BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG THÁI QUỐC ĐẠI NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MUỐI, MẬT ĐỘ VÀ THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG VÀ MÀU SẮC CÁ KHOANG CỔ NEMO Amphi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
THÁI QUỐC ĐẠI
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MUỐI, MẬT ĐỘ VÀ THỨC ĂN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG
VÀ MÀU SẮC CÁ KHOANG CỔ NEMO (Amphiprion
ocellaris Cuvier, 1830) THƯƠNG MẠI
Chuyên ngành : Nuôi trồng thủy sản
Mã số : 60 62 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS HÀ LÊ THỊ LỘC
Nha Trang - 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Nuôi trồng thuỷ sản, phòng đào tạo đại học và sau đại học trường đại học Nha Trang Phòng công nghệ nuôi trồng, phòng hoá sinh Viện hải dương học đã tổ chức giảng dạy, quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Đồng thời tôi xin cảm ơn BQL hợp phần hỗ trợ phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vũng (SUDA), sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, chi cục nuôi trồng thuỷ sản Cà Mau đã hỗ trợ kinh phí cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hà Lê Thị Lộc đã dìu dắt tôi trên con đường nghiên cứu khoa học, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chu đáo trong suốt quá trình thực hiện đề tài và viết luận văn
Xin cảm ơn TS Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, cô Nguyễn Thị Kim Bích, KS Nguyễn Trung Kiên đã nhiệt tình hướng dẫn và đóng góp ý kiến trong quá trình thực hiện đề tài và viết luận văn
Xin gửi lời cảm ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Các số liệu và kết quả của luận án tốt nghiệp cao học là một phần trong nội
dung nghiên cứu của đề tài Khoa học Công nghệ Trọng điểm cấp Nhà nước Mã số KC 06.05/06-10, giai đoạn 2007-2010 do Viện Hải dương học chủ trì Được sự đồng ý của chủ nhiệm đề tài, học viên đã cùng tham gia thực hiện đề tài và cùng sử dụng số liệu của đề tài trên
Tôi xin cam đoan các số liệu, các kết quả trình bày trong luận văn hoàn toàn
trung thực và học viên đã trực tiếp tham gia thực hiện nghiên cứu Chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào trước đây
Người cam đoan
Thái Quốc Đại
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC……… iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ KHOANG CỔ 3
1.1.1 Hệ thống phân loại cá khoang cổ nemo 3
1.1.2 Đặc điểm về hình thái: 3
1.1.2.1 Phân bố: 3
1.1.2.2 Màu sắc 4
1.1.2.3 Hình thái 5
1.1.2.4 Kích thước 5
1.1.3 Một số đặc điểm sinh thái 5
1.1.3.1 Đặc điểm môi trường sống 5
1.1.3.2 Đặc điểm cộng sinh giữa cá khoang cổ với hải quì 5
1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng và tuổi cá 7
1.1.4.1 Sinh trưởng 7
1.1.4.2 Tuổi cá 7
1.1.5 Đặc điểm về dinh dưỡng 7
1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI 8
1.2.1 Nhiệt độ: 8
1.2.2 Độ muối: 9
1.2.3 Mật độ 11
1.3 VAI TRÒ ASTAXANTHIN ĐỐI VỚI MÀU SẮC CỦA CÁ 12
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ KHOANG CỔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 13
Trang 51.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 13
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 14
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 15
2.2.1 Dụng cụ thí nghiệm 16
2.2.2 Nguồn nước thí nghiệm 16
2.2.3 Nguồn cá thí nghiệm 17
2.2.4 Nguồn thức ăn copepoda 17
2.2.5 Nguồn thức ăn Artemia 17
2.2.6 Nguồn thức ăn tổng hợp 17
2.2.7 Nguồn Astaxanthin 18
2.2.8 Thử nghiệm ảnh hưởng của độ muối đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ nemo kích thước thương mại .18
2.2.9 Thử nghiệm ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá khoang cổ nemo kích thước thương mại .19
2.2.10 Thử nghiệm ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và màu sắc của cá khoang cổ nemo thương mại 20
2.3 Phân tích xác định hàm lượng Carotenoid tổng số, hàm lượng Astaxanthin .21
2.4 Chăm sóc và quản lý cá trong các thí nghiệm 22
2.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 22
2.5.1 Các thông số môi trường trong hệ thống nuôi 22
2.5.2 Xác định tốc độ tăng trưởng 22
2.5.3 Xác định tỷ lệ sống của cá 23
2.5.4 Công thức pha độ muối 23
2.5.5 Phương pháp xử lý số liệu 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MUỐI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ KHOANG CỔ NEMO 24
3.1.1 Một số yếu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm 24
3.1.2 Ảnh hưởng của độ muối khác nhau đến tăng trưởng của cá khoang cổ nemo 25
Trang 63.1.3 Ảnh hưởng của các độ muối khác nhau đến tỷ lệ sống của cá khoang cổ nemo.
28
3.2 THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ KHOANG CỔ NEMO 30
3.2.1 Một số yếu tố môi trường trong các bể thí nghiệm 30
3.2.2 Ảnh hưởng của các mật độ khác nhau đến sự tăng trưởng của cá khoang cổ nemo .31
3.2.3 Ảnh hưởng của các mật độ nuôi khác nhau đến tỷ lệ sống của cá khoang cổ nemo .34
3.3 THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG VÀ MÀU SẮC CỦA CÁ KHOANG CỔ NEMO 35
3.3.1 Các yếu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm 35
3.3.2 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến tăng trưởng của cá khoang cổ nemo 36
3.3.3 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến tỷ lệ sống của cá khoang cổ nemo .38
3.3.4 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến màu sắc cá khoang cổ nemo .39
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 44
4.1 KẾT LUẬN 44
4.2 ĐỀ XUẤT 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Art: Artemia
Ast: Astaxanthin
GRL: sinh trưởng tuyệt đối về chiều dài
GRw: sinh trưởng tuyệt đối về khối lượng
L: lít
ppt, ‰: phần nghìn
SGRL: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài toàn thân
SGRw: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về khối lượng toàn thân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 3.1: Một số yếu tố môi trường trong hệ thống bể nuôi 24 Bảng 3.2: Sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá khoang cổ nemo ở các độ
muối khác nhau 26 Bảng 3.3: Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài của cá khoang cổ nemo khi
nuôi ở các độ muối khác nhau 28 Bảng 3.4: Một số yếu tố môi trường trong bể nuôi thí nghiệm về ảnh hưởng của mật
độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ nemo 30 Bảng 3.5: Sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá khoang cổ nemo kích
thước thương mại ở các mật độ khác nhau .31 Bảng 3.6: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài và tỷ lệ sống của cá nemo
thương mại ở các mật độ nuôi khác nhau .32 Bảng 3.7: Một số yếu tố môi trường trong hệ thống bể nuôi 35 Bảng 3.8: Sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá khoang cổ nemo kích
thước thương mại khi nuôi với các loại thức ăn khác nhau .36 Bảng 3.9: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài và tỷ lệ sống của cá khoang cổ
nemo thương mại khi nuôi với các loại thức ăn khác nhau .36 Bảng 3.10: Sự biến đổi màu sắc của cá theo thời gian thí nghiệm qua các loại thức
ăn khác nhau 39 Bảng 3.11: Hàm lượng carotenoid tổng số và Astaxanthin của cá trước và sau thời
gian thí nghiệm tại các nghiệm thức thức ăn khác nhau 42
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Bản đồ phân bố địa lý trên thế giới của cá khoang cổ nemo 4
Hình 1.2: Cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellris) 4
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 15
Hình 2.2: Bố trí hệ thống bể thí nghiệm 16
Hình 2.3: Sơ đồ xử lý nguồn nước thí nghiệm 16
Hình 2.4: Sơ đồ bố trí thử nghiệm độ muối 18
Hình 2.5: Sơ đồ bố trí thí nghiệm mật độ nuôi cá 19
Hình 2.6: Sơ đồ bố trí thí nghiệm về chế độ thức ăn .20
Hình 3.1: Chiều dài cá ở các độ muối khác nhau 27
Hình 3.2: Khối lượng cá ở các độ muối khác nhau 27
Hình 3.3: Tỷ lệ sống của cá ở các độ muối khác nhau 29
Hình 3.4: Chiều dài cá ở các nghiệm thức mật độ khác nhau 32
Hình 3.5: Khối lượng cá ở nghiệm thức mật độ khác nhau 33
Hình 3.6: Tỷ lệ sống cá ở các nghiệm thức mật độ khác nhau 34
Hình 3.7: Khối lượng cá khi nuôi với các loại thức ăn khác nhau 37
Hình 3.8: Chiều dài cá khi nuôi với các loại thức ăn khác nhau 38
Hình 3.9: Tỷ lệ sống của cá khi thí nghiệm các loại thức ăn khác nhau 38
Hình 3.10: Màu sắc của cá nuôi tại nghiệm thức cho ăn bằng Artemia và Copepoda .40
Hình 3.11: Màu sắc của cá nuôi tại nghiệm thức cho ăn bằng tổng hợp + Astaxanthin và Artemia 41
Hình 3.12: Màu sắc của cá nuôi tại nghiệm thức cho ăn bằng tổng hợp và Artemia41 Hình 3.13: Màu sắc của cá thí nghiệm khi cho ăn bằng 4 loại thức ăn: Tổng hợp, tổng hợp + Astaxanthin, Artemia và Copepoda 42
Trang 10MỞ ĐẦU
Hằng năm trên thế giới tiêu thụ khoảng 35 triệu con cá cảnh biển, doanh thu đạt hơn 200 triệu USD Các nước xuất khẩu nhiều cá cảnh biển là Singapore, Indonesia, Philipines Riêng ở Việt Nam trong những năm gần đây cũng bắt đầu nghề kinh doanh
cá cảnh biển, ước tính hằng năm thu về khoảng 4 triệu USD [59] Chính điều đó trong những năm gần đây, làm cho thị trường cá cảnh biển ngày càng được mở rộng cả trong
và ngoài nước Nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng đã đã làm cho cá rạn san hô bị khai thác một cách bừa bãi, có nguy cơ dẫn đến cạn kiệt nguồn lợi Cá khoang cổ cũng là một trong những đối tượng đang bị khai thác mạnh có thể dẫn đến tình trạng suy thoái quần đàn tự nhiên
Cá khoang cổ hay còn gọi cá hải quì thuộc họ cá thia biển Pomacentridae bộ cá
vược (Perciformes) Cá khoang cổ được chú ý từ những năm cuối thế kỷ XIX nhưng
mãi đến thế kỷ XX mới được các nhà khoa học nghiên cứu về sinh học và sinh thái của
một số loài cá khoang cổ như Amphiprion bicinctus, Amphiprion chrysopterus,
Amphiprion clarkii, Amphiprion melanopus, Amphiprion ocellaris Một số nước cũng
đã tiến hành cho sinh sản nhân tạo chúng như Nga, Canada, Pháp, Đức, Thái Lan… nhằm mục đích bảo vệ nguồn lợi tự nhiên và kinh doanh [53]
Loài cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellaris) là một trong những loài cá
được thị trường cá cảnh thế giới ưa chuộng nhất trong giống cá khoang cổ một phần do xuất phát từ nhân vật chính trong phim hoạt họa “Đi tìm Nemo” (Finding Nemo) nổi tiếng thế giới (bộ phim đã đạt được 3 giải thưởng Oscar)[61] Mặt khác, nhờ đặc điểm sống cộng sinh với hải quì, sự đa dạng, phong phú về màu sắc và khả năng thích nghi cao trong điều kiện nhân tạo nên chúng được nuôi làm cảnh khá phổ biến ở các khu du lịch, giải trí văn hóa cũng như ở qui mô gia đình Những năm trước đây, loài cá này được du nhập vào Việt nam từ các nước lân cận như Indonesia, Hong Kong, Singapore
và Thái Lan với số lượng không nhiều và giá dao động từ 150.000 đến 300.000 đồng/con, thường cao hơn gấp 10 lần so với các loài cá khoang cổ khác Thời gian gần đây (từ năm 2009), cá khoang cổ nemo đã phát hiện có sinh sống ở một vài khu vực trong quần đảo Trường Sa nhưng với số lượng rất ít [8]
Một số nước trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu và cho sinh sản nhân tạo chúng với mục đích bảo vệ nguồn lợi tự nhiên và kinh doanh Ở nước ta, từ năm 2000
Trang 11đến nay, Viện Hải dương học đã tiến hành nghiên cứu các đặc điểm sinh học và cho sinh sản nhân tạo thành công loài cá khoang cổ đỏ Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã đạt được từ loài cá khoang cổ đỏ được công bố của Hà Lê Thị Lộc (2004), (2005); Hà Lê Thị Lộc & Nguyễn Thị Thanh Thủy (2009), loài cá khoang cổ nemo cũng đã được thử nghiệm sinh sản nhân tạo thành công [8]
Được sự đồng ý của chủ nhiệm Khoa Nuôi Trồng Thủy sản trường Đại học Nha
Trang, luận văn cao học: “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ muối, mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và màu sắc cá khoang cổ nemo (Amphiprion
ocellaris Cuvier, 1830) thương mại” đã được học viên thực hiện tại phòng Công
nghệ Nuôi trồng, Viện Hải dương học Luận án tốt nghiệp cao học là một phần trong
nội dung nghiên cứu của đề tài Khoa học Công nghệ Trọng điểm cấp Nhà nước Mã số
KC 06.05/06-10, giai đoạn 2007-2010 Học viên đã cùng tham gia thực hiện đề tài và cùng sử dụng số liệu của đề tài trên
Mục tiêu của luận án: Xác định các yếu tố độ muối, mật độ nuôi và thành
phần thức ăn ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và màu sắc của cá khoang
cổ nemo kích thước thương mại
Nội dung nghiên cứu: gồm 3 phần
Thử nghiệm các độ muối khác nhau ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng của cá khoang cổ nemo thương mại
Thử nghiệm các mật độ nuôi khác nhau ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng của cá khoang cổ nemo thương mại
Thử nghiệm thành phần thức ăn ảnh hưởng đến đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và màu sắc của cá khoang cổ nemo thương mại
Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận án:
Xây dựng cơ sở khoa học để nghiên cứu kỹ thuật nuôi thương mại, góp phần
từng bước hoàn thiện qui trình nuôi thương mại cá khoang cổ nemo (Amphiprion
ocellaris), tiến tới chủ động trong sản xuất cá kích cỡ thương mại phục vụ cho thị
trường cá cảnh biển trong nước và xuất khẩu
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ KHOANG CỔ
1.1.1 Hệ thống phân loại cá khoang cổ nemo
Theo hệ thống phân loại Froese et al (2000) [32], cá khoang cổ nemo được xác định vị trí phân loại như sau:
Giống Cá khoang cổ: Amphiprion
Loài cá khoang cổ nemo: Amphiprion ocellaris Cuvier, 1830
Tên tiếng Anh: Ocellaris Clownfish, The False Pecula Clownfish, False Clown Anemonefish
1.1.2 Đặc điểm về hình thái:
1.1.2.1 Phân bố:
Trên thế giới cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellaris) phân bố chủ yếu ở các
rạn san hô của vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương, trong vùng nước biển nhiệt đới của khu vực Indonesia - Malaysia và trải dài phía Đông Nam Châu Á, từ quần đảo Ryukyu của Nhật Bản đến Tây Bắc Australia [15],[30] Ở Việt Nam, cá khoang cổ nemo chỉ mới được phát hiện trong thời gian gần đây ở vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa (vào đầu năm 2009) với số lượng rất ít Chúng phân bố chủ yếu vùng gần
bờ, khu vực có độ sâu mực nước khoảng từ 0,5m đến 2m [8]
Trang 13Hình 1.1 : Bản đồ phân bố địa lý trên thế giới của cá khoang cổ nemo [54]
1.1.2.2 Màu sắc
Cơ thể cá có màu da cam với ba sọc trắng ở phần đầu, phần giữa và phần đuôi Sọc trắng ở giữa thân phình to hướng về phía phần đầu Có những đường viền đen nhỏ bao xung quanh các sọc trắng lớn và xuất hiện trong suốt vòng đời của cá Các vây đều
có viền đen bao quanh [37]
Hình 1.2: Cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellris)
Trang 141.1.2.3 Hình thái
Cá khoang cổ nemo có số tia vây gồm: D X -XI,13 -17; A 11- 13; P.16- 18 Vảy đường bên dao động từ 34 - 48 Vây lưng có 11 gai Tia vây đuôi khoảng từ 56 đến 66 (thường từ 56 đến 62) Hàng vảy ngang từ gốc của vây lưng đến đường bên là 4-5 vảy
Từ đường bên đến gốc vây hậu môn là 22-25 Răng dày, sắc bén, số lượng khoảng
28-32 răng ở mỗi hàm [14]
1.1.2.4 Kích thước
Chiều dài tối đa của cá khoang cổ nemo là 11,0 cm (4,3 inches) Trong tự nhiên cá
có thể sống khoảng từ 6 đến 10 năm Cơ thể có hình bầu dục dài, con cái thường có kích thước lớn hơn con đực [14]
1.1.3 Một số đặc điểm sinh thái
1.1.3.1 Đặc điểm môi trường sống
Ngoài tự nhiên, hầu hết các loài cá khoang cổ đều sống quanh vùng rạn san hô biển nhiệt đới, có dòng chảy lưu thông thường xuyên, nơi có độ sâu từ 1m đến 50 m nước [46] Đa số sống ở mực nước từ 5m - 15m Nhiệt độ của vùng phân bố trong khoảng 26 – 28 oC, độ muối dao động từ 32 – 35 ‰, pH từ 8,0 – 8,5, chất đáy của vùng phân bố thường là cát, đá, san hô hay cát sỏi, những nơi có hải quì phân bố [3] Riêng loài cá khoang cổ nemo sinh sống ở vùng nước nông ven bờ, độ sâu mực nước chỉ từ 0,5m đến 2m Do nhiệt độ vùng nước nông dao động khá lớn nên cá có khả năng chịu đựng được biên độ dao động nhiệt độ rộng hơn so với những loài cá khoang cổ khác [8]
Dựa vào tính chất giới hạn về không gian nơi ở và nhịp điệu hoạt động theo chu
kỳ ngày đêm nên cá khoang cổ nemo được xếp vào nhóm cá định cư nổi gần đáy và hoạt động vào ban ngày Màu sắc của cá có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cơ thể và thường bị ảnh hưởng bởi vật chủ hải quì
1.1.3.2 Đặc điểm cộng sinh giữa cá khoang cổ với hải quì
Trong tự nhiên, cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellaris) sống cộng sinh với các loại hải quì như: Stichodactyla gigantea, Stichodactyla mertensii Nhưng phổ biến nhất là loài Heteractis magnifica [45]
Cá khoang cổ nói chung và loài cá khoang cổ nemo nói riêng có khả năng đặc biệt là có thể sống cộng sinh được với các loài hải quì Ban đêm chúng có thể nằm trên
cơ thể hải quì Mặc dù các xúc tu của hải quì có chứa độc tố có thể gây tê liệt các loài
Trang 15cá khác nhưng không làm cá khoang cổ bị thương tổn [29],[43] Nguyên nhân của hiện tượng trên là do 2 yếu tố: thứ nhất do tập tính bơi uyển chuyển khá đặc trưng của cá, thứ hai do các chất đặc biệt có trong lớp màng nhầy ở da cá có thể trung hoà được các độc tố trên bề mặt xúc tu của hải quì [14],[30],[36] Các nhà khoa học nghiên cứu thấy
rằng lớp màng nhầy của cá khoang cổ Amphiprion clarkii dày hơn gấp 3 – 4 lần những
loài cá cùng họ nhưng không cộng sinh được với hải quì Thành phần hoá sinh của hai loại chất nhầy cũng khác nhau, trong thành phần chất nhầy của cá khoang cổ có chứa hàm lượng lớn glycoprotein chứa trong polysaccharide [43] Những nghiên cứu cho thấy rằng độc tố của hải quì có thể gây giảm lượng hồng cầu trên cơ thể người; chúng tác động lên các tơ mang của cá và với liều lượng 0,5 MUg/ml nước sẽ gây chết những loài cá khác sau 2 giờ
Cá khoang cổ tránh được sự tấn công của các loài cá ăn thịt khác do được sự che chở của các loài hải quì Ngoài ra cá khoang cổ còn làm sạch những vật bẩn ra khỏi hải quì và những thí nghiệm cho thấy cá khoang cổ thường xuyên vệ sinh những xúc tu hải quì, giữ chúng luôn ở trong tình trạng sạch sẽ và khoẻ mạnh [25] Tuy nhiên, có những cụm hải quì không có cá và chúng vẫn có thể sống mà không cần đến cá khoang cổ [28] Ngược lại, đời sống của cá khoang cổ lại hoàn toàn lệ thuộc vào hải quì và không bao giờ tìm thấy cá khoang cổ sống ngoài tự nhiên mà không có hải quì [10],[21],[30],[35] Theo nghiên cứu của Godwin (1994) cho rằng lợi thế của cá khoang cổ khi sống chung với hải quì là độc tố trong các xúc tu hải quì có thể diệt khuẩn và diệt các ký sinh trùng ngoài da cá [34] Mariscal (1970) đã thấy rằng những
cá khoang cổ nuôi nhốt không có hải quì thường dễ bị nhiễm bệnh hơn [41] Ngược lại, Bowman và Mariscal (1966) lại tìm thấy bọn Isopoda ký sinh trên loài cá khoang
cổ Amphiprion akallopisos khi đang cộng sinh với hải quì ở Seychelles (Mỹ)
Mariscal (1996), (1970), cho rằng các xúc tu của hải quì thường xuyên kích thích lên cơ quan cảm giác của cá khoang cổ và điều này ảnh hưởng tốt đến sức khoẻ chúng Ông thấy rằng khi trong bể nuôi không có hải quì, cá đã cố gắng tạo những cảm giác tương tự như ẩn mình trong các bọt sục khí, trốn trong các bụi rong biển hoặc các vật thể tương tự [40],[41]
Verwey (1930), nhận thấy rằng đời sống cá khoang cổ bị lệ thuộc vào hải quì nhiều hơn là hải quì lệ thuộc vào cá khoang cổ [52], Allen (1972) đã làm thí nghiệm
chuyển tất cả cá khoang cổ ra khỏi loài hải qùi Stichodactyla gigantea, (một loài hải
Trang 16quì luôn luôn sống cộng sinh với cá khoang cổ) Qua ba tháng theo dõi thấy rằng hải quì vẫn phát triển tốt mà không có sự hiện diện của cá khoang cổ [14]
1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng và tuổi cá
1.1.4.1 Sinh trưởng
Cá khoang cổ nhìn chung sinh trưởng tương đối chậm Sự sinh trưởng của cá khác nhau tùy từng loài, nhưng ngay những cá thể cùng loài cũng có sự khác biệt Giai đoạn cá còn non và tiền trưởng thành, cá có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất [27] Tại Eniwetok, Allen (1972) đã làm thí nghiệm thấy rằng trong một đàn cá nuôi, những cá lớn sẽ tăng trưởng nhanh hơn những cá nhỏ trong cùng một đàn do chúng cạnh tranh thức ăn mạnh mẽ hơn Kích thước của vật cộng sinh hải quì cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá khoang cổ, cá sống cùng hải quì có kích thước lớn sẽ tăng trưởng nhanh hơn cá sống trong hải quì có kích thước nhỏ [14]
Tại Việt Nam, trên cơ sở tính toán chiều dài nội suy, Hà Lê Thị Lộc, (2005) đã xác định được mức sinh trưởng chiều dài trung bình của các nhóm tuổi loài cá khoang
cổ đỏ Ngoài tự nhiên, cá khoang cổ đỏ ở giai đoạn còn non (nhỏ hơn một vòng tuổi) phát triển rất nhanh, gấp hai lần mức tăng trưởng ở giai đoạn hai vòng tuổi Giai đoạn
một vòng tuổi, sinh trưởng chiều dài của cá A frenatus là 46,42mm Đến giai đoạn hai
vòng tuổi, chiều dài toàn thân cá tăng được 26,64mm, mức tăng trưởng tương ứng là 53,08% Từ ba đến bốn vòng tuổi, sinh trưởng chiều dài cá chậm lại, cá chỉ tăng từ 17,7mm đến 11,78mm, tương ứng mức tăng trưởng chiều dài là 24,91% và 13,27% [4]
1.1.4.2 Tuổi cá
Theo Fautin và Allen (1992) tuổi thọ của cá khoang cổ ngoài tự nhiên được xác định từ 6 tuổi đến 10 tuổi nhưng trong nuôi nhốt chúng có thể sống trên 18 năm Thường con cái có kích thước lớn hơn con đực, cá thành thục đầu tiên sau sáu tháng
tuổi Moyer(1986), đã theo dõi loài cá khoang cổ đen đuôi vàng Amphiprion clarkii
trong hệ thống nuôi 11 năm và ông ước tính tuổi thọ của loài này là 13 năm [44]
1.1.5 Đặc điểm về dinh dưỡng
Ngoài tự nhiên, cá khoang cổ dành phần lớn thời gian vào việc tìm kiếm thức ăn Thành phần thức ăn quan trọng nhất của cá khoang cổ là sinh vật phù du với 4 nhóm
chính là giống Hypnea thuộc ngành tảo đỏ loài Schizothrix mexicana ngành tảo lục Các động vật chân chèo Paracaudacia truncata và Tisbe furcata Thức ăn không bắt
Trang 17buộc của cá khoang cổ là Tunicata, Amphipoda, Isopoda, Mollusca, trứng cá, giun…thỉnh thoảng còn gặp cả trứng cá khoang cổ [14],[30] Theo Allen (1972) trứng
cá khoang cổ cũng có thể có trong dạ dày của những cá đang chăm sóc tổ Những trứng chết trong tổ sẽ được cá bố mẹ nhặt ra và tiêu hoá trong suốt thời gian ấp nở [14]
Mariscal (1970), đã phân tích dạ dày loài cá Amphiprion akallopisos và tìm thấy tảo Zooxanthellae (một loài tảo chuyên sống cộng sinh trên các xúc tu hải quì) với số
lượng đáng kể, có lẽ cá khoang cổ đã sử dụng một phần chất dinh dưỡng từ những xúc
tu hải quì [41]
Hà Lê Thị Lộc (2004), cho biết khi nghiên cứu thành phần thức ăn trong dạ dày
cá khoang cổ đỏ A fenatus vùng biển Khánh Hòa cho thấy chúng là loài ăn tạp Thành phần thức ăn chủ yếu trong dạ dày là nhóm Copepoda (chiếm 34,61%), sau đó là trứng
cá các loại (11,2%) Ngoài ra, có nhiều chủng loại thức ăn khác nhau được tìm thấy trong dạ dày cá như bọn hai mảnh vỏ Bivalvia, Gastropoda, Nematoda, Isopoda,
Amphipoda, Cladocera, Mycidacea, trứng và phôi cá, thậm chí có cả trứng của cá
khoang cổ đỏ Trong điều kiện nuôi nhốt và cho sinh sản nhân tạo, chế độ dinh dưỡng của cá khoang cổ đỏ gồm những thành phần thức ăn có nguồn gốc từ các loài động vật
giáp xác và thân mềm như: Brachionus plicatilis, Artemia, Copepoda, thức ăn tổng
hợp, thịt tôm, thịt hàu, điệp, mực…[2]
Đối với loài cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellaris), trong điều kiện nuôi
nhốt chúng có khả năng ăn các loại thức ăn tươi sống tương tự loài cá khoang cổ đỏ
như luân trùng Brachionus plicatilis, Nauplius của Artemia và Artemia sinh khối, các
loại thịt cá, thịt tôm, thịt động vật thân mềm được nghiền nhỏ, vừa với kích thước miệng cá Khi cá đạt kích cỡ thương phẩm (4-6cm), chúng có thể ăn các loại thức ăn công nghiệp dạng viên [8]
1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI
1.2.1 Nhiệt độ:
Nhiệt độ được coi là yếu tố sinh thái quan trọng có ảnh hưởng lớn đến đời sống thủy sinh vật Cá là động vật biến nhiệt nên ảnh hưởng của nhiệt độ càng lớn [12] Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hấp thụ thức ăn và trao đổi chất, do đó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cá Theo Bùi Lai và cộng tác viên (1985) thì tồn tại một giới hạn nhiệt độ thấp nhất mà trên mức đó mới có sự sinh trưởng và
Trang 18một giới hạn cao nhất mà trên mức đó cá bị chết Trong khoảng giữa hai giới hạn đó
có một giá trị nhiệt độ thích ứng với sự sinh trưởng tốt nhất của cá [1]
Theo Kamler (1995), nhiệt độ không thích hợp là một trong những nguyên nhân chính gây chết cá bột [38] Một vài nhà nghiên cứu ở Thái Lan cho rằng sự thay đổi nhiệt độ thậm chí chỉ 1°C cũng có thể gây sốc dẫn đến tử vong của cá Vược ở giai đoạn con non [18] Các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ lên tăng trưởng của cá khoang cổ đỏ con vẫn chưa được tìm thấy Đối với cá khoang cổ đỏ trưởng thành, nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình thành thục và sinh dục của cá trong nuôi nhốt Ở nhiệt độ 26°C, cá thành thục sinh dục và sinh sản tốt hơn so với ở nhiệt
độ dao động ngày đêm từ 26 đến 32°C (Hà Lê Thị Lộc, 2009) Đây là một yếu tố khó khống chế để có thể triển khai thực hiện các thí nghiệm
sử dụng vào việc điều hoà áp suất thẩm thấu Tuy nhiên gần đây người ta cho rằng năng lượng cung cấp cho điều hòa áp suất thẩm thấu không cao như thế (khoảng 10%) Các số liệu cũng đã cho thấy giới hạn của thức ăn lấy vào và kích thích sự chuyển đổi thức ăn phụ thuộc rất lớn vào độ muối của môi trường Nhiệt độ và độ muối có sự tương tác qua lại phức tạp Tác giả cũng cho rằng ngoài các yếu tố môi trường khác thì nồng độ muối có ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cá [19]
Trong tự nhiên, cá khoang cổ là loài cá rạn san hô, cá trưởng thành sống trong môi trường có độ muối ít thay đổi, chúng sống tập trung nhiều trong khoảng độ sâu từ
4 đến 10 m có độ muối dao động từ 32 đến 35ppt nên chúng là những loài hẹp nhiệt, hẹp muối Tuy nhiên, giai đoạn cá bột và cá hương của các loài cá khoang cổ thường
Trang 19sống trôi nổi trên tầng mặt đại dương Vì vậy, chúng có thể trôi dạt đến vùng ven bờ nơi có nguồn thức ăn phong phú [46] Theo nghiên cứu của Hà Lê Thị Lộc (2005), ngưỡng độ muối phù hợp để nuôi dưỡng cá khoang cổ đen đuôi vàng là từ 20‰ đến 45‰ (tỷ lệ sống đạt trên 50%) và độ muối thích hợp nhất cho cá nuôi là từ 25‰ đến 40‰ [3]
Độ muối có ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ đỏ
Amphiprion frenatus kích cỡ thương mại Cá được nuôi ở độ muối 30 - 35‰ là thích
hợp nhất và cho tỷ lệ sống 100%, sinh trưởng về chiều dài, khối lượng trung bình và tốc độ sinh trưởng đặc trưng theo ngày cao nhất Cá nuôi ở độ muối từ 15 ‰ đến dưới 30‰ và ở độ muối 40‰ cho tỷ lệ sống 100% nhưng chiều dài, khối lượng trung bình
và tốc độ tăng trưởng đặc trưng theo ngày của cá thấp hơn so với khi nuôi cá ở nghiệm thức 30‰ và 35‰ Cá thí nghiệm ở độ muối 5‰,10‰ chiều dài cá tăng rất ít, khối lượng cá giảm và tỷ lệ sống thấp dưới 50% [9]
Denson et al (2003) đã thí nghiệm nuôi cá Rachycentron canadum tiền trưởng
thành (119,7 mm TL, trọng lượng 8,5g) ở 3 mức độ muối khác nhau là: 5‰, 15‰ và 30‰ trong thời gian 10 tuần Thời gian thu mẫu 2 tuần/lần để xác định sinh trưởng và
tỷ lệ sống Kết quả thí nghiệm đã khẳng định rằng nồng độ muối ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cá Trung bình chiều dài tổng (TL) và trọng lượng của cá nuôi ở
độ muối 30‰ là 201,7 ± 2,6mm TL và 47,6 ± 1,9g Cá nuôi ở độ muối 15‰ (182,2 ± 1,7mm TL; 34,1±1,6g) và 5‰ (168,3 ± 5,8mm TL; 28,3 ± 2,3g) Sự khác biệt về sinh trưởng sau 10 tuần nuôi giữa các nghiệm thức là có ý nghĩa Đối với tỷ lệ sống thì không có sự khác biệt lớn qua các nghiệm thức 5‰, 15‰ và 30‰ (84%, 94% và 94%) Tuy nhiên qua quan sát cá nuôi ở độ muối 5‰ phát hiện sức khoẻ cá bị giảm như: tổn thương da, mòn vây và màu sắc thay đổi [26]
Cotton Charles et al (1999) nghiên cứu ảnh hưởng của độ muối đến tốc độ tăng trưởng của cá vược đen Centropristis striata sống ở biển giai đoạn tiền trưởng thành
có khối lượng ban đầu 9,2g được bố trí theo các nghiệm thức có độ muối lần lượt là 10‰, 20‰ và 30‰ Thí nghiệm được thực hiện trong hệ thống tuần hoàn khép kín trong khoảng thời gian 12 tuần Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng sự tăng trưởng về chiều dài và trọng lượng của cá ở hai nghiệm thức độ muối 20‰ và 30‰ khác biệt không có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của cá ở cả hai nghiệm thức trên đều lớn hơn có ý nghĩa so với nghiệm thức có độ muối 10‰ [24]
Trang 20Gavin et al (2001) nghiên cứu tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá vền đen
(Acanthopagrus butcheri) tiền trưởng thành trong 2 thí nghiệm riêng biệt có độ muối
từ 0‰ -60‰ và 0‰ -12‰ tương ứng với các khoảng thời gian là 6 tháng và 4 tháng
Cá vền đen tiền trưởng thành có thể sống và tăng trưởng ở độ muối từ 0‰ đến 48‰ Ở
độ muối 60‰ cá bị sốc, tuy nhiên ảnh hưởng đến tỷ lệ sống thì không rõ ràng (p>0,05) Cá nuôi ở độ muối 24‰ có tỷ lệ tăng trưởng (SGR) là 2,34±0,33%/ngày và
tỷ lệ này thì lớn hơn có ý nghĩa so với cá nuôi ở độ muối 60‰ (2,16±0,04%/ngày) Ở
độ muối 24‰ cá tăng trưởng nhanh nhất, lượng thức ăn ăn vào và hệ số FCR cũng rất hiệu quả Khi phân tích số liệu ở thí nghiệm 2 cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nghiêm thức từ 0‰ tới 12‰ và có SGR tương ứng là 1,92±0,05%/ngày và 2,05±0,02%/ngày [33]
1.2.3 Mật độ
Theo Vũ Trung Tạng (1997), mật độ ảnh hưởng đến sự hô hấp, dinh dưỡng, sinh sản và nhiều chức năng khác của từng cá thể trong quần thể Mật độ quá dày sẽ gây suy giảm điều kiện sống về không gian, nguồn thức ăn, ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cá và cá khoang cổ màu sắc cơ thể có thể thay đổi Mật độ quá thưa sẽ gây khó khăn cho cá trong việc tìm bạn để kết cặp sinh sản, duy trì nòi giống [12]
Theo Hà Lê Thị Lộc và Bùi Thị Quỳnh Thu (2009), mật độ nuôi có ảnh hưởng
đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ đỏ Amphiprion frenatus kích cỡ thương
mại Cá được nuôi với mật độ 2 con/l cho tỷ lệ sống 100% và sinh trưởng đặc trưng về chiều dài trung bình đạt cao nhất (0,59%/ngày tương ứng với chiều dài trung bình: 26,6 mm) cá nuôi ở mật độ 3 con/l (sinh trưởng đặc trưng về chiều dài trung bình 0,55%/ngày tương ứng với chiều dài trung bình 25,4 mm) Cá được nuôi với mật độ 4 con/l cho tỷ lệ sống cao 100%, nhưng sinh trưởng chậm hơn so với cá được nuôi ở mật
độ 2 và 3 con/l (sinh trưởng đặc trưng về chiều dài trung bình 0,4 tương ứng với chiều dài trung bình 24mm) Cá nuôi ở mật độ 5 con/l cho tỷ lệ sống thấp hơn so với 3 mức mật độ còn lại (93%) và sinh trưởng đặc trưng về chiều dài đạt thấp nhất: 0,29%/ngày tương ứng với chiều dài trung bình 23mm qua thời gian thí nghiệm [5]
Kết quả nghiên cứu của Frank và cộng sự (1996), khi nghiên cứu hệ thống bể
nuôi ấu thể của một số loài cá, trong đó có loài nemo (Amphiprion ocellaris) Ông cho
biết mật độ nuôi có tính chất quyết định trong quá trình nuôi Trung bình 288 cá thể
được nuôi trong 30 gallon (113 lít) hay mật độ trung bình khoảng 2,56 cá thể /lít [31]
Trang 211.3 VAI TRÒ ASTAXANTHIN ĐỐI VỚI MÀU SẮC CỦA CÁ
Astaxanthin là 1 loại carotenoid, có công thức hóa học gồm 3,3’ diketo-β Carotene, là nguồn sắc tố thiên nhiên Trong tự nhiên, Astaxanthin được tìm
dihydroxy-4,4-thấy trong cơ thể các sinh vật như trong vi tảo nước ngọt Haematococcus pluvialis, trong nấm men Phaffia rhodozyma, trong tôm, cua và một số loài cá như cá hồng, cá
hồi….Astaxanthin trong cá hồng, cá hồi chủ yếu tập trung ở phần cơ thịt, da và gan [55],[56],[57],[58],tạo cho cơ, da và trứng thủy sản có màu vàng, cam hay đỏ
Astaxanthin không phải là hormone nên không gây hại đến khả năng sinh sản của cá Cá sẽ chuyển hóa Astaxanthin trong thức ăn thành tuaxanthin và tích lũy dưới
da cá Hiện nay, trong công nghệ nuôi cá cảnh, để nhuộm màu cho cơ, da hay làm cho
cá chuyển màu vàng cam, màu đỏ, trong thức ăn cá cảnh thường được bổ sung Astaxanthin hay Canthaxanthin để cá có màu sắc đẹp hơn và dễ tiêu thụ hơn (Bernhard, 1990)
Ngoài ra, chất tạo màu Astaxanthin còn giúp tăng hoạt động sinh trưởng, phát triển tuyến sinh dục, tăng khả năng chịu sốc, nâng cao giá trị thương phẩm của vật nuôi Do vậy, Astaxanthin chính là nhân tố vi lượng khá quan trọng đối với động vật thủy sinh Trong một nghiên cứu về cá hồi Atlantic salmon, khi nuôi cá với các nồng
độ Astaxanthin khác nhau ( từ 0 đến 200mg kg-1), Torrissen et al (1995) đã kết luận rằng không có sự sai khác về màu sắc trong thịt cá fillet khi tăng hàm lượng Astaxanthin trên 60mg kg-1 [51]
Năm 1997, Olsen và Mortensen đã nghiên cứu ảnh hưởng chế độ dinh dưỡng có
Astaxanthin và nhiệt độ đến thịt cá hồi Salvelinus alpinus L Tác giả sử dụng cá có
khối lượng trung bình 150g được nuôi trong 6 nghiệm thức Astaxanthin (hàm lượng từ
<1, 19, 48, 70, 94, 192mg kg-1) tại 2 nhiệt độ khác nhau (80C và 120C) Kết thúc thí nghiệm, khối lượng cá đạt được trung bình 320g (sau 102 ngày nuôi tại nhiệt độ 120C
và 126 ngày nuôi tại nhiệt độ 80C) và thấy ảnh hưởng rõ rệt nhất trên phần cơ đỏ của
cá khi nuôi cá với chế độ dinh dưỡng kết hợp Astaxanthin với hàm lượng 70mgkg-1 [48]
Chatzifotis et al (2005) đã nghiên cứu trộn Astaxanthin tỷ lệ 1,58% vào thức ăn
cho cá Pagrus pagrus ăn và sau 2,5 tháng thấy khu vực da phần vây lưng cá, sắc tố đỏ
tăng lên rõ rệt tương ứng với hàm lượng Astaxanthin tăng cao trong cơ cá so với các lô thí nghiệm khác [22]
Trang 221.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ KHOANG CỔ
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cá khoang cổ được chú ý từ những năm cuối thế kỷ XIX nhưng mãi đến thế kỷ
XX mới được các nhà khoa học nghiên cứu về sinh học và sinh thái của một số loài cá
khoang cổ như Amphiprion bicinctus, Amphiprion chrysopterus, Amphiprion clarkii,
Amphiprion melanopus, Amphiprion ocellaris Từ những năm 80 một số nước đã cho
sinh sản và tiến hành ương nuôi cá khoang cổ con bằng nhiều phương pháp khác nhau nhằm cung cấp con giống cho các hệ thống nuôi phục vụ du lịch, giải trí và phục hồi nguồn lợi tự nhiên
Tại Đức, Neugebauer (1969) đã cho sinh sản và ương nuôi cá con loài Amphiprion
akallopisos và loài Amphiprion ephippium Ánh sáng tự nhiên và nhân tạo đã kích
thích sự tăng trưởng của rong Caulerpa trong hệ thống nuôi dùng làm thức ăn cho cá con Amphiprion sp Cá con Amphiprion akallopisos được nuôi bằng nguyên sinh động vật có tiêm mao Euplotes và tảo xanh lục (Fautin & Allen, 1992) Một số nhà khoa học
người Đức khác cũng đã cho sinh sản 6 loài cá khoang cổ và đã ương nuôi đàn cá con đạt kích thước lớn nhưng chưa cho sinh sản được đàn cá nuôi này [47]
Nhà khoa học người Pháp, Alayse (1983) đã nuôi giai đoạn cá con A ocellaris bằng luân trùng (Brachionus plicatilis) và ấu trùng của Artermia Chất dinh dưỡng của
luân trùng được nâng lên bằng cách bổ sung thức ăn khô vào bể nuôi Phương pháp này đã cải thiện được tỷ lệ sống của ấu trùng từ 5% lên 40% sau 30 ngày nuôi [13]
Tại Nga, đã cho sinh sản và ương nuôi 5 loài cá khoang cổ: Amphiprion
ephippium, A melanopus, A ocellaris , A polymmus, A frenatus Luân trùng
(Brachonus plicatilis) đã được dùng làm thức ăn cho giai đoạn đầu tiên của cá con Các loài tảo để nuôi Luân trùng gồm: Nanochloropsis sp, Dunaliella tertiolecta,
Phaeodactylum tricornitum, Rhodomonas salina Theo kết quả nghiên cứu, sự làm
giàu dinh dưỡng của Luân Trùng bằng nhiều loài tảo đã nâng cao tỷ lệ sống của cá con
so với chỉ sử dụng một loài tảo Nanochloropsis sp Tỷ lệ sống tăng từ 12,5% - 52,%
(Astakhov et al, 2002) [17]
Từ năm 2000 đến nay, Thái Lan cũng đã tiến hành sinh sản và ương nuôi 6 loài
Cá Khoang cổ: Amphiprion frenatus, A clarkii, A polymmus, A perideraion, A
Trang 23sandracinos, A ocellaris và đã sản xuất ra cá kích thước thương mại phục vụ cho xuất
khẩu [16]
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nguồn lợi về cá cảnh biển rất phong phú và đa dạng Đặt biệt, khu
hệ biển Miền Trung với nhiều hòn đảo lớn nhỏ là nơi tập trung của nhiều loài cá rạn san hô quí hiếm có giá trị kinh tế
Từ đầu những năm 90, việc nghiên cứu cá cảnh chủ yếu tập trung nghiên cứu thành phần loài Năm 1999, bộ phận bảo tàng của Viện Hải dương học đã nghiên cứu
về sự cộng sinh giữa các loài hải quì và các loài cá khoang cổ Năm 2000-2001, phòng công nghệ nuôi trồng Viện Hải dương học thực hiện nghiên cứu đề tài cấp trung tâm:
“Cơ sở sinh thái và sinh học nhằm phục vụ cho việc sinh sản nhân tạo cá khoang cổ
Amphiprion sp ở vùng biển Khánh Hòa” Bước đầu cho sinh sản nhân tạo cá khoang
cổ đỏ thành công, cung cấp được một ít con giống có kích cỡ 3 – 4 cm Sau khi đề tài kết thúc và nghiệm thu Nghiên cứu sinh Hà Lê Thị Lộc đã thực hiện Luận án Tiến sĩ, tiếp tục nghiên cứu bổ sung số liệu, kết quả thu được 6.000 con giống và xuất khẩu sang châu Âu
Năm 2006 – 2008, viện Hải dương học được sự hỗ trợ kinh phí của địa phương, tiếp tục nghiên cứu: “Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống và nuôi thương
phẩm loài cá khoang cổ đỏ Amphiprion frenatus” kết quả đã sản xuất được hơn 10.000
con cá kích thước thương mại, xuất khẩu sang châu Âu và thả phục hồi nguồn lợi tại địa phương, đóng góp thêm một đối tượng nuôi mới cho nghề nuôi trồng hải sản ở nước ta
Từ năm 2008, Viện Hải dương học chủ trì đề tài Khoa học Công nghệ Trọng điểm cấp Nhà nước (mã số KC 06.05/06-10), đã cho sinh sản nhân tạo thành công loài
cá khoang cổ nemo Luận án tốt nghiệp cao học là một phần trong nội dung nghiên
cứu của đề tài, tác giả đã cùng tham gia thực hiện đề tài và cùng sử dụng số liệu của đề tài trên
Các kết quả nghiên cứu hiện đang được ứng dụng trong sản xuất giống nhân tạo
và ương nuôi thương phẩm cá khoang cổ nemo, cung cấp sản phẩm cho thị trường cá cảnh trong nước và xuất khẩu chúng nhằm giảm bớt áp lực khai thác ngoài tự nhiên, tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước Một phần sản phẩm của đề tài cũng đã được thả phục hồi tại khu vực bảo tồn nguồn lợi tự nhiên đảo Hòn Mun, tỉnh Khánh Hòa
Trang 24CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đàn cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellaris Cuvier, 1830) có nguồn gốc từ sinh sản nhân tạo
- Thời gian nghiên cứu: Luận án được tiến hành từ tháng 01/2010 đến 08/2010
- Địa điểm nghiên cứu: Tại trại thực nghiệm của Phòng Công nghệ Nuôi trồng,
Viện Hải dương học (Nha Trang)
2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Sơ đồ nghiên cứu tổng quát của luận án như sau:
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Nước đã được xử lý
Cá khoang cổ nemo 120-150 ngày tuổi
Thử nghiệm các loại thức ăn khác nhau
Xác định tốc
độ tăng trưởng,
tỷ lệ sống và màu sắc củacá
Xác định tốc
độ tăng trưởng
và tỷ lệ sống của cá
Trang 252.2.1 Dụng cụ thí nghiệm: gồm kính hiển vi quang học, kính hiển vi soi nổi, bộ
giải phẩu cá, buồng đếm tảo, nhiệt kế, khúc xạ kế, máy đo pH, bộ Test-kit của các yếu tố: nitrite, ammonia, máy quang phổ, các dụng cụ phục vụ phân tích hoá sinh
Thí nghiệm được bố trí trong các bể kính thể tích 20lít và các bể kính đều có sục khí 24/24
Hình 2.2 : Bố trí hệ thống bể thí nghiệm
2.2.2 Nguồn nước thí nghiệm
Nước biển sau khi qua bể lắng 24 giờ, lọc cơ học được đưa vào bể chứa để xử lý Chlorin A nồng độ 25 – 30 ppm Sục khí, phơi nắng 3 ngày liên tục, sau đó trung hoà lượng Chlorin thừa bằng Natri thiosulphat (Na2SO3.H2O), lọc qua lưới lọc tảo và đưa vào bể nuôi
Hình 2.3: Sơ đồ xử lý nguồn nước thí nghiệm
Bể chứa
Bể nuôi
Trang 262.2.3 Nguồn cá thí nghiệm
Cá khoang cổ nemo có nguồn gốc từ sinh sản nhân tạo, 120 và 150 ngày tuổi, chiều dài toàn thân từ 2,0 – 3,0 cm Cá có kích thước đồng đều, màu sắc tươi sáng và khỏe mạnh Không bị các bệnh thường gặp trên cá khoang cổ như bệnh phồng mắt, vi khuẩn dạng sợi và nguyên sinh động vật ký sinh
2.2.4 Nguồn thức ăn copepoda
Hằng ngày lượng Copepoda sử dụng trong thí nghiệm được vớt từ các ao đìa
nuôi tôm, sau đó làm giàu bằng vi tảo Nannochloropsis oculata, tắm qua Formol với
nồng độ 100 – 150 ppm trước khi cho cá ăn
2.2.5 Nguồn thức ăn Artemia
Dùng các xô nhựa thể tích từ 30 đến 150lít Nước có độ muối dao động từ 20 – 35‰ Nhiệt độ nước biển thích hợp cho trứng nở là từ 25-280C, pH của nước phải luôn duy trì trên 8 trong suốt thời gian cho nở Mật độ trung bình từ 2-3g trứng khô/lít hoặc nhiều nhất là 5g trứng khô/lít Trước khi ấp nở ngâm trứng trong nước ngọt 1 giờ để làm sạch và cho trứng trương nước Sau đó, ngâm trứng trong dung dịch chlorin 50ppm trong 1 giờ để tiêu diệt những mầm bệnh và những ký sinh trùng bám ngoài vỏ trứng Sau khi xử lý, rửa sạch chlorin bằng nước ngọt Trứng nở sau 20 - 48 giờ tuỳ
dòng Artemia sử dụng Do Artemia có tính hướng quang nên sử dụng một đèn chiếu
sáng để thu Nauplius Cách thu như sau:
Ngừng sục khí từ 5-10 phút cho vỏ nổi lên bề mặt, những trứng không nở nặng sẽ chìm xuống đáy và Nauplius sẽ tập trung ở phần giữa nơi có ánh đèn sáng chiếu qua
Dùng ống hút toàn bộ Nauplius qua một thau mặt trên có lớp lưới kích thước 150m để tách Nauplius ra khỏi vỏ trứng
2.2.6 Nguồn thức ăn tổng hợp
Thức ăn tổng hợp Lansy có hàm lượng protein ≥ 48 %, lipid ≥ 13 %, chất xơ ≤ 2,5 %, độ ẩm ≤ 8 %, axít amin, lecithin, chất khoáng, vitamin và chất khoáng chống oxy hoá Trước khi cho ăn, kiểm tra bể thí nghiệm để đánh giá mức độ tiêu thụ thức ăn của cá Từ đó, tính toán lượng thức ăn cần thiết phải cho ăn hằng ngày Lượng thức ăn cho cá trung bình từ 5 – 7% khối lượng cơ thể
Trang 27
2.2.7 Nguồn Astaxanthin
Sử dụng thức ăn tổng hợp (Lansy-Shrimp) kết hợp với Astaxanthin theo tỷ lệ
100 mg kg-1[60] Hòa tan Astaxanthin trong cồn và trộn vào thức ăn tổng hợp, để khô, sau đó cho cá ăn
2.2.8 Thử nghiệm ảnh hưởng của độ muối đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ nemo kích thước thương mại
Cá khoang cổ nemo được bố trí trong 8 nghiệm thức Các nghiệm thức được thực hiện trong các bể thuỷ tinh thể tích 20 lít, mật độ 1 con/ lít với các thang độ muối gồm: 5‰, 10‰, 15‰, 20‰, 25‰, 30‰, 35‰, 40‰ Mỗi nghiệm thức được lặp lại
03 lần Thời gian tiến hành thí nghiệm là 2 tháng
Thức ăn hằng ngày: cho ăn Artemia (mật độ 5 – 7 con/mL),
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
Hình 2.4: Sơ đồ bố trí thử nghiệm độ muối
Cá khoang cổ nemo 120 ngày tuổi
Thử nghiệm ảnh hưởng của các độ muối
Định kỳ 10 ngày xác định:Tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống Xử lý số liệu
Xác định độ muối thích hợp cho
cá kích cở thương mại
Trang 282.2.9 Thử nghiệm ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá khoang cổ nemo kích thước thương mại
Cá khoang cổ nemo sau 150 ngày tuổi được bố trí 4 nghiệm thức Mỗi nghiệm thức 3 lần lặp lại Thời gian tiến hành thí nghiệm 2 tháng Các nghiệm thức được thực hiện trong các bể thuỷ tinh thể tích 20 lít với các mật độ nuôi khác nhau:
Nghiệm thức 1: cá nuôi với mật độ 1 con/ L
Nghiệm thức 2: cá nuôi với mật độ 2 con/L
Nghiệm thức 3: cá nuôi với mật độ 3 con/L
Nghiệm thức 4: cá nuôi với mật độ 4 con/L
Thức ăn hằng ngày: Artemia (mật độ 5 – 7 con/mL), bổ sung vi tảo
Nannochloropsis oculata mật độ 106 tb/ml để ổn định môi trường và làm thức ăn cho
Artemia
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
Hình 2.5: Sơ đồ bố trí thí nghiệm mật độ nuôi cá
Cá khoang cổ nemo 150 ngày tuổi
Thử nghiệm ảnh hưởng các mật độ khác nhau
tăng trưởng Xử lý số liệu
Trang 292.2.10 Thử nghiệm ảnh hưởng các loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và màu sắc của cá khoang cổ nemo thương mại
Cá khoang cổ nemo 120 ngày tuổi được bố trí 4 nghiệm thức Các nghiệm thức được thực hiện trong các bể thuỷ tinh thể tích 20 lít Mỗi nghiệm thức được tiến hành
3 lần lặp lại Thời gian tiến hành thí nghiệm 2 tháng Mật độ và độ muối phù hợp nhất
từ các thí nghiệm trên Các chế độ dinh dưỡng được bố trí như sau:
Nghiệm thức 1: sử dụng thức ăn copepoda (thức ăn ưa thích nhất của cá
khoang cổ ngoài tự nhiên) [14],[2],[7]
Nghiệm thức 2: thức ăn tổng hợp (loại thức ăn hiện nay đang được người nuôi
cá sử dụng phổ biến do luôn luôn có sẵn ở thị trường)
Nghiệm thứ 3: thức ăn tổng hợp kết hợp Astaxanthin (100 mg kg-1)
Nghiệm thức 4: ấu trùng Nauplii của Artemia (loại thức ăn tươi sống hiện đang
được sử dụng phổ biến trong các trang trại nuôi cá biển)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
Hình 2.6: Sơ đồ bố trí thí nghiệm về chế độ thức ăn
Cá khoang cổ nemo 120 ngày tuổi
Thử nghiệm ảnh hưởng của chế độ dinh
dưỡng trong thức ăn
Artemia Tổng hợp Astaxanthin Tổng hợp + Copepoda
Xác định chế độ dinh dưỡng phù hợp Định kỳ 10 ngày xác định: tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và màu sắc của cá Xử lý sốliệu
Trang 302.3 Phân tích xác định hàm lượng Carotenoid tổng số, hàm lượng Astaxanthin
Xác định hàm lượng carotenoid tổng số cá khoang cổ nemo bằng phương pháp
đo độ hấp thụ trên máy quang phổ UV- VIS (Spectrophotometer) ở bước sóng 454nm
và tính theo công thức của May et al (2004) [42]
D2: Thể tích nước pha loãng (ml)
Xác định hàm lượng Astaxanthin bằng phương pháp đo độ hấp thụ trên máy quang phổ UV- VIS (Spectrophotometer) ở bước sóng 476nm [23]
Hàm lượng Astaxanthin trong mẫu được tính theo công thức của Kelly- Harmon (1972) [39]
Trong đó:
Y: µg/g Astaxanthin/trọng lượng tươi
A: Độ hấp thụ A của dung dịch ở 476nm
D: Thể tích dịch chiết thu được (ml)
G: Trọng lượng tươi của sinh khối (g)
d: Bề dày của cuvet (d = 1cm)
E: Hệ số tắt của Astaxanthin (tức độ hấp thụ của dung dịch Astaxanthin 1% với cuvet 1cm) trong dung môi PE
2
1.
Y
D m
D V A
G d E
D A
cm .
10
1
4
Trang 312.4 Chăm sóc và quản lý cá trong các thí nghiệm
Hằng ngày xi-phông thay 30 - 50% lượng nước mới, các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, oxy hoà tan, NH3+ và NO2- được duy trì ổn định trong suốt quá trình thí
nghiệm Kiểm tra tỷ lệ sống và quan sát tình trạng sức khoẻ của cá
Cho ăn hàng ngày vào lúc 8 giờ sáng và 14 giờ chiều, đồng thời bổ sung vi tảo
Nannochloropsis oculata mật độ 106 tb/mL để ổn định môi trường và làm thức ăn cho Artemia, Copepoda
Định kỳ đo kích thước và cân khối lượng cá 10 ngày/lần
2.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
2.5.1 Các thông số môi trường trong hệ thống nuôi
Các yếu tố môi trường trong các hệ thống nuôi được đo đạt hàng ngày vào buổi sáng và chiều
Nhiệt độ: đo bằng nhiệt kế thủy ngân, độ chính xác 10C
Độ muối: đo bằng khúc xạ kế, độ chính xác 1‰
pH: đo bằng máy đo pH (HANNA pH meter)
Hàm lượng nitrite và ammonia: xác định bằng Nitrit – Test (Aqua Nite) và Ammonium – Test (Aqua AM) sản xuất tại Thái Lan
Hàm lượng oxy hòa tan: xác định bằng test-kit
2.5.2 Xác định tốc độ tăng trưởng
- Sinh trưởng tuyệt đối về chiều dài (GR L ): được xác định theo công thức
GRL = Lt – L0
Trong đó GRL: sinh trưởng tuyệt đối về chiều dài tại thời điểm t (mm)
Lt: chiều dài của cá tại thời điểm t (mm)
L0: chiều dài của cá tại thời điểm ban đầu (mm)
- Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài toàn thân (SGR L )
Trong đó: SGRL: tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài toàn thân (% ngày)
L1: chiều dài cá ở thời điểm t1 (mm)
L2: chiều dài cá ở thời điểm t2 (mm)
Cá được đo bằng thước có độ chính xác 1mm
- Sinh trưởng tuyệt đối về khối lượng: được xác định theo công thức
100SGR
1 2
1 2
t t
LnL LnL
Trang 32GRw = Wt– W0
Trong đó GRw: sinh trưởng tuyệt đối về khối lượng tại thời điểm t(g)
Wt: khối lượng của cá tại thời điểm t (g)
W0: khối lượng của cá tại thời điểm ban đầu (g)
- Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về khối lượng: được xác định theo công
thức
Trong đó: SGRw: tốc độ sinh trưởng đặc trưng về khối lượng (% ngày)
W1: khối lượng cá ở thời điểm t1 (mg)
W2: khối lượng cá ở thời điểm t2 (mg)
Cá được cân bằng cân điện tử có độ chính xác 0.01g
Sc: Số cá còn lại khi kết thúc thí nghiệm (con)
Sđ: Số cá ban đầu (con)
Tỷ lệ sống của cá được xác định bằng phương pháp đếm trực tiếp
2.5.4 Công thức pha độ muối
2 0
C - C
C - C
Trong đó V1: thể tích nước có nồng độ muối cao
1 2
1 2
t t
LnW LnW
Trang 33CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MUỐI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ
TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ KHOANG CỔ NEMO
3.1.1 Một số yếu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm
Các giá trị môi trường của hệ thống nuôi dao động trong suốt thời gian thí nghiệm được trình bày ở Bảng 3.1
Bảng 3.1: Một số yếu tố môi trường trong hệ thống bể nuôi
Nhiệt độ (0C) pH
NH3+ (mg/l)
NO2- (mg/l)
Oxy hoà tan (mg/l)
Trong quá trình thí nghiệm, hằng ngày các bể nuôi được siphong, thay nước và
vệ sinh nên lượng nước trong bể thường xuyên được bổ sung nước mới Vì vậy, các yếu tố nhiệt độ, pH luôn luôn thay đổi Tuy nhiên, sự dao động của pH và nhiệt độ không lớn pH dao động từ 7,7 – 8,3, nhiệt độ dao động từ 23 – 28 oC Đặc biệt ở giai đoạn cá từ 150 đến 160 ngày tuổi do bị ảnh hưởng của những ngày mưa nên nhiệt độ trong bể thí nghiệm giảm xuống thấp (23oC) và giá trị pH trong bể có ngày tăng lên 8,3 Tuy nhiên sự dao động này không ảnh hưởng đến cá cũng như kết quả thí nghiệm Hàm lượng oxy hoà tan không có sự dao động lớn, duy trì ở mức 5 – 6 mg/l
Các chỉ tiêu này tương tự nhau ở tất cả các lô thí nghiệm do chế độ chăm sóc hằng ngày của các lô như nhau Các yếu tố môi trường trong các bể nuôi tương đối ổn định, nằm trong giới hạn thích hợp cho sự sinh trưởng cá khoang cổ [3],[20],[31],[11] Trong suốt quá trình nuôi, không có những biến động đáng kể có thể gây ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm
Trang 343.1.2 Ảnh hưởng của độ muối khác nhau đến tăng trưởng của cá khoang cổ nemo
Qua các đợt thu thập số liệu của các nghiệm thức ở các ngày tuổi khác nhau được tổng hợp ở bảng 3.2, 3.3 và hình 3.1, 3.2 Dựa vào sinh trưởng về chiều dài, khối lượng trung bình cá ở mỗi nghiệm thức, có thể chia thành 3 nhóm như sau:
Nhóm 1 là nhóm có chiều dài, khối lượng trung bình của cá đạt cao nhất ở nghiệm thức có độ muối 35‰ (cá 180 ngày tuổi đạt 45,1mm; 1,269g) Tuy nhiên khi
cá nuôi ở nghiệm thức độ muối 30‰, chiều dài, khối lượng trung bình của cá có thấp hơn (cá 180 ngày tuổi đạt 44,7 mm; 1,236g ) nhưng không sai khác về mặt thống kê (p<0,05) so với chiều dài, khối lượng trung bình của cá khi nuôi ở độ muối 35‰
Nhóm 2 với chiều dài, khối lượng trung bình của cá khi nuôi tại nghiệm thức có
độ muối 25‰ (cá 180 ngày tuổi đạt 42,0mm; 1,126g) cao hơn nhưng không sai khác
về mặt thống kê (p<0.05) so với chiều dài, khối lượng trung bình khi nuôi cá ở độ muối 40‰ (cá 180 ngày tuổi đạt 41,2mm; 1,067g)
Nhóm 3 là nhóm có có chiều dài, khối lượng trung bình thấp nhất so với các nhóm kể trên, cá nuôi ở nghiệm thức có độ muối 20‰ (cá 180 ngày tuổi đạt 38,5mm; 1,019g) nhưng cao hơn so với nghiệm thức 15‰, (sau 180 ngày tuổi đạt 36,3mm, 0,904g), ở độ muối 10‰ (cá 180 ngày tuổi đạt 35,1mm, 0,84g) Riêng nghiệm thức 5‰, sau một thời gian nuôi đến ngày thứ 7 thì cá chết hoàn toàn
Trang 35Bảng 3.2: Sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá khoang cổ nemo ở các độ muối khác nhau
Số liệu trình bày trên bảng là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn Số liệu cùng cột có các chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê (p< 0,05) Số liệu trình bày trên bảng là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn
Tuổi (ngày) Chỉ
Trang 36Hình 3.1: Chiều dài cá ở các độ muối khác nhau
Hình 3.2: Khối lượng cá ở các độ muối khác nhau Qua theo dõi tốc độ tăng trưởng đặc trưng của cá khi nuôi ở các độ muối khác nhau cho thấy, cá nuôi ở nghiệm thức 35‰, 30‰, cho tốc độ tăng trưởng cao nhất (trung bình 0,66%/ngày và 0,64%/ngày) Tiếp theo nghiệm thức trên là nhóm có tốc độ tăng trưởng của cá nuôi ở độ muối 25‰, 40‰ đạt trung bình 0,56%/ngày và 0,50%/ngày Cá nuôi ở độ muối 20‰ cho tốc độ tăng trưởng đặc trưng thấp hơn hai nhóm nghiệm thức trên nhưng cao hơn so với cá nuôi ở độ muối 15‰ và 10‰ (trung
Trang 37bình đạt 0,40%/ngày) Cá nuôi ở độ muối 15‰ và 10‰ cho tốc độ tăng trưởng thấp nhất (trung bình 0,31%/ngày và 0,24%/ngày)
Bảng 3.3: Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài của cá khoang cổ nemo
khi nuôi ở các độ muối khác nhau
Tóm lại, đàn cá thí nghiệm có chiều dài, khối lượng trung bình và tốc độ tăng trưởng đặc trưng theo ngày tại nghiệm thức 35‰ và 30‰ đạt cao nhất Tiếp theo là đàn cá nuôi ở nghiệm thức 25‰ và nghiệm thức 40‰ Đàn cá nuôi tại các nghiệm thức 10‰,15‰, 20‰ có chiều dài, khối lượng và tốc độ sinh trưởng đặc trưng đạt thấp nhất
3.1.3 Ảnh hưởng của các độ muối khác nhau đến tỷ lệ sống của cá khoang cổ nemo
Tỷ lệ sống là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá sự tác động của yếu
tố độ muối đến cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellaris) kích thước thương mại
Ngày tuổi (ngày)
Trang 38Hình 3.3: Tỷ lệ sống của cá ở các độ muối khác nhau Kết quả ở hình 3.3 cho thấy, tỷ lệ sống của cá đạt cao khi nuôi cá ở độ muối từ 10‰ đến 40‰ (đạt từ 88% đến 100%) và đạt cao nhất ở nghiệm thức độ muối 30‰ và 35‰ (100%) Cá chết hoàn toàn sau 7 ngày khi nuôi ở độ muối 5‰ Có thể ở độ muối 5‰ đã vượt quá ngưỡng giới hạn sinh thái của loài Do vậy, đã gây hiện tượng cá yếu
và dễ chết Kết quả trên cho thấy, nuôi cá ở độ muối từ 10‰ đến 40‰ thì độ muối ít gây ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá Ở nghiệm thức 10‰, cá vẫn sinh trưởng và tỷ lệ sống đạt đến 88,90%, khác với các loài cá khoang cổ khác
Tóm lại, ở giới hạn độ muối từ 10‰ đến 40‰, cá khoang cổ nemo được nuôi ở
độ muối 30 - 35‰ là thích hợp nhất Tuy nhiên nếu điều kiện nuôi không cho phép nuôi cá tại ngưỡng độ muối trên, có thể nuôi cá khoang cổ nemo ở các độ muối 10‰, 15‰, 20‰, 25‰ và 40‰, mặc dù tốc độ sinh trưởng thấp hơn nhưng vẫn cho tỷ lệ sống cao
Kết quả nghiên cứu này tương tự kết quả nghiên cứu đối với loài cá khoang cổ
đỏ (Amphiprion frenatus) trong thí nghiệm ảnh hưởng của các độ muối khác nhau [9]
Sau 8 tuần cá được nuôi ở độ muối 30 - 35‰ cho tỷ lệ sống 100%, sinh trưởng về chiều dài, khối lượng trung bình và tốc độ sinh trưởng đặc trưng theo ngày đạt cao nhất Cá nuôi ở độ muối từ 15 ‰ đến dưới 30‰ và ở độ muối 40‰ cũng có tỷ lệ sống
Trang 39đạt 100% nhưng chiều dài, khối lượng trung bình và tốc độ tăng trưởng đặc trưng theo ngày của cá thấp hơn so với khi nuôi cá ở nghiệm thức 30 và 35‰ Tuy nhiên, khác với loài cá khoang cổ nemo, cá khoang cổ đỏ khi thí nghiệm ở độ muối 10‰ chiều dài
cá tăng rất ít, khối lượng cá giảm và tỷ lệ sống thấp dưới 50% [9]
Đối với loài cá khoang cổ đen đuôi vàng, theo nghiên cứu của Hà Lê thị Lộc (2005), ngưỡng độ muối phù hợp để nuôi dưỡng cá khoang cổ đen đuôi vàng là từ 20‰ đến 45‰ (tỷ lệ sống đạt trên 50%) và độ muối phù hợp nhất cho cá nuôi là từ 25‰ đến 40‰ [3] Theo các kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy đây là loài cá sống
xa bờ, ở độ sâu khá lớn (từ 5-15 mét nước) Do vậy, khả năng thích nghi với sự thay đổi độ muối kém hơn các loài cá khoang cổ sống gần bờ như loài cá khoang cổ nemo
3.2 THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ KHOANG CỔ NEMO
3.2.1 Một số yếu tố môi trường trong các bể thí nghiệm
Hằng ngày các bể thí nghiệm do được siphong và thay nước 30 - 50% lượng nước trong bể với hệ thống nước được xử lý tốt nên các yếu tố môi trường trong tất cả
cá bể không có sự chênh lệnh lớn Số liệu trình bày ở bảng 3.4 là một số giá trị môi trường của hệ thống bể nuôi thí nghiệm
Bảng 3.4: Một số yếu tố môi trường trong bể nuôi thí nghiệm về ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ nemo
Độ muối (‰) Nhiệt độ (0C) pH NH3
+
(mg/l)
NO2- (mg/l)
Oxy hoà tan (mg/l)
28 24
7,7 – 8,3 0 – 0,01 0 – 0,1 4,5 - 6
Kết quả ở bảng 3.4 cho thấy nhiệt độ nước dao động từ 24,0 đến 28,oC, độ muối
từ 30‰ đến 35‰ trong suốt quá trình thí nghiệm Giá trị pH nằm trong khoảng từ 7,7 đến 8,3, hàm lượng Oxy hoà tan và NH3+ đều nằm trong khoảng thích hợp cho cá khoang cổ phát triển và không khác nhau giữa các lô thí nghiệm,đặc biệt hàm lượng nitrite tăng dần (từ 0 đến 0,1 mg/l) do quá trình trao đổi chất của cá tăng cùng với sự tăng trưởng của cá trong quá trình nuôi, các chỉ tiêu này tương tự nhau ở tất cả các lô
Trang 40thí nghiệm do chế độ chăm sóc hằng ngày của các lô như nhau Sự dao động của các yếu tố môi trường trên không lớn.
Nhìn chung, chất lượng nước là phù hợp cho sự phát triển của cá khoang cổ nemo và nằm trong giới hạn thích hợp [3],[20],[31],[11] Môi trường bể nuôi tương đối ổn định do luôn được theo dõi và khống chế trong suốt quá trình nuôi nên không
có những biến động đáng kể có thể gây ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm
3.2.2 Ảnh hưởng của các mật độ khác nhau đến sự tăng trưởng của cá khoang
cổ nemo
Để tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm công chăm sóc và quản lý trong một trang trại sản xuất giống cá biển thì việc xác định mật độ nuôi hợp lý là rất cần thiết Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ nemo nuôi ở các mật độ khác nhau được thể hiện ở bảng 3.5 và bảng 3.6
Bảng 3.5: Sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá khoang cổ nemo kích
thước thương mại ở các mật độ khác nhau
Mật độ nuôi (con/l) Chỉ
kể (P < 0,05) so với cá nuôi ở mật độ 3 con/l và 4 con/l Cá nuôi ở mật độ 2 con/L, có chiều dài và khối lượng (45,6 mm và 1,639g) không sai khác về mặt thống kê (p <