: vụng Ba Hang (phía sau hang Thiên Cung); vụng Lán Bè - Cột 5, khu vực cảng Hải Quân - Cột 8; vụng Bồ Nâu, Sửng Sốt; khu vực Sa Tô (theo Văn bản số 835/VB-GTVT ngày 16/5/2006 của Sở Giao thông vận tải Quảng Ninh)

Bảng 1 63: Kết quả khảo sát số lượng và số nhân khẩu sống trên lồng bè

tại VHL, thời điểm tháng 9/2005 và tháng 3/2007 [30]

Số liệu khảo sát tháng 9/2005 Số liệu khảo sát tháng 3/2007 Stt Điểm neo đậu nhà bè

Số nhà bè Nhân khẩu Số nhà bè Nhân khẩu

Trang 31

Mục đích hoạt động của nhà bè rất đa dạng: nuôi trồng thủy sản, bán hải sản; hoạt động dịch vụ chở đò; bán hàng đò rong; kinh doanh dịch vụ ăn uống, xăng dầu, nước ngọt; dịch vụ sửa chữa tàu thuyền tập trung ở khu vực ven bờ và ngoài vịnh Ngoài ra còn có nhà bè hoạt động bất hợp pháp như: khai thác, mua bán san hô, ăn xin, đeo bám tàu du lịch để bán san hô, hải sản

1.4.2 Tình hình phát triển nhà bè

Nhà bè có lịch sử tồn tại lâu đời (trước khi VHL được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới), xuất phát từ các hộ làm nghề đánh bắt hải sản, sống trên thuyền, neo đậu qua đêm, qua nhiều năm đã phát triển có số lượng và qui mô lớn Tại khu vực Bồ Nâu: năm 1983, UBND xã Hùng Thắng (nay là phường Hùng Thắng) thành lập tổ Bồ Nâu thuộc thôn Cửa Vạn; năm 1997 có 12 hộ nhà bè (vừa ở vừa nuôi trồng vừa đánh bắt hải sản); đến năm 2000 số hộ khu vực Bồ Nâu lên 27 hộ, có thời kì cao điểm lên tới 47 hộ [30]

Việc neo đậu của các nhà bè không cố định, thường phụ thuộc vào điều kiện làm nghề, tránh bão gió

Số lượng nhà bè tăng nhanh và sẽ tiếp tục tăng do: việc tách hộ khi con cái trưởng thành; mở rộng qui mô nuôi trồng, đánh bắt; các hộ trên bờ xuống hoạt động kinh doanh, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản

Nghề nghiệp: Trừ một số hộ trên bờ xuống hoạt động kinh doanh buôn bán hải sản, số còn lại nguồn sống chính dựa vào đánh bắt, các nghề gắn liền với biển; không

có nhà, đất trên đất liền và không có điều kiện làm nghề khác

Văn hóa, phong tục tập quán: Nhìn chung dân sinh sống trên bè có trình độ văn hóa rất thấp; nhiều người đã trưởng thành nhưng không biết chữ Hiện nay mới

có 03 khu vực có trường học cấp 1 là: Ba Hang, Cửa Vạn, Vông Viêng - Cặp Dè; khu vực Cặp La, Cống Đầm được tổ chức dạy học nhờ nhà dân Các khu vực khác vẫn chưa tổ chức được lớp học, do vậy nhiều gia đình có con đến tuổi đi học nhưng không được đến lớp Điều này càng khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp (ngoài việc kế tiếp nghề biển)

Tập quán sống của các hộ nhà bè: các bè của bố mẹ, các con, anh em thường tập trung ở gần nhau trong khu vực theo gia đình lớn (tập trung từ 2 - 4 thế hệ)

1.4.3 Tổ chức chính quyền, đoàn thể nhà bè

Hiện nay có 04 phường: Hùng Thắng, Bạch Đằng; Hồng Hải, Hồng Hà có nhiều dân cư sống trên bè, số còn lại nằm rải rác ở một số phường, xã giáp biển [30]

Trang 32

- Phường Hùng Thắng tổ chức làm 03 khu, gồm: Khu Ba Hang, Hoa Cương; khu Cửa Vạn và khu Vông Viêng, Cặp Dè; có 14 tổ; có 01 Đ/c Bí thư chi bộ biển, mỗi khu có 01 khu trưởng, mỗi tổ có 01 tổ trưởng Mỗi khu có: Mặt trận khu, Hội phụ nữ, Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên hoạt động theo sự chỉ đạo điều hành của UBND phường Hùng Thắng

- Phường Bạch Đằng, Hồng Hải, Hồng Hà thành lập 03 tổ dân (mỗi phường 01 tổ) mỗi tổ có 01 đồng chí tổ trưởng

Trang 33

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ 12/2009 đến 07/2010

- Địa điểm: Thành phố Hạ Long – Tỉnh Quảng Ninh

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Một số loài cá biển có giá trị kinh tế (cá mú, cá vược, cá tráp vây vàng, cá hồng

đỏ, cá giò)

2.3 Phương pháp luận

2.4 Thu thập số liệu

2.4.1 Số liệu đã được công bố

Hoạt động điều tra

Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật phù hợp để nâng cao năng

suất các đối tượng nuôi

Trang 34

Số liệu đã được công bố của Chi cục Thủy sản Quảng Ninh, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Quảng Ninh, Phòng Kinh tế Thành phố Hạ Long, Ban quản lý VHL và các sách báo xuất bản có liên quan…

Các chỉ tiêu cần thu thập:

- Điều kiện tự nhiên: Tìm hiểu về điều kiện thời tiết, khí hậu, địa hình, nguồn

nước

- Chỉ tiêu kinh tế - xã hội: dân số, trình độ văn hóa, lao động,

- Chỉ tiêu về Nuôi trồng Thủy sản: Diện tích mặt nước nuôi lồng bè, năng suất, sản lượng, doanh thu, chi phí sản xuất

2.4.2 Phương pháp đánh giá nông thôn

- Thông tin được thu thập qua quan sát thực tế, phỏng vấn trực tiếp hay tham khảo các tài liệu đã được công bố

- Chia vùng nuôi cá lồng bè trên biển của Thành phố Hạ Long thành ba điểm, mỗi điểm lựa chọn ngẫu nhiên 30 hộ nuôi cá lồng bè và tiến hành phỏng vấn qua bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn

*Nội dung cần đánh giá bao gồm:

- Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển: tìm hiểu về điều kiện thời tiết, khí hậu, địa hình, nguồn nước

- Điều kiện kinh tế - xã hội của vùng nuôi: tìm hiểu về số lao động, trình độ văn hóa, vốn đầu tư, thu nhập của người dân

- Tình hình nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế: Hiện trạng về kỹ thuật, và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá biển lồng bè

2.4.3 Số liệu điều tra

Số liệu thu được thông qua phỏng vấn trực tiếp người dân nuôi lồng, bè một số loài cá biển tại địa phương, dựa trên bộ câu hỏi đã được chuẩn hóa tại [Phụ lục 1] Số mẫu điều tra được dẫn ra ở bảng 2.1:

Trang 35

Bảng 2.1: Chọn vùng nghiên cứu và số mẫu điều tra

Thành phố Hạ LongChỉ tiêu

+ Thức ăn: Các loại thức ăn thường dùng, thời gian và phương pháp cho ăn

+ Mùa vụ: Số vụ nuôi, thời gian nuôi

+ Môi trường lồng nuôi: Độ mặn, DO, độ trong, pH

+ Kết quả nuôi và hiệu quả kinh tế: Năng suất, sản lượng, tổng chi phí, tổng thu nhập

- Chính sách khuyến khích phát triển nuôi lồng, bè Những khó khăn thường gặp phải của các hộ nuôi lồng bè (thị trường, vốn, kỹ thuật, chất lượng con giống )

- Việc sắp xếp và xử lý này tạo điều kiện thuận lợi cho sự so sánh, đối chiếu và rút ra nhận xét cần thiết

- Phân tích, xử lý số liệu: số liệu thu về được mã hóa sau đó sử dụng phần mềm excell và các phương pháp thống kê kinh tế để xử lý

2.4.5 Các chỉ tiêu xác định kết quả sản xuất

+ Giá trị sản xuất ( GO )

Trang 36

Trong đó: GO: Giá trị sản xuất

Qi: Khối lượng sản phẩm thứ i

Pi: Giá trị của sản phẩm i tương ứng

+ Giá tri gia tăng (VA)

VAGOIC

Trong đó: VA: Giá trị gia tăng hay giá trị tăng thêm

IC : Chi phí trung gian

+ Năng suất diện tích mặt nước

Sản lượng cá thu hoạch

Năng suất =

Thể tích nước nuôi cá lồng, bè

2.4.6 Các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế

+ Giá trị sản xuất tính cho 100 đồng chi phí trung gian; 100 đồng tổng chi phí sản xuất; 1 lao động

- Giá trị sản xuất tính cho 100 đồng chi phí trung gian

100

IC GO

- Giá trị sản xuất tính cho 100 đồng tổng chi phí sản xuất

Ngày đăng: 06/08/2014, 17:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tác An (2003), “Ô nhiễm vùng ven bờ” Khóa tập huấn quốc gia về quản lý khu bảo tồn biển, 4 – 16/8/2003, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô nhiễm vùng ven bờ” "Khóa tập huấn quốc gia về "quản lý khu bảo tồn biển, 4 – 16/8/2003
Tác giả: Nguyễn Tác An
Năm: 2003
2. Nguyễn Đức Cự, Lưu Văn Diệu (1998), Chất lượng nước VHL – Dự án quản lý VHL, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia hợp tác với JICA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng nước VHL – Dự án quản "lý VHL
Tác giả: Nguyễn Đức Cự, Lưu Văn Diệu
Năm: 1998
3. Nguyễn Đức Cự (1998), “Hiện trạng mất đất ngập nước triều ở vịnh Hạ Long và tác động đến môi trường nước”, Tài nguyên và môi trường biển, (tr 49 – 52) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng mất đất ngập nước triều ở vịnh Hạ Long và tác động đến môi trường nước”, "Tài nguyên và môi trường biển
Tác giả: Nguyễn Đức Cự
Năm: 1998
4. Nguyễn Chu Hồi và nnk (1995), Báo cáo Điều tra, đánh giá các đặc trưng môi trường và tài nguyên VHL phục vụ phát triển lâu bền, Phân viện Hải dương học Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Điều tra, đánh giá các đặc trưng môi trường và tài nguyên VHL phục vụ phát triển lâu bền
Tác giả: Nguyễn Chu Hồi và nnk
Năm: 1995
5. Nguyễn Chu Hồi (1998), Báo cáo “Quản lý tổng hợp vùng ven biển: nghiên cứu ở vùng VHL, Việt Nam”, Hội thảo về quản lý tổng hợp vùng ven biển và phát triển các nguồn tài nguyên biển phi sinh vật, ngày 9-11/09/1998, Thái Lan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo “Quản lý tổng hợp vùng ven biển: nghiên cứu ở vùng VHL, Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Chu Hồi
Nhà XB: Hội thảo về quản lý tổng hợp vùng ven biển và phát triển các nguồn tài nguyên biển phi sinh vật
Năm: 1998
6. Nguyễn Phương Hoa, Hoàng Việt (1997), “Đánh giá nhanh các nguồn ô nhiễm VHL”, Tài nguyên và môi trường biển, (4), tr 163 – 170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhanh các nguồn ô nhiễm VHL”, "Tài nguyên và môi trường biển
Tác giả: Nguyễn Phương Hoa, Hoàng Việt
Năm: 1997
7. Ngô Văn Hùng (2004), Công tác quản lý, bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên thế giới VHL, Ban quản lý VHL Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác quản lý, bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên thế giới VHL
Tác giả: Ngô Văn Hùng
Nhà XB: Ban quản lý VHL
Năm: 2004
8. Từ Thị Lan Hương, Đàm Đức Tiến, Nguyễn Văn Tiến (2004), Báo cáo tóm tắt Thành phần loài và phân bố của rong, cỏ biển tại VHL, Phân viện Hải dương học Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài và phân bố của rong, cỏ biển tại VHL
Tác giả: Từ Thị Lan Hương, Đàm Đức Tiến, Nguyễn Văn Tiến
Năm: 2004
9. Nguyễn Cao Huần (1998), “Báo cáo về đa dạng sinh học và các khu bảo vệ ở khu vực vườn Quốc gia Cát Bà và VHL”, Hội nghị phát triển toàn diện khu vực ven bờ Quảng Ninh và Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về đa dạng sinh học và các khu bảo vệ ở khu vực vườn Quốc gia Cát Bà và VHL”, "Hội nghị phát triển toàn diện khu vực
Tác giả: Nguyễn Cao Huần
Năm: 1998
10. Nguyễn Hữu Hùng (2001). Nghiên cứu một số ảnh hưởng của cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis Cuvier & Valenciennes, 1828). Luận văn cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psammoperca waigiensis
Tác giả: Nguyễn Hữu Hùng
Năm: 2001
11. Kungvankij & ctv (1986). Sinh học và kỹ thuật nuôi cá Chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790). Nguyễn Thanh Phương dịch. Nhà xuất bản Nông Nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học và kỹ thuật nuôi cá Chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790)
Tác giả: Kungvankij, ctv
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp - Hà Nội
Năm: 1986
12. Nippon Koei Co.,Ltd, Metocean Co., Ltd, (1999), Báo cáo thực địa: Nghiên cứu về quản lý môi trường cho VHL, Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường và ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên "cứu về quản lý môi trường cho VHL
Tác giả: Nippon Koei Co.,Ltd, Metocean Co., Ltd
Năm: 1999
13. Đào Mạnh Sơn (1995), Báo cáo tổng kết đề tài: Nghiên cứu công nghệ vận chuyển cá sống, vớt cá sống, sản xuất giống nhân tạo và nuôi một số loài cá biển, Viện nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu công nghệ vận chuyển cá sống, vớt cá sống, sản xuất giống nhân tạo và nuôi một số loài cá biển
Tác giả: Đào Mạnh Sơn
Năm: 1995
14. Schmittou H.R, Cremer M.C, Zhang Jian, Những nguyên lý và ứng dụng nuôi cá với mật độ cao trong bè nhỏ (2000), Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý và ứng dụng nuôi "cá với mật độ cao trong bè nhỏ (2000)
Tác giả: Schmittou H.R, Cremer M.C, Zhang Jian, Những nguyên lý và ứng dụng nuôi cá với mật độ cao trong bè nhỏ
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2000
15. Võ Sỹ Tuấn (2003), “Các hệ sinh thái biển – chức năng, hiện trạng và những tác động”, khóa tập huấn quốc gia về khu bảo tồn biển, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hệ sinh thái biển – chức năng, hiện trạng và những tác động”, "khóa tập huấn quốc gia về khu bảo tồn biển
Tác giả: Võ Sỹ Tuấn
Năm: 2003
16. Đỗ Công Thung và các cộng sự (2004), Báo cáo tóm tắt Động vật không xương sống đáy và cá biển VHL, Phân viện Hải dương học Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật không xương sống đáy và cá biển VHL
Tác giả: Đỗ Công Thung và các cộng sự
Năm: 2004
17. Phạm Xuân Thủy (2000), Điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội một số vùng nuôi tôm sú thương phẩm tại tỉnh Khánh Hòa, Luận án thạc sỹ - Khoa học Thủy sản, Đại học Thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả "kinh tế xã hội một số vùng nuôi tôm sú thương phẩm tại tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Phạm Xuân Thủy
Năm: 2000
18. Nguyễn Huy Yết, Lưu Văn Diệu, Nguyễn Đăng Ngải, Lăng Văn Kẻn (2000), “Sự suy thoái hệ sinh thái san hô vịnh Hạ Long – Cát Bà trong thời gian gần đây”, Tài nguyên và môi trường biển, trang 146 – 156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự suy thoái hệ sinh thái san hô vịnh Hạ Long – Cát Bà trong thời gian gần đây"”, Tài nguyên và môi trường biển
Tác giả: Nguyễn Huy Yết, Lưu Văn Diệu, Nguyễn Đăng Ngải, Lăng Văn Kẻn
Năm: 2000
20. Bộ Thủy sản (2002), Báo cáo tổng kết ngành thủy sản năm 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết ngành thủy sản năm 2001
Tác giả: Bộ Thủy sản
Năm: 2002
21. Bộ Thủy sản (2003), Báo cáo tổng kết ngành thủy sản năm 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết ngành thủy sản năm 2002
Tác giả: Bộ Thủy sản
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Sản lượng nuôi cá biển ở một số nước trên thế giới [35], [39], [41] - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 1.1 Sản lượng nuôi cá biển ở một số nước trên thế giới [35], [39], [41] (Trang 14)
Bảng 1.3: Nhiệt độ, lượng mưa, số giờ nắng, độ ẩm trung bình của tỉnh Quảng Ninh - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 1.3 Nhiệt độ, lượng mưa, số giờ nắng, độ ẩm trung bình của tỉnh Quảng Ninh (Trang 20)
Bảng 1.4: Một số loài cá biển đang được nuôi phổ biến tại Quảng Ninh [25] - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 1.4 Một số loài cá biển đang được nuôi phổ biến tại Quảng Ninh [25] (Trang 28)
Bảng 1.5: Tình hình nuôi cá lồng bè trên biển tại Quảng Ninh năm 2007 – 2009 [25] - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 1.5 Tình hình nuôi cá lồng bè trên biển tại Quảng Ninh năm 2007 – 2009 [25] (Trang 29)
Bảng 1. 63 :  Kết quả khảo sát số lượng và số nhân khẩu sống trên lồng bè - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 1. 63 : Kết quả khảo sát số lượng và số nhân khẩu sống trên lồng bè (Trang 30)
Bảng 2.1: Chọn vùng nghiên cứu và số mẫu điều tra - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 2.1 Chọn vùng nghiên cứu và số mẫu điều tra (Trang 35)
Bảng 3.6: Các đối tượng cá biển chủ yếu nuôi lồng bè tại VHL, năm 2008 - 2009 - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 3.6 Các đối tượng cá biển chủ yếu nuôi lồng bè tại VHL, năm 2008 - 2009 (Trang 44)
Bảng 3. 9: Mức độ đầu tư, kết quả thu được của ngư dân trên VHL, năm 2008 - 2009 - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 3. 9: Mức độ đầu tư, kết quả thu được của ngư dân trên VHL, năm 2008 - 2009 (Trang 50)
Bảng 3. 10: Một số chỉ tiêu kinh tế của 1 lồng nuôi cá biển tại VHL năm 2008-2009 - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 3. 10: Một số chỉ tiêu kinh tế của 1 lồng nuôi cá biển tại VHL năm 2008-2009 (Trang 51)
Bảng 3. 11. Chi phí và cơ cấu chi phí sản xuất của 1 lồng nuôi cá lồng bè - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 3. 11. Chi phí và cơ cấu chi phí sản xuất của 1 lồng nuôi cá lồng bè (Trang 52)
Bảng 3.13: Hiệu quả kinh tế của 1 m 3  lồng nuôi cá biển tại VHL năm 2008 – 2009 - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 3.13 Hiệu quả kinh tế của 1 m 3 lồng nuôi cá biển tại VHL năm 2008 – 2009 (Trang 53)
Bảng 3.12: Chi phí và kết quả sản xuất của 1 m 3  lồng nuôi cá biển tại VHL, - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 3.12 Chi phí và kết quả sản xuất của 1 m 3 lồng nuôi cá biển tại VHL, (Trang 53)
Bảng 3. 14: Những khó khăn gặp phải của ngư dân nuôi cá biển trên VHL - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 3. 14: Những khó khăn gặp phải của ngư dân nuôi cá biển trên VHL (Trang 56)
Bảng 3. 15: Hướng phát triển của các ngư dân nuôi cá lồng bè trên VHL, năm 2010 - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
Bảng 3. 15: Hướng phát triển của các ngư dân nuôi cá lồng bè trên VHL, năm 2010 (Trang 57)
2. Hình thức nuôi: - điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại thành phố hạ long tỉnh quảng ninh
2. Hình thức nuôi: (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w