1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long

50 1,7K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Sự Tương Quan Giữa Tính Bền Cấu Trúc Và Các Đặc Tính Đất Trồng Rau Màu Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Tác giả Lê Văn Khoa, Tôn Thất Chiểu, Võ Thị Gương, Foley, Ramos, Tạ Thu Cúc
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 3,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rau màu là loại thực phẩm rất cần thiết cho mọi người trong đời sống hàng ngày. Rau cũng là loại thực phẩm không thể thay thế. Bởi lẽ, cây rau cung cấp rất nhiều chất dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển của cơ thể con người như: Protein, lipit, vitamin, muối khoáng và nhiều chất quan trọng khác.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Đất là một tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người để sinh tồn vàphát triển Đất là tư liệu sản xuất, là đối tượng lao động, là vật mang được đặc thù bởitính chất độc đáo mà không vật thể tự nhiên nào có được – đó là độ phì nhiêu (Lê VănKhoa, 2004)

Đất được hình thành, phát triển và thoái hóa theo thời gian dưới tác động của điềukiện tự nhiên và các hoạt động của con người (Wada, 2000)

Ngoài ra do dân số tăng nhanh do đó để đáp ứng nhu cầu lương thực trong nước vàxuất khẩu thì việc áp dụng mô hình thâm canh tăng vụ ngày càng tăng dần trong khinguồn dưỡng chất trong đất thì có hạn

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất lương thực trọng điểm của cả nước

Là nơi được xem là có mức độ đa dạng hóa cao trong sản xuất nông nghiệp với diệntích 3.993.132 ha, sản xuất khoảng 50% tổng sản lượng lúa của cả nước và đóng gópkhoảng 85% lượng gạo xuất khẩu của cả nước (Tôn Thất chiểu, 1991)

Tuy nhiên, trong những năm gần đây nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càngtăng trọng khá mạnh Do đó, ngày càng có nhiều mô hình thâm canh tăng vụ để đápứng nhu cầu lương thực trong nước và xuất khẩu

Các mô hình thâm canh tăng vụ trên đất trồng lúa, đất trồng lúa kết hợp trồng màuhoặc chuyên canh cây màu và việc không sử dụng phân hữu cơ cũng làm cho đất ngàycàng bị thoái hóa nghiêm trọng Đất bị chai cứng, mất cấu trúc, trở nên nén dẽ dẫn đếnhạn chế sự phát triển của rễ cây trồng cạn, giảm lượng nước hữu dụng, giảm sự thoángkhí trong đất từ đó ảnh hưởng đến năng suất cây trồng (Brady, 2002)

Các nghiên cứu về sự thoái hóa đất về vật lý, hóa học, sinh học ở Đồng bằng sôngCửu Long cho thấy các vùng đất thâm canh 2-3vụ lúa /năm, trên đất chuyên màu vàtrên các vườn cây ăn trái nhiều năm tuổi bước đầu nghiên cứu cho thấy sự giảm hàmlượng chất hữu cơ, độ nén dẽ cao, hệ số thấm của nước thấp (Võ Thị Gương, 2004).Theo Foley (1994), đối với các loại đất bị thoái hóa về mặt lý học, hoá học, mấtcấu trúc do hoạt động canh tác thì dưới tác động của mưa và việc tưới tiêu làm cho tậphợp đất bị phân rã thành nhiều phần tử nhỏ hơn làm đóng váng và kết cứng bề mặtcanh tác khi đất khô Từ đó làm tăng sự xói mòn, giảm tính thấm gây chảy tràn và rửatrôi dinh dưỡng

Trang 2

Còn theo Ramos (2003), thì ở Mỹ và Tây Ban Nha đã có một vài tác giả nghiêncứu về mối quan hệ giữa tác động của mô hình mưa và tính bền cấu trúc lên sự xóimòn của đất dốc Đối với Đồng bằng sông Cửu Long đến nay vẫn chưa có nghiên cứuđánh giá một cách đầy đủ về tính bền cấu trúc và sự tương quan giữa tính bền cấu trúc

với các đặc tính của đất trồng rau màu Vì vậy, đề tài “Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện nhằm giải quyết vấn đề trên.

Trang 3

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 Tầm quan trọng của rau màu đối với nền kinh tế xã hội

1.1.1 Gía trị dinh dưỡng

Rau màu là loại thực phẩm rất cần thiết cho mọi người trong đời sống hàngngày Rau cũng là loại thực phẩm không thể thay thế Bởi lẽ, cây rau cung cấp rấtnhiều chất dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển của cơ thể con người như: Protein,lipit, vitamin, muối khoáng và nhiều chất quan trọng khác Cây rau chứa hàm lượngvitamin và khoáng chất hơn hẳn một số cây trồng khác Có thể nói rau là thành phầnquan trọng trong mỗi bữa ăn hàng ngày của mỗi người Chất khoáng từ rau màu chủyếu là Canxi (Ca), photpho (P), sắt (Fe), chúng có tác dụng điều hòa, cân bằng kiềmtoan trong máu, là những chất cần thiết cho cấu tạo máu và xương

Rau thuộc về nhóm cây hàng năm: cà, ớt, cà chua, cây họ đậu Cây hai năm nhưrau chân vịt, hành tây, tỏi, cải và cây thân thảo lâu năm như măng được trồng làmthực phẩm

Giá trị dinh dưỡng của các loại rau rất phong phú và đặc biệt quan trọng đối vớiđời sống của loài người(Tạ Thu Cúc, 2005)

1.1.2 Ý nghĩa kinh tế

- Rau là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao Giá trị sản xuất của 1ha rau gấp2-3 lần so với 1ha lúa Hiệu quả lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào trình độ người sảnxuất, công nghệ sản xuất, kinh nghiệm và chủng loại rau màu Nhìn chung, cây rau,màu có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm, do đó làmtăng sản lượng trên đơn vị diện tích

- Rau là loại cây lương thực Như khoai tây được coi là một trong năm câylương thực trên thế giới sau lúa, ngô, mỳ, mạch Khoai tây là nguồn tinh bột chủ yếucủa nhiều nước Một vài loài cây trồng có hàm lượng cao cũng được sử dụng nhưlương thực: khoai, củ từ

- Rau là loại hàng hóa có giá trị xuất khẩu cao Đây là mặt hàng xuất khẩu quantrọng, thu ngoại tệ mạnh của nhiều nước trên thế giới

- Rau là nguyên liệu chế biến thực phẩm phong phú và quan trọng

Trang 4

a Giá trị y học

Rau chẳng những có giá trị dinh dưỡng mà chúng còn được sử dụng như nhữngcây dược liệu quý như: tỏi, hành hoa, gừng

Trong nhiều năm qua, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và phát hiện

ra những khả năng kỳ diệu của một số loại rau trong phòng ngừa và trị một số bệnhnan y Trước hết là tỏi sau đó là các loại hành tây

b Giá trị xã hội

Khi ngành sản xuất rau màu được phát triển nhanh chóng và vững chắc sẽ gópphần làm tăng thu nhập cho người lao động, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao củangười tiêu dùng Đồng thời đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước

Khi sản xuất rau màu được coi là một nghề, những khu chuyên canh rau màuđược mở rộng sẽ có điều kiện để sắp xếp lao động một cách hợp lý, giải quyết việclàm cho nông dân trong những lúc nông nhàn

Phát triển ngành sản xuất rau màu còn có điều kiện để hỗ trợ đối với ngànhkhác trong nông nghiệp như cung cấp thức ăn và chất xanh cho chăn nuôi (Tạ ThuCúc, 2005)

1.2 Kỷ thuật canh tác rau màu

Muốn trồng rau đạt năng suất cao, sản phẩm có giá trị hàng hóa cao, người trồngrau nhất thiết phải nắm vững những biện pháp kỹ thuật cơ bản của nghề trồng rau Nóbao gồm một hệ thống liên hoàn các biện pháp kỹ thuật như làm đất, gieo hạt, bónphân, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh đến kỹ thuật thu hái

1.2.1 Thời kỳ vườn ươm

Đặc điểm nổi bậc của nghề trồng rau là hầu hết hạt giống đều phải được ươmtrước khi đưa ra ruộng sản xuất đại trà

Mặt khác, hầu hết các loại hạt giống rau, màu đều rất nhỏ, nên phải qua gieoươm Khi gieo trên diện tích nhỏ sẽ thuận tiện cho quá trình chăm sóc (Phạm HồngCúc và ctv, 2001)

Ngoài kỹ thuật gieo ươm truyền thống (gieo ngoài đất trồng), hiện nay còn cónhiều cách gieo ươm đạt hiệu quả cao như gieo trong bầu, gieo hạt vào khai, gieo hạt

Trang 5

trong nhà lưới làm như vậy sẽ hạn chế được tác động của khí hậu thời tiết khắcnghiệt như nhiệt độ cao, mưa bão, ngập lụt Mặt khác, ở thời kỳ 1-3 lá thật, hệ rễ yếu,khả năng hút nước và chất dinh dưỡng kém, diện tích lá nhỏ nên quang hợp kém.

Ở thời kỳ vườn ươm, chúng ta cần chăm sóc hết sức cẩn thận, tỉ mỉ hồi phục cây trồngđạt tiêu chuẩn cao (Tạ Thu Cúc, 2005)

1.2.2 Thời vụ gieo trồng

Rau màu là loại cây trồng rất mẫn cảm với sự thay đổi của điều kiện khí hậu thờitiết như: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, yêu cầu thời vụ rất nghiêm ngặt Thời vụ khôngthích hợp làm giảm năng suất và chất lượng (Tạ Thu Cúc, 2005)

Hơn nữa rau là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, nên cóyêu cầu thời tiết khắt khe Đảm bảo thời vụ là đảm bảo điều kiện tự nhiên tương tựnhư những điều kiện của chính quê hương của loài rau màu đó để cho cây sinh trưởng

và phát triển thuận lợi nhất (Nguyễn Văn Thắng và ctv, 1999)

Nói chung, các loại rau mùa Đông có yêu cầu cường độ ánh sáng và thời gianchiếu sáng tương đối ngắn (8-12 giờ) các loại rau mùa Hè lại yêu cầu ánh sáng cócường độ mạnh và thời gian chiếu sáng dài (12-14 giờ/ ngày) (Nguyễn Văn Thắng vàctv, 1999)

Do đó, việc bố trí mùa vụ cũng như sắp xếp các cây trồng xen, gối cần tạo đượcchế độ ánh sáng thích hợp để cây rau sinh trưởng (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).Theo Trần Thị Ba và ctv, 1999 ở Đồng bằng sông Cửu Long có bốn vụ gieo trồngchính:

- Đông Xuân gieo trồng từ tháng 10- tháng 11 dương lịch thu hoạch vào tháng tháng 1 dương lịch

- Xuân Hè gieo trồng từ tháng 12- tháng 1 dương lịch thu hoạch vào tháng tháng 5 dương lịch

4 Hè Thu gieo trồng từ tháng 44 tháng 5 dương lịch thu hoạch vào tháng 7 dươnglịch

- Thu Đông gieo trồng từ tháng 8- tháng 9 dương lịch thu hoạch vào tháng tháng 1 dương lịch

Trang 6

Theo Trần Thị Ba và ctv (1999), đất trồng rau màu phải có lý – hóa tính tốt: Đấttơi xốp, nhiều mùn, pH thích hợp (5,5-7), đất thịt nhẹ, thịt pha cát Nếu là đất cát rờirạc, giữ nước kém cần bón thêm sét, bùn ao, phơi ải kết hợp với phân hữu cơ Nếu làđất sét nặng khó thoát nước khó cày bừa cần bón thêm phân hữu cơ.

Tuy nhiên, tuỳ theo loại đất mà cách làm đất khác nhau; cày sâu, bừa kỹ giúp rễphát triển, nhưng không nên làm đất quá nhuyễn vì đất dễ bị lèn mặt sau này (NguyễnBảo Vệ và ctv, 2005)

Theo Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996 thì có hai cách làm đất:

Trang 7

1.2.4 Nhu cầu nước cho rau màu

Rau là loại cây rất cần nước, đồng thời lại rất sợ úng

Hàm lượng nước trong cây rau rất lớn, chiếm từ 75-95%, vì vậy có thể nói nước

là nguyên nhân hạn chế lớn nhất đến năng suất, chất lượng cây rau hơn bất kì yếu tốnào khác

Nếu thiếu nước cây rau sinh trưởng kém, thấp, còi cọc, dẫn đến năng suất và chấtlượng giảm Nếu thừa nước cây sinh trưởng mềm yếu, nồng độ đường và các chất hòatan giảm Mặt khác, nước dư thừa trong các bộ phận làm cho cây rau - màu trở nênnon, mềm dễ bị hư hỏng (Dương Hồng Dật, 2003)

Nước là thành phần cơ bản cấu tạo nên chất nguyên sinh, các quá trình trao đổichất trong cây như: quá trình tổng hợp và phân giải chất hữu cơ, quá trình quang hợp,

sự vận chuyển vật chất trong cây (Bùi Hiếu và ctv, 2000); là dung môi hòa tan cácchất, duy trì độ căng tế bào, làm cho cây ở trạng thái cân bằng, nước còn có tác dụngquan trọng trong quá trình điều chỉnh sự đóng mở của khí khổng, sự giãn mở và lớnlên của lá (Tạ Thu Cúc, 2005)

Có thể dùng công thức sau để xác định lượng nước tưới cho rau màu (Tạ ThuCúc, 2005)

B: độ ẩm đồng ruộng (% đất khô tuyệt đối)

R: độ ẩm đất (% đất khô tuyệt đối khi tưới)

1.2.5 Nhu cầu phân bón

Rau là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn nhưng lại cho mộtkhối lượng sản phẩm (năng suất, sản lượng) rất cao, từ 20-60 tấn/ha Do vậy cây raumàu đòi hỏi phải được bón nhiều phân và đất trồng rau phải là đất tương đối tốt (MaiThị Phương Anh, 1999)

Nguyên tắc chung khi bón phân cho rau là cần bón phối hợp phân hữu cơ và vô

cơ, bón đúng liều lượng, cân đối và đúng thời kì

Trang 8

Bón phân hóa học vào đất sẽ làm thay đổi tính chất lý- hóa học của đất, đặc biệtlàm thay đổi hóa tính của đất (Tạ Thu Cúc, 2005).

Tất cả các loại rau màu đều cần dinh dưỡng rất lớn, do vậy nó cần phải cung cấpđầy đủ dinh dưỡng trong quá trình sinh trưởng, sự cung cấp này phụ thuộc vào lượngdinh dưỡng có trong đất và nguồn phân bón bổ sung (Nguyễn Văn Hòa, 2006)

Ngoài ra, đối với loại đất nhẹ, tơi xốp thì có thể tăng cường bón đạm vô cơ, giảmkhối lượng phân hữu cơ Đối với đất nặng, chặt thì cần tăng cường bón phân hữu cơgiàu đạm là chủ yếu, đồng thời kết hợp với phân vô cơ để tăng hiệu quả của phân bón.Khi xác định liều lượng phân bón cần phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế, chú ý đếnlượng NO3- trong sản phẩm khi bón các dạng đạm từng chủng loại, hàm lượng N, P, Ktrong sản phẩm và trong đất, chất dinh dưỡng bị giữ lại trong đất hoặc bị rửa trôi (TạThu Cúc, 2005)

Bên cạnh đó, phân chuồng là loại phân bón tương đối đầy đủ các thành phần dinhdưỡng mà cây rau màu yêu cầu Phân chuồng có tỷ lệ mùn cao, có tác dụng cải tạo đất,giữ nhiệt và khí cho tầng đất mặt, loại dinh dưỡng trong phân chuồng có tác dụng từ từnên việc bón phân vô cơ bổ sung là biện pháp cần thiết, và phải hài hòa với lượngphân chuồng đã bón thì mới cho năng suất cao, phẩm chất tốt, đảm bảo không cólượng nitrate dư thừa trong cây quá nhiều ngoài ngưỡng cho phép (Mai Thị PhươngAnh, 1996)

Có hai cách bón phân cho rau màu:

 Bón lót: thường dùng với phân chuồng và phân vô cơ chậm tan như lân, kali vàvôi (cung cấp cho cả quá trình sinh trưởng của cây) và một phần lượng phân đạm cungcấp cho rau màu ở giai đoạn cây con (khoảng 1/4-1/3 lượng phân đạm cần thiết)

 Bón thúc: là cách bón bổ sung vào những giai đoạn cây cần dinh dưỡng nhất đểsinh trưởng, phát triển và tạo sản phẩm Bón thúc thường dùng các loại phân dễ hòatan, dễ tiêu như phân chuồng ngâm ủ, phân bắc nước giải ngâm mục, phân đạm vàkali

Biện pháp bón phân ngoài rễ là biện pháp đang được sử dụng Đó là phươngpháp bón phân lên lá - sử dụng các loại phân đã được tổng hợp, với ưu điểm là tiếtkiệm phân và hiệu quả cao Tuy nhiên chỉ áp dụng tốt trong trường hợp đã được bónđầy đủ phân chuồng và các phân đa lượng khác (Mai Thị Phương Anh, 1996)

Trang 9

Bảng 1 Lượng các nguyên tố dinh dưỡng chính và lượng cần bón cho

một tấn sản phẩm (kg/ha) (theo Mai Thị Phương Anh, 1996).

Loại rau Thời gian

sinh trưởng(ngày)

Lượng cây lấy đi Lượng cần bón

3,52,23,63,22,61,73,0

1,30,81,81,30,41,41,2

4,35,05,25,03,62,64,0

52,543,24,53,57

52,5434,52,55

6675545

1.2.6 Phòng trừ sâu bệnh

So với các loại cây trồng chuyên canh khác, rau màu là loại cây trồng có nhiều sâubệnh hơn cả Do nó là cây ngắn ngày, lại ít có những trợ thủ tự nhiên để làm thiên địchđối với các loại sâu bệnh hại Mặt khác, chúng được gieo trồng suốt bốn mùa trongnăm do đó sâu bệnh dễ tồn tại, tiềm năng, ẩn náo tạo điều kiện cho sâu bệnh thích nghi(Nguyễn Văn Thắng, 1999)

Theo Phạm Hồng Cúc và ctv (2001), cho rằng nếu áp dụng các biện pháp phòngtrừ sâu bệnh hữu hiệu thì năng suất rau màu có tăng thêm 30%

Theo Trần Thị Ba và ctv (1999), có nhiều biện pháp phòng trừ sâu bệnh như: khửhạt giống, cải thiện môi trường, luân canh, xen canh, sử dụng giống kháng, sử dụngthiên địch, tạo hình và dùng thuốc hóa học

1.2.7 Thu hoạch

Rau là loại cây trồng ngắn ngày lại có hàm lượng nước cao, sử dụng chủ yếu là sảnphẩm tươi Do vậy thu hoạch rau màu phải đúng lứa, đúng kỳ mới đảm bảo chấtlượng Không nên thu hoạch quá non hay quá già, nếu thu non giảm năng suất sảnphẩm từ 20-30% đối với các loại rau ăn quả chín nếu thu quá già hàm lượng chất dinhdưỡng hay chất lượng sản phẩm giảm (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996)

Trang 10

1.3 Ảnh hưởng của việc canh tác rau màu đến môi trường

1.3.1 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với diện tích đất nông nghiệp trên 2 triệu

ha, hàng năm cung cấp trên hai phần ba tổng sản lượng lương thực Do đó, để sản xuấtsản lượng lương thực lớn cho cả nước nông dân đã sử dụng một phần lớn thuốc bảo vệthực vật, không chỉ riêng trên cây lương thực mà tất cả các loại cây trồng tại ĐBSCLđều sử dụng thuốc bảo vệ thực vật với liều lượng cao (Nguyễn Thị Thu Cúc, 1998).Trong thực tế, tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân hóa học một cáchtùy tiện, liên tục, quá liều đã gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏecon người, môi trường nước, không khí, đặc biệt là môi trường đất (Hoàng XuânThực, 2005)

Mặt khác, việc thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng thì nó đòi hỏi mộtlượng lớn phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật Nếu sử dụng đúng liều và đúng cáchthì ít ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người Thuốc bảo vệ thực vật là chếphẩm có nguồn gốc từ hóa chất, thực vật, động vật, vi sinh vật và các chế phẩm khácdùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật Đặc điểm của thuốc bảo vệthực vật là chúng đều có khả năng gây ô nhiễm cho đất và hoạt tính của chúng sẽ làchất độc cho con người và động vật (Lê Huy Bá, 2000)

Thuốc bảo vệ thực vật gồm thuốc trừ sâu, trừ nấm, côn trùng, tuyến trùng, diệt cỏ,kích thích , là các hợp chất hóa học hữu cơ hay vô cơ Trong đất nó làm cho cơ lýtính đất giảm sút, khả năng diệt khuẩn cao nên đồng thời cũng diệt nhiều vi sinh vật cóích trong đất Đặc biệt, trên các vùng đất có trình độ thâm canh cao thường có sâubệnh nhiều nên phải sử dụng một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật Trong quá trình sửdụng thuốc thì lượng nước tưới hay mưa làm cho các loại thuốc này ngấm dần vào đất(Võ Thị Gương, 2003)

Theo Raynet et al (1996) cho biết việc sử dụng nông dược một cách thườngxuyên, liên tục với liều lượng lớn đã làm giảm sự phong phú về loài và số lượng quầnthể của các loài vi sinh vật trong đất

1.3.2 Ảnh hưởng của việc sử dụng phân hóa học đối với môi trường đất

Mặc dù có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn nhưng cây rau màu lại đòi hỏimột lượng dinh dưỡng rất lớn Do vậy, để tăng năng suất người ta thường bón mộtlượng phân hóa học lớn chủ yếu là đạm, lân, kali Nhưng trong đó phân đạm được

Trang 11

dùng với liều lượng nhiều hơn Tuy nhiên, nó cũng chính là nguyên nhân chủ yếu gây

ô nhiễm môi trường đất, nhất là khi chúng ta không sử dụng đúng với liều lượngkhuyến cáo, dẫn đến hiện tượng đất bị chua hóa, hàm lượng các chất vôi giảm, kết cấuđất kém, hoạt động của các vi sinh vật trong đất giảm, có sự tích động nitrat kim loạinặng một số vùng

Sự lạm dụng hoặc sử dụng phân bón không đúng cách dĩ nhiên có thể tạo các ảnhhưởng bất lợi cho đất như gây mặn cho đất, kém thoát thủy và tưới thừa (Ngô NgọcHưng và ctv, 2004)

Khi cung cấp đạm cây chỉ sử dụng hữu hiệu tối đa 30%, số còn lại bị rửa trôi,phần thì nằm trong đất Nếu cây trồng được bón phân đầy đủ sẽ tạo ra hệ thống rễnhiều hơn và lượng dư thừa thực vật được phân hủy sẽ góp phần cải thiện cấu trúc đất,hàm lượng hữu cơ và khả năng giữ nước, và do dó nó cải thiện độ phì nhiêu đất.Ngược lại lượng phân hóa học được bón vào đất không được cây trồng hút hoàn toàn.Một số lượng dưỡng chất được giữ lại trong đất và tiếp tục cung cấp cho cây trồng vụsau, một số bị chảy tràn hoặc rửa trôi do mưa (Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004)

Khi tích lũy các hóa chất dạng phân bón cũng gây hại cho đất về mặt cơ lý tính,đất nén chặt, độ trương co kém, kết cấu vững chắc, không tơi xốp mà trở nên chaicứng, vi sinh vật ít đi và bị hóa chất hủy diệt (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)

1.4 Các tính chất vật lý đất trên đất trồng rau màu

Thành phần cơ giới khác nhau sẽ dẫn đến sự khác nhau về tỷ trọng, dung trọngđất, tính kết dính, khả năng hấp phụ trao đổi ion và khả năng dự trữ dinh dưỡng trongđất (Mai văn Quyền và ctv, 2005)

Đất có thành phần cơ giới nặng, giàu cấp hạt sét làm cho khả năng giữ nước củađất tốt, hấp phụ được nhiều chất dinh dưỡng, có khả năng chống rửa trôi Ngược lại,đối với những loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo cấp hạt sét, chủ yếu là cấp hạt

Trang 12

thô, khả năng giữ nước, hấp thu những chất dinh dưỡng kém, độ thấm cao, các chấtdinh dưỡng dễ bị rửa trôi có thể nói thành phần cơ giới là một trong những yếu tốquyết định độ phì nhiêu của đất (Trần Kông Tấu, 2005).

Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong cấp hạt nhỏ nhiều nên đất sét tốt hơn đấtcát Ở đất có tỉ lệ hạt nhỏ, về cơ bản là giàu dinh dưỡng là do khả năng giữ dinh dưỡngcủa nó tốt hơn đất có tỉ lệ cát cao Tuy nhiên, nếu đất sét không được bổ sung dinhdưỡng và không có biện pháp bảo vệ thì vẫn bị thoái hóa (Trần Trọng Nghĩa, 2004)

Về tính chất vật lý nước và cơ lý đất cho thấy khi kích thước hạt giảm đã làmgiảm tốc độ thấm nước, tăng tính mao dẫn, tăng tính trương co, tăng lượng hút ẩm lớnnhất và tăng sức dính cực đại Thành phần và tính chất hóa lý của các cấp hạt khácnhau thì khác nhau đã dẫn đến sự thay đổi quan trọng về tính chất trong đất khi có các

tỉ lệ cấp hạt khác nhau (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999)

Theo Lê Văn Khoa (2004), thì sự suy thoái về cấu trúc thường xảy ra ở các vùng

có vũ lượng cao, thường hay ngập lũ, bơm tưới nhiều trong canh tác, đất dễ bị gley giả

và hệ thống thoát nước kém

Đối với đất có tỷ lệ sét cao, hàm lượng chất hữu cơ thấp và thời gian canh táccàng lâu thì tình trạng nén dẽ của đất dễ dàng xảy ra (Võ Thị Gương, 2004)

1.4.2 Phân loại đất theo thành phần cơ giới

Việc phân loại đất theo thành phần cơ giới có ý nghĩa rất quan trọng nhất là việcứng dụng trong sản xuất Nông dân khi canh tác trên đất đã biết phân ra: cát, cát phathịt, đất sét,…vì mỗi loại như vậy lại thích hợp cho mỗi loại cây trồng nhất định

Trên thế giới có rất nhiều bảng phân loại đất theo thành phần cơ giới nhưng cócác dạng phân loại: theo Mỹ, Liên Xô (cũ), và quốc tế (Nguyễn Thế Đặng và ctv,1999)

Trang 13

Bảng 2 Phân loại đất theo thành phần cơ giới của Liên Xô (cũ)

(Theo N.A.Kasinsky)

Đấtpotzon

Đất đỏvàng thảonguyên

potzon

Đất đỏvàng thảonguyên

0-55-1010-20

0-55-1010-25

100-9595-9090-80

100-9595-9090-80

100-9595-9090-85Đất thịt nhẹ

Đất thịt trung bình

Đất thịt nặng

20-3030-4040-50

20-3030-4545-60

15-2020-3030-40

80-7070-6060-50

80-7070-5555-40

85-8080-7070-60Đất sét nhẹ

Đất sét trung bình

Đất sét nặng

50-6565-80

>80

60-7575-85

>85

40-5050-65

>65

50-3535-20

<20

40-2525-15

<15

60-5050-35

<35

Hình 1 Tam giác sa cấu theo USDA/ Soil Taxonomy (Mỹ)

Trang 14

Bảng 3 Bảng phân loại đất theo thành phần cơ giới của quốc tế (Nguyễn Thế Đặng

và ctv, 1999).

Cát2-0.02mm

Bụi0.02-0.002mm

Sét0.002-0.0002mm

0-4530-4545-100

0-150-150-15Thịt nặng 5.Đất thịt trung bình

6.Đất thịt nặng7.Đất sét nặng

55-8530-550-40

0-3020-4545-75

15-2515-2515-25Sét 8.Đất sét pha cát

9.Đất sét pha thịt10.Đất sét trung bình11.Đất sét

12.Đất sét nặng

55-750-3010-550-550-35

0-2045-750-450-550-35

25-4525-4525-4545-6565-100

1.4.3.Tính chất các loại đất có thành phần cơ giới khác nhau

Thành phần cơ giới đất ảnh hưởng lớn đến tính chất đất và cây trồng Khi tỷ lệcác cấp hạt có kích thước khác nhau, ở mỗi loại đất, mỗi tầng đất khác nhau, sẽ tácđộng trực tiếp đến tính chất đất là khác nhau và từ đó ảnh hưởng đến cây trồng

 Đất cát:

Hình 2 Sự sắp xếp các hạt cát

Cấp hạt gọiTên

Trang 15

Do có cấp hạt cát chiếm đa số nên đất cát có tính chất đặc trưng sau:

- Thành phần cơ giới thô (nhẹ), khe hở giữa các hạt lớn nên thoát nước dễ, thấmnước nhanh nhưng giữ nước kém (dễ bị khô hạn)

- Thoáng khí, vi sinh vật háo khí hoạt động mạnh làm cho quá trình khoáng hóachất hữu cơ và mùn xảy ra mãnh liệt Vì vậy đất cát thường nghèo mùn

- Đất cát nóng nhanh, lạnh nhanh gây bất lợi cho cây trồng và vi sinh vật

- Đất cát khi khô rời rạc nên dễ cày bừa, ít tốn công, rễ cây phát triển dễ nhưng cỏmọc cũng nhanh Khi đất cát gặp mưa to hay do nước tưới sẽ bị bí chặt

- Đất cát chứa ít keo, dung tích hấp thu thấp, làm cho khả năng giữ nước kém.Khi bón phân quá nhiều sẽ làm cây bị lốp đổ và mất dinh dưỡng do rửa trôi

Do đặc điểm như vậy nên khi sử dụng đất cần hết sức lưu ý, như nên bón phânchia làm nhiều lần, vùi sâu Đất cát nên ưu tiên trồng cây lấy củ như: khoai lang, khoaitây, lạc

Để cải tạo đất cát cần tăng lượng sét trong đất bằng biện pháp cày sâu lật sét, bónbùn ao, tưới nước phù sa mịn và bón phân hữu cơ

 Đất sét:

Hình 3 Sự sắp xếp các hạt sét

Đặc trưng của đất sét thể hiện ở các mặt sau:

- Đất sét khó thấm nước nhưng giữ nước tốt Biên độ nhiệt độ đất sét thấp hơn đấtcát

- Đất sét kém thoáng khí, hay bị glây Chất hữu cơ phân giải chậm nên đất sét tíchlũy mùn nhiều hơn đất cát Mặt khác, sét - mùn là phức chất bền vững nên cũng tăngkhả năng tích lũy

- Đất sét mà nghèo chất hữu cơ thì có sức cản lớn, cứng chặt, làm đất khó và khi

bị hạn thì sẽ nứt nẻ làm đứt rễ cây trong đất

Trang 16

- Đất sét chứa nhiều keo nên về cơ bản có dung tích hấp thu lớn, giữ nước, giữphân tốt nên ít bị rửa trôi (nhìn chung đất sét chứa nhiều dinh dưỡng hơn đất cát).Nhưng nhiều khi đất sét giữ quá chặt dinh dưỡng nên cây trồng không hút được.

Đất sét khi khi thác sử dụng nên lưu ý bón phân hữu cơ và vôi Nếu đất quá sétthì có thể bón cát, hay tưới nước phù sa thô

1.4.4 Tính bền cấu trúc đất

1.4.4.1 Khái niệm

Cấu trúc đất là sự sắp xếp các phần tử đất lại với nhau trong tính bền đoàn lạp.Tính bền của đất là sự liên kết của các hạt đất rất nhỏ, chúng được giữ chặt bởi chấthữu cơ, oxid sắt, carbonat, sét, hay khoáng silicat (Raymond W Miller et al, 2001) Tính bền của đất được xem như là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánhgiá chất lượng đất đai Tính bền của đất có thể tác động mạnh mẽ đến đặc tính đất cả

về hoá học và lý học (Lê Văn Khoa, 2003)

Tính bền của tập hợp các phần tử đất là đặc tính cấu trúc quan trọng của đất Nó

đo lường mức độ chịu đựng của đất dưới tác động của mưa, các lực cơ giới khi càybừa hoặc khi tưới nước (Trần Bá Linh, 2004)

Cấu trúc của đất bị tác động mạnh mẽ bởi hoạt động của sinh vật trong đất và sựthay đổi trong hình thức quản lý sử dụng đất (Danniel Hillel, 1982)

Trang 17

Đất có thành phần cơ giới trung bình và nặng (đất thịt trung bình, thịt nặng, đấtsét) ở mức độ khá lớn phụ thuộc vào cấu trúc của chúng vì cấu trúc quyết định tới chế

độ sinh học, chế độ không khí, chế độ nước nói riêng và chế độ dinh dưỡng cho đất.(Trần Kông Tấu, 2005; Chu Thị Thơm và ctv, 2006)

Ở Việt Nam, đối với những loại đất có thành phần cơ giới nặng thì độ bền đoànlạp trong nước thể hiện khá cao 84-99 % Hệ số cấu trúc theo Fageler thay đổi từ 24-

92 % Đất xám bạc màu phát triển trên phù sa cổ có độ bền trong nước kém nhất, chỉ 5

% Đất nâu đỏ trên bazan (Ferralsols) có tính chất cấu trúc tốt nhất, chúng có quan hệchặt chẽ với hàm lượng sắt tổng số và sắt di động, có hàm lượng mùn cao (4,8 %) vàdung tích hấp hấp phụ của đất Ferralsols cũng cao hơn cả (14 mgdl/100g đất) (TrầnKông Tấu và ctv, 2000)

Ở những vùng trồng lúa có thể rất hữu ích khi xác định sức bền cơ học của đất đacấu trúc và đất chưa thành thục vì các loại đất đó thường có tính chống chịu rất kém.Sức bền cơ học không chỉ thay đổi theo độ xốp mà còn theo lượng chất hữu cơ, hàmlượng sét và các tác nhân ximăng hoá hiện diện (Trần Kim Tính, 2003)

1.4.4.2 Nguồn gốc phát sinh cấu trúc đất

 Sự lắng kết tương hỗ của những chất keo:

Những phần tử keo đất trong dung dịch phần lớn các trường hợp đều mang điệntích và có thế hiệu giữa những điện tích trái dấu của lớp ion cố định (lớp mây mixenbên trong) và những lớp ion bù gây nên thế điện động hoặc còn gọi là thế vị dzeta (ξ))của những phần tử hạt (Trần Kông Tấu, 2005)

 Keo tụ của những chất keo dưới ảnh hưởng của chất điện ly:

Nhiều tác giả cho rằng khi có những cấu tử của chất hữu cơ dạng axit humic,với sự tham gia của các cation canxi, sắt (Fe3+) vào quá trình keo tụ thì sẽ hình thànhtạo được những cấu trúc rất tốt Chúng có độ bền cơ học, độ bền trong nước và có một

độ xốp thích hợp, ở những mẫu tốt nhất độ xốp của đoàn lạp đạt đến 50% Đây lànhững cấu trúc có chất lượng cao và rất quí về phương diện sản xuất nông nghiệp(Trần Kông Tấu, 2005)

 Vai trò của các quá trình hóa học, lý học, sinh học trong việc tạo và nâng cao độbền cơ học, độ bền trong nước của những đoàn lạp:

Trang 18

a Về phương diện hóa học

Ở một số khu vực có chế độ nước thay đổi, khi thì bị khô hạn, khi thì bị ngậpướt, quá trình khử phát triển và xuất hiện ở những khu vực đất bị ngập nước Sắt cóhóa trị hai hòa tan trong nước được hình thành, những dạng này cùng với dung dịchđất sẽ tẩm ướt những đoàn lạp Về mùa khô, khi mực nước ngầm xuống sâu, đất đượcthông thoáng, FeO chuyển thành dạng Fe2O3 khó hòa tan, làm xi măng kết dính nhữngđoàn lạp Những cấu trúc như vậy có độ bền cơ học và độ bền trong nước cao nhưng

độ xốp của đoàn lạp lại kém (độ xốp nhỏ hơn 40 %) bởi vì một phần thể tích khoảnghổng bị Fe(OH)3 dần dần chiếm lấy

Bên cạnh sắt, trong nhiều trường hợp tìm thấy CaCO3 đóng vai trò làm xi mănggắn kết các đoàn lạp Những CaCO3 này hình thành từ những bicacbonat canxi theophản ứng:

Ca(HCO3)2 CaCO3 + CO2 +H2O (khi đất khô)

Hoặc Ca(HCO3)2 +CaO 2CaCO3 +H2O (Trần Kông Tấu, 2006)

c Vai trò của sinh học

Độ bền nước, độ bền cơ học của đoàn lạp xuất hiện và phát triển nhờ những nêmdịch của những loài vi khuẩn khác nhau

Những đoàn lạp, cấu trúc đất được hình thành khi có sự tham gia của các quátrình sinh học có độ bền trong nước, độ bền hóa học khá cao và có một độ xốp thíchhợp (Trần Kông Tấu, 2005)

Trang 19

1.4.4.3 Ảnh hưởng của cấu trúc đất lên đất trồng

Trên các vùng đất trồng rau- màu cấu trúc đất sẽ có tác động rất mạnh mẽ Nóquyết định trực tiếp đến tính thấm của đất, độ dẻo, dính, khả năng trữ nước và cungcấp dinh dưỡng cho sự phát triển của cây trồng (Pedro A.Sanchez, 1990)

Chế độ nước, không khí và nhiệt ở đất có cấu trúc, kéo theo sự phát triển mạnh

mẽ những quá trình sinh học, khả năng nitrat hóa và có khả năng chuyển hóa các hợpchất hữu cơ Đất có cấu trúc tốt sẽ ít dính, do đó thuận lợi cho việc cày bừa và chămsóc (Trần Kông Tấu, 2005)

Ngược lại, đất không có cấu trúc có cấu tạo rời rạc, điều đó làm cho trạng tháiđất quá chặt, dính, đường mao quản mỏng, nhỏ, độ xốp kém Những đất như vậy cótính thấm nước kém, nước dự trữ trong đất sẽ rất ít, độ dẫn mao quản cao, nước dễ đưalên bề mặt và mất nhiều do bốc hơi Điều đó dẫn đến việc hình thành những lớp vángtrên mặt ruộng, sau khi mưa những lớp váng này dễ bị cứng lại gây cản trở cây trồng

và khi khô đất dễ bị nứt nẻ

Đất có cấu trúc kém hạn chế việc điều hoà chế độ nước và không khí trong đấtảnh hưởng tới quần thể sinh vật đất, quá trình tổng hợp và phân giải chất hữu cơ, cungcấp chất dinh dưỡng cho cây và tích luỹ mùn cho đất (Ngô Thị Hồng Liên, 2006)

Ở các đất thịt, tác động của các hạt mưa có thể hình thành lớp váng cứng trên mặtđất Lớp vỏ cứng trên mặt đất này có thể dầy vài milimet nhưng nó sẽ làm giảm khảnăng thấm nước và tăng dòng chảy trên mặt gây xói mòn đất, làm giảm khả năng nẩymầm và phát triển của cây trồng (Lê Văn Khoa và ctv, 2003)

Sự hình thành nên lớp váng ở bề mặt (do sự bong đất mặt) thì thường được thấynhiều hơn trên những vùng đất có hàm lượng thịt cao, hay cát mịn và hàm lượng sétcủa nó tương đối thấp (Trần Kim Tính, 2003)

Chế độ nước, không khí và cả nhiệt độ ở đất không có cấu trúc bị thay đổi mạnhtheo thời gian Trong trạng thái ẩm, ở những lớp đất ướt tất cả những khoảng hổng đều

bị nước chiếm, trong đất sẽ không có không khí hoặc rất ít, quá trình được đặc trưngchủ yếu là quá trình yếm khí, sức huy động dinh dưỡng bị kìm hãm, cây trồng bị

“nghẹt thở” hay tổn thương do thiếu không khí (Nguyễn Văn Hoàng, 1989; Hồ VănThiệt, 2006)

Đất càng khô thì tất cả các dạng nước mao quản sẽ bị mất rất nhanh Nhữngkhoảng hổng của chúng bây giờ chủ yếu là do không khí chiếm, quá trình yếm khí

Trang 20

được thay thế bằng quá trình háo khí làm cho mùn bị phân giải nhanh, khoáng hóanhanh, dẫn đến làm cho cấu trúc càng kém hơn điều đó làm cho thực vật bị tổn thương

và chết do thiếu nước (Brady, 1985)

Đất không có cấu trúc sẽ rất cứng, chặt, lực cản khá cao (gần 1 kg/cm2 ), rễ câymọc rất khó, phần lớn chỉ ở trên mặt, sản lượng thu hoạch kém (Trần Kông Tấu,2005)

Áp suất tối đa có thể sinh ra ở rễ cho hầu hết các cây trồng khoảng 3MPa Điềunày muốn nói rằng, rễ thì không thể tăng dài được ở đất có sức bền cơ học lớn hơn3MPa, trừ khi đất có chứa tế khổng có đường kính lớn hơn đường kính của rễ (TrầnKim Tính, 2003)

Việc canh tác làm phá huỷ cấu trúc đất sẽ làm giảm lượng tế khổng lớn trong đất

và tăng các tế khổng nhỏ ở bề mặt của tầng canh tác ảnh hưởng đến tính thấm của đất(S.S Prihar et al, 1985)

Ở đất sét sức bền cơ học tuỳ vào ẩm độ đất vì các loại đất này cứng khi khô vàdẻo khi ướt Đối với các đồng ruộng lúa sét nặng, rễ đậu nành không thể xuyên quatầng đế cày có sét chặt do việc trục đất ở vụ trước (Trần Kim Tính, 2003)

Sự kết cứng của đất tác động trực tiếp đến sự nẩy mầm của hạt giống, sự tăngtrưởng của cây trồng, khả năng thoáng khí và thoát nước của đất Tuy nhiên, ở một sốloại đất ở Châu Âu điều này có thể được thay đổi bởi sự thêm vào một lượng cáchydroxide sắt, nhôm vào trong đất như là tác nhân liên kết (Lê Văn Khoa, 2003).Môi trường tốt nhất cho sự tăng trưởng của cây trồng là đất có 50% tế khổngchứa đầy không khí và 50% tế khổng chứa đầy nước (Trần Kim Tính, 2003)

Trang 21

do sự phá huỷ cấu trúc đất

Trang 22

Theo Trần Thị Ba và ctv (1999), pH thích hợp cho sự phát triển của rau màu từ5,5-7, ở pH này thì cây hấp thu dưỡng chất dễ dàng và các vi sinh vật đất cũng hoạtđộng tốt.

Khi pH thấp từ 4,5-5, muốn trồng rau thì phải bón thêm vôi Ở pH này sự khoánghóa N kém, P hữu dụng, Ca, Mg thấp, các vi sinh vật gây hại hoạt động tốt hơn Cácyếu tố này đưa đến khả năng chống chịu những điều kiện bất lợi của đất kém, cây yếu,

dễ bi sâu bệnh tấn công (Võ Thị Gương, 2004)

Tầng laterit và Các chất gắn kết khác

Nhiều chất kết gắn hữu cơ và các cation thích hợp

Nhiều cát

Các chất gắn kết hoá học Nhiều sét

Hình 9 Lớp vỏ đất cứng trong mối quan hệ với tính chất khác nhau của đất

Trang 23

Bảng 4: Thang đánh giá đ chua hi n t i cho đ t tr ng màuộ chua hiện tại cho đất trồng màu ện tại cho đất trồng màu ại cho đất trồng màu ất trồng màu ồng màu

<5,05,0 –7,5

> 7,5

Thấp (low)Tối hảo (option)Cao (high)(Washington State University – Tree Fruit Reasearch &

Extension Center, 2001)(tỷ lệ đất: nước=1:2,5)

Bảng 5: Thang đánh giá độ chua pH(KCl)

<3,03,0 – 4,54,6 – 5,55,6 – 6,4

>6,5

Rất chuaChua nhiềuChua vừaChua ítTrung tính(Ngô Ngọc Hưng-soil, water, and plant AnalysisLabotory, 2004) (tỉ lệ đất/KCl =1/2,5)

1.5.2 Chất hữu cơ

1.5.2.1 Khái niệm

Chất hữu cơ là một thành phần cơ bản kết hợp với sản phẩm phong hoá từ đá mẹ

để tạo thành đất Chất hữu cơ là một đặc trưng để phân biệt đất với đá mẹ và mộtnguồn nguyên liệu để tạo nên độ phì nhiêu đất (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999).Hợp chất hữu cơ được tạo thành từ sự phân huỷ các xác bã thực vật nhờ vào quátrình hoá học và sinh học (Bolt et al, 1978)

Chất hữu cơ góp phần cải thiện các tính chất lý, hoá và sinh học đất và cung cấpnhiều chất dinh dưỡng cho cây trồng (Prihar et al, 1985)

Ở vùng nhiệt đới thường có hàm lượng chất hữu cơ thấp do kết quả của quátrình phong hoá mạnh làm chúng bị phân giải nhanh (Nguyễn Xuân Cự, 2005)

Theo Đỗ Ánh (2002), ở đất rừng sau khi khai phá để trồng trọt thì chỉ số canh tác(biểu hiện bằng % mùn) ở đất trồng trọt chỉ bằng 18-20% đất rừng

Theo Trần Thành Lập (1999), đất Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thường

có hàm lượng chất hữu cơ vào độ trung bình Đất xám bạc màu có hàm lượng hữu cơrất thấp 0,3 -1,2% Đất giàu hữu cơ nhất ở ĐBSCL là đất than bùn, có hàm lượng hữu

cơ đến 25%, đất phèn cũng giàu chất hữu cơ ở tầng mặt

Trang 24

Đất có hàm lượng hữu cơ cao thường tạo ra những khối đất lớn hơn, mạnh hơn

và ổn định có khả năng chống lại sự nén dẽ

Chất hữu cơ có tác dụng kết dính các hạt đất lại với nhau tạo nên kết cấu đất tăngkhả năng giữ nước, giữ các chất dinh dưỡng của đất, điều hoà chế độ nhiệt, và khôngkhí của đất cho vi sinh vật phát triển và hoạt động hữu ích cho cây trồng (Mai VănQuyền và ctv, 2005)

Trong đất hàm lượng chất hữu cơ cao làm tăng ẩm độ đất, cải thiện cấu trúc đấttăng khả năng đệm của đất (Charles A Black, 1993)

Tốc độ phân hủy chất hữu cơ và khoáng hóa của các thành phần hữu cơ trong đất

có cấu trúc thô nhanh hơn đất có cấu trúc mịn (VanVeen và Kuikman, 1990) Chấthữu cơ trong đất có liên quan chặt với N tổng số trong đất (Stevenson, 1982) nhưngđạm hữu dụng lại tương quan không cao với chất hữu cơ hoặc đạm tổng số trong đất(Sim et al, 1967; Cassman, 1996)

1.5.2.2 Quá trình chuyển hoá chất hữu cơ trong đất

Sự biến đổi và chuyển hoá các xác hữu cơ trong đất là một quá trình sinh thái

phức tạp, được thực hiện với sự tham gia trực tiếp của vi sinh vật đất và của động vật,oxy không khí và nước

Như vậy, xác hữu cơ trong đất chịu sự tác động của hai quá trình song song tồntại, tuỳ thuộc điều kiện ngoại cảnh, hệ vi sinh vật và loại xác hữu cơ mà quá trình nàyhay quá trình kia chiếm ưu thế Hai quá trình đó là: quá trình khoáng hoá chất hữu cơ

và quá trình mùn hoá chất hữu cơ (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999)

1.5.2.3 Ảnh hưởng của chất mùn trên các tiến trình vật lý đất

Khoáng hoá nhanhXác hữu cơ

Các hợp chất khoángCác hợp chất mùn Khoáng hoá

từ từMùn hoá

Hình 10: Sự chuyển hoá chất hữu cơ trong đất

Trang 25

Cải thiện cấu trúc đất

- Ảnh hưởng trực tiếp do làm mất độ cứng của đất, chất mùn trong phân hữu cơ cótác dụng gắn kết các hạt keo nhỏ lại với nhau, tạo nên cấu trúc bền vững, làm cải thiện

độ xốp của đất, hạn chế sự rửa trôi, xói mòn đất, làm cho cây thu hút các ion dinhdưỡng dễ dàng hơn

- Ảnh hưởng gián tiếp do sự hoạt động của vi sinh vật, làm cho cấu trúc trở nên tốthơn (Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004)

- Khi đất có nhiều chất hữu cơ giúp đất có cấu trúc tốt nhờ khả năng kết nối cácphân tử cơ học với nhau tạo thành các đoàn lạp có độ bền cao hơn Đất có cấu trúc làmcho đất thoáng khí và điều hòa nhiệt độ đất giúp rễ cây trồng phát triển và trao đổi khíđược tốt hơn (Hamblin, 1985)

Đối với loại đất khoáng tầng mặt thoát nước tốt thì hợp chất hữu cơ biến động từ1-6% (Brady et al, 1996)

Ngoài ra, hàm lượng chất hữu cơ đất và độ bền cấu trúc liên quan chặt chẽ vớinhau Sự suy giảm chất hữu cơ trong đất đưa đến sự giảm độ xốp và tăng dung trọngđất (Tisdall Oades, 1982)

Ở đất không cacbonat chứa hàm lượng mùn thấp hơn 3,4 % thì cấu trúc đất bị suygiảm nhiều hơn so với đất có chứa 4,3 % mùn có cấu trúc bền Hơn nữa, chất mùn cóvai trò quan trọng trong sự hình thành cấu trúc và duy trì độ bền cấu trúc đất Chấtmùn kết gắn các phân tử cơ học với nhau tạo thành các đoàn lạp có độ bền với xóimòn và các ngoại lực khác tác động vào đất (Lê Văn Khoa và ctv, 2003)

Tùy thuộc vào loài thực vật và tỷ lệ C/N của chúng sẽ liên quan đến tốc độ phânhủy của vi sinh vật Cây họ đậu có hiệu quả tốt trong việc làm ổn định cấu trúc đất(Cochrance and Aylmore, 1994)

Gia tăng khả năng giữ nước của đất

- Ảnh hưởng trực tiếp bởi sự liên kết nước với chất hữu cơ

- Ảnh hưởng gián tiếp bởi sự cải thiện cấu trúc đất

Cải thiện độ thoáng khí của đất

- Cung cấp oxy cho rễ

- Tạo ra con đường thoát CO2 từ không gian rễ

Làm gia tăng nhiệt độ đất:

- Ảnh hưởng trực tiếp do mùn có màu sẫm, làm tăng sự hấp thu nhiệt của đất

Ngày đăng: 20/03/2013, 15:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Lượng các nguyên tố dinh dưỡng chính và lượng cần bón cho một tấn sản phẩm (kg/ha) (theo Mai Thị Phương Anh, 1996). - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 1. Lượng các nguyên tố dinh dưỡng chính và lượng cần bón cho một tấn sản phẩm (kg/ha) (theo Mai Thị Phương Anh, 1996) (Trang 9)
Hình 1. Tam giác sa cấu theo USDA/ Soil Taxonomy (Mỹ) - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 1. Tam giác sa cấu theo USDA/ Soil Taxonomy (Mỹ) (Trang 13)
Bảng 2. Phân loại đất theo thành phần cơ giới của Liên Xô (cũ) (Theo N.A.Kasinsky) - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 2. Phân loại đất theo thành phần cơ giới của Liên Xô (cũ) (Theo N.A.Kasinsky) (Trang 13)
Hình 2. Sự sắp xếp các hạt cát - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 2. Sự sắp xếp các hạt cát (Trang 14)
Hình 4. Sự sắp xếp các hạt thịt - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 4. Sự sắp xếp các hạt thịt (Trang 16)
Hình 9. Lớp vỏ đất cứng trong mối quan hệ với tính chất khác nhau của đất - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 9. Lớp vỏ đất cứng trong mối quan hệ với tính chất khác nhau của đất (Trang 22)
Bảng 4: Thang đánh giá độ chua hiện tại cho đất trồng màu - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 4 Thang đánh giá độ chua hiện tại cho đất trồng màu (Trang 23)
Hình 10: Sự chuyển hoá chất hữu cơ trong đất - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 10 Sự chuyển hoá chất hữu cơ trong đất (Trang 24)
Bảng 6. Thang đánh giá chất hữu cơ của Lê Văn Căn (27/5/1998) Hàm lượng chất hữu cơ (%) Đánh giá - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 6. Thang đánh giá chất hữu cơ của Lê Văn Căn (27/5/1998) Hàm lượng chất hữu cơ (%) Đánh giá (Trang 26)
Hình 12. Các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 12. Các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (Trang 27)
Hình 11.Vị trí Đồng bằng sông Cửu Long - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 11. Vị trí Đồng bằng sông Cửu Long (Trang 27)
Hình 13: Hệ thống ống hút Rhobinson - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 13 Hệ thống ống hút Rhobinson (Trang 32)
Hình 14. Máy đo pH - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 14. Máy đo pH (Trang 33)
Bảng 7. Thành phần cơ giới của các vùng đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu  Long - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 7. Thành phần cơ giới của các vùng đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long (Trang 40)
Hình 18. Đồ thị biểu diễn sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và % Sét - Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 18. Đồ thị biểu diễn sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và % Sét (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w