Việc phân loại đất theo thành phần cơ giới có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là việc ứng dụng trong sản xuất. Nông dân khi canh tác trên đất đai đã biết phân ra: đất cát, đất cát pha, đất thịt, đất sét… vì mỗi loại như vậy lại thích hợp cho mỗi loại cây trồng nhất định (Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng, 1999)
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2
2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2
3 ĐỊA CHẤT ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 4
4 SA CẤU ĐẤT (THÀNH PHẦN CƠ GIỚI ĐẤT) 6
Chương 2 PHƯƠNG TIỆN – PHƯƠNG PHÁP 21
1 PHƯƠNG TIỆN 21
2 PHƯƠNG PHÁP 21
Chương 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 24
1 BẢN ĐỒ CÁC ĐIỂM LẤY MẪU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 24
2 PHÂN NHÓM DỮ LIỆU THEO CÁC VÙNG SINH THÁI 25
3 ĐẶC TÍNH VÀ PHÂN BỐ SA CẤU TRONG ĐẤT CỦA CÁC VÙNG SINH THÁI Ở TẦNG MẶT 28
4 TƯƠNG QUAN GIỮA HÀM LƯỢNG SÉT, C, pH VÀ CEC 31
5 SỰ PHÂN BỐ CỦA THÀNH PHẦN CƠ GIỚI TRONG CÁC TẦNG ĐẤT 35
Chương 4 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 38
1 KẾT LUẬN 38
2 ĐỀ NGHỊ 38
Trang 2DANH SÁCH BẢNG
1 Bảng phân chia cấp hạt của quốc tế, Mỹ và Liên Xô (cũ) 8
2 Tính chất vật lý của cấp hạt (Tkatsech và U.I.Kochere) 9
3 Phân loại đất theo thành phần cơ giới (phương pháp quốc tế, 1963) 10
4 Phân loại theo thành phần cơ giới ở Mỹ 11
5 Phân loại đất theo thành phần cơ giới -phương pháp Katrinski 14
6 Phân loại thành phần cơ giới đất được cải biên theo Trần Kông Tấu 15
7 Hàm lượng cát, thịt, sét của các vùng sinh thái ở tầng mặt 27
8 Tương quan giữa sét và CEC của các vùng sinh thái bao gồm các
9 Tương quan giữa sét và CEC của các vùng sinh thái ở tầng mặt 32
10 Hệ số tương quan bội giữa hàm lượng sét, C, pH và CEC bao gồm
11 Hệ số tương quan bội giữa hàm lượng sét, C, pH và CEC ở tầng mặt 35
Trang 3DANH SÁCH HÌNH
1 Thành phần cơ giới đất phân loại theo hình tam giác đều (USDA) 12
2 Bản đồ các điểm lấy mẫu ở Đồng bằng sông Cửu Long 24
3 Bản đồ các vùng sinh thái ở Đồng bằng sông Cửu Long 25
4 Bản đồ loại đất của Đồng bằng sông Cửu Long 26
5 Biểu đồ hàm lượng trung bình cát, thịt, sét của các vùng sinh thái 29
6 Sơ đồ biểu diễn mối tương quan giữa hàm lượng sét, C, pH và CEC 33
TÓM LƯỢC
Trang 4Sa cấu đất được xem là một đặc tính quan trọng của đất Sa cấu ảnh hưởngmạnh mẽ đến hầu hết các đặc tính vật lý đất và được xem như là nền tảng của các hệthống phân loại đất Sa cấu đất xác định: khả năng giữ và thoát nước trong đất, mức độthoáng khí, ảnh hưởng độ phì nhiêu đất đai Nhiều tính chất hóa học quan trọng củađất như: cấu trúc, tính thấm nước, khả năng giữ khí và nhiệt, khả năng hấp phụ và traođổi ion, dự trữ chất dinh dưỡng đều phụ thuộc vào thành phần cơ giới Nhiều loại câytrồng thích ứng với khoảng nhất định của thành phần cơ giới và có chất lượng sản
phẩm cũng phụ thuộc vào nó Đề tài: “Đặc tính và phân bố của sa cấu trong đất Đồng bằng sông Cửu Long” nhằm xác định đặc tính sa cấu của các vùng sinh thái, sự phân
bố của cấp hạt trong các tầng đất và tìm mối tương quan giữa sa cấu và các đặc tính lýhóa đất
Thu thập số liệu về sa cấu đất và các đặc tính hóa-lý khác có liên quan từ phòngPhân tích hóa-lý đất thuộc Bộ môn Khoa học đất và Quản lý đất đai, sau đó phânnhóm dữ liệu theo các vùng sinh thái (Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, phù sa(ven sông và xa sông), ven biển (phù sa ven biển và đất giồng), Bán đảo Cà Mau, vùngtrũng phèn và đồi núi) Sử dụng phần mềm Excel để thống kê và tìm mối tương quangiữa hàm lượng sét, C, pH và CEC
Kết quả thống kê cho thấy:
Hàm lượng sét tập trung cao nhất ở vùng phù sa xa sông (62.3%) Vùng trũngphèn, phù sa ven biển có hàm lượng sét cũng khá cao (trên 50%) Kế đến là vùng Tứgiác Long Xuyên (45.9%) và phù sa ven sông (44.4%) Đất ở Bán đảo Cà Mau vàvùng đồi núi hàm lượng cát rất cao và ít sét
Có mối tương quan đa biến giữa hàm lượng sét, C, pH và CEC với nhau Đất cóthành phần sét nhiều thì CEC cao Khi pH và chất hữu cơ tăng thì CEC cũng tăng.Nhưng không có mối tương quan đơn giữa các biến với nhau
Đất ở vùng phù sa xa sông và Tứ giác Long Xuyên có sự phân bố hàm lượng sétgiảm dần theo độ sâu Tuy nhiên hàm lượng sét trong đất của các vùng khác hầu nhưkhông có sự chênh lệch nhiều ở các tầng theo độ sâu
Đề nghị nghiên cứu xử lý bằng thống kê địa lý để phân các vùng với hàm lượngsét khác nhau cho vùng đồng bằng sông Cửu Long Cần nghiên cứu về thành phầnkhoáng sét cho mỗi vùng để phát hiện những quy luật về tính chất của đất
Trang 5MỞ ĐẦU
Đất đồng bằng sông Cửu Long phân bố thành từng những vùng lớn, tương đốiđồng nhất về tính chất và hình thái phẫu diện như: (1) Vùng phèn giàu hữu cơ Đồngtháp Mười, (2) Vùng phèn Tứ giác Long Xuyên –Hà Tiên, (3) Vùng phèn mặn BạcLiêu Minh Hải,…
Nguyên nhân của tính đồng nhất này là do các yếu tố hình thành đất như địahình, địa chất, khí hậu, chế độ nước tương đối giống nhau trên những vùng lãnh thổrộng lớn Mặt khác, đất Đồng bằng sông Cửu Long cũng phân bố có quy luật và phânđịnh vùng địa lý rõ rệt: (1) Vùng đất mặn ở sát ven biển, (2) Vùng phèn mặn ở phíatrong đất mặn, (3) Vùng phèn ở sâu nội địa, đất phù sa thường phân bố ven các sônglớn, (4) Phù sa có tầng tích tụ khá thuần thục thì tập trung ở vùng có địa hình trungbình-cao, (5) Đất phù sa gley thì ở địa hình thấp (Ngô Ngọc Hưng, 2006)
Dù thế nào đi chăng nữa, mỗi loại, mỗi nhóm, mỗi vùng đất đều có những đặcđiểm, tính chất riêng, có những mặt thuận lợi và khó khăn riêng Do đó, chúng ta cầnnắm rõ những thông tin về mảnh đất của chính mình, để có thể phát huy tiềm năngcũng như sử dụng và cải tạo đất một cách hợp lý (Trần Kim Tính, 2003)
Việc phân loại đất theo thành phần cơ giới có ý nghĩa rất quan trọng, nhất làviệc ứng dụng trong sản xuất Nông dân khi canh tác trên đất đai đã biết phân ra: đấtcát, đất cát pha, đất thịt, đất sét… vì mỗi loại như vậy lại thích hợp cho mỗi loại câytrồng nhất định (Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng, 1999)
Vì vậy đề tài: “Đặc tính và phân bố của sa cấu trong đất Đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện để:
Tìm hiểu đặc tính sa cấu trong đất của các vùng sinh thái ở Đồng bằngsông Cửu Long
Xác định sự phân bố của cấp hạt trong các tầng đất
Nghiên cứu ảnh hưởng của sa cấu đất lên các đặc tính lý hóa đất và tìm ramối tương quan giữa hàm lượng sét, C, pH và CEC
Trang 6
Chương 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Đồng bằng sông Cửu Long (còn gọi là Vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc miềnTây Nam Bộ) là phần cuối cùng của lưu vực sông Mêkông với tổng diện tích tự nhiên
là 3,96 triệu ha, bao gồm 12 tỉnh và một thành phố: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp,Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, BạcLiêu, Cà Mau và Thành phố Cần Thơ
Đồng bằng sông Cửu Long trải dài từ 8030’ đến 110 vĩ Bắc, từ 104030’ đến 1070kinh Đông, chiếm toàn bộ phía Nam lãnh thổ của cả nước, thuộc hạ lưu sông Mêkôngvới ba mặt giáp biển (Nguyễn Mỹ Hoa, 2003) Phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phíaĐông và Nam giáp biển Đông, phía Đông giáp miền Đông Nam Bộ (thành phố Hồ ChíMinh), phía Tây Bắc giáp với Campuchia (Trần Bá Linh, 2004)
2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam với diện tích khoảng 4 triệu hađược hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổimực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo
bờ biển Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù
sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèntrên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên –
Hà Tiên, Tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau
Cách đây khoảng 8.000 năm, vùng ven biển cũ trải rộng dọc theo triền phù sa
cổ thuộc trầm tích Pleistocen từ Hà Tiên đến thềm bình nguyên Đông Nam Bộ Sự hạthấp của mực nước biển một cách đồng thời với việc lộ ra từng phần vùng đồng bằngvào giai đoạn cuối của thời kỳ trầm tích Pleistocen Một mẫu than ở tầng mặt đất nàyđược xác định bằng C14 cho thấy nó có tuổi tuyệt đối là 8.000 năm Sau thời kỳ băng
hà cuối cùng, mực mước biển dâng cao tương đối nhanh chóng vào khoảng 3–4 mtrong suốt giai đoạn khoảng 1.000 năm, gây ra sự lắng tụ của các vật liệu trầm tíchbiển ở những chỗ trũng thấp của châu thổ; tại đây những sinh vật biển như hàu
(Ostrea) được tìm thấy và việc xác định tuổi tuyệt đối của chúng bằng C14 cho thấytrầm tích này được hình thành cách đây khoảng 5.680 năm
Dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và nước lợ, thực vật rừng ngậpmặn dày đặc đã bao phủ toàn vùng này, chủ yếu là những cây đước và mắm Những
Trang 7thực vật chịu mặn này đã tạo thuận lợi cho việc giữ lại các vật liệu lắng tụ, làm giảm
sự xói mòn do nước hoặc gió, và cung cấp sinh khối cho trầm tích châu thổ, và rồinhững đầm lầy biển được hình thành Tại vùng này, cách đây 5.500 năm trước côngnguyên, trầm tích lắng tụ theo chiều dọc dưới điều kiện mực nước biển dâng cao đãhình thành những cánh đồng rộng lớn mang vật liệu sét Sự lắng tụ kéo dài của các vậtliệu trầm tích bên dưới những cánh rừng Đước dày đặc đã tích lũy dần để hình thànhmột địa tầng chứa nhiều vật liệu sinh phèn (pyrit)
Mực nước biển dâng cao, bao phủ cả vùng như thế hầu như hơi không ổn định
và bắt đầu có sự giảm xuống cách đây vào khoảng 5.000 Sự hạ thấp mực nước biểndẫn đến việc hình thành một mực nước biển mới, sau mỗi giai đoạn như thế thì có một
bờ biển mới được hình thành, và cuối cùng hình thành nên những vạt cồn cát chạysong song với bờ biển hiện tại mà người ta thấy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.Một cồn cát chia cắt vùng Đồng Tháp Mười và vùng trầm tích phù sa được xác địnhbằng C14 cho thấy có tuổi tuyệt đối vào khoảng 4.500 năm
Sự hạ dần của mực nước kèm theo những thay đổi về môi trường trong vùngđầm lầy biển, mà ở đây những thực vật chịu mặn mọc dầy đặc được thay thế bởinhững loài thực vật khác của môi trường nước ngọt như tràm và những loài thực vậthoang dại khác Sự ổn định của mực nước biển dẫn đến một sự bồi lắng trầm tích venbiển khá nhanh với vật liệu sinh phèn thấp hơn
Sự tham gia của sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong suốt quá trìnhhình thành vùng châu thổ Lượng nước trung bình hàng năm của sông này cung cấpvào khoảng 4.000 tỷ m³ nước và vào khoảng 100 triệu tấn vật liệu phù sa, những mảnh
vỡ bị bào mòn từ lưu vực sông, mặc dù một phần có thể dừng lại tạm thời dọc theohướng chảy, cuối cùng được mang đến cửa sông và được lắng tụ như một châu thổ.Những vật liệu sông được lắng tụ dọc theo sông để hình thành những đê tự nhiên cóchiều cao 3–4 m, và một phần của những vật liệu phù sa phủ lên trên những trầm tíchpyrit thời kỳ Holocen với sự biến thiên khá rộng về độ dầy tầng đất vùng và khônggian vùng Các con sông nằm được chia cắt với trầm tích đê phù sa nhưng những vùngrộng lớn mang vật liệu trầm tích biển chứa phèn tiềm tàng vẫn còn lộ ra trong vùngđầm lầy biển Tuy nhiên, độ chua tiềm tàng không xuất hiện trong vùng phụ cận củanhững nhánh sông gần cửa sông mà tại đây ảnh hưởng rửa bởi thủy triều khá mạnh.Ngược lại, vùng châu thổ sông Sài Gòn, nằm kế bên hạ lưu châu thổ sông Mêkông,
Trang 8được biểu thị bởi một tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm do lượng vật liệu phù dutrong nước sông khá thấp và châu thổ này bị chia cắt bởi nhiều nhánh sông thủy triều
và do bởi những vành đai thực vật chịu mặn thì rộng lớn hơn vành đai này ở vùng châuthổ sông Mekong, và kết quả là trầm tích của chúng chứa nhiều axít tiềm tàng
3 ĐỊA CHẤT ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
3.1 Cơ sở địa chất
Cột địa tằng tổng hợp là kết quả nghiên cứu không chỉ bởi các nhà địa chất(Saurin 1967, Fontaine 1973-1978, Trần Kim Thạch 1964-1998) mà còn bởi các nhàđịa chất dầu khí (dầu khí Việt Nam, 1976-1983) Cấu tạo Tiền Cambri chưa được biết
rõ Nằm nghịch tằng lên trên đó là một thềm lục địa trước cung và một tích chất tamgiác châu tuổi Permi muộn (đá vôi) và cấu tạo tuổi Trias gồm tập hợp đá vôi, đá vôisét và đá sét chứa than
Chuyển động tạo núi từ thời Lias muộn, với một vùng chúi năng động từ mảngTiền Ấn Độ Dương và Tiền Thái Bình Dương nằm dưới vỏ lục địa Sinia (Hall, 1997,Katili, 1978): đứt gãy, biến chất (đồi Nam Qui), xâm nhập (Bảy Núi), phun tràomagma trải rộng trên 4000 km2 (bao gồm những đảo nằm ngoài khơi đồng bằng hiệntại) Việc này làm đổi thành tạo biển trước cung thành ra là một vùng cung sau trên bờlục địa của một cung đảo, theo đó, khuynh hướng lục địa ngày càng trở nên rõ rànghơn với ít nhất là một bằng chứng: sự hiện diện của mạch đá carbonatit ở Hà Tiên (Núi
Xà Ngách) cắt ngang qua đá vôi và đá vôi sét tuổi giữa Permi và Trias (Nguyễn ThịNgọc Lan, 2000)
Trong suốt thời kỳ Pliocene và Pleistocene (tức là thời kỳ Neogene), lục địamới này hứng chịu sự xâm thực và bồi tích mạnh mẽ Một tam giác châu cổ được tạo
ra trong thời Pleistocene (phù sa cổ) xếp lớp rõ ràng và rất dày (1000m, theo tài liệuthăm dò dầu khí) và một tam giác châu hiện tại tuổi Holocene (6000 năm) chỉ dày từ
20 đến 100 m theo lỗ khoan tìm kiếm nước ngầm
3.2 Trầm tích tam giác châu hiện tại (Holocene)
Chất trầm tích cổ nhất ở dạng bở rời của loạt này là yếm phù sa Tích chất nàythường nằm dưới chân các ngọn đồi Tuổi của nó được tính từ Pliocene muộn đếnPleistocene sớm Sau giai đoạn này, nó xen kẹp với phù sa cổ cho đến ngày nay
Chất trầm tích hiện tại hầu như bắt đầu cách đây 6000 năm theo vết tích củanhững vỏ hàu Crossostrea belcheri tìm thấy dưới dạng những ám tiêu tích tụ ở Ba Thê
Trang 9(tỉnh An Giang) Loạt tích chất này bắt đầu với một tích chất thung lũng phù sa gồmsỏi sạn và cát thô hạt trong vùng Tân Châu- Hồng Ngự (về phía Bắc), nối tiếp đến phíaNam Campuchia (lên đến Pnom Penh) Sự kiện này tương đương với sông Hồng (phíaBắc Việt Nam) khi sông này chảy dài từ Hải Phòng về Việt Trì Các vật liệu trầm tíchthô hạt hơn bồi đắp ngày càng cao hơn ở hai bên bờ sông trong đơn vị trầm tích đê tựnhiên, để lại đằng sau nó những bưng trũng sâu bị ngập nước thường xuyên hàng năm.
Các vật liệu trầm tích hạt trung và mịn tạo ra tam giác châu trên và dưới, trướckhi sông chảy ra biển Đông Nơi đây sông tích tụ một trán tam giác châu bùn và sétbùn màu đỏ Tam giác châu trên còn giữ được những đê tự nhiên rộng lớn bằng cátpha bùn và những bưng sau đê cạn, nhưng tam giác châu dưới lại trở nên phức tạp Đê
tự nhiên ở đây toàn là cát mịn và bùn pha cát, và một bưng sau đê rộng, nông chứa đầythan bùn; trong khi đó nó còn có những giồng cát hình uốn cong, khá lớn, nhờ vậy, ta
có thể tái tạo lại sự tăng trưởng ngang của các giồng này Các giồng cát này cũng chịuảnh hưởng của hoạt động kiến tạo làm ra các dạng giồng thắt bím rất đặc biệt như ởBạc Liêu, Trà Vinh, Bến Tre, hoặc sự hiện diện của những đoạn sông bỏ (An Giang,
Cà Mau, Vĩnh Long…) đây cũng là bằng chứng của việc định dạng tăng trưởng trầmtích bởi các đứt gãy động
Ngoài dạng tam giác châu này, hai mảng đồng lụt, một nằm về hướng đông vàmột về hướng tây Về phía Đông, đồng lụt có tên là Đồng Tháp Mười, nơi mà đất bịngập liền trong 2-3 tháng do sự tiếp giáp của hai dòng biển cổ lớn ở Tân Hiệp và NhịQuí (thuộc tỉnh Long An và Tiền Giang) Về mặt trầm tích học chúng tôi gọi đây làđồng lụt kín Đặc trưng quan trọng nhất là: chất trầm tích chua phèn, chứa than bùn vàsét của những đầm lầy nội địa Chất trầm tích ngày nay dày khoảng 50-100 cm, đủ đểphủ lấp ảnh hưởng của lớp đất chua phèn bên dưới, và lý tưởng để biến những đồnglau sậy ngày trước thành những đồng lúa
Đồng lụt bờ phía tây ít ra cũng chiếm một diện tích bằng với Đồng Tháp Mười,nhưng nó không bị hạn chế bởi vùng đất cao nào ngoại trừ rất ít khu vực đồi núi granit
và đá vôi Chúng tôi gọi là đồng lụt hở, cũng có đặc tính tương tự: sét, than bùn, đầmlầy…Trong tỷ lệ vĩ mô, đồng lụt hở này có thể chia làm hai phần, một đồng lụt nửa hởvới những đường thoát nước chảy về Vịnh Thái Lan, với một đồng lụt nửa kín với hệthống sông chảy ra biển Đông, nơi đây những giồng cát giữ vai trò đập chắn
Trang 10Đập chắn chính hiện nay lớn hơn nhiều, là do các nhà trầm tích học không để ý
gì đến ảnh hưởng của đứt gãy hoạt động Đồng bằng này lẽ ra đã không có hình dạngngày nay nếu như vào thời Holocen đồng bằng sông Cửu Long thật bình ổn Ngượclại, vì cơ chế xáo trộn kiến tạo mạnh mẽ gây ra do sự đại dương hóa của Biển NamTrung Hoa bên cạnh, đồng bằng vẫn không ngừng nghỉ Kết quả là toàn bộ bán đảo CàMau bị nâng lên (nhiều ám tiêu san hô được tìm thấy trên bán đảo Cổ Tron, xa ngoàikhơi Cà Mau), làm cho sự tăng trưởng ngang càng nhanh hơn, tạo ra một cánh trầmtích bên cạnh tam giác châu hạ (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2000)
4 SA CẤU ĐẤT (THÀNH PHẦN CƠ GIỚI ĐẤT)
Dưới tác động của điều kiện ngoại cảnh, đá và khoáng bị phong hóa tạo ra cáchạt có đường kính to nhỏ khác nhau Những hạt vụn đó là phần tử cơ giới đất
Trong quá trình hình thành đất, ngoài các phần tử cơ giới có thành phầnkhoáng, xuất hiện thêm các phần tử cơ giới có thành phần hữu cơ và hữu cơ- vô cơ.Tuy nhiên do thành phần đất được hình thành chủ yếu là đá và khoáng nên tỷ lệ cácphần tử cơ giới hữu cơ và hữu cơ-vô cơ thường rất thấp
Tỷ lệ các cấp hạt giữa các phần tử cơ giới có kích thước khác nhau trong đấtđược biểu thị theo phần trăm trọng lượng, được gọi là thành phần cơ giới đất
Trong đất các phần tử cơ giới thường liên kết với nhau thành những hạt lớnhơn Vì vậy khi phân tích thành phần cơ giới đất khâu đầu tiên là phải dùng các biệnpháp cơ, lý, hóa học để làm tơi rời các hạt thành các hạt đơn (Nguyễn Thế Đặng,Nguyễn Thế Hùng, 1999)
Sa cấu đất có liên quan đến kích thước của các phần tử hạt trong đất và nó biểuthị thành phần tương đối của các cấp hạt trong một loại đất Vì kích thước của các hạtđất luôn cố định, do đó nó được xem là một đặc tính cơ bản của đất
Qui trình phân tích các cấp hạt trong đất được gọi là “phân tích thành phần cơgiới”, là sự xác định phân bố cấp hạt trong đất
Sa cấu đất có ý nghĩa quan trọng liên quan đến nguồn gốc phát sinh và tính chấtphì nhiêu của đất Đất có nhiều sét thì giữ được nhiều chất dinh dưỡng Các tính chấtnhư: độ xốp, khả năng giữ ẩm, tính thấm, khả năng giữ khí và nhiệt cũng đều phụthuộc vào sa cấu đất
Sa cấu đất được định nghĩa bằng phần trăm cát (sand), thịt (silt), và sét (clay)được phân chia ranh giới trên tam giác sa cấu (Ngô Ngọc Hưng, 2006)
Trang 11Theo Lê Văn Khoa, 2000, thành phần cơ giới (cấp hạt) của đất là tỷ lệ phầntrăm những nguyên tố cơ học có kích thước khác nhau chứa trong đất ở tỷ lệ này hoặckhác.
Nhiều tính chất lý hóa học quan trọng của đất như cấu trúc, tính thấm nước, khảnăng giữ nước, khả năng dâng nước, khả năng hấp phụ trao đổi ion, và dự trữ chấtdinh dưỡng phụ thuộc vào thành phần cơ giới
Nhiều loại cây trồng thích ứng với khoảng nhất định của thành phần cơ giới và
có chất lượng sản phẩm cũng phụ thuộc vào nó
Ví dụ: Mốc giới hạn khoảng từ 1 đến 2 mm đánh dấu sự xuất hiện tính mao dẫnhay mốc 0,01 đến 0,02 mm là mốc mà ở đó các cấp hạt bắt đầu xuất hiện tính dính,dẻo, khó thấm nước của hạt sét…
Việc phân chia cấp hạt theo thành phần cơ giới hiện nay vẫn đang tồn tại 3 bảngphân cấp chủ yếu là Liên Xô (cũ), Mỹ và bảng quốc tế
Trang 12Bảng 1 Bảng phân chia cấp hạt của quốc tế, Mỹ và Liên Xô (cũ)
Thịt
(bụi)
0,02-0,002 0,05-0,005 0,05-0,01 thô
0,01-0,005 trung bình0,005-0,001 mịnSét 0,002-0,0002 <0,005 0,001-0,0005 thô
kỹ thêm Việc phân chia các cấp hạt khác nhau mang đặc tính khác nhau được trìnhbày trong bảng 2
Bảng 2 Tính chất vật lý của cấp hạt (Tkatsech và U.I.Kochere)
Kích thước hạt
(mm)
Tính maodẫn (cm)
Tốc độthấmnước(cm/s)
Tínhtrương(%V)
Tínhdẻo(%V)
Lượng hút
ẩm lớn nhất(%)
Sức dínhcực đại(kg/cm)
Trang 13Về tính chất vật lý nước và cơ lý đất cho thấy khi kích thước hạt giảm đã làmgiảm tốc độ thấm nước, tăng tính mao dẫn, tăng tính trương, co, tăng lượng hút ẩm lớnnhất và tăng sức dính cực đại.
Đáng lưu ý là 2 mốc quan trọng nhất về thay đổi đặc tính vật lý nước và cơ lýđất đột ngột do thay đổi kích thước:
+ Mốc 1 là khoảng 0,01 mm: Tính trương tăng đột ngột, xuất hiện sức hút ẩmlớn nhất và sức dính cực đại… vì vậy người ta đã đưa ra mốc 0,01 mm để phân biệt 2trạng thái cát vật lý và sét vật lý
+ Mốc 2 là khoảng 1 mm: Tính thấm nước giảm và mao dẫn tăng rõ
Từ thành phần và tính chất hóa lý của các cấp hạt khác nhau thì khác nhau đãdẫn đến sự thay đổi quan trọng về tính chất trong đất khi có các tỷ lệ cấp hạt khác nhau(Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng, 1999)
4.2 Phân loại đất theo thành phần cơ giới
4.2.1 Phương pháp của Mỹ và các nước khác
Cơ sở của việc phân chia loại đất theo thành phần cơ giới (TPCG) dựa theo hàmlượng thành phần cấp hạt hoặc nhóm thành phần cấp hạt Có tác giả dựa vào 2 nhóm:Cát vật lý (cấp hạt >0,01mm) hoặc sét vật lý (cấp hạt <0,01mm) Phương pháp này doN.A.Katrinski đề xướng
Có ý kiến cho rằng dựa vào 2 nhóm không chính xác bằng khi dựa vào 3 nhóm:Sét, Limon và Cát Ở Mỹ và nhiều nước Phương Tây khác người ta thường dựa vào 3
Trang 14nhóm thành phần Vậy theo cách nào là chính xác, là hợp lý? Để trả lời câu hỏi nàyqua nhiều năm mài mò, nghiên cứu chúng tôi đã tìm ra lời giải, được trình bày trongphương pháp cải biên của Trần Kông Tấu.
Bảng 3 Phân loại đất theo thành phần cơ giới (phương pháp quốc tế, 1963)
Tên gọi đất theo TPCG Thành phần cấp hạt, %;
Kích thước cấp hạt,mmNhóm đất
theo TPCG
Phân cấp chi tiết Sét
<0,002
LimonO,02-0,002
Cát2-0,02
Đất thịt Thịt pha cát
Thịt trung bìnhThịt pha limon
0-150-150-15
0-4530-4545-85
55-8540-5515-55Thịt nặng Thịt nặng pha cát
Thịt nặngThịt nặng pha limon
15-2515-2515-25
0-3020-4545-85
55-8530-550-40Đất sét Sét pha cát
Sét pha thịtSét pha limonSét trung bìnhSét nặng
25-4525-4525-4545-6565-100
0-200-4545-750-550-55
55-8510-550-300-550-35
Bảng 4 Phân loại theo thành phần cơ giới ở Mỹ
<0,002mm
Limon0,05-0,002mm
Cát2-0,05mm
Đất thịt Thịt pha cát
ThịtThịt pha limon
0-200-200-20
0-5030-5050-100
50-8050-800-50Thịt nặng Thịt nặng pha cát
Thịt nặng
20-3020-30
0-3020-50
50-8020-50
Trang 15Thịt nặng pha limon 20-30 50-80 0-30Sét nặng Sét pha cát
Sét pha thịtSét pha limon
30-5030-5030-50
0-200-3050-70
30-500-500-20
Việc phân loại đất theo thành phần cơ giới dựa vào 3 nhóm cấp hạt (sét, limon,
và cát) mặc dù đã được trình bày ở bảng 3 và 4 nhưng trong thực tế ở Mỹ và các nướcPhương Tây thường sử dụng tam giác đều (hình 1) Nguyên lý của phương pháp nhưsau: 3 nhóm cấp hạt- sét, limon và cát được biểu thị ở 3 cạnh Đỉnh tam giác tươngứng là 100%
Hàm lượng của 3 nhóm cấp hạt vừa nêu được thể hiện ở 3 đường thẳng songsong với đáy tam giác Điểm giao nhau của 3 đường thẳng cắt nhau trong tam giácchính là vị trí cần tìm, theo vị trí này sẽ truy ra loại đất cần phân loại (Trần Kông Tấu,2005)
Trong hình tam giác chia thành 12 khu vực ứng với 12 loại đất: cát, cát pha thịt,thịt pha cát, thịt, thịt pha limon, limon, thịt pha sét, sét pha limon, sét pha cát, sét, thịtpha sét và pha cát, thịt pha sét và pha limon (Dương Minh Viễn, 2003)
Trang 16Hình 1 Thành phần cơ giới đất phân loại theo hình tam giác đều (USDA)
Mô tả một số tính chất của đất có thành phần cơ giới khác nhau:
1) Đất cát (sands): thô, hạt cát rời rạc, sờ cảm thấy có sạn, không nhớtnhầy Hạt cát có kích thước có thể thấy dễ dàng bằng mắt thường khi khô Khi ẩm kếtlại rất yếu, dễ dàng vỡ vụn ra khi sờ đến Thành phần cơ giới chứa 85-100% cát, 0-15% thịt, 0-10% sét
2) Đất cát pha thịt (loamy sands): chứa 70-90% cát, 0-30% thịt, 0-15% sét,đất có kết cấu cát bở rời và những hạt cát rời rạc Khi ẩm chúng kết dính hơn đất cát
3) Đất thịt pha cát (sandy loams): chứa ít cát, nhiều thịt và sét hơn một chút
so với đất cát pha thịt Nhiều hạt cát rời có thể thấy và cảm thấy khi sờ Tuy nhiên khi
ẩm chúng tạo thành khối không bị vỡ khi sờ
4) Đất thịt (loams): chứa lượng bằng nhau thành phần cát, thịt, sét Đất thịt
có cảm giác mềm mại hơn khi sờ và cũng dễ vỡ vụn Khi sờ cảm giác hơi có sạn, mịn
và hơi nhờn, dính khi ẩm Khi nắn thành khối thì không bị vỡ
5) Đất thịt pha cát và sét (sandy clay loam): giống như đất thịt pha cátnhưng nhiều sét hơn nên tính kết dính khi ướt chặt hơn Khi bóp thành khối thì chúnghoàn toàn chắc chắn, sờ mó mạnh mà không bị vỡ
6) Đất thịt pha sét (clay loam): chứa hàm lượng cát, sét, thịt đều nhau.Nhưng khi sờ có cảm giác là sét nhiều hơn cát và thịt Nhờn và dẻo khi ướt Chúnghình thành khối chắc chắn không vỡ khi ẩm và rắn khi khô
7) Limon (silt): chứa rất ít cát và sét Hạt cát nếu có thì cũng rất nhỏ, khôngcảm thấy khi sờ Hàm lượng sét cũng rất ít nên đất hầu như không nhờn dính khi sờđất ẩm Tuy nhiên cảm giác rất mịn khi sờ Đất dẻo, có thể tạo thành khối nhưng dễ vỡkhi nắn bóp
8) Đất thịt pha limon (silt loam): chứa một lượng nhỏ sét và cát, phần lớn làthịt Khi khô thường đóng cục, nhưng dễ vỡ khi bóp giữa hai ngón tay Khi sờ cảmthấy mịn, có thể nắn thành khối khi khô và ẩm, tương đối khó vỡ khi sờ nắn
Trang 179) Đất thịt pha limon sét (silty clay loam): giống như đất cát kết sét chặt vềtính kết dính nhưng chứa nhiều thịt và ít cát hơn nên cảm giác mịn hơn khi sờ Chúngdính và dẻo khi ướt, rắn chắc khi ẩm, cứng khi khô.
10) Đất sét pha limon (silty clay): rất mịn, không có cảm giác sạn, rất dính
và dẻo khi ướt, tạo thành những đoàn lạp rất rắn khi khô
11) Đất sét cát (sandy clay): hơi giống đất sét thịt về tính chất nhưng nhiềucát và ít thịt hơn
12) Sét (clay): cực kỳ dính và dẻo khi ướt, tạo thành những cục đất rất cứngkhi khô Khi bóp trong lòng bàn tay chúng chảy ra giữa các ngón tay Có thể vê đấtthành những sợi dài và nhỏ nhưng không bị gãy (Dương Minh Viễn, 2003)
4.2.2 Phương pháp Katrinski (Liên Xô cũ)
Theo Trần Kông Tấu, 2005, giáo sư N.A.Katrinski (Chủ nhiệm bộ môn Vật lýthổ nhưỡng trường Đại học Tổng hợp Lômônôxôv Matxcova- Liên Xô cũ) sử dụng cátvật lý (cấp hạt >0,01mm) hoặc sét vật lý (cấp hạt <0,01mm) làm cơ sở cho việc phânloại đất theo thành phần cơ giới Đất được chia thành 3 nhóm theo nguồn gốc phátsinh: Đất pôtzôn, đất mặn (hai loại đất có vấn đề điển hình) và tất cả những loại đấtcòn lại được gộp thành một nhóm lấy tên là nhóm đất dạng đồng cỏ, đất đỏ(Krasnôzem); đất vàng (Rôntôzem) Đất phù sa, đất xám ghép vào nhóm đất này Theohàm lượng phần trăm của các nhóm cấp hạt phân tích đem đối chiếu với bảng 5 sẽ biếtđược tên đất cần phân loại Phương pháp phân loại này đơn giản hơn, dễ nhớ hơn sovới phương pháp của Mỹ và các nước phương Tây
Bảng 5 Phân loại đất theo thành phần cơ giới -phương pháp Katrinski
Sét vật lý (<0,01mm) Cát vật lý (>0,01mm)
Gọi tên đấttheo thànhphần cơ giới
Đất
Pôtzôn
Đất dạng
đồng cỏ,đất đỏ(Krasnôzem);
đất vàng(Rôntôzem)
Đấtmặn
ĐấtPôtzôn
Đất dạngđồng cỏ,đất đỏ(Krasnôzem);
đất vàng(Rôntôzem)
Đấtmặn
0-5
5-10
10-20
0-55-1010-20
0-55-1010-15
100-9595-9090-80
100-9595-9090-80
100-9595-9090-80
Cát rời (C)Cát dính (Cd)Cát pha (Cf)
Trang 1815-2020-3030-4040-5050-65
>65
80-7070-6060-5050-3535-20
<20
80-7070-6060-5050-3535-20
<20
80-7070-6060-5050-3535-20
<20
Thịt nhẹThịt trung bìnhThịt nặngSét nhẹSét trung bìnhSét nặng
Một số tính chất của các cấp hạt theo Liên Xô:
Mỗi cấp hạt có ảnh hưởng khác nhau lên tính chất lý- hóa, vật lý, quá trình hìnhthành đất Nguyên nhân là do chúng có thành phần khoáng và hóa học khác nhau, tínhchất vật lý, lý-hóa khác nhau Dưới đây sẽ xem xét một số tính chất lý học của chúngnhư: trương nở, giữ nước, thẩm thấu, tính dẻo, tính dính, tính hấp phụ, tác động đếncây trồng
- Đá vụn >3mm: là điểm bất lợi của đất, cản trở việc làm đất, cây nảy mầm,phát triển Nếu hàm lượng nhỏ hơn 0,5% thì gọi là đất không có đá
- Sỏi (3-1mm): thẩm thấu quá lớn, không có khả năng dẫn nước theo mao dẫn,sức chứa ẩm thấp (<3%) không thuận lợi cho trồng trọt
-Cát (1-0,05mm) và bụi thô (0,05-0,01): thẩm thấu cao, không trương nở, khôngdẻo, có khả năng dẫn nước theo mao dẫn và có khả năng giữ ẩm nhưng không đáng kể.Nếu lượng hút ẩm lớn nhất hơn 10% thì có khả năng trồng trọt
-Bụi trung bình (0,01-0,005): có tính dẻo, dính, độ phân tán, có khả năng giữnước, tính thấm kém, hầu như chưa tham gia vào quá trình hấp phụ trao đổi
- Bụi mịn (0,005-0,001): tính phân tán cao, thành phần gồm có khoáng thứ sinh
và nguyên sinh, có tính hấp phụ trao đổi cao, có chứa nhiều chất mùn, có khả năng tạocấu trúc đất Nếu nằm ở dạng phân tán thì sẽ làm cho đất có tính thẩm thấu kém,trương nở cao, dẻo, kết cấu chặt
- Limon (<0,001): chủ yếu là các khoáng thứ sinh có tính phân tán cao, là thànhphần chính trong hấp phụ trao đổi, chứa nhiều mùn cát, các chất dinh dưỡng cho câytrồng, đóng vai trò quan trọng trong tạo kết cấu đất (Dương Minh Viễn, 2003)
4.2.3 Phương pháp cải biên của Trần Kông Tấu
Bảng 6 Phân loại thành phần cơ giới đất được cải biên theo Trần Kông Tấu
Hàm lượng sét vật lý
(cấp hạt <0,02mm)
Hàm lượng cát vật lý(cấp hạt >0,02mm)
Tên gọi đất theo thành phần
cơ giới
Trang 19Cát nhẹ (cát rời)Cát trung bìnhCát nặng (cát pha)Thịt nhẹ
Thịt trung bìnhThịt nặngSét nặngSét trung bình Sét nặng(Hội khoa học đất Việt Nam, 2000)
4.3 Nguyên tắc và kỹ thuật phân tích thành phần cơ giới đất
Các phương pháp phân tích thành phần cơ giới bao gồm:
4.3.1 Xác định thành phần cơ giới trên đồng ruộng (không có dụng cụ)
Phương pháp khô: Dùng 2 ngón tay bóp nát mẫu đất và xát vào lòng bàntay Nếu hầu hết lượng đất được dính vào lòng bàn tay chứng tỏ đất có thành phần cơgiới nặng Ngược lại, sau khi xát, đất không dính và rơi ra chứng tỏ đất có thành phần
cơ giới nhẹ vì chứa nhiều cát Tùy theo mức độ dính bám có thể xác định được mức độnặng nhẹ của thành phần cơ giới khi phân tích
Phương pháp ướt: Tẩm nước với đất đến trạng thái độ ẩm thích hợp,không ướt quá hoặc khô quá (tuyệt đối không được sử dụng nước bọt để làm tẩm ướt).Dùng 2 ngón tay vê đất thành sợi trên lòng bàn tay, đường kính của sợi khoảng 2-3cm;uốn thành vòng tròn cũng trên lòng bàn tay, đường kính vòng tròn khoảng 3cm Nếu
Trang 20sợi không thể hình thành khi uốn thì đó là cát; sợi tuy được hình thành nhưng thànhtừng mảnh rời rạc- đó là cát pha; sợi đứt thành từng đoạn khi vê tròn- là thịt nhẹ v.v…
4.3.2 Phương pháp rây
Chủ yếu là rây tách phần đá, dăm, cuội ra khỏi đất Đối với phần mịn tức là cấphạt <2mm (phương pháp của Mỹ) hoặc <1mm (phương pháp của Nga), dung dịchhuyền phù khi phân tích đem đổ vào ống trụ qua 2 rây có kích thước cát thô và cáttrung bình, gạn, rửa và sấy khô 2 cấp hạt này, tính hàm lượng % của chúng Tùy theo
sự sắp xếp của người phân tích, động tác này có thể thực hiện sau khi đã hút lấy 4thành phần cấp hạt cần lấy
Phương pháp rây cũng có thể áp dụng đối với đất cát, thành phần cấp hạt đượcphân chia như sau:
Dăm, cuội, sỏi (3-1mm),
4.3.3 Phân tích thành phần cơ giới trong môi trường nước
Theo Trần Kông Tấu, 2005, đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi nhất,dựa trên nguyên tắc tốc độ chìm lắng của các cấp hạt trong môi trường chất lỏng(nước) theo định luật Stockes Phương pháp phân tích trong môi trường nước chảyhiện nay không còn sử dụng vì phương pháp này có nhiều nhược điểm Phân tích trongmôi trường nước đứng yên tĩnh tuy tiến hành không giống nhau về kỹ thuật lấy mẫu,gạn, xác định mật độ các cấp hạt, nhưng thời gian cần thiết để hút lấy mẫu thì dựa vàođịnh luật Stockes
Tốc độ chìm lắng của các cấp hạt khác nhau trong chất lỏng nhanh hay chậm là
do kích thước các cấp hạt, do tỷ trọng thể rắn của chúng, do độ nhớt của chất lỏng, độnhớt này do nhiệt độ trong chất lỏng quyết định Phương trình Stockes thỏa mãn cácđiều kiện vừa nêu và có dạng:
d d gr
V 2 19
2Trong công thức này: V –tốc độ chìm lắng của các cấp hạt, cm/gy,
Trang 21o Đất cát nóng nhanh, lạnh nhanh nên bất lợi cho cây trồng và vi sinh vật.
o Đất cát chứa ít keo cho nên khả năng giữ nước, giữ phân kém Nếu bónnhiều thì cây trồng dễ bị lốp đỗ vì hút thức ăn quá liều lượng, hơn nữa phân bón còn bịnước rửa trôi đi mất Cho nên nguyên tắc bón phân cho đất cát là bón ít, bón nhiều lần,nếu bón phân hữu cơ thì cần vùi sâu để đỡ phân giải nhanh
o Đất cát thích hợp với nhiều loại cây có củ như khoai tây, khoai lang, lạc,cây đậu đỗ như đậu xanh, đậu đen; các loại dưa như dưa hấu, dưa bở; cây công nghiệpngắn ngày như thuốc lá
o Để cải tạo những đất quá cát cần tìm cách nâng cao lượng keo sét và keomùn lên Ta có thể tưới nước phù sa nhiều mùn, bón bùn ao, bón nhiều phân hữu cơ,nơi nào có tầng đất sét ở sâu thì cày lật lên trộn với tầng cát trên mặt
Mặt khác cần dựa vào đặc tính kể trên của đất cát để có những biện pháp kỹthuật thích hợp cho từng loại cây trồng
4.4.2 Đất sét
Trang 22 Đất sét mà không có kết cấu thì tính chất hoàn toàn ngược lại đất cát.
Đất sét do hạt nhỏ nên rất khó thấm nước, cây trồng dễ bị úng
Đất sét kém thoáng khí, hay bị gley Chất hữu cơ phân giải chậm nênđược tích lũy nhiều hơn đất cát Mặt khác mùn và sét thường kết hợp với nhau làmthành một phức chất bền vững hơn
Đất sét giữ nước nhiều, nhiệt độ thay đổi chậm so với nhiệt độ không khí
Đất sét mà nghèo chất hữu cơ thì có sức cản lớn, cứng chặt, nên làm đấtrất tốn công
Đất sét chứa nhiều keo nên dinh dưỡng hấp thu lớn, giữ nước, giữ phântốt Do ít bị rửa trôi nên đất sét nói chung giàu chất dinh dưỡng hơn đất cát Tuy nhiêncũng cần lưu ý là nhiều khi đất sét giữ quá chặt thức ăn nên cây trồng khó hút được
Đất quá sét không tốt cho cây trồng: ta bón nhiều phân hữu cơ và vôi, cácloại phân xanh, phân chuồng, rơm rạ, trấu… đều tốt cả
4.4.3 Đất thịt
Đất thịt mang tính chất trung gian giữa đất cát và đất sét Nếu là đất thịt nhẹ thìngả về phía đất cát, nếu là đất thịt nặng thì ngả về phía đất sét Nhìn chung nông dân tathường thích đất thịt nhẹ và đất thịt trung bình vì ở đấy chế dộ nước và khí được phốihợp điều hòa thuận lợi cho nhiều quá trình sinh vật và hóa học phát triển trong đất.Mặt khác, cày bừa, làm đất cũng nhẹ nhàng hơn đất sét, về mặt cây trồng có thể vừatrồng lúa, vừa trồng hoa màu cũng được (Ủy ban nông nghiệp Trung Ương Vụ TuyênGiáo, 1975)
4.5 Ảnh hưởng của thành phần cơ giới
Đóng góp và việc hình thành đất: chuyển hóa, di chuyển, tích tụ chất hữu cơ vàcác chất vô cơ khác Chính vì vậy trong cùng một điều kiện tự nhiên trên các mẫu chất
có thành phần cơ giới khác nhau hình thành nên các loại đất khác nhau
Ảnh hưởng lên chế độ nước, cơ học, không khí trong đất, điều kiện oxy hóakhử, dung lượng hấp phụ, các chất dinh dưỡng
Tùy thuộc vào thành phần cơ giới mà thay đổi cách làm đất, lượng phân bón,cách bón phân, cơ cấu cây trồng
Trang 23Thành phần cơ giới là một trong những tính chất quan trọng nhất của đất Nóảnh hưởng lên các tính chất khác của đất, có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề quản lý
và sử dụng đất
Nói chung đất cát có hàm lượng chất hữu cơ thấp và độ phì thấp Khả năng giữ
ẩm và dinh dưỡng cũng kém Dung lượng hấp phụ thấp và tính đệm kém Tốc độ thẩmthấu nhanh Đất cát thường bị khô hạn vào mùa khô, cần phải được tưới và chúngthường thích hợp cho các loại cây có bộ rễ phát triển sâu Trên đất cát khi bón phâncần chia làm nhiều lần, bón phân hữu cơ, cày sâu để đưa sét từ các tầng dưới lên
Khi hàm lượng sét hay thịt trong đất tăng lên thì tính chất của đất cũng được cảithiện Thông thường chúng trở nên phì nhiêu hơn, chứa nhiều chất hữu cơ hơn, khảnăng hấp phụ và tính đệm cũng tăng lên Chúng có thể giữ nước tốt hơn, khả năngthẩm thấu giảm
Khi thành phần cơ giới của đất quá nhiều sét thì đất gây trở ngại cho quản lý và
sử dụng Đất như thế sẽ quá dính khi ướt và quá cứng khi khô, thường co giảm mạnhkhi khô và ướt gây trở ngại trong làm đất, canh tác, đất dễ bị úng
Vấn đề đặt ra là đất có thành phần cơ giới như thế nào là tốt? Câu trả lời là tốtcho cái gì, cho mục đích gì Nhưng trong trồng trọt thì đất được coi là có thành phần
cơ giới thích hợp nhất là đất thịt và thịt pha cát Chúng thích hợp cho rất nhiều loại câytrồng, có thể cho năng suất cao và tiết kiệm được nhiều chi phí sản xuất (Dương MinhViễn, 2003)