Về mặt địa lý, miền võng Hà Nội chiếm hầu hết vùng châu thổ sông Hồng với diện tích khoảng 4500km2 thuộc các tỉnh Hải Hưng, Thái BÌnh, Hà Nam Ninh và một phần tỉnh Hà Bắc, Hà Sơn Bình, Hải Phòng
Trang 1KHOA ĐỊA CHẤT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH ĐỊA CHẤT DẦU KHÍ
ĐỀ TÀI
TIỀM NĂNG DẦU KHÍ MIỀN VÕNG
HÀ NỘI
GVHD: Th.S PHẠM TUẤN LONG
SVTH: TẠ THỊ THANH THẢO MSSV: 0216115
KHÓA: 2002 - 2006
Trang 2TP, HỒ CHÍ MINH, 2007.
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ ĐỊA LÝ MIỀN VÕNG HÀ NỘI 4
CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT 8
A ĐỊA TẦNG 8
I CÁC THÀNH TẠO TRƯỚC KAINOZOI 8
II CÁC THÀNH TẠO TRẦM TÍCH KAINOZOI 10
1 Trầm tích hệ Paleogen 10
2 Trầm tích hệ Neogen 11
3 Trầm tích hệ Đệ Tứ 14
B KIẾN TẠO 16
I ĐỚI TÂY NAM 16
II ĐỚI TRUNG TÂM 17
III ĐỚI ĐÔNG BẮC 17
C LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CẤU TRÚC MIỀN VÕNG HÀ NỘI 19
CHƯƠNG 4: TIỀM NĂNG DẦU KHÍ Ở MIỀN VÕNG HÀ NỘI 24
I KHẢ NĂNG SINH DẦU KHÍ CỦA TRẦM TÍCH CỦA TRẦM TÍCH NEOGEN MIỀN VÕNG HÀ NỘI 24
II MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA THỜI GIAN TRƯỞNG THÀNH CÁC TẦNG ĐÁ MẸ VÀ THỜI GIAN DI CHUYỂN CÁC SẢN PHẨM 25
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 32
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, dầu khí là nguồn năng lượng quan trọng, vô cùng cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp hoá và hiện đại hóa của nước ta Ngành công nghiệp dầu khí nước ta bắt đầu vào những năm 70 Ngày 26/06/1986, tấn dầu đầu tiên được khai thác từ mỏ Bạch Hổ đã mở ra một bước ngoặc quan trọng đưa ngành công nghiệp dầu khí nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới.
Nếu như ở thềm lục địa phía Nam đang sôi nổi hoạt động với các mỏ như Đại Hùng, Bạch Hổ, Rạng Đông, mỏ Rồng, hay các mỏ khí Lan Tây, Lan Đỏ thì ở miền Bắc chỉ có mỏ khí Tiền Hải trong miền võng Hà Nội là nổi bậc Mỏ khí đã được công ty Anzoil của Australia ký hợp đồng khai thác vào năm 1992 và cung cấp hàng năm 10 - 30 triệu m 3 khí cho công nghiệp địa phương tỉnh Thái Bình Với hy vọng tìm hiểu sâu hơn tiềm năng dầu khí miền võng Hà Nội, được sự cho phép của Khoa Địa Chất trường Đại học Khoa học Tự Nhiên và sự hướng dẫn của ThS Phạm Tuấn Long, em đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài TIỀM“
NĂNG DẦU KHÍ MIỀN VÕNG HÀ NỘI Khóa luận nói về các”
đặc điểm địa chất và dựa vào sự biến đổi cấu trúc miền võng, xem xét mức độ tác động của chúng tới sự sinh
Trang 4thành dầu khí trong trong trầm tích Neogen, ngoài ra còn xác định các cấu trúc thuận lợi và sự di chuyển của hydrocacbon tới bẫy Từ đó vạch ra vùng triển vọng dầu khí của miền võng Hà Nội.
Em xin thành thật cảm ơn thầy Phạm Tuấn Long, các thầy cô trong Khoa và các bạn đã giúp đỡ hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này Tuy nhiên với trình độ còn hạn chế nên chắc chắn sẽ có nhiều sai sót, em rất mong nhận được sự đóng góp y kiến từ quý thầy cô và từ tất cả các bạn để đề tài có thể hoàn chỉnh hơn.
Thực hiện Tạ Thị Thanh Thảo
CHƯƠNG 1
VỊ TRÍ ĐỊA LÝ MIỀN VÕNG HÀ NỘI
Về mặt địa lý, miền võng Hà Nội chiếm hầu hết vùng châu thổ sông Hồng với diện tích khoảng 4.500km2 thuộc các tỉnh Hải Hưng, Thái Bình, Hà Nam Ninh và một phần các tỉnh Hà Bắc, Hà Sơn Bình, Hải Phòng
Vùng trũng Hà Nội có dạng như một tam giác cân kéo dài theo hướng Tây Bắc
- Đông Nam, đỉnh ở Việt Trì, đáy là bờ biển Thái Bình, Hà Nam Ninh từ cửa Đông Bắc sông Văn Úc tới cửa sông Đáy, dài khoảng 900m
Trang 5Hình 1: Vị trí địa lý miền võng Hà Nội.
CHƯƠNG 2
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Trước 1954, việc nghiên cứu ở vùng này hầu như ít được chú ý tới, chỉ có một lỗ khoan duy nhất do các nhà địa chất Pháp tiến hành năm 1953 ở làng Hoà Mỹ cách Hà Nội 25km về phía Nam, nhưng chỉ đạt tới độ sâu 303m chưa qua hết trầm tích Neogen Do đó, cũng chưa nói lên được nhiều về đặc điểm trầm tích Kainozoi ở vùng này và cấu trúc dưới sâu của nó Dù sao kết quả của nó cộng với tài những liệu về
Trang 6trầm tích Neogen ở cùng Yên Bái – Phú Thọ và đảo Bạch Long Vỹ (Saurin - E 1952)
ít nhiều cũng nói lên được về sự có mặt và diện tích phân bố của trầm tích Neogen ở vùng châu thổ sông Hồng
Từ năm 1954 đến nay song song với việc nghiên cứu địa chất vùng trũng Hà Nội cũng được chú ý một cách thích đáng Đặc biệt từ sau năm 1961 sau công trình nghiên cứu của Kitovani S.K (1959 - 1961) vùng trũng Hà Nội được coi là vùng có triển vọng số một về dầu mỏ và khí đốt ở miền Bắc nước ta Sau đó việc nghiên cứu đã được tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau Hàng loạt các công trình nghiên cứu đã và đang được tiến hành hy vọng sẽ mang lại nhiều hiệu quả về khoa học và kinh tế
Trước tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Kitovani S.K về địa chất dầu khí ở miền Bắc nước ta Trên cơ sở phân tích cấu trúc, cổ địa lý tướng đá tác giả đã đi đến một số kết luận về các vùng có triển vọng dầu khí, trong đó vùng trũng Hà Nội là vùng có triển vọng số 1
Tiếp theo là công trình nghiên cứu tập thể của các nhà địa chất Liên Xô và Việt Nam dưới sự chủ biên của Dovjicov A.E (1959 - 1963) Trên cơ sở những tài liệu đã có, với những kết quả nghiên cứu dị thường trọng lực, các tác giả đã đi đến kết luận vùng trũng Hà Nội là một vùng trũng “chồng gối” ở phía Tây Bắc được lấp đầy bởi trầm tích lục địa giữa núi chuyển dần về phía Tây Nam là trầm tích lục nguyên ven bờ trước núi nằm trong đới Coto Chiều dày của trầm tích Kainozoi ở miền này có đạt tới 1800m (?) chúng phát triển trên nền tảng không đồng nhất được cấu thành bởi các thành tạo trầm tích Tiền Cambri đến Neogen Theo Dovjicov A.E thì mặt cắt đầy đủ nhất ở vùng này có thể kéo dài từ thị trấn Đông Quan tới thị trấn Thụy Anh, là nơi có dị thường trọng lực biểu thị cao nhất
Trang 7Năm 1962, đoàn địa chất 36 được thành lập với nhiệm vụ nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò dầu khí vùng trũng Hà Nội Qua 15 năm, bằng những phương pháp khác nhau, công tác nghiên cứu tìm kiếm đã đạt được nhiều thành tích đáng kể.
Về khoan đã tiến hành nhiều công trình khoan sâu từ 1.200m đến 5.000m và số lượng mét khoan đã đạt trên 20.000m, phần lớn các công trình khoan này đều tập trung trên 2 tuyến:
- Tuyến ngang, cắt qua vùng trũng từ Nam Định đến Hải Phòng
- Tuyến dọc, phân bố dọc theo dải Khoái Châu - Tiền Hải
Kết quả của công tác khoan tuy chưa cho biết một cách tường tận về các phân
vị địa tầng cũng như mối quan hệ giữa trầm tích Neogen và trước đó Song đã làm sáng tỏ nhiều mặt về cấu trúc địa chất, đã phát hiện một số lớp chứa dầu khí Qua công tác khoan đã phát hiện trong trầm tích Neogen chứa nhiều vỉa than có giá trị Chiều dày trầm tích Kainozoi ở miền này có thể đạt tới trên 5.000m
Song song với công tác khoan, các phương pháp nghiên cứu khác cũng được tiến hành một cách đúng mức Trước tiên là công tác địa vật lý Ngay từ những năm 1961-1962 từ hàng không và trọng lực đã tiến hành dưới sự chỉ đạo của Efstein N.V, Vlaxova I.J và Nguyễn Ngọc Cư Kết quả đã thành lập được các loại bản đồ dị thường trọng lực tỉ lệ 1/500.000 và 1/50.000 và đã xác định được sơ bộ về hình thái của những cấu trúc lớn trong vùng
Về sau nghiên cứu địa vật lý chủ yếu dùng các phương pháp địa chấn phản xạ (MBO) (Macxtova V.V, Hồ Đức Hoài…) và những phương pháp thăm dò cấu tạo (Vedrinxev G.A, Tăng Mười…) Nói chung các phương này đã tỏ ra có nhiều hiệu lực
Trang 8mang lại nhiều kết quả cho sự hiểu biết về cấu trúc địa chất và công tác tìm kiếm dầu khí.
Sau nhiều năm tìm kiếm thăm dò chỉ phát hiện được một mỏ khí nhỏ ở tỉnh Tiền Hải Từ sau thập niên 70 công tác tìm kiếm ở đây dừng lại Năm 1992 hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí ở vùng trũng Hà Nội được hồi sinh bằng việc ký kết hợp đồng của công ty Anzoil của Australia Họ đã khoan 3 giếng khoan thăm dò với độ sâu trung bình mỗi giếng 3.000m Giếng đầu tiên được đặt tại xã Thái Thọ đã gặp 3 tầng chứa khí ở độ sâu 3.071 – 3.319m với trữ lượng 919 tỉ feet khối (1 feet khối = 0,028m3 và 1.000m3 khí được xem tương đương 1 tấn dầu) Hiện tại giếng khoan tiếp theo đang khoan và sẽ khoan tại Thái Thụy, Hưng Hà (Thái Bình)
Trang 9Móng đá trầm tích trước Kainozoi có thành phần hỗn độn không đồng nhất, có thể được khái quát như sau:
- Móng trước Proteozoi chủ yếu gồm granite, gneiss, quazite có thể gặp amphibolit, đá phiến kết tinh, diệp thạch mica… phát triển ở Tây Nam miền võng Phía Tây Nam và Tây Bắc các trầm tích Neogen - Đệ Tứ nằm bất chỉnh hợp lên đất đá Proterozoi ở vùng trung tâm và rìa Đông Bắc móng Proterozoi rất sâu
- Đất đá Paleozoi gặp ở các lỗ khoan rìa Đông Bắc Tại trũng Đông Quan có trầm tích lục nguyên ở móng và trầm tích cacbonat phần trên tuổi Devon trung (300 -400m), phần bên phải gồm đá vôi và dolomit xám đen có tuổi Cacbon hạ (400 - 500m) Các đất đá này có thể bị vát nhọn ở phía trung tâm miền võng, đôi khi chúng lộ thành từng đảo nhỏ giữa trầm tích Neogen
- Đất đá Mesozoi phân bố rộng rãi ở các đới bao quanh miền võng Ở vùng rìa Đông Bắc gặp các trầm tích lục nguyên Triat về thạch học giống đất đá đới An Châu và Duyên hải Ở rìa Tây Nam, trầm tích Triat gồm các loại Cacbonat khác nhau Ở phía nam lún chìm sâu nhất có thể gặp đất đá trầm tích Jura được đặc trưng bởi các trầm tích lục nguyên gồm cát kết, bột kết, đá phiến hạt mịn màu đỏ… Ngoài ra còn có thể gặp các trầm tích Kreta ở các phần lún chìm khác của miền võng
Trang 11II CÁC THÀNH TẠO TRẦM TÍCH KAINOZOI
Theo kết quả nghiên cứu thạch học tướng đá của Phạm Hồng Quế, bào tử phấn hoa của Đỗ Bạt và Phan Huy Quynh, người ta đã chia trầm tích Kainozoi miền võng Hà Nội ra các phân vị địa tầng như sau:
- Điệp Xuân Hoà và điệp Đình Cao có tuổi Eoxen - Oligoxen
- Điệp Phong Châu tuổi Mioxen sớm
- Điệp Tiên Hưng tuổi Mioxen muộn
- Điệp Vĩnh Bảo tuổi Plioxen
- Điệp Hải Dương và Kiến Xương tuổi Pleistoxen - Holoxen
1 Trầm tích hệ Paleogen
Trầm tích ở đây có bề dày mỏng (380-510m) lại nằm quá sâu (3500m) chúng bao gồm các đá lục nguyên (sét kết, bột kết, cát kết, cuội kết xen kẽ), nghèo vật liệu hữu cơ Trầm tích hệ Paleogen gồm 2 điệp:
a Điệp Xuân Hòa (Eoxen - Oligoxen)
Phần dưới của mặt cắt Xuân Hòa đặc trưng bởi đá granite hạt mịn (chủ yếu là sét) màu đen, chứa vật liệu hữu cơ hóa than… đạt bề dày 70m thuộc tướng hồ lục địa Điệp Xuân Hòa phủ trực tiếp lên Ryolit tuổi Anisi gồm chủ yếu cuội, sỏi kết sắp xếp hỗn độn và chuyển lên trên là trầm tích vụn thô
b Điệp Đình Cao (Eoxen - Oligoxen)
Tỷ lệ đá vụn thô giảm đi đáng kể so với trầm tích điệp Xuân Hòa và chuyển dần lên trên là cát, bột sét kết, kẹp các thấu kính than mỏng
Trang 122 Trầm tích hệ Neogen
Trầm tích hệ Neogen dày trung bình 5.000 – 6.000m phân bố khắp diện tích Hệ Neogen bao gồm trầm tích lục nguyên với nhiều vỉa sản phẩm đã được phát hiện Hệ Neogen được phân thành hai thống:
a Thống Mioxen
Có bề dày trung bình 4.000 – 5.000m phân bố khắp diện tích nghiên cứu Theo tài liệu cổ sinh, thạch học tướng đá Mioxen được chia thành 3 điệp: Phong Châu, Phù Cừ, Tiên Hưng
* Điệp Phong Châu (Mioxen hạ)
Trải rộng khắp diện tích nghiên cứu, chiều dày khoảng 250 – 1.615m và có thể lớn hơn 2.000m Trầm tích điệp Phong Châu nằm bất chỉnh hợp trên trầm tích hệ Paleogen
Ở khu vực trung tâm (Tiên Hưng, Kiến Xương, Tiền Hải) có các lớp cát kết vài chục mét, xen kẽ với các lớp bột sét kết sáng màu có phân lớp gợn sóng song song Cát kết được gắn kết bằng ximăng sét vôi Độ lựa chọn và độ bào tròn tốt đôi nơi có chứa glauconit, là khoáng vật hình thành ở trầm tích biển nông và ở vùng cửa sông, nơi đổi dòng chậm chạp hoặc không có dòng chảy Đá sét bột kết chứa nhiều thành phần hydromica, kaolinit Căn cứ vào đặc điểm thạch học tướng đá điệp Phong Châu
ở vùng này có sự xen kẽ của trầm tích lục địa, biển nông và biển ven bờ Song đặc điểm này chỉ phát hiện ở dải Kiến Xương, Tiên Hưng (theo Phạm Hồng Quế, 1983) Ở khu vực Đông Quan và phía Đông Bắc dải Tiền Hải các đá chủ yếu là các lớp bột kết xen kẽ các lớp sét màu đen và sét than rắn chắc phân lớp mỏng Đôi chỗ gặp sét màu
Trang 13đen phớt tím chứa nhiều sạn, sỏi, nhiều kết hạch siderit, các oxit sắt và cacbonat sắt cũng được phát hiện ở trầm tích điệp Phong Châu Các hạt vụn có độ lựa chọn và bào tròn kém, nhiều hạt còn góc cạnh sắc Gặp nhiều dấu vết thực vật, không phát hiện thấy hóa đá động vật Theo đặc điểm trầm tích thì chúng được tích lũy trong điều kiện đầm hồ.
Nhìn chung chiều dày của trầm tích điệp Phong Châu lớn và tăng dần theo chiều Tây Bắc xuống Đông Nam lượng sét cũng tăng dần theo hướng này
* Điệp Phù Cừ (Mioxen trung)
Gặp ở hầu hết diện tích nghiên cứu Trầm tích điệp Phù Cừ có bề dày 1955m nằm bất chỉnh hợp lên trầm tích cổ hơn và có bề dày lớn gặp ở Đông Nam dải Khoái Châu - Tiền Hải, đặc biệt ở dải Kiến Xương và vùng thềm lục địa, mỏng dần ở rìa Tây Bắc và trũng Đông Quan
280-Trầm tích điệp Phù Cừ bao gồm cát bột sét xen kẽ các lớp than ở đáy điệp Phù Cừ giữa Đá cát bột kết có độ bào tròn và chọn lọc tương đối tốt đến trung bình
Ở phần đáy và nóc của lát cắt Phù Cừ có nhiều lớp cát kết dày (có khi tới 30 -50m) Còn ở phần gữa điệp hàm lượng sét tăng cao có nơi tới 50 - 60% Bề dày tổng cộng của các lớp sét ở điệp Phù Cừ giữa dao động từ 160 - 180m Trong điệp Phù Cừ các lớp sét kết, bột các kết mỏng xen kẽ với nhau có cấu tạo song song gợn sóng, đôi nơi gặp lớp cát kết có cấu tạo dạng khối
* Điệp Tiên Hưng (Mioxen thượng)
Trầm tích điệp Tiên Hưng được phát hiện ở hầu hết diện tích vùng nghiên cứu và tách ra khỏi điệp Phù Cừ và Vĩnh Bảo nhờ các hoá đá động vật: Pseudorotalia, Bemidezina, Trochamina, Textularia… Ngoài ra còn gặp hàng loạt các hoá đá thực vật
Trang 14và bào tử phấn hoa Chúng nằm chỉnh hợp lên trên trầm tích điệp Phù Cừ có bề dày
198 - 206m
Tổng bề dày các lớp sét nhỏ ở ven rìa và trũng Đông Quan, cấu tạo Tiên Hưng, Phù Cừ (0 - 130m) tăng dần ở cấu tạo Tiền Hải “A”, “B”, Đông Nam trũng Đông Quan (210m)
Các tập sét tập trung ở phần đáy của lát cắt trầm tích Tiên Hưng, tạo nên hệ số cát sét dao động 0.45 - 0.60 ở các vùng Kiến Xương, Tiền Hải “C”, ở trũng Đông Nam trũng Đông Quan chỉ đạt tới 0.4
Ở phần giữa và trên của điệp Tiên Hưng có các lớp sét kết mỏng và phân tán, chủ yếu bị kẹp giữa các lớp cát kết
Về thành phần thạch học trầm tích Tiên Hưng bao gồm các lớp cát kết, bột kết sét kết và than xen kẽ, đặc biệt phần dưới điệp Tiên Hưng có nhiều lớp than hơn, bề dày các lớp than đôi khi đạt tới 10m Ở phần giữa và trên của lát cắt trầm tích Tiên Hưng thể hiện chủ yếu là các lớp cát kết dày (vài chục m) Phần trên còn sỏi kết nhiều thấu kính sét bột và một số lớp than mỏng, chúng có cấu tạo phân lớp song song gợn sóng bị lấp đầy bởi ximăng sét, cacbonat, oxit sắt Các lớp sét mỏng xen kẽ liên tục đặc biệt phần trên điệp Tiên Hưng ximăng cacbonat lấp đầy chiếm ưu thế Độ bào tròn và lựa chọn của cát tương đối tốt được phát hiện ở Kiến Xương Độ bào tròn, chọn lọc trung bình gặp ở dải Tiền Hải, Tiên Hưng, Đông Nam trũng Đông Quan, kém dần ở vùng Đông Bắc vùng nghiên cứu Theo kết quả thạch học của nhiều nhà nghiên cứu thì trầm tích Tiên Hưng là trầm tích lục địa có chứa than Các lớp than và các lớp cát có xu hướng vát nhọn và mất đi ở vùng ven rìa Đông Bắc, Tây Bắc thay vào đó là cát kết hạt thô có khả năng thấm tốt, nhưng lại không có lớp sét chắn ở trên
Trang 15Ở nóc phụ điệp Tiên Hưng giữa có phát hiện các lớp than, sét vát nhọn ở rìa Đông Bắc, Bắc trũng Đông Quan.
b Thống Plioxen
* Điệp Vĩnh Bảo
Trầm tích điệp Vĩnh Bảo được phát hiện ở hầu hết diện tích vùng nghiên cứu Trầm tích Plioxen được tách ra bởi hóa đá động vật biển như: Globigerina, Dentalium… Bề dày của điệp dao động từ 90 - 168m Trầm tích Vĩnh Bảo ổn định và nằm bất chỉnh hợp trên các trầm tích cổ Đá bao gồm các lớp sét mỏng màu xanh lục xen kẽ cát bột kết có độ chọn lọc và bào tròn tốt
Theo các hóa đá động vật và thạch học tướng đá nhiều nhiều nhà địa chất cho rằng trầm tích điệp Vĩnh Bảo trầm tích trong môi trường biển nông và xen kẽ tam giác châu
Tóm lại trầm tích Neogen bao gồm chủ yếu đá lục nguyên phân lớp mỏng với bề dày của lớp trung bình 5 - 10m, rất ít khi vượt quá 10m Trong đó các lớp sét chiếm
tỉ lệ nhỏ so với lớp cát bột kết
3 Trầm tích hệ Đệ Tứ
Trầm tích hệ Đệ Tứ chiếm hầu hết diện tích vùng châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình Trầm tích hệ Đệ Tứ miền võng Hà Nội được nghiên cứu khá kỹ, nhưng do mục đích và quan điểm nghiên cứu khác nhau nên có nhiều lý luận khác nhau, trong đó cách phân chia địa tầng của Golovenoc V.K được nhiều người chấp thuận nhất Theo ông trầm tích Đệ Tứ miền võng hà Nội có thể chia ra làm 2 hệ tầng từ dưới lên như sau:
Trang 16a Thống Pleistoxen
* Điệp Hải Dương
Điệp Hải Dương đặc trưng cho trầm tích lục địa gồm thành phần cuội, sạn, cát xen kẽ với chiều dày dao động từ 80 - 100mm
- Phần dưới mặt cắt gồm chủ yếu là trầm tích cơ học hạt đều cuội, sỏi nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Vĩnh Bảo Thành phần của cuội chủ yếu là thạch anh, silic, các mảnh vụn trầm tích có chứa nhiều khoáng vật vụn phụ như epidot, amphibol…
- Phần giữa là tầng sạn kết, cát kết, bột kết màu xám chứa nhiều di tích bào tử phấn hoa Pinaceae, Polypodicaceae… đặc trưng cho Pleistoxen
- Phần trên cùng là tập cuội, sạn, cát bở rời giống như phần dưới
b Thống Holoxen
* Điệp Kiến Xương
Mặt cắt hệ tầng Kiến xương có thể được chia 3 phần:
- Phần dưới cùng tiếp giáp với điệp Hải Dương là trầm tích hồ, đầm lầy chủ yếu là cát, bột, sét màu xám giàu di tích thực vật (Pinaceae, Cyatheaceae…)
- Phần giữa là trầm tích ven biển củ yếu là cát, bột kết giàu di tích trùng lỗ (Textularia, Phidium, Triloculina…) và một số loài thân mềm (Balaus, Ostrea…) Tầng trầm tích này chủ yếu phân bố ở phía Đông Nam còn ở phía Tây Bắc trầm tích lục địa vẫn chiếm ưu thế
- Phần trên cùng là bồi tích hiện đại cát, bột, sét
Trang 17Tóm lại, toàn bộ hệ tầng Đệ Tứ này dày khoảng 50-100m Đó là trầm tích trẻ, phân bố rất nông, không phải là đối tượng tìm kiếm dầu khí.
Đặc điểm kiến tạo của miền võng Hà Nội được đặc trưng bởi tính khối tảng, bị phân cắt bởi hệ thống đứt gãy dọc và ngang đã hình một cấu trúc dạng bậc thang gồm các địa hào, địa lũy xen kẽ nhau mở rộng và chìm dần về phía vịnh Bắc Bộ Đứt gãy sông Chảy và sông Lô đã phân chia miền võng thành 3 đới cấu tạo:
- Đới cấu tạo Tây Nam
- Đới cấu tạo Trung Tâm
- Đới cấu tạo Đông Bắc
I ĐỚI TÂY NAM
Đới Tây Nam là phần chuyển tiếp giữa phần lún chìm của miền võng và phần uốn nếp Tây Bắc của miền Bắc Việt Nam Nó nằm kẹp giữa hai đứt gãy sâu mang tính khu vực là đứt gãy sông Hồng và đứt gãy sông Chảy Đây là đới cấu tạo nâng trong vùng trũng Thành phần đất đá trong móng trước Kainozoi của đới là các đá granitoit, gneiss ở vùng gần biển (ở độ sâu 150m ở Nam Định) và lộ ra ở phần phía
Trang 18Bắc có tuổi Tiền Cambri Phần giữa còn lại của đới là đất đá tạo móng đá tuổi Mesozoi Tại đây các cấu trúc lồi lõm có kích thước nhỏ phân bố xen kẽ lẫn nhau Độ sâu trung bình của móng này có phần giữa đạt gần 400 - 500m Ngoài các đứt gãy lớn trong đới Tây Nam còn phát triển nhiều đứt gãy nhỏ hơn, hầu hết chúng có phương Tây Bắc - Đông Nam.
II ĐỚI TRUNG TÂM
Đới này được giới hạn bởi đứt gãy sông Lô phía Đông Bắc và đứt gãy sông Chảy phía tây Nam Hai đứt gãy này có hướng cắm ngược chiều nhau với biên độ dịch chuyển khoảng 1.000m Đây là phần lún chìm không đối xứng của miền võng được phủ bởi trầm tích Neogen Đệ Tứ rất dày Trong phạm vi của nó có nhiều hố khoan dầu khí sâu đến 3 - 4km nhưng vẫn chưa đạt được móng trước Kainozoi Ở đây, cấu trúc móng đã được suy ra chủ yếu từ kết quả phân tích tài liệu địa vật lý Bên trong đới lại bị các đứt gãy dọc Vĩnh Ninh, Thái Bình chia cắt tạo thành những khối cấu tạo khác nhau
- Đứt gãy Thái Bình là một đứt gãy thuận, cắm về phía Đông Bắc với biên độ dịch chuyển từ 200 - 300m
- Đứt gãy Vĩnh Ninh là một đứt gãy thuận phương Tây Bắc - Đông Nam, cắm về phía Tây Nam với biên độ dịch chuyển khoảng 400 -1.000m, chia vùng trung tâm thành 2 dải cấu tạo
* Dải cấu tạo Gia Lâm - Đông Quan
* Dải Khoái Châu - Tiền Hải
1 Dải cấu tạo Gia Lâm-Đông Quan: Bao gồm khối nâng Gia Lâm và vùng
lún sâu Đông Quan Móng Proterozoi ở khối nâng Gia Lâm phát hiện ở lỗ khoan 9