1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906

96 527 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của Artemia franciscana Kelloge, 1906
Tác giả Trần Thị Bích Hà
Người hướng dẫn TS. Hoàng Thị Bích Mai
Trường học Trường Đại học Nha Trang
Chuyên ngành Nuôi trồng Thủy sản
Thể loại Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 37,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

29 3.1 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, sức sinh sản và chất lượng Artemia sinh khối.... 21 Hình 2.3: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu Ảnh

Trang 1

-

TRẦN THỊ BÍCH HÀ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI VI TẢO LÀM THỨC ĂN ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG, SỨC SINH SẢN VÀ

CHẤT LƯỢNG CỦA Artemia franciscana Kelloge, 1906

LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP

Ngành Nuôi trồng Thủy sản

Mã số : 60 62 70

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG THỊ BÍCH MAI

Nha Trang - 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Ban quản lý Dự án Hợp phần hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững – SUDA đã tạo điều kiện thuận lợi về vật chất lẫn tinh thần để chúng tôi hoàn thành khóa đào tạo

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Thầy, Cô hướng dẫn:

có thể hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo đã tận tình giảng dạy, các bạn lớp Cao học Nuôi trồng 2009 – SUDA đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận án và khóa học

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến Sở Nông Nghiệp và PTNT Bình Định, Chi cục Khai thác và BVNL Thủy sản Bình Định, BQL dự án FSPSII Bình Định và các anh, chị Phòng Quản lý Nguồn lợi và môi trường Thủy sản đã tạo điều kiện và thường xuyên động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến sự giúp đỡ, động viên của tất cả người thân trong gia đình

Nha Trang, tháng 10 năm 2010

Trần Thị Bích Hà

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đây là một công trình nghiên cúu độc lập Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án hoàn toàn trung thực, do chính tác giả làm ra và chưa có một ai công bố trong bất kỳ nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả

Trần Thị Bích Hà

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng v

Danh mục các hình vi

Danh mục ký hiệu và chữ viết tắt vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Vai trò của Artemia trong NTTS 3

1.2 Phân loại và đặc điểm sinh học của Artemia 4

1.2.1 Hệ thống phân loại 4

1.2.2 Đặc điểm sinh học 5

1.2.2.1 Vòng đời 5

1.2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng 5

1.2.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng 8

1.2.2.4 Đặc điểm sinh sản 9

1.2.2.5 Khả năng thích ứng với điều kiện môi trường và phân bố 11

1.3Tình hình nghiên cứu Artemia 12

1.3.1 Trên thế giới 12

1.3.2 Trong nước 14

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đố tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 18

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 18

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 18

2.2 Phương pháp nghiên cứu 18

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu chung của đề tài 18

2.2.2 Chuẩn bị các điều kiện thí nghiệm 19

2.2.3 Bố trí thí nghiệm 22

2.2.4 Phương pháp xác định tỷ lệ nở, ấp trứng và thả giống 24

Trang 5

2.2.5 Phương pháp xác đinh một số yếu tố môi trường 25

2.2.6 Phương pháp thu mẫu Artemia 26

2.2.7 Phương pháp kiểm tra sự tăng trưởng, tỷ lệ sống của Artemia 27

2.2.8 Phương pháp xác định sức sinh sản 28

2.2.9 Đánh giá chất lượng của Artemia 28

2.3 Xử lý số liệu 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

3.1 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, sức sinh sản và chất lượng Artemia sinh khối 29

3.1.1 Diễn biến một số yếu tố môi trường 29

3.1.2 Thành phần loài tảo tạp trong ao nuôi tảo 31

3.1.3 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tốc độ tăng trưởng của Artemia 33

3.1.4 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tỷ lệ sống của Artemia 36

3.1.5 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sức sinh sản của Artemia 39

3.1.6 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến chất lượng của Artemia sinh khối 41

3.2 Thử nghiệm nuôi Artemia sinh khối bằng tảo Chaetoceros sp trong bể xi măng 43

3.2.1 Diễn biến một số yếu tố môi trường 43

3.2.2 Tốc độ tăng trưởng của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros sp trong bể xi măng 45

3.2.3 Tỷ lệ sống của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros sp trong bể xi măng 47

3.2.4 Sức sinh sản của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros sp trong bể xi măng 49

3.2.5 Chất lượng của Artemia sinh khối nuôi bằng tảo Chaetoceros sp trong bể xi măng 51

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 53

4.1 Kết luận 53

4.2 Đề xuất ý kiến 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 3.1: Diễn biến cá yếu tố môi trường trong các lô thí nghiệm 29 Bảng 3.2: Thành phần loài tảo tạp 31 Bảng 3.3: Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự tăng trưởng của

Bảng 3.7: Ảnh hưởng của các loại tảo làm thức ăn đến thành phần acid béo trong

Artemia sinh khối 41

Bảng 3.8: Diễn biến các yếu tố môi trường trong các bể thí nghiệm 44

Bảng 3.9: Sự tăng trưởng về chiều dài (mm) của Artemia nuôi bằng tảo

Chaetoceros sp trong bể xi măng 45

Bảng 3.10: Tốc độ tăng trưởng (%ngày) của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros

Bảng 3.13: Thành phần acid béo trong sinh khối Artemia nuôi bằng tảo

Chaetoceros sp trong bể xi măng 51

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

Trang

Hình 1.1: Artemia là vật trung gian chuyển các thành phần đặc thù vào ấu trùng

nuôi 3

Hình 1.2: Vòng đời phát triển của Artemia 5

Hình 1.3: Giai đoạn bung dù và hình thái ấu trùng của Artemia 6

Hình 1.4: Hiện tượng bắt cặp của Artemia 9

Hình 1.5: Trứng bào xác của Artemia 10

Hình 2.1: Sơ đồ mô tả các nội dung nghiên cứu của đề tài 18

Hình 2.2: Hệ thống nuôi tảo sinh khối chuẩn bị cho thí nghiệm 1 21

Hình 2.3: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng sinh khối Artemia 22

Hình2.4: Bố trí thí nghiệm 1 23

Hình 2.5: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu ở thí nghiệm 2 23

Hình 2.6 : Bố trí thí nghiệm 2 24

Hình 2.7: Máy đo đa yếu tố YSI 26

Hình 2.8: Vị trí thu mẫu Artemia 26

Hình 3.1: Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự tăng trưởng về chiều dài (mm) của Artemia 35

Hình 3.2: Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tỷ lệ sống của Artemia 37

Hình 3.3: Giải phẫu buồng trứng của Artemia cái dưới kính hiển vi 39

Hình 3.4: Sự tăng trưởng về chiều dài (mm) của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros sp trong bể xi măng 46

Hình 3.5: Tốc độ tăng trưởng (%ngày) của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros sp trong bể xi măng 47

Hình 3.6: Tỷ lệ sống của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros sp trong bể xi măng 50

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

o SFA: acid béo bão hòa

o MUFA: acid không no một nối đôi

o PUFA: acid không no nhiều nối đôi (có từ 2 nối đôi trở lên)

o HUFA: (Highly Unsaturated Fatty Acids ) : acid béo không no bậc cao, có mạch từ 20 cacbon trở lên và có từ 4-6 nối đôi trong mạch cacbon

o DHA: Decosahexaenoic Acid (22:6n-3)

o EPA: Eicosapentaenoic Acid (20:5n-3)

o TFA: tổng acid béo

Trang 9

MỞ ĐẦU

Artemia thuộc nhóm giáp xác nhỏ có tập tính ăn lọc không chọn lựa và có thể sử dụng được nhiều loại thức ăn khác nhau như: vi tảo, bột đậu nành, cám gạo,

phân gà…Với giá trị dinh dưỡng cao, nên từ lâu ấu trùng Artemia lúc mới nở đã là

loại thức ăn rất quan trọng và không thể thiếu trong sản xuất giống thủy sản Bên

cạnh đó, Artemia ở giai đoạn tiền trưởng thành và trưởng thành là thức ăn có giá trị

dinh dưỡng cao hơn ở giai đoạn ấu trùng và là thức ăn rất được ưa thích của rất nhiều loài cá và giáp xác, nên được sử dụng phổ biến trong nuôi thương phẩm các đối tượng thủy sản (Sorgeloos, 1980; Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007)

Ở Việt Nam Artemia được du nhập vào từ đầu thập niên 80 dưới dạng trứng bào xác để làm thức ăn cho tôm càng xanh Artemia franciscana có nguồn gốc từ

Mỹ nhưng sau thời gian thích nghi gần như đã trở thành dòng bản địa của Việt Nam

và có đặc điểm khác xa với tổ tiên của chúng Hiện nay, những sản phẩm trứng bào xác và sinh khối Artemia đã được sử dụng một cách đại trà trong ương nuôi tôm, cá, giáp xác…

Là loài có tập tính ăn lọc không chọn lựa nên trong ao nuôi, thức ăn cho

Artemia chủ yếu dựa vào việc bón phân gây màu tảo trực tiếp hoặc gián tiếp (ao

gây màu) (Rothuis, 1986; Van der Zanden, 1987, 1988, 1989) Tuy nhiên, giá trị dinh dưỡng của các loài tảo là khác nhau nên ảnh hưởng tới tỷ lệ sống, tăng trưởng

và chất lượng sinh khối Artemia cũng khác nhau

Trong khi đó tại Khánh Hòa, một số thử nghiệm nuôi thu sinh khối Artemia

ở các khu ruộng muối đã được thực hiện nhưng năng suất và chất lượng chưa cao,

có thể do chưa xác định được cũng như điều khiển sự ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng, tỉ lệ sống và chất lượng Artemia nuôi sinh khối đặc biệt là ảnh hưởng của các loài vi tảo làm thức ăn cho Artemia

Tuy nhiên những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các loài vi tảo tại Khánh Hòa đến năng suất và chất lượng của Artemia còn rất ít và chưa có dẫn liệu đầy đủ để áp dụng vào việc nuôi sinh khối Artemia Vì vậy, để nâng cao năng suất cững như chất lượng Artemia sinh khối khi nuôi tại Khánh Hòa cần có nhiều nghiên

Trang 10

cứu hơn về thức ăn cho Artemia Từ đó bổ sung các cơ sở khoa học nhằm hoàn

chỉnh quy trình nuôi sinh khối Artemia franciscana ở vùng ven biển Khánh Hòa

Trước những bối cảnh chung và thực trạng nêu trên, tôi thực hiện đề tài:

“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI VI TẢO LÀM THỨC

ĂN ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG, SỨC SINH SẢN VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA Artemia franciscana Kelloge, 1906 ”

Mục tiêu đề tài: Xác định loại vi tảo thích hợp làm thức ăn cho Artemia

franciscana

Để đáp ứng được mục tiêu trên, chúng tôi thực hiện các nội dung nghiên cứu

sau:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng,

tỷ lệ sống, sức sinh sản, chất lượng của Artemia franciscana

- Thử nghiệm nuôi sinh khối Artemia trong bể xi măng

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Kết quả đề tài là một trong những cơ sở để cải tiến quy trình

nuôi sinh khối Artemia franciscana với năng suất và chất lượng cao

Ý nghĩa thực tiễn: Xác định loài vi tảo làm thức ăn thích hợp cho Artemia

Trang 11

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thủy sản:

Với giá trị dinh dưỡng cao, nên từ lâu ấu trùng Artemia lúc mới nở đã là loại

thức ăn rất quan trọng và không thể thiếu được trong sản xuất giống thủy sản

Theo Trecce, 2000 thì hàm lượng HUFA có trong Artemia sinh khối đóng vai trò quan trọng trong ương nuôi các loài thủy sản, nó quyết định tới sự thành công của mẻ nuôi, nếu hàm lượng HUFA trong Artemia thấp thì mẻ ương nuôi tôm

cá cho ăn bằng Artemia sẽ đạt tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng giảm [4]

Nauplii của Artemia là loài có kích thước nhỏ, vận động trong nước nên được xem là loại thức ăn lý tưởng cho ấu trùng của tôm cá Hiện nay, ấu trùng của

Artemia được sử dụng rộng rãi ở các trại sản xuất giống bởi nhiều lý do sau:

- Giá trị dinh dưỡng cao: Như protein và các acid béo không no cao, hàm lượng HUFA có trong Artemia đóng vai trò quan trọng trong ương nuôi các loài thủy sản, nó quyết định đến thành công trong mẻ nuôi [6]

- Với đặc điểm không phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết và có thể thu với số lượng lớn (trứng bào xác nở sau 18÷20 giờ ấp với độ mặn khoảng 30÷35‰) nên có thể xử lý ấu trùng Artemia trước khi cho ăn hoặc sử dụng chúng như một bao sinh học để chứa dinh dưỡng đặc biệt là phòng trị bệnh chuyển tới ấu trùng nuôi [8]

Hình 1.1: Artemia là vật trung gian vận chuyển các thành phần đặc thù vào ấu trùng nuôi [9]

Bên cạnh đó, giá trị dinh dưỡng của Artemia cũng thay đổi theo các giai

đoạn phát triển của nó Artemia tiền trưởng thành và trưởng thành được gọi là sinh

Trang 12

khối có giá trị dinh dưỡng cao hơn Artemia mới nở từ trứng và được sử dụng phổ biến làm thức ăn trong các trại giống và trại ương nuôi vỗ Artemia trưởng thành có giá trị dinh dưỡng cao (lớp vỏ giáp mỏng chiếm 60% trọng lượng đạm và rất giàu amino acid tính trên trọng lượng khô) Người ta khám phá ra rằng sử dụng sinh khối Artemia trưởng thành có thể gây phát dục cho tôm mà không cần cắt mắt Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh việc sử dụng Artemia sinh khối để nuôi vỗ tôm cá

bố mẹ đã kích thích sự thành thục của buồng trứng, gia tăng số lần đẻ và cải thiện chất lượng ấu trùng [13]

Các đặc điểm trên kết hợp với kỹ thuật làm giàu sinh học nhằm làm tăng chất lượng sinh khối Artemia làm thức ăn sống tối ưu cho ương nuôi tôm cá và có thể thay thế trứng nước và trùn chỉ (nguồn thức ăn nhiều mầm bệnh) trong nghề nuôi cá cảnh nhiệt đới [6]

Sinh khối Artemia còn được dùng để làm thành phần hoặc chất kích thích trong thức ăn chế biến cho ấu trùng tôm cá Tuy nhiên khá phổ biến là dùng sinh

khối đông lạnh Artemia để thay thế cho ấu trùng Artemia mới nở trong sản xuất giống tôm he Marsupenaeus japonieus [5]

1.2 Phân loại và đặc điểm sinh học của Artemia:

1.2.1 Hệ thống phân loại:

Giới (Kingdom) Động vật (Animalia)

Ngành (Phylum) Chân khớp (Arthropoda)

Lớp (Class) Giáp xác (Crustacea)

Lớp phụ (Subclass) Chân mang (Branchiopoda)

Bộ (Order) Anostraca

Họ (Family) Artemiidae Grockwski, 1895 Giống (Genus) Artemia Leach, 1819

Loài (Species) Artemia franciscana Kelloge, 1906

Tên thường gọi: Artemia

Tên tiếng Anh: Brine shrimp

Trang 13

1.2.2 Đặc điểm sinh học của Artemia

1.2.2.1 Vòng đời của Artemia

Artemia có vòng đời ngắn (ở điều kiện tối ưu có thể phát triển thành con

trưởng thành sau 7-8 ngày nuôi), sức sinh sản cao (Sorgeloos, 1980; Jumalon, et

al.,1982)

Hình 1.2: Vòng đời phát triển của Artemia (Jumalon et al.,1982)(trích

theo Nguyễn Văn Hòa, 2002) [6]

Trong một vòng đời, Artemia trải qua 4 giai đoạn phát triển là: Giai đoạn trứng bào xác, giai đoạn ấu trùng, giai đoạn tiền trưởng thành và giai đoạn trưởng thành Ở mỗi giai đoạn phát triển Artemia có đặc điểm hình thái và sinh trưởng khác nhau

1.2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng

Trứng bào xác khi gặp môi trường nước biển sẽ hấp thụ nước và trở nên căng tròn (trương nước) Lúc này bên trong trứng bắt đầu diễn ra quá trình trao đổi chất, phôi bắt đầu phát triển Trứng ngậm nước và tiêu thụ oxy để hoàn tất quá trình chuyển hóa carbohydrate Trứng trương nước và sau khoảng 18 – 20 giờ màng nở bên ngoài sẽ nứt ra phôi xuất hiện và phôi vẫn được bao quanh bởi màng

nở

Trang 14

Trong khi phôi đang treo bên dưới vỏ trứng (giai đoạn bung dù) sự phát triển của ấu trùng được tiếp tục và một thời gian ngắn sau đó màng nở bị phá vỡ

(giai đoạn nở) và ấu thể Artemia được phóng thích ra ngoài [8]

Hình 1.3: Giai đoạn bung dù và hình thái ấu trùng của Artemia

- Giai đoạn ấu trùng:

Sau khoảng thời gian 20 – 24 giờ trứng bào xác gặp môi trường nước biển,

ấu trùng Artemia được sinh ra (Instar I) [7] Ấu trùng Artemia mới nở (instar I), có

chiều dài 400-500 µm có màu vàng cam, có mắt Nauplii màu đỏ ở phần đầu và ba đôi phụ bộ (anten I có chức năng cảm giác, anten II có chức năng bơi lội và lọc thức ăn và bộ phận hàm dưới để nhận thức ăn) Mặt bụng ấu trùng được bao phủ bằng mảnh môi trên lớn (để nhận thức ăn: chuyển các hạt từ tơ lọc thức ăn vào miệng) Ấu trùng giai đoạn này không tiêu hóa được thức ăn, vì bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, chúng sống dựa vào nguồn dinh dưỡng noãn hoàng [8]

Sau kh i n ở ( 8-10 giờ), ấu trùng lột xác thành giai đoạn II (instar II) Lúc này, chúng có thể tiêu hóa các hạt thức ăn cỡ nhỏ (tế bào tảo, vi khuẩn, chất vẩn)

có kích thước từ 1 đến 50 µm nhờ vào đôi anten II, và lúc này bộ máy tiêu hóa đã hoạt động [6]

- Giai đoạn tiền trưởng thành:

Ở giai đoạn này, cơ thể Artemia kéo dài dần, các đôi phần phụ dần xuất hiện

ở hai bên mắt Từ sau lần lột xác thứ 10 trở đi chúng có sự thay đổi lớn về hình thái

và chức năng các đôi phần phụ Đôi râu II mất đi chức năng vận động và lọc thức ăn chuyển sang biệt hóa giới tính Ở con đực, đôi râu II phát triển thành đôi càng lớn

Trang 15

dùng để bám vào con cái khi cặp đôi, trong khi râu II của con cái biệt hóa thành phần phụ cảm giác Các chân ngực được biệt hóa thành ba bộ phận chức năng: đốt gốc và nhánh trong làm nhiệm vụ vận động và lọc thức ăn, nhánh ngoài có dạng màng (mang) làm nhiệm vụ hô hấp [13]

- Giai đoạn trưởng thành:

Nauplius trải qua 15 lần lột xác trở thành Artemia trưởng thành Artemia

trưởng thành trong quần thể có cá thể đực và cái dài khoảng 1 cm Chúng có cơ thể kéo dài với hai mắt kép, ống tiêu hóa thẳng, một đôi râu cảm giác và có 11 đôi chân ngực Chận ngực có dạng bản rộng gồm lá trong, lá ngoài và lá quạt tạo thành Giữa

lá quạt và lá ngoài có một mảnh nhỏ mềm mại đó là mang (cơ quan hô hấp của Artemia) Chân ngực phát triển và có 3 chức năng: Bơi lội, lọc thức ăn và hô hấp [5]

Phần bụng có 8 đốt không có chân phụ (ở con cái đốt 1 và 2 của phần bụng kết hợp với nhau hình thành nang trứng, ở con đực hình thành cơ quan giao cấu), đốt cuối phần bụng có chẽ đôi dẹt và bằng Xung quanh có nhiều tiêm mao, đuôi lớn hay nhỏ tiêm mao nhiều hay ít thay đổi theo sự biến đổi của độ mặn (độ mặn càng cao đuôi càng thu nhỏ lại) [6]

Trong giai đoạn Artemia trưởng thành con đực có đôi gai giao phối ở phần sau của vùng ngực và có đôi càng hình móc rất đặc thù ở vùng đầu Đối với con cái rất dễ nhận dạng nhờ vào túi ấp hoặc tử cung nằm ngay sau đôi chân ngực thứ 11, chúng thường có kích thước lớn hơn con đực Artemia ở giai đoạn này bắt đầu kết cặp và tiến hành sinh sản [4]

Tuổi thọ trung bình của cá thể Artemia trong các ao nuôi ở ruộng muối

khoảng 40-60 ngày tùy thuộc điều kiện môi trường (Nguyễn Văn Hòa và ctv,

1994) Tuy nhiên, quần thể Artemia trong ruộng muối vẫn tiếp tục duy trì ngay

cả trong mùa mưa khi độ mặn trong ao nuôi giảm thấp (60‰) nếu ruộng nuôi

không bị địch hại (tôm, cá) tấn công và vẫn cung cấp đầy đủ thức ăn ( Brand et al.,

1995)[13]

Trang 16

1.2.2.3 Đặc điểm về dinh dưỡng

Artemia là loài sinh vật ăn lọc không chọn lựa (Reeve, 1963;

Johson,1980; Dobbeir et al.,1980), chúng sử dụng mùn bã hữu cơ, tảo đơn bào và vi

khuẩn có kích thước nhỏ hơn 50µm Ấu trùng Artemia mới nở không sử dụng thức

ăn ngoài vì bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, lúc này ấu trùng sống dựa vào nguồn dinh dưỡng từ noãn hoàng Sau khi nở 8 giờ ấu trùng có thể sử dụng thức ăn có kích

cỡ 25÷30µm và tăng lên 40÷50µm khi đạt kích cỡ trưởng thành [4]

Artemia có thể ăn và tiêu hóa vi sinh vật ngoại sinh như một phần thức ăn

của nó Vì vậy những loài vi khuẩn và sinh vật đơn bào nào sinh trưởng dễ dàng trong môi trường nuôi Artemia đều có thể thay thế cho bất kì sự thiếu hụt nào về thành phần thức ăn[7]

Sử dụng vi tảo là nguồn thức ăn có thể cho kết quả nuôi tốt nhất nhưng khó

có được số lượng tảo đủ để nuôi sinh khối với chi phí thấp Hơn nữa, không phải tất

cả các loài đơn bào đều được xem là thích hợp đối với việc duy trì sinh trưởng của

Artemia [5] Theo Nguyễn Văn Hòa và ctv (2005), thì tảo Chaetoceros sp cho kết

quả vượt trội về tỷ lệ sống, các chỉ tiêu sinh sản và hàm lượng axit béo khi so sánh

với Artemia cho ăn bằng tảo tạp thu ngoài ao bón phân tự nhiên Tảo Chlorella sp

và Stichococcus sp có vách tế bào dày nên Artemia khó có thể tiêu hóa được, tảo

Coccochloris sp sinh ra các chất gelatin làm cản trở sự hấp thụ thức ăn và một số

chủng trùng roi sản sinh ra các chất độc làm chết Artemia [8]

Đối với tảo khô, hầu hết các trường hợp bột tảo đều cho kết quả sinh trưởng tốt Nhưng điểm yếu khi sử dụng loại thức ăn này là chi phí cao và gây trở ngại cho

chất lượng nước [4]

Đối với các chế phẩm từ công nghiệp thực phẩm (như cám gạo, bột ngũ cốc, bột đậu nành, nước sữa…) xem ra là nguồn thức ăn thích hợp cho việc nuôi Artemia

mật độ cao (Dobbeleir và ctv, 1980) [12] Tuy nhiên, Artemia không ăn các chất

hòa tan và do đó các chất này bị vi khuẩn phân hủy trong môi trường nuôi làm giảm

chất lượng nước

Trang 17

Trong nghề nuôi Artemia trên ruộng muối nông dân thường sử dụng phối hợp phân chuồng (chủ yếu là phân gà) kết hợp với phân vô cơ (Urea, DAP ) để gây màu trực tiếp (trong ao nuôi Artemia) hoặc gián tiếp (ngoài ao bón phân) trước khi cấp nước nước tảo vào ao nuôi Phân gà khi được bón trực tiếp vào ao nuôi, ngoài việc cung cấp dinh dưỡng kích thích tảo phát triển, còn là nguồn thức ăn trực tiếp cho Artemia Ngoài ra, khi lượng nước tảo cung cấp vào ao hàng ngày bị thiếu hụt, nông dân còn sử dụng cám gạo, bột đậu nành hoặc các loại phụ phẩm nông nghiệp khác để duy trì quần thể Artemia[8]

1.2.2.4 Đặc điểm sinh sản

Artemia phát triển thành con trưởng thành sau 2 tuần nuôi và bắt đầu tham gia sinh sản với sức sinh sản tối đa 300 Nauplii hoặc trứng bào xác trong vòng 4 ngày [13] Artemia sinh sản ở 2 dạng: đơn tính (trinh sản không có sự tham gia của

cá thể đực) và hữu tính (có sự tham gia của cá thể đực và cái)

Đối với Artemia sinh sản hữu tính khi trưởng thành con đực dùng đôi càng

ôm phần bụng của con cái gọi là “hiện tượng bắt cặp”:

Hình 1.4: Hiện tượng bắt cặp của Artemia[25]

Quá trình giao cấu diễn ra khi bơi lội, trong tư thế bắt cặp con đực sẽ cong mình và dùng một trong hai gai sinh dục chuyển sản phẩm sinh dục vào buồng trứng của con cái và trứng sẽ được thụ tinh [13]

Trang 18

Trứng phát triển trong hai buồng trứng dạng ống ở phần bụng, khi trứng chín

có dạng cầu và di chuyển qua hai ống dẫn để vào tử cung Lúc này có thể xảy ra hai phương thức sinh sản của Artemia đó là:

 Đẻ con: Trong điều kiện môi trường thuận lợi (hàm lượng oxy cao, biên độ giao động oxy thấp, thức ăn nghèo sắt) Artemia sinh sản theo phương thức đẻ con Thông thường trứng thụ tinh và phát triển thành ấu trùng bơi lội tự do [5]

 Đẻ trứng: Trong điều kiện bất lợi (hàm lượng oxy thấp, thức ăn giàu sắt) thì Artemia sinh sản theo phương thức đẻ trứng Trứng được thụ tinh, phôi phát triển đến thời kỳ phôi vị (gastrul) Lúc này trứng tự khử bớt nước và kết quả là sự trao đổi chất chuyển sang trạng thái nghỉ, trở thành kén Trứng nghỉ có vỏ rất dày (được tiết ra từ lớp vỏ trong tử cung), màu nâu tối còn gọi là trứng “tiềm sinh” (diapause)

và được con cái phóng thích ra ngoài [5]

Đường kính trứng khoảng 200÷280 µm Trọng lượng trung bình của trứng khoảng 3,5 µg Trứng nổi lên trên mặt nước ở độ mặn lớn hơn 70‰ hoặc lơ lửng trong nước Trứng có thể chìm lắng trong bùn đáy, trải qua môi trường khắc nghiệt như khô hạn, gió lạnh… Trứng bào xác có thể bảo quản lâu dài trong vài năm [13]

Hình 1.5: Trứng bào xác của Artemia [21]

Một cá thể Artemia cái có thể mang từ 70 – 300 trứng hoặc Nauplii Nếu

nuôi trong phòng thí nghiệm thì chỉ khoảng 30 – 40 trứng hoặc ấu thể trong một chu

kì 4 ngày [4]

Trang 19

Theo J.vos (1980) kiểu sinh sản của Artemia được kiểm soát bởi một số yếu

tố môi trường như sau [6]:

1.2.2.5 Khả năng thích nghi với điều kiện môi trường và nơi phân bố:

Nhiệt độ, thức ăn và nồng độ muối là những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự

gia tăng mật độ của quần thể Artemia hoặc cả sự vắng mặt tạm thời của chúng

(Sorgeloos, 1980) [15]

Trong tự nhiên, Artemia thường hiện diện ở các thủy vực có nồng độ muối

cao, vì ít có sự hiện diện của các loài cá, tôm dữ và các động vật cạnh tranh thức

ăn khác như luân trùng, giáp xác nhỏ ăn tảo Mặc dù Artemia có thể phát triển tốt

ở nước biển tự nhiên nhưng chúng không thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác qua đường biển do chúng không có cơ chế bảo vệ để chống lại sinh vật dữ (cá, tôm) và cạnh tranh với các sinh vật ăn lọc khác Sự thích nghi về sinh lý của chúng ở độ mặn cao giúp chúng chống lại sinh vật đó một cách hiệu quả, cơ chế này bao gồm:

- Hệ thống điều hoà áp suất thẩm thấu rất tốt

- Khả năng tổng hợp các sắc tố hô hấp cao nhằm thích nghi với điều kiện có hàm lượng oxy thấp ở nơi có độ mặn cao

Đối với ao nuôi, độ mặn thấp (< 70‰) thường xuất hiện Copepoda là địch

hại của ấu trùng Artemia Ngược lại, độ mặn quá cao ( > 120‰ ) có thể gây chết cho Artemia Độ mặn cao còn là dẫn xuất tốt cho nhiệt độ vì vậy trong ao nuôi thích hợp nhất là duy trì ở mức 80-100‰ Theo Wear và Haslett (1986), khi độ mặn thấp sẽ có nhiều địch hại và nhiều loài tảo không thích hợp xuất hiện; Ở độ

Trang 20

mặn bão hòa ( ≥ 250 ‰ ) Artemia chết đồng loạt do môi trường vượt ngưỡng chịu đựng và việc trao đổi chất cực kỳ khó khăn [6]

Ngoài ra nhiệt độ cũng là một trong những yếu tố môi trường có ảnh hưởng

trực tiếp đến sinh trưởng và sinh sản của Artemia Nhiệt độ quá thấp (≤ 20oC)

Artemia sẽ sinh trưởng chậm hoặc chết rải rác và ngược lại nhiệt độ quá cao

(>36oC) gây ra hiện tượng chết rải rác hoặc hàng loạt, giảm khả năng sinh sản và

sự phục hồi của quần thể (Ngô Thị Thu Thảo, 1992; Nguyễn Thị Ngọc Anh v à

c t v ,1997) [20]

Các dòng Artemia khác nhau thích nghi rộng với sự biến đổi môi trường khác nhau phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ (6-35oC), độ mặn và thành phần ion của môi trường sống Ở các thủy vực nước mặn, muối NaCl là thành phần chủ yếu tạo nên các sinh cảnh Artemia ven biển và các sinh cảnh nước mặn khác nằm sâu trong đất liền, chẳng hạn hồ Great Salt Lake (GSL) ở Utah, Mỹ[7]

Các sinh cảnh Artemia khác không có nguồn gốc từ biển nằm sâu trong lục địa có thành phần ion khác rất nhiều so với nước biển: Vực nước sulphate (Chaplin lake, Saskatchewan, Canada), vực nước carbonate (hồ Mono Lake, California, Mỹ),

và các vực nước giàu lân (rất nhiều hồ ở Nebraska, Mỹ)[3]

Ở Việt Nam, Artemia franciscana được nuôi rộng rãi, mặc dù có nguồn gốc

từ Mỹ (San Francisco Bay, USA) nhưng sau thời gian thích nghi loài này gần như

đã trở thành loài bản địa của Việt Nam và chúng có nhiều đặc điểm khác xa so với

tổ tiên chúng đặc biệt là khả năng chịu nóng Hiện tại chúng có thể phát triển tốt trong điều kiện [9]:

Trang 21

trong ương nuôi ấu trùng tôm, cá [18] Trong khoảng những năm 1950, trứng bào xác của Artemia được thu từ các ruộng muối ven biển và các hồ nước mặn tự nhiên

đã có giá trị thương mại trên thị trường thế giới (Sorgeloos, 1980) Năm 1950 –

1960, nền công nghiệp khai thác trứng bào xác Artemia ở Mỹ phát triển mạnh mẽ

Trong những năm 1970 – 1980, nhu cầu về trứng bào xác Artemia tăng rất nhanh và nhiều quốc gia đã nghiên cứu thu trứng bào xác Artemia từ tự nhiên (Argentina, Australia, Canada, Colombia, Pháp, Trung Quốc,…)[7] Cuối những năm 1980, Trường Đại học Ghent ở Bỉ đã có các chương trình nghiên cứu quốc tế về nuôi và

sử dụng sinh khối Artemia Trong những năm gần đây nghề nuôi tôm, cá biển ở nhiều nước trên thế giới phát triển mạnh (Thái Lan, Trung Quốc, Philipine, Indonesia,…) nên nhu cầu về trứng bào xác và sinh khối Artemia ngày càng tăng [6] Do đó nhiều quốc gia đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu về Artemia

Các nước Đông Nam Á thường chọn dòng San Francisco Bay (SFB) vì khả năng thích nghi với nhiệt độ cao và có chất lượng tốt hơn so với các dòng khác Tại Philipine năm 1977, từ 80g trứng bào xác dòng SFB ấp nở và nuôi ở độ mặn 140‰, đến cuối năm 1978 đã thu được 35 kg trứng bào xác khô đạt chất lượng[18]

Bên cạnh đó, Artemia với tập tính ăn lọc không chọn lựa, chúng có khả năng

lọc các vật chất lơ lửng trong nước (mùn bã hữu cơ, vi khuẩn, tế bào tảo đơn bào)

ở phạm vi kích thước hạt nhỏ hơn 50 µm (Sorgeloos et al., 1986) Do vậy, một số nghiên cứu về sử dụng vi tảo làm thức ăn trong nuôi sinh khối Artemia đã được

thực hiện trong những năm sau đó

Rothurs, 1986; Van Der Zanden, 1987, 1988, 1989 đã cho biết trong điều kiện nuôi Artemia, thức ăn chủ yếu dựa vào việc bón phân gây màu tảo trực tiếp (trong

ao nuôi) hoặc gián tiếp (ao gây màu), những loài tảo thích hợp làm thức ăn cho

Artemia là: tảo Silic (Chaetoceros sp., Nitschia sp.), tảo Lục (Tetraselmis sp.,

Dunaliella sp.)[7]

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng hàm lượng acid béo không no có trong

Artemia phần lớn phụ thuộc vào thức ăn mà nó nhận được (Leger et al.,1986; Sorgeloos et al.,1996) [15]

Trang 22

Theo công bố của Forster và Wickins (1967), Wickins (1972), Artemia được

nuôi trong 24 giờ hoặc 4 ngày trong môi trường tảo Isochrysis galbana ở mật độ

10.000 Nauplii/L với mật độ tảo 300 tế bào/µL đã trở thành thức ăn thích hợp cho

ấu trùng của tôm Càng xanh [6]

Naegel (1999) nuôi sinh khối Artemia bằng tảo Chaetoceros sp và thức ăn

thương mại Nestum, kết quả cho thấy sau 14 ngày nuôi tỷ lệ sống và tăng trưởng của Artemia ở hai nghiệm thức này là như nhau nhưng hàm lượng lipid của Artemia

cho ăn bằng thức ăn Nestum cao hơn Artemia cho ăn bằng tảo Chaetoceros sp [12] Nghiên cứu về liều lượng tảo trong nuôi Artemia đã được Evjeno và Olsen (1999) trình bày trong thí nghiệm nuôi Artemia bằng tảo Isochrysis galbana

Trong thí nghiệm này, 6 nghiệm thức được triển khai với liều lượng thức ăn đưa vào biến động từ 0.2 đến 20 mg C (carbon)/lít, thời gian nuôi là 12 ngày và nồng độ muối trong suốt quá trình nuôi là 34‰, nhiệt độ nước được duy trì trong khoảng 26-28oC Kết quả cho thấy sự tăng trưởng của Artemia chịu ảnh hưởng khá lớn của

liều lượng thức ăn đưa vào [8]

Lora-Vilchis và Voltolina (2003) đã thực hiện thí nghiệm sử dụng 2 loại tảo

Chaetoceros muelleri và Chlorella capsulata làm thức ăn cho Artemia, sau 7

ngày nuôi thấy rằng Artemia khi được cho ăn với liều lượng 11.7, 23.4 và 46.8

mg/lít/ngày với 2 loại tảo nêu trên thì tỉ lệ sống giữa các nghiệm thức là như nhau, sai biệt không có ý nghĩa thống kê, tỉ lệ sống đạt trên 80% [8]

Sử dụng tảo trong nuôi sinh khối Artemia cũng được thực hiện tiếp tục vào những năm tiếp theo, Lora-Vilchis et al., (2004) đã sử dụng hai loài tảo

Isochrysis sp và Chaetoceros muelleri làm thức ăn trong giai đoạn đầu của

Artemia Kết quả cho thấy sau 7 ngày nuôi tỉ lệ sống của Artemia không khác biệt

có ý nghĩa, ở nghiệm thức Artemia cho ăn bằng tảo Isochrysis sp., tỉ lệ sống là 85% trong khi Artemia cho ăn tảo Chaetoceros muelleri có tỉ lệ sống là 93% [7]

1.3.2 Trong nước

Artemia không phân bố tự nhiên ở Việt Nam, nhưng do có giá trị dinh dưỡng cao và là loại thức ăn không thể thiếu được trong sản xuất giống thủy sản nên đã

Trang 23

được nhiều đơn vị nghiên cứu trong nước quan tâm và đến năm 1982 Artemia được

du nhập vào Việt nam thông qua bước đầu thử nghiệm nuôi Artemia ở Nha trang từ

dòng San Francisco Bay, Mỹ (Vũ Đỗ Quỳnh và Nguyễn Ngọc Lâm ,1987) Năm

1984, Khoa Thủy sản Trường Đại học Cần Thơ đã tiến hành thí nghiệm nuôi

Artemia thu trứng bào xác ở vùng ven biển Vĩnh Châu (Sóc Trăng) và Bạc Liêu và

đã trở thành 2 vùng trọng điểm cung cấp trứng bào xác Artemia có chất lượng cao cho thị trường trong và ngoài nước (Hòa và ctv, 1994, Anh và ctv, 1997) Đến nay quy trình nuôi Artemia thu trứng bào xác được trường Đại học Cần Thơ nghiên cứu thành công và triển khai sản xuất đại trà tại hai địa phương trên Tuy nhiên, nuôi Artemia thu sinh khối đến nay chưa phát triển và thị trường sử dụng sinh khối Artemia còn rất hạn chế (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007) [7]

Trước đó Lê Thị Ngọc Anh và Dương Thị Thuận (1978) đã tiến hành thử nghiệm nuôi Artemia trong phòng thí nghiệm, sử dụng thức ăn là lòng đỏ trứng gà

và cám sấy nghiền nhỏ rây kỹ pha theo tỷ lệ 1gram/ Lít môi trường Điều kiện nhiệt

độ 18 - 31oC, độ mặn 30 – 35‰ sau 10 ngày nuôi đã phân biệt đực cái, chiều dài cá thể lớn nhất đo được là 11.5 mm Thời gian khép kín vòng đời 15 – 20 ngày Trong môi trường cám gạo, Artemia đạt chiều dài trung bình 3.72 mm sau 7 ngày nuôi [1] Năm 1991, Vũ Dũng tiến hành nghiên cứu xây dựng qui trình nuôi Artemia ở ruộng muối Ninh Hải, Cà Ná Tác giả đã nuôi 7 dòng khác nhau trong bể kính 30L với thức ăn là tảo, kiểm tra các chỉ tiêu sinh học, chọn dòng tốt nhất đem ra nuôi ở

ruộng muối Kết quả nghiên cứu cho thấy dòng San Francisco Bay (Artemia

franciscana) có kích thước Cyst và Nauplius nhỏ, sức sinh sản cao, thích hợp với

điều kiện nuôi ở Miền Trung Độ muối trên dưới 80‰, kích thích các dòng Artemia

đẻ con, độ muối từ 80 – 120‰ cho năng suất trứng cao nhất và độ muối là 1 trong nhiều yếu tố chi phối việc đẻ con hay đẻ trứng của Artemia Kết quả nghiên cứu đã

mở ra triển vọng cho việc nuôi sinh khối A franciscana ở ruộng muối tại các tỉnh

Khánh Hòa và Ninh Thuận [3]

Tại Cam Ranh, Nguyễn Ngọc Lâm và Vũ Đỗ Quỳnh (1998) đã nghiên cứu cấu trúc sinh sản của Artemia trong điều kiện tự nhiên đồng muối Cam Ranh Kết quả

Trang 24

cho thấy rằng độ muối có ảnh hưởng rất lớn đến sức sinh sản của Artemia Khi độ muối giảm sản lượng trứng bào xác giảm dần, mật độ cá thể cái tham gia sinh sản thấp, sức sinh sản kém [13]

Năm 1999, Lương Văn Thịnh và ctv đã sử dụng 13 loại tảo được phân lập từ

bờ biển Châu Úc làm thức ăn cho Artemia Sau 7 ngày nuôi cho thấy thành phần

HUFA trong tảo thể hiện rõ thành phần HUFA của Artemia [7]

Trương Trọng Nghĩa, 2004 đã nghiên cứu làm giàu hóa Artemia mới nở ( dòng

SFB Vĩnh Châu) bằng tảo Chaetoceros sp với mật độ 5.106 tb/mL trong 3 giờ ở

mật độ 300 nau/mL trước khi sử dụng để ương nuôi ấu trùng cua biển (Scylla

paramamosain) cho kết quả cao [7]

Qua nhiều năm thực hiện thí nghiệm cho thấy một số yếu tố môi trường đã ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của quần thể như nhiệt độ có ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng và sinh sản của Artemia Nhiệt độ quá thấp (< 20oC) Artemia sẽ

sinh trưởng chậm hoặc chết rải rác và ngược lại ở nhiệt độ quá cao (> 36 oC) gây ra hiện tượng chết, có khi chết hàng loạt, giảm khả năng sinh sản và quần thể phục hồi

rất chậm (Ngô Thị Thu Thảo, 1992; Nguyễn Thị Ngọc Anh et al., 1997; Nguyễn

Thị Ngọc Anh và Nguyễn Văn Hòa, 2004) [7]

Nguyễn Văn Hòa và ctv (2005) [7] nghiên cứu nâng cao hiệu quả của việc nuôi sinh khối Artemia trên ruộng muối Công trình nghiên cứu cho kết quả rằng:

 Khi thu hoạch sinh khối Artemia với nhịp độ 3 ngày/lần (hay 90 kg/ha/lần)

sẽ giúp duy trì quần thể tối đa trong 12 tuần (thời gian thí nghiệm) và đạt năng suất cao nhất (1391± 152 kg/ha) [10]

 Sử dụng tảo Chaetoceros sp phân lập tại Vĩnh Châu nuôi Artemia cho kết quả tốt nhất so với các loài tảo khác (Nitzschia sp., Oscillatoria sp.) mặt khác khi so sánh hoạt động sinh sản của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros sp và tảo tạp, kết

quả cho thấy Artemia tham gia sinh sản lâu hơn (>28 ngày) cũng như tổng số phôi cao hơn (661 ± 406 phôi/con mẹ) so với Artemia nuôi bằng tảo tạp (284 ± 99 phôi/con mẹ) Ngoài ra, hàm lượng HUFA của sinh khối Artemia khi sử dụng tảo

Chaetoceros sp là khá cao: 26,63 mg/trọng lượng khô đặc biệt là hàm lượng EPA

Trang 25

chiếm 22,2 mg/g trọng lượng khô trong tổng hàm lượng axit béo so với sinh khối Artemia nuôi bằng tảo tạp [7]

 Nhân giống Chaetoceros sp có thể thực hiện được ở hệ thống ngoài trời và

ở thể tích 15 m3 trong hệ thống ao nổi được lót nilon; sau 7 ngày mật độ tảo có thể đạt 2,2 – 2,5 triệu tb/mL Tuy nhiên, khó khăn gặp phải là điều kiện nhiệt độ biến

động lớn và hiện tượng nhiễm tạp (Ciliate, Navicula, Tetraselmis) Ngoài ra, khi

nâng thể tích nuôi tảo lên thì vấn đề sục khí cũng cần được quan tâm vì liên quan tới

sự xáo trộn các chất dinh dưỡng cũng như hạn chế hiện tượng lắng kết trong quá trình nuôi [7]

Huỳnh Thanh Tới và ctv, 2006 đã nghiên cứu ảnh hưởng của tảo Chaetoceros

sp lên chất lượng sinh khối Artemia Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự vượt trội

về tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh sản của nghiệm thức nuôi bằng tảo thuần

Chaetoceros sp so với nghiệm thức được nuôi bằng nguồn tảo tạp thu ngoài ao bón

phân tự nhiên Hàm lượng các axit béo, đặc biệt là hàm lượng HUFA ở nghiệm thức

nuôi bằng tảo thuần Chaetoceros sp cao hơn ở nghiệm thức nuôi bằng tảo tạp 3,7

lần [8]

Năm 2009, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Văn Hòa, Gilbert Van Stappen và Ptrick Sorgeloos đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn bổ sung khác nhau lên thành phần và chất lượng Artemia trong ruộng muối, với các loại thức ăn bổ sung là phân lợn, cám gạo, bột đậu nành Kết quả thu được nghiệm thức

có bổ sung cám gạo và bột đậu nành có năng suất sinh khối cao nhất [1]

Những kết quả này đã chứng minh thành phần tảo làm thức ăn cho Artemia góp phần quyết định đến chất lượng sinh khối của Artemia Tuy nhiên, cho đến nay các

nghiên cứu về nuôi sinh khối Artemia franciscana trong ao đất trên địa bàn tỉnh

Khánh Hòa còn rất ít đồng thời các nghiên cứu để tìm ra một số loài vi tảo giàu HUFA tại địa phương làm thức ăn trực tiếp cho Artemia chưa được quan tâm Vì vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu để bổ sung các cơ sở khoa học để hoàn chỉnh quy

trình nuôi sinh khối Artemia franciscana ở vùng ven biển Khánh Hòa

Trang 26

CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2 1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2 1.1 Đối tượng nghiên cứu: Artemia franciscana Kelloge, 1906

Dòng Vĩnh Châu – Cần Thơ

2 1.2 Địa điểm nghiên cứu:

- Trại thực tập - Xuân Tự – Vạn Ninh – Khánh Hòa

2 1.3 Thời gian nghiên cứu: từ 11/2009 - 7/2010

2 2 Phương pháp nghiên cứu

2 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu chung của đề tài:

Hình 2.1: Sơ đồ mô tả các nội dung nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức

sinh sản của Artemia franciscana

Thí nghiệm 1

Xác định ảnh hưởng của một số loài vi tảo đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng sinh khối Artemia trong

bể thí nghiệm (50L)

Thí nghiệm 2

Thử nghiệm nuôi sinh khối Artemia trong bể (4m3) bằng loài vi tảo có chất lượng tốt

từ kết quả của thí nghiệm 1

Đánh giá và kết luận

Trang 27

2.2.2 Chuẩn bị các điều kiện thí nghiệm:

(1) Các thiết bị nuôi sinh khối tảo và Artemia: bình nhựa, bình tam giác, túi nilon,

đá bọt, dây sục khí, thùng xốp, bể ximăng đều được ngâm chlorine nồng độ 100

-200 ppm trong 1 ngày sau đó dùng xà phòng và nước sạch rửa lại nhiều lần

(2) Nguồn nước: nước biển được bơm lên bể lọc thô đến bể chứa sau đó bơm qua

hệ thống lọc tinh rồi được đưa đến bể để xử lý Chlorine với nồng độ 20ppm, sục khí liên tục trong 2-3 ngày sau đó trung hòa bằng Thiosulfate, lọc qua túi siêu lọc khi cấp cho hệ thống nuôi tảo và nuôi Artemia

- Nước ót: được lấy từ ruộng muối có độ mặn 250‰, được lọc túi siêu lọc, sau đó dùng để pha độ mặn trong bể nuôi Artemia

Pha độ mặn: Sử dụng quy tắc đường chéo

Trong đó: Va, Vb là thể tích nước ngọt và nước mặn để pha trộn

a, b, c là độ mặn tương ứng của nước mặn, nước ngọt và nước sau khi pha trộn

(3) Kỹ thuật chuẩn bị tảo sinh khối làm thức ăn cho Artemia :

- Cơ sở lựa chọn một số loài vi tảo cho thí nghiệm 1:

Với mục đích xác định loài vi tảo nào thích hợp nhất cho sự sinh trưởng phát triển cũng như cho chất lượng sinh khối Artemia tốt nhất thì những loài vi tảo được

chọn để làm thức Artemia là phải là những loài vi tảo địa phương có khả năng thích

nghi độ mặn cao (>30‰), có kích thước nhỏ (<50µm), giàu dinh dưỡng, dễ gây nuôi sinh khối

Theo Kết quả khảo sát và phân tích thành phần loài thực vật nổi (Hoàng Thị Bích Mai, 2002) ở 39 ao nuôi tôm thuộc 4 vùng nuôi chính của tỉnh Khánh Hòa (từ năm 1998 đến đầu năm 2002) thì có 122 loài thuộc 5 ngành thực vật nổi được xác định, trong đó chiếm ưu thế nhất là ngành Heterokontophyta có 88

Trang 28

loài trong đó một số loài có giá trị dinh dưỡng như: Nitzschia closterium,

Chaetoceros mulleri, Chaetoceros sp., Thallassionema sp., Skeletonema costatum, Navicula sp Ngoài ra còn có một số loài thuộc ngành Chlorophyta

thường được làm thức ăn trong sản xuất giống thủy sản như: Chlorella

vulgaris, Chlorella sp1., Chlorella sp2

Dựa vào những đặc điểm về hình thái, sinh học, thành phần sinh hóa,

phân bố tôi đã chọn 3 loài vi tảo: Chaetoceros sp., Chlorella sp.,

Nannochloropsis sp để thử nghiệm nuôi sinh khối Artemia Mặc dù có một vài

nhược điểm song cả 3 loài tảo này đều có những ưu điểm như:

- Đều là những loài tảo đơn bào với kích thước nhỏ từ 2-10µm

- Thành phần sinh hóa khá phong phú đặc biệt là hàm lượng HUFA khá

cao ở hai loài tảo Chaetoceros sp và Nannochloropsis sp

Đồng thời để xác định Artemia sinh trưởng và phát triển tốt nhất khi cho ăn

bằng tảo đơn loài hay đa loài, tôi bố trí thêm một nghiệm thức trong đó thức ăn của

Artemia hoàn toàn bằng tảo tạp được thu từ ao gây màu nuôi tảo

- Nuôi cấy và nhân sinh khối tảo:

Tảo giống Chaetoceros sp., Chlorella sp., Nannochloropsis sp được cung

cấp bởi Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III và nhân sinh khối tại Trại thực tập + Chuẩn bị nước và dụng cụ nuôi tảo

Nước nuôi tảo được bơm vào các túi nilon sau khi đã được xử lý và được lọc qua túi siêu lọc

Dụng cụ sử dụng cho nuôi cấy tảo được ngâm với Chlorine ở nồng độ 30ppm trong thời gian 24 giờ, sau đó rửa sạch và lau khô để tránh nhiễm tảo tạp Tảo rất cần dinh dưỡng cho quá trình tăng trưởng, vì vậy môi trường F2 được sử dụng trong nuôi cấy tảo

+ Nhân giống: Tảo gốc được nhân sinh khối trong các túi nilon (30L) chứa môi trường F2 với liều lượng 1mL môi trường /1L nước nuôi tảo, được bố trí sục khí 24/24h Sau khoảng thời gian nuôi cấy 3-6 ngày, khi tảo trong các túi nilon đạt mật độ cực đại (pha cân bằng) thì tiến hành chuyển tảo sang túi có thể

Trang 29

tích lớn hơn, liều lượng tảo giống ở giai đoạn này cũng chiếm khoảng 20% trong tổng số dung tích của túi tảo

Hình 2.2: Hệ thống nuôi tảo sinh khối chuẩn bị cho thí nghiệm 1

- Đối với tảo tạp:

Tảo tạp được bố trí ở ao ương có diện tích 500m2, độ sâu 1,2m Ao được san vét lớp bùn đáy, bón vôi diệt tạp với liều lượng 10 kg/100 m2, phơi khô đáy ao từ 5÷7 ngày

Bơm nước biển (25‰) vào ao qua lưới lọc 120µm để ngăn chặn các loài địch hại của Artemia Chiều cao mức nước trong ao là 0,6m

Khi các yếu tố môi trường trong ao nuôi đạt yêu cầu, tiến hành bón phân gây màu nước với liều lượng sử dụng: Ure 20ppm, NPK 10ppm, kết hợp phân gà 40kg/100m2

Tảo tạp được thu trực tiếp từ ao nuôi tảo sau 3-5 ngày bón phân gây màu Khi cho Artemia ăn, nước tảo được lọc qua lưới 120µm để ngăn chặn các loài địch hại

Trang 30

2.2.3 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tốc độ tăng

trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng sinh khối Artemia

Hình 2.3: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng sinh khối Artemia

Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên trong 16 thùng xốp, thể tích mỗi thùng là 50L chứa 30L nước biển được lọc qua mắt lưới 120µm, độ mặn được duy trì ổn

Xác định ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tốc độ tăng trưởng,

tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng sinh khối Artemia trong bể thí nghiệm

Chlorella sp

NT3: Artemia được nuôi bằng 100% tảo

Nannochloropsis sp

NT4: Artemia được nuôi bằng tảo tạp (đối chứng)

Đánh giá chất lượng Artemia

Thảo luận và kết luận Thu thập và xử lý số liệu

Trang 31

định khoảng 85‰, mật độ thả giống 100 Nauplii/L Thời gian thí nghiệm 3 tuần, gồm 4 nghiệm thức và mỗi nghiệm thức lặp lại 4 lần, trong đó:

Nghiệm thức 1: Artemia được nuôi bằng 100% tảo Chaetoceros sp

Nghiệm thức 2: Artemia được nuôi bằng 100% tảo Chlorella sp

Nghiệm thức 3: Artemia được nuôi bằng 100% tảo Nannochloropsis sp

Nghiệm thức 4: Artemia được nuôi bằng tảo tạp (đối chứng)

Hình 2.4 : Bố trí thí nghiệm 1

Thí nghiệm 2: Thử nghiệm nuôi sinh khối Artemia bằng loài vi tảo có kết quả tốt

từ thí nghiệm 1

Hình 2.5: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu ở thí nghiệm 2

Thử nghiệm nuôi sinh khối Artemia bằng loài vi tảo có

Đánh giá chất lượng Artemia

Thu thập và xử lý số liệu

Thảo luận và kết luận

Trang 32

Thí nghiệm được tiến hành trong bể xi măng có thể tích 4m3, mực nước trong

bể 0,4 – 0,5m, mặn 85 ‰, mật độ thả giống 100 Nauplii/L, thức ăn là loài vi tảo có kết quả tốt từ thí nghiệm 1 được nhân sinh khối ở thể tích lớn (8m3) làm thức ăn cho Artemia Thời gian thí nghiệm kéo dài 4 tuần

Hình 2.6: Bố trí thí nghiệm 2

Chăm sóc và quản lý

- Chế độ cho ăn: 4 lần/ ngày theo kiểu thõa mãn bằng cách quan sát màu nước trong

bể nuôi, biểu hiện bơi lội của Artemia, sự hiện diện thức ăn trong đường ruột Artemia ( nếu đường ruột đứt quãng thì lượng thức ăn không đủ)

- Chế độ siphon và thay nước: vào lúc 7h sáng hàng ngày, khi siphon có kết hợp với cấp nước

- Sục khí: liên tục 24/24 để thức ăn không bị lắng tụ xuống đáy tăng hiệu quả lọc của Artemia

2.2.4 Phương pháp xác định tỷ lệ nở, ấp trứng và thả giống:

Xác định tỷ lệ nở: Đếm ngẫu nhiên 100 trứng bào xác cho vào cốc thủy tinh

100 ml, độ mặn 30 ‰, nhiệt độ 28-300C, pH ≥ 8,0, sục khí nhẹ liên tục, ánh sáng nhẹ liên tục, thời gian ấp 24 giờ

Trang 33

Kết thúc thời gian ấp tắt sục khí, đếm số Nauplii và các trứng ở giai đoạn bung dù để xác định số lượng trứng nở Tiến hành lặp lại 5 lần đồng thời và giá trị trung bình của 5 lần lặp là tỷ lệ nở thực tế của trứng bào xác

Xác định lượng trứng đem ấp: Dựa vào tỷ lệ nở đã được xác định, số trứng

trung bình trong 1g trứng, mật độ thả, thể tích nuôi từ đó xác định được lượng trứng cần ấp để tiến hành thí nghiệm

Ấp trứng: Hạ độ mặn nước biển lọc sạch từ 35‰ xuống 30‰ Ngâm trứng

trong nước ngọt khoảng 60 phút, sau đó cho trứng vào bình ấp (chuẩn bị sẵn hệ thống sục khí) với mật độ 2g/lít Duy trì ánh sáng trong quá trình ấp bằng đèn huỳnh quang Thường xuyên kiểm tra điều chỉnh sục khí để tránh hiện tượng trứng lắng đáy cũng như trứng dính trên miệng bình ấp

Điều kiện môi trường: pH = 8.8; t0 = 300C; S(‰) = 30; Cường độ chiếu sáng

2000 lux

Thả giống

Trước khi thả giống kiểm tra các yếu tố môi trường, thuần hóa nhiệt độ; độ mặn của thùng xốp và xô đựng Nauplii để tránh những tác động xấu đến Nauplii Sau 24 giờ ấp, hầu như toàn bộ trứng đã nở, tắt sục khí cho vỏ trứng nổi trên mặt nước dùng vợt vớt bỏ, sau đó tiến hành thu Nauplii và thả giống ngẫu nhiên vào các đơn vị thí nghiệm của từng nghiệm thức

2.2.5 Phương pháp xác định một số yếu tố môi trường

- Nhiệt độ, độ mặn, pH, NH3, oxy hòa tan (DO) của nước trong bể nuôi được theo dõi 2 lần/ngày vào lúc 7h sáng và 14h chiều

- Các yếu tố nhiệt độ, pH, DO, độ mặn đo bằng máy đo đa yếu tố YSI của Mỹ và nhiệt kế

Trang 34

Hình 2.7: Máy đo đa yếu tố YSI và nhiệt kế

2.2.6 Phương pháp thu mẫu Artemia :

a) Phương pháp thu mẫu Artemia trong thùng xốp (50L):

 Thời gian thu mẫu: Lúc 8 giờ sáng

 Dụng cụ thu mẫu: Cốc thuỷ tinh 200ml có chia vạch, ca, chén, lọ dựng mẫu

 Cách thu mẫu: tắt sục khí trước khi thu mẫu, khuấy đều và lấy ngẫu nhiên mỗi bể 200ml nước, đếm số cá thể trong mẫu, mỗi bể lấy lặp lại 3 lần

b) Phương pháp thu mẫu Artemia trong bể xi măng (4m3):

 Thời gian thu mẫu: Lúc 8 giờ sáng hàng ngày

 Dụng cụ thu mẫu: Cốc thuỷ tinh 500ml có chia vạch, xô, ca, ống nhựa PVC dài 1m với đường kính Ө = 49mm

 Vị trí thu mẫu: Do Artemia phân bố không đều nên thu mẫu tại 5 điểm trong

bể nuôi (Nguyễn Văn Hòa, 2002)

 Cách thu mẫu: Tắt sục khí trước khi thu mẫu Dùng ống nhựa khuấy tròn đều

và thu mẫu bằng ống nhựa đặt vuông góc với mặt nước, đưa ống từ trên

+ + + + +

Hình 2.8: Vị trí thu mẫu Artemia

Trang 35

xuống sát đáy bể, dùng tay bịt chặt đầu ống phía dưới, đưa ống lên và cho vào ca nhựa đã chuẩn bị sẵn Lặp lại tương tự ở 4 điểm còn lại

 Bảo quản mẫu bằng tuýp nhựa có chứa Formol 4 %

2.2.7 Phương pháp kiểm tra tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống của Artemia

Phương pháp kiểm tra sự tăng trưởng:

Xác định sự sinh trưởng của Artemia 2 ngày/lần từ lúc thả giống đến 14 ngày tuổi Thu ngẫu nhiên ở mỗi nghiệm thức 40 cá thể/lần đối với thí nghiệm 1 và 30 cá thể/ lần, cố định mẫu bằng formol 4% Đo chiều dài mẫu từ đỉnh đầu đến cuối telson, dùng kính hiển vi có gắn trắc vi thị kính để đo chiều dài ở 3 lần thu mẫu đầu tiên Từ 4 ngày tuổi trở đi đo kích thước bằng giấy kẻ ô ly (mm)

- Công thức quy đổi kích thước quan sát qua trắc vi thị kính:

L: Chiều dài thực của mẫu

A: Số vạch đọc trên kính hiển vi

δ: Bội giác của vật kính

- Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài toàn thân (SGRL) được tính theo công thức:

Trong đó: SGRL: Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài toàn thân (% ngày)

L1: chiều dài ở thời điểm t1 (mm)

L2: chiều dài Artemia ở thời điểm t2 (mm)

Phương pháp xác định tỷ lệ sống : sau khi thu mẫu, đếm số cá thể trong

mẫu thu được và quy đổi ra tỷ lệ sống (%)

100SGR

1 2

1 2

t t

LnL LnL

Trang 36

Tỉ lệ sống (%) của Artemia được tính theo công thức (theo Nguyễn Văn Hòa, 2005):

Trong đó: TLS (%): Là tỉ lệ sống của Artemia

Xn (cá thể/L): Là số cá thể Artemia đếm được trong ngày nuôi thứ n

X1 (cá thể/L): Là số cá thể Artemia thả ban đầu

Tỷ lệ sống (%) được tính 2ngày/lần, từ lúc thả giống đến 14 ngày tuổi

2.2.8 Phương pháp xác định sức sinh sản:

- Thời điểm thu mẫu: Khi quan sát thấy Artemia cái trong bể mang buồng trứng căng thì tiến hành thu mẫu

-Thời gian thu mẫu: 2 ngày/ lần và lặp lại 5 lần ở mỗi thí nghiệm

- Cách thu mẫu: thu ngẫu nhiên 30 cá thể cái mang trứng/nghiệm thức, mổ buồng trứng để đếm số phôi nauplii của từng con cái trên kính hiển vi

Sức sinh sản của Artemia = số phôi /con cái

2.2.9 Đánh giá chất lượng Artemia:

Sau 21 ngày nuôi, tiến hành thu 50 gram Artemia sinh khối ở mỗi nghiệm thức, vận chuyển sống về phòng thí nghiệm và lưu giữ ở nhiệt độ -800C đến khi phân tích thành phần hóa sinh

Chất lượng sinh khối Artemia được đánh giá thông qua phân tích hàm lượng

và thành phần acid béo theo phương pháp thử Folch/GC tại Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường – Đại học Nha Trang

2.3 Xử lý số liệu:

Sử dụng chương trình Excel để tính giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của các số liệu và vẽ đồ thị về sự biến thiên của chúng Sử dụng chương trình SPSS 15.0 với ANOVA một yếu tố và phép thử Duncan để so sánh độ sai biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức ở mức P<0,05

Trang 37

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng sinh khối Artemia:

3.1.1 Diễn biến một số yếu tố môi trường trong quá trình tiến hành thí nghiệm:

Kết quả theo dõi diễn biến các yếu tố môi trường ở các nghiệm thức trong suốt quá trình thí nghiệm được thể hiện ở bảng 3.1

Bảng 3.1 : Diễn biến một số yếu tố môi trường trong các lô thí nghiệm

Nghiệm thức Yếu tố môi trường

Sáng 26,16±0,48 26,15±0,29 26,14±0,34 26,12±0,32 Nhiệt độ

Giá trị trình bày là trung bình ± độ lệch chuẩn

Kết quả cho thấy:

 Nhiệt độ

Ở thí nghiệm này, sự chênh lệch nhiệt độ trong ngày ở các nghiệm thức không đáng kể cụ thể: nhiệt độ trung bình buổi sáng của các nghiệm thức là 26,12÷26,16oC, dao động trong khoảng từ 25,38÷26,90oC và buổi chiều là 29,33÷29,57, khoảng dao động từ 28,40÷30,50oC, nhiệt độ trung bình cả đợt nuôi

là 27,80±1,73oC

Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và sinh sản của Artemia Theo Vos và De la Rose (1980) cho rằng giới hạn sống của Artemia từ 0oC đến 37 – 38oC Nhiệt độ cao sẽ làm giảm sự hoà tan của

Trang 38

khí oxy vào nước làm cho Artemia hô hấp khó khăn và chúng phải huy động sắc

tố Hemoglobin (Hb) nên cơ thể có màu đỏ (Nguyễn Văn Hoà và ctv, 1994) đồng

thời tỉ lệ Artemia cái đẻ con (Nauplii) tăng và sức sinh sản giảm (Nguyễn Thị

Ngọc Anh và Nguyễn Văn Hòa, 2004)

Các lô thí nghiệm được bố trí trong khu vực có mái che và được tiến hành cùng một thời điểm, với chế độ chăm sóc quản lý như nhau và thực hiện trong quy

mô nhỏ (với 16 bể có thể tích V = 50L/bể) nên nhiệt độ ở các nghiệm thức không

khác biệt nhiều và đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của Artemia

franciscana (25oC - 37oC)

Độ mặn

- Độ mặn trung bình ở các nghiệm thức vào buổi sáng: NT1: 79,54±3,08‰, NT2: 78.38±3,25‰, NT3: 78,59±3,15‰, NT4: 77,94±3,27‰ Vào buổi chiều độ mặn trung bình ở các nghiệm thức: NT1: 79,06±3,17‰, NT2: 78,06±3,17‰, NT3: 78.26±3,34‰, NT4: 77,83±3.14‰

- Trong thí nghiệm này độ mặn được duy trì trong khoảng 60÷85‰, kết quả cho thấy độ mặn giữa các nghiệm thức không sai biệt nhiều và nằm trong khoảng

thích hợp theo Nguyễn Văn Hòa, 2005

 Oxy hòa tan (DO)

- Oxy có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của tảo trong ao nuôi Tuy

nhiên mật độ tảo trong bể thí nghiệm luôn được khống chế ở mức vừa đủ kết hợp với sục khí 24/24h nên hàm lượng oxy hòa tan không có sự chênh lệch lớn giữa buổi sáng (4,54 ÷ 4,66 mg/l) và buổi chiều (4,65 ÷ 4,87 mg/l) trong khi yêu cầu oxy hòa tan cho sự phát triển của Artemia chỉ trên 2mg/l [8]

- Khi bị áp lực về oxy hòa tan, màu và tập tính bơi lội của Artemia sẽ có

những biểu hiện rõ ràng Theo Nguyễn Văn Hòa (1994), Artemia có khả năng tổng

hợp những sắc tố hô hấp (Hemoglobin – Hb) hấp thụ các phân tử Oxy tạo thành HbO2 có màu đỏ nên cơ thể chúng sẽ có màu đỏ, bơi lội chậm chạp, nổi trên mặt nước hiện tượng này luôn tồn tại phổ biến ở các thủy vực có độ mặn cao [5]

Trang 39

 pH

- Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy pH có sự khác biệt không đáng kể giữa sáng và chiều ở các nghiệm thức Buổi chiều pH dao động từ 7,91 ÷ 8,12 cao hơn so với

buổi sáng dao động từ 7,78 ÷ 7,83

- Theo Nguyễn Văn Hòa (2007), Artemia fransiscana ở Việt Nam có thể phát

triển tốt ở điều kiện pH từ trung tính đến kiềm (7,0 -9,0) Do thí nghiệm được tiến hành trong thùng xốp, lượng thức ăn cung cấp cũng như chất thải đều được quản lý như nhau nên không có sự biến động lớn về pH giữa các thời điểm trong ngày và giữa các các nghiệm thức pH luôn nằm trong khoảng phù hợp cho sự phát triển

của Artemia

Nói chung trong suốt quá trình tiến hành thí nghiệm các yếu tố môi trường luôn được quản lý chặt chẽ nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sự sinh trưởng phát triển

của Artemia franciscana

3.1.2 Thành phần loài tảo tạp trong ao nuôi tảo

Thí nghiệm được tiến hành với 3 loài tảo thuần Chaetoceros sp., Chlorella sp., Nannochloropsis sp và kết quả được kiểm chứng với nghiệm thức sử dụng

tảo tạp thu từ ao nuôi tảo tại địa điểm triển khai thí nghiệm Thành phần loài

và tần số bắt gặp của tảo tạp thu tại ao nuôi tảo được thể hiện ở bảng 3.2

Trang 40

Ghi chú: +:ít; ++: trung bình; +++: nhiều

Kết quả phân tích định tính cho thấy: thành phần loài tảo trong ao muôi tảo tạp tương đối phong phú Ngành Heterokontophyta (7 loài) chiếm ưu thế, kế đến là hai ngành Dinophyta (3 loài) và Cyanophyta (3 loài), cuối cùng là Chlorophyta (2

loài) Trong đó có một số loài có giá trị dinh dưỡng như: Chaetoceros sp.,

Skeletonema costatum, Navicula sp., Nitzschia longissma, Chlorella sp Tuy nhiên

để phù hợp với cỡ mồi của Artemia (<50µm) thì 3 loài tảo Chaetoceros sp.,

Nitzschia longissma, Chlorella sp được xem là thích hợp hơn cả

Bên cạnh đó, trong ao nuôi tảo tạp cũng xuất hiện một số loài tảo có khả

năng gây hại đến sự tồn tại của Artemia nói riêng và các loài thủy sinh vật khác nói chung như: Oscillatoria sp., Prorocentrum sp., Rhizosolenia bergonii [11]

Ngày đăng: 06/08/2014, 17:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Artemia là vậ t trung gian vận chuyển các thành phần đặc thù vào ấu trùng nuôi [9] - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Hình 1.1 Artemia là vậ t trung gian vận chuyển các thành phần đặc thù vào ấu trùng nuôi [9] (Trang 11)
Hình 1.3: Giai đoạn bung dù  và hình thái ấu trùng của Artemia. - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Hình 1.3 Giai đoạn bung dù và hình thái ấu trùng của Artemia (Trang 14)
Hình 1.5: Trứng bào xác của Artemia [21] - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Hình 1.5 Trứng bào xác của Artemia [21] (Trang 18)
2. 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu chung của đề tài: - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
2. 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu chung của đề tài: (Trang 26)
Hình 2.2: Hệ thống nuôi tảo sinh khối chuẩn bị cho thí nghiệm 1  - Đối với tảo tạp: - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Hình 2.2 Hệ thống nuôi tảo sinh khối chuẩn bị cho thí nghiệm 1 - Đối với tảo tạp: (Trang 29)
Hình 2.3: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu Ảnh hưởng của một số loài vi tảo  làm thức ăn đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng sinh khối  Artemia - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Hình 2.3 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng sinh khối Artemia (Trang 30)
Hình 2.6: Bố trí thí nghiệm 2 - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Hình 2.6 Bố trí thí nghiệm 2 (Trang 32)
Hình 2.7: Máy đo đa yếu tố YSI và nhiệt kế. - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Hình 2.7 Máy đo đa yếu tố YSI và nhiệt kế (Trang 34)
Bảng 3.1 : Diễn biến một số yếu tố môi trường trong các lô thí nghiệm. - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Bảng 3.1 Diễn biến một số yếu tố môi trường trong các lô thí nghiệm (Trang 37)
Bảng 3.2 : Thành phần loài tảo tạp - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Bảng 3.2 Thành phần loài tảo tạp (Trang 39)
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự tăng trưởng về  chiều dài (mm) của Artemia theo thời gian nuôi - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự tăng trưởng về chiều dài (mm) của Artemia theo thời gian nuôi (Trang 41)
Bảng 3.4 :   Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tốc độ tăng trưởng  (%ngày)  theo ngày  của  Artemia  . - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tốc độ tăng trưởng (%ngày) theo ngày của Artemia (Trang 42)
Hình 3.1: Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự tăng trưởng theo  chiều dài (mm) của Artemia sau 14 ngày nuôi - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Hình 3.1 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự tăng trưởng theo chiều dài (mm) của Artemia sau 14 ngày nuôi (Trang 43)
Bảng 3.5: Tỷ lệ sống (%) của Artemia ở các lô thí nghiệm được cung cấp thức ăn là  các loài vi tảo khác nhau - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Bảng 3.5 Tỷ lệ sống (%) của Artemia ở các lô thí nghiệm được cung cấp thức ăn là các loài vi tảo khác nhau (Trang 44)
Hình 3.2: Tỷ lệ sống (%) của Artemia ở các lô thí nghiệm được cung cấp thức ăn là  các loài vi tảo khác nhau - nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng của artemia franciscana kelloge, 1906
Hình 3.2 Tỷ lệ sống (%) của Artemia ở các lô thí nghiệm được cung cấp thức ăn là các loài vi tảo khác nhau (Trang 45)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w