LỜI CÁM ƠN Đây là vấn đề nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý nguồn lợi thủy sản, nhất là quản lý đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển, trong đó công tác bảo tồn l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Mọi số liệu thu thập đảm bảo chính xác và trung thực với thực tế
- Các nguồn số liệu khác được sử dụng hoặc trích dẫn đều là tài liệu, số liệu đã được công bố hoặc có sự cho phép của tác giả
- Luận văn này hoàn toàn do tôi tự viết và trình bày, không sao chép từ bất cứ tài liệu nào
- Trong suốt quá trình thực hiện luận văn không xảy ra tranh chấp gì với các cá nhân, tổ chức khác
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về những lời cam đoan trên
Tác giả
Lê Văn Tính
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Đây là vấn đề nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý nguồn lợi thủy sản, nhất là quản
lý đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển, trong đó công tác bảo tồn là lĩnh vực còn rất mới mẽ nên tài liệu tham khảo cũng như các tài liệu liên quan khác không nhiều Tuy nhiên, dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn khoa học TS Phan Trọng Huyến, tôi hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn kính mến của tôi
Luận văn yêu cầu nhiều số liệu điều tra thực tế và thống kê kinh tế - xã hội, khai thác thủy sản, dịch vụ du lịch trong vòng nhiều năm và nhiều khía cạnh khác nhau trong quản lý Khu BTB Phú Quốc nhưng điều kiện thực hiện có nhiều hạn chế Luận văn của tôi chắc chắn không hoàn thành nếu thiếu sự hỗ trợ giúp đỡ quý báo của Viện Hải dương học, Sở NNPTNT Kiên Giang, Chi cục KT&BVNLTS Kiên Giang, BQL Khu BTB Phú Quốc, Hợp phần SKT&XQKBTB, WAP về nguồn số liệu sẵn có cũng như hỗ trợ trong quá trình điều tra Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với PGS–TS.Võ Sỹ Tuấn, lãnh đạo Sở NNPTNT Kiên Giang, Chi cục KT&BVNLTS Kiên Giang, BQL Khu BTB Phú Quốc và BQL Hợp phần SKT&XQKBTB, các đối tác Liên minh Đất ngập nước và cán bộ BQL Khu BTB Phú Quốc
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn đến các chủ tàu, cộng đồng ngư dân tham gia khai thác thủy sản ở các xã Hàm Ninh, Bãi Thơm, Hòn Thơm, các chủ nhà hàng, khách sạn, chủ tàu làm dịch vụ du lịch đã cung cấp thông tin về nghề nghiệp, thực tế sản xuất của nghề và đời sống cũng như những định hướng trong tương lai của họ về nghề nghiệp
Cuối cùng xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và cán bộ Khoa Khai thác thủy sản, Phòng Đào tạo đại học và sau đại học – Trường Đại học Nha Trang đã giúp đỡ tôi có được ngày hôm nay
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Lê Văn Tính
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa 2
Lời cam đoan 3
Lời cám ơn 4
Mục lục 5
Danh mục các từ viết tắt 8
Danh mục các bảng 9
Danh mục các hình ảnh 10
Danh mục các phụ lục 11
LỜI NÓI ĐẦU 12
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.1 Nghiên cứu quản lý khu BTB trên thế giới 13
1.1.1 Khu BTB vịnh Co Tong Philipines 13
1.1.2 Khu BTB San Salvador, Masinloc Zambales, Philippines 13
1.1.3 Dự án ĐQL nguồn lợi tại Jemluk Bali Indonesia 14
1.1.4 Đồng quản lý cá nội địa tại Bangladesh 15
1.1.5 Nhận xét 15
1.2 Các nghiên cứu về quản lý khu BTB Việt Nam 16
1.2.1 Khu BTB Rạn Trào 16
1.2.2 Khu BTB vịnh Nha Trang 18
1.2.3 Khu BTB Cù Lao Chàm 19
1.2.4 Quản lý nguồn lợi ở đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế 20
1.2.5 Quản lý nguồn lợi ở tỉnh Bình Định 21
1.2.6 Nhận xét 22
1.3 Điều kiện tự nhiên, môi trường, ĐDSH, KT - XH Khu BTB .23
1.3.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí và phạm vi Khu BTB Phú Quốc 23
Trang 61.3.2 Chất lượng môi trường nước biển hệ sinh thái san hô 27
1.3.3 Đa dạng sinh học hệ sinh thái san hô trong Khu BTB Phú Quốc 27
1.3.4 Chất lượng môi trường nước biển hệ sinh thái thảm cỏ biển 28
1.3.5 Đa dạng sinh học hệ sinh thái thảm cỏ biển trong Khu BTB 30
1.3.6 Kinh tế - xã hội Khu BTB Phú Quốc 31
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 40
1.2 Thời gian, đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… …………40
2.1.1 Thời gian thực hiện 39
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 39
2.1.3 Phạm vi nghiên cứu 39
2.2 Nội dung nghiên cứu 39
2.2.1 Điều tra thực trạng về nguồn lợi Khu BTB Phú Quốc 39
2.2.2 Điều tra thực trạng về hoạt động KTTS Khu BTB Phú Quốc 39
2.2.3 Điều tra thực trạng hoạt động gây đe dọa NLTS Khu BTB 39
2.2.4 Điều tra thực trạng công tác quản lý Khu BTB Phú Quốc 40
2.2.5 Giải pháp quản lý Khu BTB đến năm 2014 40
2.3 Phương pháp nghiên cứu 40
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 40
2.3.2 Phương pháp điều tra 41
2.3.3 Phương pháp thống kê 41
2.3.4 Phương pháp SWOT 41
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Kết quả điều tra thực trạng Khu BTB Phú Quốc 42
3.1.1 Thực trạng về nguồn lợi Khu BTB Phú Quốc 42
3.1.2 Thực trạng về hoạt động khai thác trong Khu BTB Phú Quốc 49
3.1.3 Thực trạng hoạt động gây nguy cơ đe dọa NLTS Khu BTB 51
Trang 73.1.4 Thực trạng công tác quản lý KBTB Phú Quốc 52
3.1.5 Nhận xét và đánh giá 61
3.1.6 Mục tiêu 62
3.2 Giải pháp quản lý Khu BTB Phú Quốc 63
3.2.1 Nâng cao chất lượng Quy chế quản lý Khu BTB 63
3.2.2 Nâng cao chất lượng tuyên tuyền, giáo dục, nâng cao nhận thức 64
3.2.6 Ứng dụng công nghệ mới vào quản lý ĐDSH Khu BTB 67
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69
KẾT LUẬN 69
KHUYẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 73
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NNPTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
KT&BVNLTS Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
WAP Chương trình Liên minh Đất ngập nước
SKT&XQKBTB Sinh kế trong và xung quanh khu BTB
SIDA Tổ chức Hợp tác Phát triển Quốc tế của Thụy Điển WWF Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ cấu nghề khai thác thủy sản có công suất dưới 21 cv của 3 xã
Bảng 1.2 Lao động nghề cá phân theo đơn vị hành chính của huyện
Bảng 3.3 Diện tích, thành phần loài, độ phủ rạn san hô san hô trong từng phân khu chức năng của Khu BTB Phú Quốc
Bảng 3.4 Thành phần loài và mật độ cá rạn san hô trong từng phân khu chức năng của Khu BTB Phú Quốc
Bảng 3.5 Mật độ của một số loài thâm mềm có giá trị kinh tế theo từng nhóm sinh vật Bảng 3.6 Số lượng ngành, giống, loài rong biển trong từng phân khu chức năng của Khu BTB Phú Quốc
Bảng 3.7 Diện tích, thành phần loài, độ phủ thảm cỏ biển trong từng phân khu chức năng của Khu BTB Phú Quốc
Bảng 8 Tổng hợp nghề, số lượng theo nhóm công suất và ngư trường khai thác
Bảng 3.9 Tổng hợp ý kiến của ngư dân hành nghề lặn kết hợp với lưới bao rạn về sự suy giảm nguồn lợi
Bảng 3.10 Tổng hợp các nguyên nhân ảnh hưởng đến hệ sinh thái và các loài động vật biển quí hiếm
Bảng 3.11 So sánh phân loại, cấp quản lý của Khu BTB Phú Quốc với quy định của Chính phủ
Bảng 3.12 So sánh sự khác nhau trong phân khu chức năng và quản lý các hoạt động Khu BTB Phú Quốc với quy định của Chính phủ
Bảng 3.13 Thống kê nhân lực của BQL Khu BTB Phú Quốc
Bảng 3.14 Thống kê các đơn vị phối hợp với BQL Khu BTB Phú Quốc
Bảng 3.15 Thống kê các hoạt động phát triển cộng đồng và cải thiện sinh kế
Bảng 3.16 Tổng hợp nhu cầu lao động của các doanh nghiệp thương mại dịch vụ
Bảng 3.17 Tổng hợp điều kiện tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1 Bản đồ Khu BTB Phú Quốc
Hình 2 Biểu đồ số lượng tàu theo nghề khai thác thủy sản
Hình 3 Biểu đồ số lượng tàu có công suất máy dưới 21 cv theo nghề khai thác thủy sản của huyện Phú Quốc
Trang 11DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Mẫu 1 Điều tra kinh tế - xã hội hộ trong và xung quanh Khu BTB Phú Quốc Mẫu 2 Thu thập thông tin nhu cầu lao động của doanh nghiệp thương mại dịch vụ
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
Để nghề cá được phát triển bền vững thì khai thác phải đi đôi với bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Việc thành lập và quản lý các khu BTB được xem như là một trong những công cụ bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản hữu hiệu nhất và phổ biến nhất trên thế giới
Khu BTB Phú Quốc được thành lập vào năm 2007, nằm ở phía Nam, phía Đông và Đông – Bắc đảo Phú Quốc Khu BTB Phú Quốc có tổng diện tích 26.863,17 ha, trong đó, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 2.952,45 ha, phân khu phục hồi sinh thái có diện tích 13.592,95 ha, và phân khu phát triển có diện tích 10.317,77 ha
Từ khi thành lập và đi vào hoạt động cho đến nay, Khu BTB Phú Quốc không những có vị trí vai trò quan trọng trong việc bảo vệ phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản mà còn góp phần phát triển du lịch sinh thái biển ở Phú Quốc Tuy nhiên, trong công tác quản lý Khu BTB vẫn còn những mặt tồn tại, hạn chế, cần phải được nghiên cứu đưa
ra các giải pháp quản lý phù hợp để đạt được các mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn
Được sự đồng ý của Khoa KTTS, Trường Đại học Nha Trang và sự hướng dẫn của
thầy giáo tiến sĩ Phan Trọng Huyến, tôi được giao thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ: “Giải pháp quản lý khu BTB Phú Quốc giai đoạn 2010 – 2014”
Đề tài được triển khai thực hiện từ ngày 15/07/2009 đến ngày 15/05/2010 với các nội dụng chính sau:
- Điều kiện tự nhiên, vị trí và phạm vi Khu BTB
- Kinh tế - xã hội trong và xung quanh Khu BTB
- Thực trạng nguồn lợi, hoạt động sử dụng, các mối nguy và quản lý Khu BTB
- Đề xuất các mục tiêu quản lý Khu BTB đến năm 2014
- Đề xuất các giải pháp quản lý Khu BTB giai đoạn 2014
Nội dung và kết quả của đề tài sẽ góp phần quản lý tốt Khu BTB Phú Quốc
Nha Trang, tháng 10 năm 2010
Tác giả
Lê Văn Tính
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu quản lý khu BTB trên thế giới
1.1.1 Khu BTB vịnh Co Tong Philipines
Vịnh Co Tong nằm ở bờ đông của Bohol Trước chiến tranh thế giới thứ 2 trữ lượng cá ở đây rất lớn và phương pháp đánh bắt có cường lực thấp, nghề cá ở đây gần như không được quản lý Sau chiến tranh thế giới thứ 2, người dân đổ về vùng này để sinh sống và KTTS vào thời kỳ này nhu cầu dùng hải sản tăng và đánh bắt bằng mìn bắt đầu xuất hiện Các tàu có quy mô lớn cũng vào KTTS ở trong vịnh, sản lượng khai thác các tàu thuyền thủ công của người dân địa phương giảm từ 20kg/chuyến biển những năm 60 xuống còn 10 kg/chuyến cuối thập niên 70 Trước dấu hiệu của sự suy giảm nguồn lợi, chính quyền địa phương đã quyết định xây dựng khu bảo tồn vào năm 1978 chỉ cho phép khai thác có chọn lọc một số đối tượng Dự án kết thúc vào năm 1996, các công việc đánh giá kết quả của dự án cho thấy sản lượng khai thác cá của người dân làm việc với ngư cụ thủ công tăng Thu nhập bình quân đầu người tăng, người dân đã có ý thức hơn trong việc quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên [13]
1.1.2 Khu BTB San Salvador, Masinloc Zambales, Philippines
Cộng đồng dân đảo San Salvador sống trải dài trên 380 ha, nằm ở phía Tây bờ biển Luzon, cách trung tâm Manila 250 km, cho đến cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 sự đa dạng sinh học, giàu trữ lượng hải sản, sự đồng nhất văn hóa trong cộng đồng dân cư vẫn diễn ra bình thường, rất ít xung đột giữa những người sử dụng nguồn lợi Đầu thập niên
80 của thế kỷ 20 do sự tham gia khai thác, cường lực KTTS tăng ở khu vực ven bờ đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự suy giảm nguồn lợi thuỷ sản và phá huỷ hệ sinh thái, thảm thực vật cỏ biển Sự quản lý tập trung thiếu hiệu quả của chính phủ, người dân ở rải rác không có tổ chức làm cho tình trạng huỷ diệt nguồn lợi càng nhanh, sản lượng khai thác giảm đáng kể từ 20 kg/ngày xuống còn 3kg/ngày vào năm 1998 Nhiều loài cá sống
ở rạn san hô như cá mú, cá hồng và các loại có giá trị kinh tế khác ngày càng ít đi Kết quả khảo sát, điều tra ban đầu của dự án cho thấy diện tích san hô còn sống chỉ còn 23% diện tích nước quanh đảo NGO bắt đầu tiến hành các dự án quản lý nguồn lợi dựa vào cộng
Trang 14đồng dân cư Dự án khuyến khích người dân có trách nhiệm hơn trong quản lý nguồn lợi và nâng cao thu nhập Trước tình hình thay đổi về quy trình quản lý cũng như các điều kiện
xã hội, NGO đã chuyển quản lý dự án cho tổ chức của cộng đồng dân cư quản lý ĐQL bắt đầu hiện hình rõ hơn ở giai đoạn cuối của dự án, chính quyền địa phương đã có nhiều công việc chủ động hơn để duy trì dự án như cung cấp thêm kinh phí, nhân lực cũng như
ra quy định kéo dài thời gian làm việc của dự án Sự tuần tra, giám sát quy định của khu bảo tồn bây giờ là công việc của đội liên ngành gồm công an, người dân và BQL So sánh các yếu tố đa dạng sinh học cho thấy, độ che phủ san hô tăng từ 23% năm 1988 đến 57% năm 1998 Nhiều loài cá xuất hiện hơn, từ 126 loài thuộc 19 họ năm 1988 lên đến 138 loài thuộc 28 họ năm 1998 [13]
1.1.3 Dự án ĐQL nguồn lợi tại Jemluk Bali Indonesia
Jemluk là một làng cá nhỏ nằm phía Đông - Bắc đảo Bali, chiều dài bờ biển của làng là 2km, vùng nước nằm trong vùng ranh giới 400m trở vào được quy định dành cho các hoạt động của cư dân có khoảng 720m, vùng nước này có độ bao phủ san hô rất lớn Hậu quả của việc KTTS bừa bãi san hô làm các rạn san hô đã bị huỷ diệt dẫn đến sự huỷ diệt của môi trường sống của các loài thuỷ sản Để đương đầu với sự sang bằng các rạn san hô, Jemluk đã đi đến quyết định sẽ thả các rạn san hô nhân tạo xuống khu vực biển họ quản lý Dự án thả rạn san hô nhân tạo với mục đích tạo ra môi trường sống và nơi trú ẩn cho các loài thuỷ sản Sau khi thả các rạn san hô, chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý các rạn san hô nhân tạo và nguồn lợi thuỷ sản Tuy nhiên, việc quản lý này rất kém hiệu quả vì sự hạn chế về kinh phí và tài chính của cơ quan quản lý Trước tình hình đó, chính quyền đã chuyển quyền quản lý các rạn san hô cho cư dân địa phương Ngư dân đã cùng với chính quyền xã xây dựng quy chế quản lý các khu rạn san hô tự nhiên và nhân tạo Hiệp hội ngư dân cũng được thành lập nhằm mục đích bảo vệ các rạn san hô đồng thời khai thác hợp lý tài nguyên san hô bằng các hình thức câu cá, du lịch Sau khi các rạn san hô được thả, nguồn lợi thuỷ sản tăng lên nhanh chóng kéo theo sự thu hút khách du lịch đến lặn, câu cá Việc phục vụ khách du lịch và câu cá ở các vùng san hô được quy định chặt chẽ cho mọi thành viên trong hội ngư dân điều phải tuân thủ Việc
Trang 15giám sát các quy định cũng được thực hiện bởi chính ngư dân với sự hỗ trợ về pháp lý của chính quyền địa phương Từ thực tế cho thấy, người dân ở Jumuk đã được khuyến khích vào việc quản lý và giám sát các rạn san hô nhân tạo và tự nhiên Khi chính quyền trung ương, tỉnh không có khả năng quản lý nguồn lợi, họ đã sẵn sàng chia sẽ quyền lực quản lý cho người dân và chính quyền xã, đây là một yếu tố để tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của ĐQL nghề cá [13]
1.1.4 Đồng quản lý cá nội địa tại Bangladesh
Nghề cá nội địa đóng vai trò rất quan trọng ở Bangladesh, 80% hộ gia đình sống ở nông thôn khai thác cá nước ngọt làm thức ăn và tạo thu nhập, 60% lượng Protein động vật từ cá Tuy nhiên việc quản lý kém hiệu quả, khai quá mức, phương pháp khai thác có tính huỷ diệt đã làm suy giảm chất lượng môi trường là nguyên nhân dẫn đến nguồn lợi cá
bị giảm sút trầm trọng Năm 1996, chính quyền, NGOs đã tiến hành thử nghiệm ĐQL nghề cá nội địa ở 19 vùng khác nhau ở Bangladesh Từng nhóm khoảng 5.000 hộ gia đình
đã được nhóm họp lại với nhau để tự quản lý và chia sẽ khai thác nguồn lợi thuỷ sản Họ được hỗ trợ về giáo dục và tài chính để thực hiện dự án ĐQL Kết quả cho thấy người dân
có thể thành lập được hội ngư dân và bầu ra BQL Các quy định về quản lý và giám sát quy định đã được tổ chức ngư dân đưa ra và thực hiện rất tốt Thu nhập đã dần tăng lên, nguồn lợi cá được phục hồi nhanh chóng [13]
1.1.5 Nhận xét
Nhân tố chính cho quản lý thành công một khu bảo tồn là sự lãnh đạo tốt, hỗ trợ nguồn nhân lực thích đáng và có sẵn quỹ hoạt động – cả nguồn lực bên ngoài và các hoạt động kinh tế trong khu bảo tồn
Trao quyền quản lý là yếu tố cần thiết dẫn đến quản lý thành công đối với bất kỳ khu bảo tồn, hợp tác với cộng đồng cũng là yếu tố rất cần thiết Để hợp tác với cộng đồng phải cho cộng đồng tham gia quản lý khu bảo tồn
Chăm lo thu nhập và thay đổi sinh kế bền vững và nâng cao nhận thức về bảo vệ tài nguyên và môi trường biển cho các địa phương, cả cộng đồng cần phải đặc biệt quan tâm ngay từ khi thiết lập khu bảo tồn
Trang 161.2 Các nghiên cứu về quản lý khu BTB Việt Nam
1.2.1 Khu BTB Rạn Trào
Cuối năm 2000 [11], Liên minh sinh vật biển Quốc tế IMA tại Việt Nam là một NGO cùng với các ban ngành chức năng của tỉnh Khánh Hòa và huyện Vạn Ninh tiến hành điều tra khảo sát, tuyên truyền lấy ý kiến của cán bộ và nhân dân địa phương về việc xây dựng khu BTB tại Rạn Trào Ngày 25/03/2002 khu BTB Rạn Trào xã Vạn Hưng được hình thành Khu BTB Rạn Trào được thành lập và đưa vào hoạt động theo nguyên tắc quản lý cộng đồng lấy người dân làm trung tâm cho mọi hoạt động dưới sự trở giúp của chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan Mục tiêu của chương trình nhằm tăng cường nhận thức cho người dân về bảo vệ môi trường và nguồn lợi biển Lựa chọn
và áp dụng các công nghệ khai thác và phương pháp nuôi trồng hải sản phù hợp, không mang tính hủy diệt nguồn lợi hải sản, đặc biệt là hệ sinh thái san hô Các giải pháp quản
lý của Khu BTB:
-Tổ chức cho cộng đồng tham gia quản lý nguồn lợi ven bờ thông qua việc điều tra khảo sát, đánh giá tình hình nông thôn và tình hình nguồn lợi có sự tham gia của người dân; tuyên truyền vận động nhân dân địa phương hiểu rõ mục tiêu, hoạt động của Dự án
và chủ động tham gia vào các hoạt động của Dự án; xây dựng Nhóm hạt nhân gồm 9 người, trong đó 8 người dân và 1 chiến sĩ biên phòng làm nhiệm vụ bảo vệ và quản lý Khu BTB
- Nâng cao năng lực quản lý: Tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo về kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, năng lực quản lý nuôi trồng thủy sản, nhận thức về giới cho cán bộ và người dân
- Tuyên truyền và giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng: Xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên và mạng lưới cộng tác viên; tổ chức các cuộc triển lãm nhỏ và hội thi tìm hiểu về Khu BTB; vệ sinh môi trường xanh, sạch, đẹp, tạo thói quen thu gom rác để đúng nơi quy định; tổ chức các ngày làm sạch biển có sự phối hợp các đoàn thể ở xã và học sinh hưởng ứng
Trang 17- Tổ chức nuôi cấy san hô nhân tạo, nuôi trồng một số loài thủy sản không làm hại môi trường
- Đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế cho dân tại địa phương nhằm chuyển đổi
cơ cấu nghề hợp lý, hỗ trợ cho các thành viên Nhóm hạt nhân vay tiền để đầu tư phát triển sinh kế
- Tổ chức cho BQL Khu BTB và Nhóm hạt nhân đi tham quan học tập kinh nghiệm quản lý ở một số nơi trong nước Đón tiếp nhiều đoàn khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu, học tập…
Sau 3 năm thực hiện dự án một khu BTB theo nguyên tắc quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng đã được hình thành và đi vào hoạt động thường xuyên có hiệu quả IMA Việt Nam đã bàn giao cho UBND tỉnh Khánh Hòa Tỉnh có chủ trương tiếp tục duy trì và
mở rộng, kết hợp với các hoạt động bảo vệ nguồn lợi biển và du lịch sinh thái khác của vịnh Vân Phong, một trong những khu du lịch sinh thái biển lớn nhất của cả nước
- Kết quả:
+ Nguồn lợi rạn san hô và cá rạn san hô tại khu BTB được bảo vệ và tái tạo, nguồn lợi thủy sản dần dần được khôi phục với số chủng loại và trữ lượng loài tăng lên rõ rệt Trong khu BTB đã xuất hiện nhiều nguồn giống trước đây đã cạn kiệt như: tôm hùm, cá ngựa, hải sâm, ốc nhảy, bàn mai Trong đợt khai thác thử vào cuối tháng 8/2003 đã thu được 85 kg ốc vỗ (ốc Mặt trăng) và 650 con ốc nhảy đạt cỡ thương phẩm
+ Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học và nguồn lợi biển được nâng lên rõ rệt Người dân đã có ý thức trong việc vệ sinh môi trường biển và đất liền, không xả thải chất thải làm ô nhiễm môi trường Tình trạng KTTS bằng các hình thức hủy diệt như đánh mìn, dùng xianua, phá hoại san hô đã được xóa bỏ
+ Người dân được tạo điều kiện tiếp cận các nguồn tín dụng, tăng cường sinh kế, các kỹ thuật nuôi trồng hải sản lựa chọn được cải thiện theo hướng tăng năng suất và giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường biển Mô hình nuôi trồng thủy sản kết hợp bền vững được người dân ủng hộ và tham gia tích cực, đời sống được cải thiện, tỷ lệ
hộ nghèo trong vùng dự án giảm nhanh
Trang 18+Năng lực quản lý nguồn lợi hải sản ven bờ của người dân và cán bộ quản lý thủy sản được nâng cao thông qua các hoạt động đào tạo và quản lý dự án
+Định hướng một số giải pháp cho việc quản lý cho việc quản lý nguồn lợi thủy sản rạn san hô ven bờ được xây dựng và phổ biến áp dụng cho các vùng biển khác của Việt Nam
1.2.2 Khu BTB vịnh Nha Trang
Dự án Khu BTB vịnh Nha Trang là Khu BTB đầu tiên của Việt Nam Năm 2001, Khu BTB Hòn Mun ( nay là Khu BTB vịnh Nha Trang), Khánh Hòa đã được thiết lập và quản lý với sự trợ giúp của Ngân hàng Thế giới/Quỹ môi trường toàn cầu, Cơ quan phát triển quốc tế của Đan Mạch và Tổ chức bảo vệ thiên nhiên quốc tế Sau bốn năm hoạt động, Dự án đã đem lại nhiều đóng góp cho Khu BTB vịnh Nha Trang Mục tiêu của Dự
án và Khu BTB vịnh Nha Trang là bảo vệ đa dạng sinh học biển và giúp cộng đồng dân
cư các khóm đảo cải thiện sinh kế và cung các bên liên quan khác bảo vệ và quản lý hiệu quả đa dạng sinh học biển của vịnh Nha Trang và làm mô hình mẫu về quản lý có sự tham gia của cộng đồng ở Việt Nam Các hoạt động của Khu BTB vịnh Nha Trang được xây dựng trên cơ sở tư vấn các chuyên gia trong nước và quốc tế, tham vấn với các cộng đồng người dân các khóm đảo đã giải quyết các mối đe dọa đối với các hệ sinh thái và sinh cảnh trong Vịnh Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế quản lý thí điểm ở Hòn Mun là rất hữu ích cho việc phát triển hệ thống khu BTB cả nước, đặc biệt là vai trò của cộng đồng địa phương tham gia quản lý [2]
Trang 19Giải pháp giáo dục và nâng cao nhận thức của người dân về BTB được quan tâm: Xây dựng và trưng bày Trung tâm du khách trên đảo Hòn Mun; viết báo, làm phim video
và phim tài liệu về Khu BTB; xây dựng các pa-nô ở các khóm đảo trong Khu BTB; tổ chức cho các đoàn thể trong Khu BTB tham gia các buổi hội trại, các chiến dịch vận động, tuyên truyền và nâng cao nhận thức về BTB; một chương trình giáo dục toàn diện
về BTB được giảng dạy ở các trường học trong Khu BTB
Hoạt động tuần tra cũng có sự tham gia của người dân với BQL thể thực thi Quy chế quản lý Khu BTB
Tổ chức khôi phục rừng ngập mặn, thả cá Dìa, Bào ngư, Hải sâm trong Khu BTB; thu nhặt Sao gai biển; lắp đặt hệ thống phao ranh giới phân khu chức năng và phao neo đậu tàu đã góp phần bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trong Khu BTB
Sự tham gia quản lý của cộng đồng: Thành lập các ban BTB cấp khóm; lấy ý kiến của dân về phân khu chức năng khu BTB và lập kế hoạch quản lý; lập và thực hiện kế hoạch hành động về giới
Hỗ trợ sinh kế cho người dân địa phương: Lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá trên
15 thử nghiệm việc làm tạo thu nhập bền vững và không ảnh hưởng đến môi trường cho người dân trong Vịnh, bao gồm nuôi thủy sản và làm hàng thủ công mỹ nghệ, du lịch sinh thái và tổ chức 20 khóa đào tạo kỹ thuật để hỗ trợ việc làm; thực hiện chương trình tín dụng với sự hợp tác của phường Vĩnh Nguyên và Ngân hàng Chính sách xã hội, giúp người dân có vốn để tạo thu nhập
Xây dựng năng lực: Phân tích nhu cầu đào tạo và chiến lược đào tạo cho nhân viên của BQL Khu BTB; tổ chức trên 20 khóa huấn luyện bao gồm: An toàn tàu biển, kỹ năng giao tiếp, cấp cứu, lặn, tiếng Anh, khái niệm về BTB, lập kế hoạch quản lý, vi tính và phương pháp đánh giá sự tham gia của người dân địa phương; tổ chức cho cán bộ và cộng đồng địa phương đi tham quan học tập các mô hình quản lý khu BTB trong và ngoài nước
1.2.3 Khu BTB Cù Lao Chàm
Được sự trợ giúp của Chính phủ Đan Mạch, Dự án Hỗ trợ mạng lưới các khu BTB Việt Nam được xây dựng và chính thức triển khai vào tháng 10 năm 2003 Dự án gồm 2
Trang 20tiểu dự án, tiểu dự án cấp quốc gia và tiểu dự án cấp tỉnh Tiểu dự án cấp tỉnh trợ giúp tỉnh Quảng Nam xây dựng Cù Lao Chàm như là một điểm trình diễn thứ 2 sau Khu BTB vịnh Nha Trang về BTB ở Việt Nam và chuyển giao trách nhiệm quản lý Khu BTB Cù Lao Chàm từ Ban chỉ đạo dự án cho BQL Khu BTB do UBND tỉnh Quảng Nam thành lập Kết quả của thực hiện của Dự án là: Đánh giá nhu cầu năng lực được thực hiện, một kế hoạch đào tạo được soạn thảo và tiến hành đào tào cho các cơ quan chính quyền tỉnh, huyện và xã lựa chọn và các cán bộ liên quan đến việc quản lý bền vững khu BTB; một
hệ thống thông tin và chương trình giám sát khu BTB theo định hướng quản lý được xây dựng và thực hiện; một chiến dịch nâng cao nhận thức cho cư dân địa phương và các nhà quản lý được xây dựng và thực hiện; Cải thiện sinh kế của người dân ở Cù Lao Chàm trên kết quả của các hoạt động phát triển và quản lý hiệu quả tài nguyên thiên nhiên [2]
Các giải pháp quản lý Khu BTB Cù Lao Chàm cũng gần giống như Khu BTB vịnh Nha Trang
1.2.4 Quản lý nguồn lợi ở đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế
Quản lý nguồn lợi ở đầm phá Tam Giang theo nguyên tắc ĐQL Xây dựng mô hình ĐQL dựa vào sự đồng thuận và hợp tác của các bên, không quản lý theo kiểu áp đặt hoặc đánh giá thấp vai trò của cộng đồng Trước tiên, phải cải tiến tiến trình ra quyết định và hành động ở các cấp ( cơ chế hoạt động cấp thôn, xã, thủy vực ), xây dựng hoạt động dựa vào sự đồng thuận của các đối tác, xây dựng năng lực và sức mạnh cộng đồng Kế đến kiện toàn tổ chức cộng đồng để tăng cường sức mạnh và vai trò quản lý Hội nghề cá, tạo lập động lực và cải thiện công bằng để thu hút sự tham gia, xây dựng năng lực và sức mạnh cộng đồng Các nguyên tắc cơ bản để thiết lập hệ thống quản lý là: có hệ thống tổ chức ngư dân chính thức và thống nhất trong vùng nước, hệ sinh thái nhất định; có sự phân quyền và ủy quyền nhất định trong quản lý và sử dụng nguồn lợi, mặt nước cho các
tổ chức ngư dân; có sự tự tổ chức quản lý của ngư dân trong quyền được phân, thông qua việc lập kế hoạch quản lý nghề cá, triển khai thực hiện kế hoạch cũng như xây dựng các quy chế tự quản lý của tổ chức ngư dân BQL các cấp trong hệ thống ĐQL nghề cá đầm phá Tam Giang là đại diện: UBND xã, cán bộ phụ trách hoạt động đầm phá, đại diện các
Trang 21chi hội nghề cá trong xã, đại diện đơn vị dịch vụ hoạt động đầm phá được vận động và tham gia lập quy hoạch, kế hoạch, xây dựng thể chế hoạt động nghề cá Điểm nổi bật của
mô hình quản lý nghề cá đầm phá Tam Giang là lôi kéo ngư dân tham gia quản lý nghề cá thông qua việc thành lập mạng lưới các chi hội nghề cá Tính đến ngày 31/12/2006 có 1.127 hội viên gia đình ngư dân với 18 chi hội nghề cá cơ sở gồm các loại hình vừa đánh bắt vừa nuôi trồng thủy sản, hoặc kết hợp đánh bắt với nuôi trồng thủy sản Các chi hội nghề cá tập hợp ngư dân ở 16 xã của 5 huyện ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế Riêng ở đầm phá có 17 chi hội, 1 chi hội thuộc nghề cá ven bờ Tất cả các chi hội đều có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng của chi hội [11]
1.2.5 Quản lý nguồn lợi ở tỉnh Bình Định
Bình Định là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, có diện tích tự nhiên: 6.075 km2, bờ biển dài 134 km với hệ thống đầm, vịnh đa dạng như Trà Ổ, Đề Gi, Thị Nại, cảng Qui Nhơn,…Dân số 1,5 triệu người Tỉnh có 11 huyện, thành phố, trong đó có 5 huyện, thành ven biển Toàn tỉnh có 6.000 tàu cá, 2.000 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, kinh tế thủy sản được xác định là ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Trong những năm qua, quản lý nghề cá nói chung, trong đó có quản lý nguồn lợi kém hiệu quả, khai thác không đi đôi với bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Các hệ sinh thái, môi trường sống của nhiều loài thủy sản đang bị hủy diệt, nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm,…ảnh hưởng đến phát triển xã hội địa phương Thực trạng trên đòi hỏi phải thay đổi phương thức quản lý nghề cá, quản lý nguồn lợi thủy sản, chuyển từ phương thức quản lý theo kiểu hành chính
từ trên xuống sang phương thức ĐQL hoặc quản lý dựa vào cộng đồng
- Mô hình ĐQL nguồn lợi thủy sản khu vực đầm Trà Ổ
Các tiêu chí chọn khu vực đầm Trà Ổ để làm mô hình ĐQL là: tình trạng nghèo đói, cam kết của chính quyền địa phương và cộng đồng, người đại diện, khả năng tái tạo, giá trị nguồn lợi, tính đa dạng, sự linh hoạt của hệ thống hành chính, công bằng xã hội và bảo vệ nguồn lợi, sự đồng thuận của cộng đồng và sự cam kết, thống nhất thực hiện mô hình ĐQL của khu vực được chọn
Trang 22Mục tiêu của mô hình là: quản lý, bảo vệ có hiệu quả nguồn lợi thủy sản vùng đầm Trà Ổ làm cơ sở để tổ chức triển khai thực hiện Quy chế quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đầm Trà Ổ theo nguyên tắc ĐQL
Các bên tham gia gồm: Cộng đồng cư dân thôn/xã chủ động thực hiện Chính quyền huyện, xã chỉ giám sát, hỗ trợ cộng đồng Chi cục KT&BVNLTS làm nhiệm vụ tư vấn, phối hợp và hỗ trợ Các bên tham gia đã tổ chức truyền thông, nâng cao nhận thức trên Panô, điểm truyền thông cộng đồng, xây dựng đề cương mô hình ĐQL được UBND huyện thống nhất thực hiện, xây dựng 4 nhóm hạt nhân đồng quản lý tại 4 xã, thành lập điều hành liên xã, xây dựng quy chế quản lý KT&BVNLTS đầm Trà Ổ theo nguyên tắc ĐQL
-Mô hình khai thác bền vững nguồn lợi tôm hùm giống dựa vào cộng đồng khu vực Nhơn Hải
Mục tiêu trước mắt của mô hình này thiết lập mô hình mẫu về quản lý khai thác bền vững nguồn lợi tôm hùm giống trên cơ sở cộng đồng Phổ biến nhân rộng mô hình này sang các vùng nước tương tự
Các bên liên quan đã khảo sát sơ bộ: Đặc điểm, hệ sinh thái san hô, nguồn lợi rùa biển, tôm hùm giống Điều kiện kinh tế - xã hội, nghề cá của cộng đồng cư dân Tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức cho chính quyền, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng Phối hợp với chính quyền địa phương xã thành lập 4 tổ bảo vệ nguồn lợi thủy sản tự quản cho
4 thôn và tổ chức tập huấn nghiệp vụ chuyên môn về đồng quản lý Tham mưu cho UBND xã xây dựng quy chế KT&BVNLTS trên cơ sở cộng đồng [11]
1.2.6 Nhận xét
Các nghiên cứu điểm về các khu BTB, các giải pháp quản lý tương đối phù hợp và đồng bộ và được người dân ủng hộ Bước đầu đã thay đổi phương thức quản lý theo kiểu hành chính từ trên xuống sang phương thức ĐQL hoặc quản lý dựa vào cộng đồng Ngư dân tham gia xây dựng thể chế và tổ chức thực hiện Vai trò quản lý nghề cá dựa vào dân ngày càng rõ nét Tuy nhiên công tác tổ chức quan trắc định, báo cáo về tình trạng đa dạng sinh học và chất lượng môi trường trong các khu BTB chưa được các BQL khu BTB quan tâm thực hiện
Trang 231.3 Điều kiện tự nhiên, môi trường, đa dạng sinh học, kinh tế - xã hội Khu BTB Phú Quốc
1.3.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí và phạm vi Khu BTB Phú Quốc
-Thủy văn
Nhiệt độ nước biển biến động từ 24 – 30oC, thông thường đỉnh nhiệt độ xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, nhiệt độ thấp nhất từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau Độ mặn trung bình dao động trong khoảng 32- 34 ‰ Chế độ thủy triều ở Phú Quốc được đặc trưng bằng chế độ nhật triều, mức triều cao nhất đạt 0,8 m Độ trong của nước khá thấp do khá nhiều huyền phù, có nơi huyền phù lên tới 100 mg/l ở một số khu vực
-Thủy động lực
Các dòng chảy trong vùng biển vịnh Thái Lan tạo thành vòng khép kín và biến động theo mùa do ảnh hưởng của gió mùa Trong thời kỳ gió mùa đông bắc, dòng chảy trong vịnh Thái Lan chạy theo chiều kim đồng hồ; thời kỳ gió mùa tây nam, dòng chảy theo hướng ngược kim đồng hồ Tốc độ dòng chảy trong cả 2 mùa gió mùa thường nhỏ hơn 30 cm/s Hướng sóng bị ảnh hưởng bởi chế độ gió Chiều cao sóng thường nhỏ hơn 0,9 m
-Vị trí và phạm vi Khu BTB Phú Quốc
Khu BTB Phú Quốc [19], [20] nằm ở phía Nam, Đông và Đông - Bắc đảo Phú Quốc Phía Nam đảo là cụm đảo Nam An Thới gồm 18 hòn đảo lớn, nhỏ khác nhau cách thành phố Rạch Giá 120 km thuộc vùng biển Tây Nam của tổ quốc Đảo Phú Quốc nằm
Trang 24trong vị trí gần như trung tâm của vùng Đông Nam Á Khoảng cách từ đảo đến thành phố
Hồ Chí Minh, Phnom Penh, Bangkok, Singapore và Kuala Lumpur xấp xỉ 1 giờ bay Tổng diện tích mặt nước biển của KBTB Phú Quốc là 26.863,17 ha, bao gồm khu vực bảo vệ rạn san hô và khu vực bảo vệ cỏ biển, được phân ra ba phân khu chức năng: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái và phân khu phát triển
+Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt ở phía Nam của đảo Phú Quốc (vùng bảo vệ san hô): Bao gồm các hòn: hòn Gầm Ghì (tên địa phương gọi là hòn Dong Ngang), hòn Xưởng (tên địa phương gọi là hòn Móng Tay), hòn Vông (tên địa phương gọi là hòn Mây Rút Trong), hòn Móng Tay ( tên địa phương gọi là hòn Bườm) với tổng diện tích mặt nước biển là 757,45 ha Giới hạn phía trong của đường nối các điểm có toạ độ địa lý:
A1(09055’31”N, 103059’16”E), B1(09055’31”N, 104001’31”E),
C1(09054’20”N, 104001’31”E), D1(09054’16”N, 104000’10”E)
+ Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt ở phía Bắc, Đông Bắc đảo Phú Quốc (vùng bảo vệ
cỏ biển): Tổng diện tích mặt nước biển là 2.195 ha Giới hạn bởi đường bờ của đảo và đường nối các điểm có toạ độ địa lý:
E1(10025’56”N, 104000’58”E), F1(10025’49”N, 104001’47”E),
vệ nghiêm ngặt, đường bờ của đảo và đường nối các điểm có toạ địa lý:
A2(09059’21”N, 104000’01”E), B2(09059’21”N, 104003’00”E),
C2(09053’17”N, 104003’01”E), D2(09053’17”N, 103057’51”E),
D3(09056’24”N, 103057’51”E), D4(09057’28”N, 103059’41”E)
+Phân khu phục hồi sinh thái ở phía Bắc và Đông Bắc đảo Phú Quốc (phân khu phục hồi sinh thái cỏ biển): Nằm ở phía ngoài kế phân khu bảo vệ nghiêm ngặt cỏ biển
Trang 25với tổng diện tích mặt nước biển là 4.630,00 ha Giới hạn bởi đường biên ngoài phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, đường bờ của đảo và đường nối các điểm có toạ địa lý:
E1(10025’56”N, 104000’58”E), F2(10025’43”N, 104002’36”E),
G2(10023’47”N, 104005’46”E), H2(10018’ 21”N, 104007’14”E),
I2(10014’36”N, 104006’24”E), K2(10014’36”N, 104004’46”E)
-Phân khu phát triển: Nằm phía ngoài kế phân khu phục hồi sinh thái với tổng diện tích mặt nước biển là 10.317,77 ha Giới hạn bởi đường biên ngoài của phân khu phục hồi sinh thái thảm cỏ biển và rạn san hô, đường bờ của đảo lần lượt đi qua các điểm:
B3(10000’13”N, 104002’56”E),B2(09059’21”N, 104003’00”E),
I2(10014’36”N, 104006’24”E), K2(10014’36”N, 104004’46”E)
Trang 26Hình 1 Bản đồ Khu BTB Phú Quốc
Trang 271.3.2 Chất lượng môi trường nước biển hệ sinh thái san hô
Độ pH, nhiệt độ, độ đục, độ muối, DO, BOD, COD ở Khu BTB Phú Quốc [8] không có sự sai khác nhiều giữa hai tầng mặt và đáy, các yếu tố này luôn nằm trong phạm vi cho phép
Xét về từng khu vực của các yếu tố môi trường như NO2-N (µg/l), NO3-N (µg/l), NH3-N (µg/l) PO4-P (µg/l) cho thấy mặc dù khu vực biển này chịu ảnh hưởng rất ít của nước mưa từ đất liền, trong cột nước không có sự phân tầng, sự khác biệt của hàm lượng các yếu tố ở 2 tầng mặt và đáy không đáng kể Tuy nhiên, nồng độ cao của các yếu tố này vẫn có xu hướng tập trung vào khu vực khu vực gần An Thới và giảm dần về phía Nam của đảo Phú Quốc
Hàm lượng hydrocarbon cao hơn mức cho phép, tuy nhiên mức độ nhiễm bẩn hydrocarbon không cao, nơi có mức nhiễm hydrocarbon cao nhất là khu vực ven bờ phía Nam của đảo Giá trị trung bình của tỉ số mol N/P thường nhỏ, nghĩa là N thường đóng vai trò yếu tố dinh dưỡng giới hạn Nhìn chung mức dinh dưỡng của vực nước không cao Điều này cùng với tỉ số mol N/Si rất nhỏ cho thấy ít có khả năng xảy ra sự bùng nổ của các tảo gây hại
Số liệu phân tích về trầm tích đáy cho thấy chất hữu cơ tập trung cao trong trầm tích xa bờ có thể là do sự khác biệt về độ hạt trong quá trình lắng đọng từ bờ ra xa Tuy nhiên, hàm lượng chất hữu cơ ghi nhận được chỉ ở mức trung bình Các tỉ số C/N ở khu vực xa bờ cũng rất cao và điều này gợi ý là các vật liệu hữu cơ lục nguyên thường có kích thước nhỏ Ngoài ra, các vật liệu mới lắng đọng (trong bẫy trầm tích) có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn trong trầm tích đáy, tỉ số C/N lớn hơn nhiều và tỉ số N/P nhỏ hơn Điều này gợi ý là trong quá trình biểu sinh sớm xảy ra sau khi lắng đọng chỉ có C và
N tham gia vào chu trình vật chất trong lúc P vẫn tồn tại trong trầm tích đáy
1.3.3 Đa dạng sinh học hệ sinh thái san hô trong Khu BTB Phú Quốc
Phía Nam của Khu BTB [8] có tính đa dạng sinh học hệ sinh thái san hô như sau:
Rạn san hô là một trong những quần cư quan trọng ở vùng nước nông ven bờ của quần đảo Phú Quốc Các rạn san hô phân bố chủ yếu xung quanh các đảo thuộc cụm đảo
Trang 28phía Nam quần đảo An Thới Địa hình đáy và điều kiện môi trường chi phối nên rạn san
hô phân bố vùng ven các đảo chủ yếu thuộc vào kiểu dạng rạn riềm không điển hình fringing reefs) chiều rộng tương đối hẹp nơi rộng nhất khoảng 30 – 150m ở độ sâu tối đa 12m và san hô phát triển chủ yếu trên nền đá tảng
Khu hệ san hô tạo rạn trong Khu BTB Phú Quốc lên đến 252 loài thuộc 49 giống
và 14 họ Các kết quả cho thấy có 18 giống san hô ưu thế thường gặp ở Khu BTB Phú
Quốc, các giống Porites, Acropora, Montipora, Pavona, Echinopora, Diploastrea được
ghi nhận là khá phổ biến và thường thấy xuất hiện
Đã ghi nhận được 152 loài thuộc 71 giống và 31 họ cá rạn san hô tại Khu BTB Phú Quốc Các họ cá có số lượng loài phong phú bao gồm cá Thia Pomacentridae: 30 loài, tiếp đến là họ cá Bàng Chài Labridae: 21 loài, họ cá Mú Serranidae: 13 loài, họ cá Mó Scaridae: 11 loài, họ cá Sơn Apogonidae: 9 loài, họ cá Dìa Siganidae và họ cá Đổng Nemipteridae mỗi họ có 8 loài, họ cá Hồng Lutjanidae: 7 loài, họ cá Miền Caesionidae: 6 loài và một số họ cá khác mỗi họ ghi nhận được không quá 4 loài
Đã xác định được 47 loài và 1 loài chưa xác định được tên của ngành thân mềm (Molluscs) thuộc 3 lớp: lớp Chân bụng Gastropoda có 25 loài, chiếm hơn một nữa tổng số loài ghi nhận được; lớp Song Kinh Polyplacophora có 1 loài và lớp Hai mảnh vỏ Bivalvia
1.3.4 Chất lượng môi trường nước biển hệ sinh thái thảm cỏ biển
Chất lượng môi trường nước biển hệ sinh thái thảm cỏ biển trong Khu BTB Phú
Quốc [14] được xác định:
Trang 29- Nhiệt độ nước thay đổi rất ít, trong phạm vi từ 31-33oC Giá trị trung bình là 32,0oC
- pH là một thông số thủy hoá quan trọng có quan hệ đến các quá trình hoá học và sinh học Hoạt động sống của sinh vật, sự tồn tại của các hợp chất hoá học trong nước có mối quan hệ chặt chẽ với trị số pH của nước pH của nước đảo Phú Quốc khá cao và tương đối ổn định, dao động trong khoảng từ 8,3 - 8, 4 và biến động rất ít giữa gần bờ và xa bờ
- Độ muối: trong vùng biển ven bờ độ muối của nước được xem là một trong những thông số môi trường sinh thái rất quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến giới hạn phân bố của các loài sinh vật thủy sinh, sự tồn tại và phát triển của chúng trong thủy vực
Độ muối của nước đảo Phú Quốc khá cao và tương đối ổn định, trung bình dao động
trong khoảng từ 27- 32,5%o
- Độ đục: Chất lơ lửng, bao gồm các mảnh vụn và các chất lơ lửng trong nước,
ngăn cản quá trình quang hợp của cỏ biển Độ đục gần bờ cao hơn xa bờ Nói chung, nước tại khu vực Bãi Bổn khá sạch so với các vùng biển khác trong cả nước Điều này rất thuận loại để cho cỏ biển phát triển mạnh Tại khu vực Bãi Bổn, độ đục cao hơn các khu vực khác (Rạch Vẹm: 4,5mg/l; Bãi Vòng: 5mg/l) Chúng ta có thể nhận thấy bằng mắt thường Độ đục tháng 5 thấp hơn độ tháng 9
- Oxy hoà tan: Số liệu khảo sát trong thời gian này cho thấy hàm lượng oxy hoà tan
trong nước khá cao, các mẫu phân tích đều có giá trị cao hơn tiêu chuẩn Việt Nam đối với nước nuôi trồng thủy sản (> 5 mg/l) Giá trị DO trong khoảng 5,6-6,5 mg/l, giá trị trung bình là 6,1 mg/l Với các điệu kiện thuận này, khu vực đảo Phú Quốc là cái nôi sinh trưởng cho các loài sinh vật nhỏ (cua, cá )
- Tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS): Chất rắn lơ lửng trong nước biển có thành phần rất phức tạp, bao gồm các mảnh vụn và các chất lơ lửng trong nước Chất rắn
lơ lửng tồn tại ở dạng vật chất hữu cơ, vô cơ hoặc hỗn hợp hữu cơ/vô cơ Các hệ sinh thái nhạy cảm như rạn san hô, cỏ biển chịu tác động rất mạnh bởi sự gia tăng chất rắn lơ lửng TSS tại gần bờ cao hơn xa bờ Theo số liệu khảo sát tháng 5/2006 là thấp, từ 12,0 -24,69 mg/l, thấp hơn TCVN -5943 từ 1 đến 4 lần
Trang 30Nhìn chung nước khu vực đảo Phú Quốc khá thuận lợi cho sinh vật biển sinh
trưởng và phát triển
Nước khu vực đảo Phú Quốc có độ muối khá cao, cao trong cả các tháng mùa khô
và mùa mưa pH của nước khá cao và ổn định, nước có tính kiềm yếu
Nước của khu vực đảo Phú Quốc khá trong so với các vùng biển khác trong cả nước Tuy nhiên khu vực Bãi Bổn có độ đục cao hơn các khu vực khác so với các khu vực khác trên đảo Phú Quốc
Hàm lượng oxy hoà tan khá cao, là điều kiện thuận lợi cho các sinh vật phát triển Hàm lượng BOD5 của nước khu vực thấp hơn TCVN -5943 nhiều lần Điều này chứng tỏ chất lượng khá sạch và sức tải môi trường khu vực khá cao
Nồng độ TSS khu vực đảo Phú Quốc khá thấp so với tiêu chuẩn TCVN – 5943 Nồng độ TSS tại khu vực Bãi Bổn cao hơn các khu vực khác (Rạch Vẹm, Bãi Vòng) và khu vực Rạch Vẹm thấp nhất trong khu vực
1.3.5 Đa dạng sinh học hệ sinh thái thảm cỏ biển trong Khu BTB Phú Quốc
Kết quả nghiên cứu [14] chỉ ra rằng, hệ sinh thái cỏ biển chủ yếu tập trung ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt ( phía Bắc và Đông Bắc), kế đó là phân khu phục hồi sinh thái (phía Bắc, Đông Bắc và phía Đông) nằm kế phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, sau đó là ở phân khu phát triển ( phía Đông của đảo) có đa dạng sinh học như sau:
Thảm cỏ biển của Khu BTB Phú Quốc có diện tích 11.050 ha với 9 loài cỏ biển, đó
là: Cỏ Lá dừa (Enhalus acoroides), cỏ Xoan nhỏ (Halophila minor), cỏ Xoan (Halophila ovalis), cỏ Bò biển (Thalassia hemprichii), cỏ Kiệu tròn ( Cymodocea rotundata), cỏ Kiệu răng cưa( Cymodocea serrulata), cỏ Kim biển( Halodule pinifolia), cỏ Hẹ ba răng (Halodule uninervis), cỏ Lăng biển (Syringodium isoetifolium) Nhìn chung, thành phần
loài cỏ biển ở Khu BTB Phú Quốc khá phong phú, tương đồng với thành phần loài cỏ biển ở vùng biển Nam Trung bộ (như Khánh Hòa, Ninh Thuận) và Côn Đảo, đồng thời cũng tương đồng với thành phần loài cỏ biển ở các nước vùng Đông Nam Á như: Thái
Lan, Philippines, Indonesia, Những loài cỏ biển kích thước lớn như Cỏ lá dừa, Cỏ kiệu răng cưa, Cỏ bò biển rất phổ biến và thường chiếm ưu thế
Trang 31Cỏ biển ở Khu BTB Phú Quốc phân bố ở những vùng nước nông ven bờ nơi có nền đáy thoai thoải ở phía Bắc, Đông Bắc, vùng phía Đông và Đông Nam của Đảo Các thảm cỏ biển phân bố dọc theo vùng triều ven đảo nhưng không liên tục mà bị đứt đoạn ở những nơi có các gành đá, núi ăn ra biển Các loài cỏ biển ở Phú Quốc thường phân bố trên nền đáy bùn cát hoặc cát bùn hoặc trên nền đáy cát pha lẫn xác sinh vật Do nền đáy phía Đông của Đảo rất thoải, nhiều bùn cát thuận lợi cho sự phát triển của các loài cỏ biển cho nên các thảm cỏ biển
Khu BTB Phú Quốc cũng có đa dạng và phong phú về thành phần loài: Cá (91 loài thuộc 50 giống), động vật phù du (52 loài và 10 nhóm), thực vật phù du (184 loài thuộc
70 chi và 4 lớp), rong biển (113 loài thuộc 4 ngành)
1.3.6 Kinh tế - xã hội Khu BTB Phú Quốc
- Dân số và đặc điểm dân cư
Theo kết quả điều tra năm 2008 [10], Phú Quốc có 21.416 hộ, 92.200 nhân khẩu Dân tộc Kinh chiếm 97,02%, dân tộc Hoa chiếm 2%, dân tộc Khơ Me chiếm 0,95% và dân tộc khác chiếm 0,03% tổng dân số của huyện Dân số chia theo tôn giáo, Phật giáo có 31.773 người, Thiên Chúa giáo có 2.858 người, Tin Lành có 108 người, Cao Đài có 1.217 người, Hòa Hảo có 368 người và không có tôn giáo chiếm 55.875 người Về giới tính, nữ
có 46.135 người, chiếm 50,04% tổng dân số của huyện Kết quả điều tra 135 hộ với 610 nhân khẩu sống trong và xung quanh Khu BTB, trình độ văn hóa ở cấp tiểu học có 305 người, cấp trung học cơ sở có 207 người, cấp trung học phổ thông có 40 người
+Xã Hòn Thơm là xã đảo có tổng diện tích đất 7,5 km2, dân số có 746 hộ với có 3.024 người, nữ chiếm 49,9 % Hiện trạng nhà ở của dân cư: nhà kiên cố: 5 căn, bán kiên cố: 344 căn, nhà tạm: 397 căn
Đảo Hòn Thơm: Hòn Thơm là đảo lớn nhất trong xã Hòn Thơm Đảo này nằm ở khu vực phía Nam của Hòn Rỏi Có hai ngọn núi ở phía Bắc và phía Nam của đảo, phía Tây và phía Đông của đảo nối liền với một quả đồi thấp bằng một con đường Có 02 làng
ở trên đảo, Người dân trên đảo này thường chuyển nhà 2 lần trong một năm Từ cuối tháng 3 đến tháng 8, họ sống ở phía Đông của đảo và chuyển sang phía Tây từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau để tránh gió Tổng diện tích là 714 ha với dân số là 2.518 người,
Trang 32trong 583 hộ Khoảng 70% dân số ở độ tuổi lao động, chủ yếu là đàn ông Thu nhập bình quân trên đầu người là 8.000.000 đồng/năm [18]
Hòn Rỏi: Hòn Rỏi là một trong những đảo của xã Hòn Thơm Nằm giữa đảo Dừa
và đảo Thơm Có 77 hộ với dân số 382 người
+Xã Hàm Ninh có tổng diện tích 6.305,22 ha, có 4 ấp Dân số 1.425 hộ với 7.519 người, nữ chiếm 48 % Dân cư sống tập trung thành những làng chài dọc ven bờ biển Hiện trạng nhà ở dân cư: nhà kiên cố: 24 căn, nhà bán kiên cố: 641 căn, nhà tạm: 760 căn [10]
+Xã Bãi Thơm có diện tích 9.412 ha, có 4 ấp Dân số có 1.258 hộ với 5.193 người,
nữ chiếm 50,65% Dân cư sống tập trung thành những làng chài dọc ven bờ biển Hiện trạng nhà ở dân cư: nhà kiên cố: 33 căn, nhà bán kiên cố: 368 căn, nhà tạm: 857 căn [10]
- Sinh kế, thu nhập
KTTS là sinh kế chính của người dân sống trên đảo, đặc biệt là các xã nằm trong
và xung quanh Khu BTB Phú Quốc Qua nghiên cứu báo cáo của Chi cục KT&BVNLTS tỉnh Kiên Giang [4], năm 2009, có 3.260 chiếc, công suất 143.189 cv, bình quần 43,92 cv/chiếc, sản lượng khai thác 92.755 tấn Phú Quốc có hơn 11 loại nghề KTTS đó là: lưới vây, lưới thưng, câu thu lạc, câu cá rạn, câu mực, lưới kéo, lưới ghẹ, lưới tôm, lưới rùng, bẫy bạch tuộc (làm bằng vỏ ốc vôi), thu mua vận chuyển Nghề câu mực có số lượng nhiều nhất 1.480 chiếc (chiếm 45,5 %), kế đó là nghề lưới ghẹ có 997 chiếc ( 30,58%), thấp nhất là lưới rùng có 23 chiếc ( chiếm 0,7%)
Cơ cấu nghề KTTS huyện Phú Quốc
0 200 400 600 800 1.000 1.200 1.400 1.600
Vây Thưng Câu
thu lạc
Câu
cá rạn
Câu mực
Lưới kéo
Lưới ghẹ
Lưới tôm
Lưới rùng
Bẫy ốc
Hậu cầu
Trang 33Khu BTB thành lập, giai đoạn ban đầu nó ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống dân
cư sống trên đảo Phú Quốc, nhất là các xã nằm trong và xung quanh Khu BTB như: xã Hòn Thơm, Hàm Ninh, Bãi Thơm
Tàu thuyền KTTS ở xã Hòn Thơm, Hàm Ninh và Bãi Thơm chủ yếu là tàu có công suất dưới 21 cv, khai thac thủy sản bằng các nghề câu cá rạn, bẫy bạch tuộc, lưới ghẹ, lưới rùng, lưới thưng và lưới tôm Số lượng tàu KTTS có công suất dưới 21cv của từng xã theo nghề thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Cơ cấu nghề KTTS có công suất dưới 21 cv của 3 xã
Tình hình phát triển các nghề lặn, lưới bao rạn từ việc tự chuyển đổi nghề sau khi
đã đăng ký, trang bị kiêm nghề đã làm cho việc quản lý nghề cá gặp nhiều khó khăn
Ở xã Hòn Thơm, đánh cá qui mô nhỏ bao gồm đánh bắt ghẹ, câu mực, chụp mực rất phổ biến Thông thường ngư dân địa phương thường sử dụng thuyền nhỏ có mái che hoặc động cơ nhỏ để đánh bắt xung quanh đảo bằng các nghề câu mực, lặn bắt thủy sản,
Trang 34lưới bao rạn, lưới ghẹ, lưới thưng Nuôi biển cũng là một trong những hoạt động kinh tế ở đảo Thơm Hiện tại có 4 nông hộ ở đảo đang quản lý các lồng nuôi của mình Họ thường mua cá từ những người đánh bắt và giữ lại như cá song, cá tráp, ghẹ, tôm, mực,… sau đó chuyển lên thị trấn An Thới hoặc thị trấn Dương Đông Riêng ở Hòn Rỏi, cộng đồng dân
cư tại Hòn Rỏi sống dựa vào nguồn lợi tự nhiên là chính bởi vì không có đủ đất làm nông nghiệp Có 60 hộ sống bằng nghề lặn đánh bắt Sản phẩm trai ngọc được bán cho trang trại nuôi trai ngọc gần làng Theo ngư dân, nghề lặn đánh bắt phụ thuộc vào thời tiết, họ chỉ làm khoảng 120 ngày/năm Thời gian còn lại họ khai thác các loài hải sản khác như nhuyễn thể Hầu hết, những người này không có các ngư cụ cần thiết đánh bắt tại khu vực
xa hơn Thông thường, có 3 người sử dụng 1 con thuyền nhỏ có công suất 10-20 cv [18]
An ninh lương thực, thu nhập và đói nghèo: vì thiếu các nguồn lợi tự nhiên như đất cho nông nghiệp, người dân ở đảo Rỏi phụ thuộc nhiều vào nguồn lợi biển Tình trạng thiếu lương thực diễn ra trong suốt thời kỳ gió mùa (từ tháng 4 tới tháng 6) vì thời tiết xấu Trong thời kỳ thiếu lương thực, người dân không có khoản thu Thông thường, họ vay tiền từ người khác để trang trải cho các khoản chi tiêu Vốn và lãi phải trả cho người cho vay khi ngư dân có tiền vào mùa đánh bắt tới Thu nhập của ngư dân từ 1.500.000 tới 1.800.000 đồng/1tháng Tuy nhiên họ dành tới 70-80% cho thức ăn và 20-30% cho các mục đích khác [18]
Trang 35chưa qua đào tạo, KTTS được xem là nghề chính Lao động nghề cá chủ yếu là vẫn là lao động KTTS Năm 2005: 11.063 người, năm 2006: 11.515 người, năm 2007: 11.238 người, năm 2008: 11.4558 người [10] Lao động nghề cá phân theo đơn vị hành chính thể hiện ở bảng 1.2
Bảng 1.2 Lao động nghề cá phân theo đơn vị hành chính của huyện
TT Đơn vị hành chính Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
+ Cơ sở hạ tầng, giáo dục và y tế tại Hòn Thơm
Mạng lưới thông tin: Trên đảo có một bưu điện, mọi người cũng có thể sử dụng
tivi, điện thoại cố định và điện thoại di động Nhưng so với An Thới, các trang thiết bị này còn ít
Trang 36Cơ sở hạ tầng: Không có con đường bê tông nào ở làng này Đường là những con
đường đất nhỏ Trong làng, có khoảng 75% là nhà tạm được làm từ gỗ, bẹ dừa Nypa, vải bạt, tre… Ngoài ra, cũng có một số nhà bê tông Hầu hết đất thuộc quyền sở hữu của 5 chủ đất sống trên đảo đã vài thế hệ nay 3/4 dân số trên đảo định cư tạm thời, do vậy, họ phải thuê đất Họ không có quyền sử dụng đất cho những mục đích khác như làm nhà vệ sinh hoặc đào xới Nguồn nước ngọt được tìm thấy dưới đất thuộc về những chủ đất, những người này bơm nước lên và chứa trong những bể bê tông rồi bán lại Mặc dù có máy phát điện do Chính phủ hỗ trợ, nhưng chỉ có 10% các hộ gia đình có đủ các vật liệu cần thiết để nối với mạng lưới điện, số còn lại dân phải mua điện với giá cao (8.000VND/kwh) Rác thải từ các hộ gia đình gần bãi biển được thải trực tiếp môi trường biển Việc chôn, đốt rác rất ít
Giáo dục và y tế: Có trường tiểu học và trung học cơ sở với 10 phòng và 15 lớp
học Năm học 2008-2009 có 416 học sinh, trong đó tiểu học : 248 em, trung học cơ sở :
132 em Theo các giáo viên, có khoảng 50% học sinh bỏ học ở lớp 8, lớp 9 50% còn lại chuyển tới thị trấn An Thới để học cao hơn Có 1 trạm y tế và 1 bác sỹ Tuy nhiên các trang thiết bị không đủ, trong trường hợp cấp cứu, bệnh nhân phải tới bệnh viện thị trấn
An Thới hoặc bệnh viện ở thành phố Rạch Giá và Hồ Chí Minh để chữa trị
+Cơ sở hạ tầng, giáo dục và y tế tại Hòn Rỏi
Mạng lưới thông tin: Thiếu sự gắn kết giữa làng này với làng khác do không có
trạm thông tin liên lạc và bưu điện Ở khu vực này, mọi người không thể sử dụng điện thoại di động và không có điện thoại cố định Trong những trường hợp cần thiết, họ chèo thuyền ra biển và sử dụng điện thoại di động trong vùng phủ sóng của đảo Hòn Thơm
Chỉ duy nhất có 3 hộ sử dụng radio và đây là cách duy nhất họ biết thông tin bên ngoài
Cở sở hạ tầng và tài sản cố định: Không có đường bê tông trong làng, hầu hết các
con đường đều nhỏ hẹp, vòng vèo dẫn lên đồi Trong làng có 80% ngôi nhà tạm bợ được làm từ gỗ, dừa, vải bạt; Phần còn lại là nhà kiên cố được làm từ gạch và bê tông Hầu hết người dân trên đảo sử dụng giếng khoan hoặc dùng nước mưa chứa trong lu Từ tháng 3 đến tháng 4, nước ngọt luôn luôn thiếu hụt, họ mua nước ngọt từ Hòn Thơm Trên đảo
Trang 37không có điện, vào ban đêm họ sử dụng đèn dầu Rác thải được thải trực tiếp ra môi trường biển
Giáo dục và trang thiết bị y tế : Có 1 trường cấp một với 49 học sinh, 5 giáo viên
đến từ thị trấn An Thới hay các xã khác Có tới 90% học sinh bỏ học khi hết lớp 4 hoặc lớp 5, còn lại 10% sẽ theo học tiếp cấp cao hơn ở Hòn Thơm và thị trấn An Thới Vấn đề lớn ở đây là hiện tượng tái mù chữ, vì các học sinh chỉ học đến lớp 3 hay 4, nên dần dần
họ không thể đọc hay viết Cho tới bây giờ, không có chương trình hay dự án giáo dục cấp tiểu học được thực hiện ở Hòn Rỏi Trên đảo cũng không có trung tâm y tế Người dân mua thuốc và sử dụng thuốc khi họ bị ốm nhẹ, một số trường hợp khác vẫn sử dụng các loại thuốc truyền thống, nếu nghiêm trọng hơn họ sẽ tới bệnh viện An Thới
+Cơ sở hạ tầng, giáo dục và y tế tại Bãi Thơm
Cơ sở hạ tầng: Xã Bãi Thơm cách thị trấn Dương Đông khoảng 35 km, đường xá đi
lại rất khó khăn, chưa có đường nhựa, một số tuyến đường được phủ đất đỏ và đá, nhất là vào mùa mưa đường liên ấp đi lại rất khó khăn: Lầy lội, trơn trượt, có khi phải phải qua suối, qua rừng bị ngập lụt, gập ghềnh Chưa có mạng lưới điện trung thế và hạ thế Hiện nay chỉ có 3 ấp Bãi Thơm, Rạch Tràm, Đá Chồng có trụ sở bưu điện Nước sinh hoạt vẫn lấy từ nguồn nước giếng đào, nhiều hộ sử dụng chung 1 giếng Tình trạng sử dụng đèn dầu
để thắp sáng và không có ti vi cập nhật thông tin, giải trí còn phổ biến ở nhiều hộ làng chài
Giáo dục và trang thiết bị y tế: Có 1 trường trung học cơ sở, 5 trường tiểu học
Năm học 2008-2009 có 639 học sinh, trong đó tiểu học: 382 em, trung học cơ sở : 257
em Có 1 trạm và các tổ y tế với 1 bác sĩ và 7 y sĩ, việc khám chữa bệnh cho dân chưa được quan tâm đúng mức, chỉ khám và điều trị những bệnh thông thường
+Cơ sở hạ tầng, giáo dục và y tế tại Hàm Ninh
Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sinh hoạt đời sống cộng đồng tương đối
tốt Trung tâm xã cách thị trấn Dương Đông (là Trung tâm của đảo Phú Quốc) khoảng 13
km, giao thông đi lại từ trung tâm xã đến các ấp và các xã lân cận được thông suốt, có một số lộ được phủ nhựa, đổ đất đỏ Mạng lưới điện trung thế, hạ thế và điện thoại liên lạc đảm bảo cho việc thông tin liên lạc và kinh doanh sản xuất Nguồn nước sinh hoạt lấy