1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre

79 886 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (Pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện Châu Thành, Giồng Trôm và Bình Đại
Tác giả Nguyễn Thị Thương
Người hướng dẫn PGS.TS. Đỗ Thị Hòa
Trường học Trường Đại học Nha Trang
Chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 41,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, một đề tài nghiên cứu về dịch tễ của bệnh mủ gan ở cá tra trong các ao nuôi thương phẩm là rất cần thiết đối với địa phương để có thể đưa ra các biện pháp quản lý bệnh và phòng b

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN THỊ THƯƠNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH MỦ GAN

Ở CÁ TRA (Pangasius hypophalmus Sauvage, 1878)

NUÔI THƯƠNG PHẨM TRONG AO ĐẤT TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, GIỒNG TRÔM VÀ BÌNH ĐẠI - TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nha Trang – năm 2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN THỊ THƯƠNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH MỦ GAN

Ở CÁ TRA ( Pangasius hypophalmus Sauvage, 1878)

NUÔI THƯƠNG PHẨM TRONG AO ĐẤT TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, GIỒNG TRÔM VÀ BÌNH ĐẠI - TỈNH BẾN TRE

Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ THỊ HÒA

Nha Trang – năm 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này là do chính bản thân tôi thực hiện dưới sự chỉ dẫn tận tình, chu đáo của Cô giáo hướng dẫn PGS -

TS Đỗ Thị Hoà

Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến:

- Cô giáo hướng dẫn Phó giáo sư - Tiến sĩ Đỗ Thị Hoà đã lo lắng, chỉ dẫn tận tình, chu đáo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

- Quý Thầy, Cô đã giảng dạy và cán bộ Khoa Nuôi trồng thủy sản, Phòng đào tạo Trường Đại học Nha Trang đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập

- Ban Giám đốc và các anh, chị, em đồng nghiệp tại Trung tâm giống thủy sản Bến Tre đã giúp đỡ và tạo điều kiện về thời gian để tôi tham gia học tập

và thực hiện luận văn

- Các bạn cùng lớp cao học ngành nuôi trồng thủy sản khoá 2006, các em đang công tác tại Chi cục Nuôi trồng thủy sản Bến Tre: Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Thị Hiếu, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Tạo, Quách Văn Chịa

và hai em sinh viên lớp bệnh học khoá 46 - Trường Đại học Nha Trang: Đồng Thanh Hà và Nguyễn Việt Vương đã chia sẽ và hỗ trợ tôi trong thời gian nghiên cứu

- Xin cảm ơn gia đình, Má, anh, chị, chồng và con tôi đã lo lắng, tạo điều kiện, luôn động viên kích lệ tinh thần cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Trang 5

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1: Trình bày số liệu trong nghiên cứu hồi cứu 19

Bảng 3.1: Diện tích nuôi và sản lượng Cá Tra ở Bến Tre 22

từ năm 2006 – 2008 Bảng 3.2: Trình độ văn hoá và chuyên môn của người nuôi cá tra 23

tại Bến Tre Bảng 3.3: Số năm kinh nghiệm nuôi cá tra 24 Bảng 3.4: Diện tích nuôi Cá Tra của các nông hộ ở ba huyện 24

Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm Bảng 3.5: Độ sâu của ao nuôi cá tra tại vùng điều tra 25 Bảng 3.6: Kỹ thuật tẩy dọn ao trước khi nuôi cá tra tại vùng điều tra 26 Bảng 3.7: Mật độ và cỡ giống cá Tra thả nuôi thương phẩm 27

ở ba huyện Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm Bảng 3.8: Nguồn và đánh giá chất lượng giống cá tra thả nuôi 28

ở ba huyện Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm

Bảng 3.9: Mùa vụ thả giống và số vụ nuôi trong năm 29

ở ba huyện Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm Bảng 3.10: Sử dụng thức ăn trong nuôi cá tra thương phẩm tại Bến Tre 30Bảng 3.11: Số lần thay nước và hút bùn đáy ao trong quá trình nuôi cá 31

Tra tại các hộ điều tra ở 3 huyện Châu Thành, Bình Đại và GT Bảng 3.12: Tần xuất gặp của bệnh mủ gan ở cá tra nuôi tại vùng điều tra 33

ở ba huyện Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm Bảng 3.13: Các dấu hiệu và trạng thái bất thường của cá tra 35

bị bệnh mủ gan Bảng 3.14: Kết quả kiểm tra nhanh các mẫu cá tra bị bệnh tại Bến Tre 37 Bảng 3.15: Tác hại của bệnh mủ gan và số lần phát bệnh 38

trong một vụ nuôi Bảng 3.16: Mùa vụ xuất hiện bệnh mủ gan tại các điểm điều tra 39 Bảng 3.17: Mật độ thả cá giống xuất hiện bệnh mủ gan 41 Bảng 3.18: Các nhóm kích cỡ thả cá giống xuất hiện bệnh mủ gan tại 42

các điểm điều tra ở 3 huyện Châu Thành, Bình Đại và GT Bảng 3.19: Tần số xuất hiện bệnh mủ gan ở các nhóm độ sâu tại các điểm 44

Trang 6

điều tra ở 3 huyện Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm Bảng 3.20: Số lần hút bùn ảnh hưởng đến bệnh mủ gan tại các điểm 45

điều tra ở 3 huyện Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm Bảng 3.21: Hiệu quả trị bệnh mủ gan bằng kháng sinh ở cá tra nuôi tại các 47

điểm điều tra ở 3 huyện Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm Bảng 3.22: Bảng phân tích tổng hợp ảnh hưởng của các yếu tố 49

kỹ thuật tới bệnh mủ gan ở cá tra Bảng 3.23: Kết quả phân tích các yếu tố nguy cơ 49

Trang 7

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH

Trang Hình 1.1: Cá Tra bị bệnh mủ gan: các đốm trắng trên gan, thận, lá lách; 11

Vi khuẩn E ictaluri dưới kính hiển vi quang học;

Vi khuẩn E ictaluri phát triển trên môi trường TSA sau 48 giờ Hình 1.2: Hafnia alvei - trực khuẩn G (-) (A); Có ký sinh nội bào (B) 11 Hình 1.3: Clostridium sp trực khuẩn G (+), có nội bào tử (A); 13

Có ký sinh nội bào (B); có tiên mao (C) Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre 16

Hình 3.1: Ao nuôi khi cải tạo không được tháo cạn nước và phơi đáy 26 Hình 3.2: Các loại thuốc, hóa chất được người nuôi sử dụng để cải tạo ao 27

và xử lý môi trường nước

Hình 3.3: Tần xuất bắt gặp của các bệnh trên cá tra tại Bến Tre 33

từ tháng 8/2008 đến tháng 8/2009) Hình 3.4: Trộn thuốc vào thức ăn cho cá bị bệnh mủ gan (A); 34

Cá chết do bệnh mủ gan sau khi vớt lên không được xử lý tốt (B) Hình 3.5: Cá tra bị bệnh mủ gan có biểu hiện xuất huyết nhẹ xung quanh 36

miệng, gốc vây, hậu môn (A); tách đàn bơi lờ đờ (B); nội tạng cá khỏe (C); nội tạng cá bị bệnh mủ gan với gan, thận, lá lách có nhiều đốm trắng (D); cá vừa bị trắng mang trắng gan vừa bị mủ gan (E) Hình 3.6: Trực khuẩn gram (-), thon mảnh, kích thước rất khác nhau 38

nằm rải rác hoặc tập trung thành từng đám trong tiêu bản gan, thận và tỳ tạng phết nhuộm gram

Hình 3.7: Tần xuất của bệnh mủ gan phân bố vào các mùa trong năm 39 Hình 3.8: Kích cỡ cá tra thường bị bệnh mủ gan 40 Hình 3.9: Tần xuất gặp bệnh mủ gan ở các nhóm mật độ khác nhau 41 Hình 3.10: Tần xuất gặp bệnh mủ gan ở các nhóm kích cỡ giống cá tra 43 Hình 3.11: Tần xuất gặp bệnh mủ gan ở các nhóm độ sâu của ao nuôi 44 Hình 3.12: Tần xuất gặp bệnh mủ gan ở các nhóm có số lần hút bùn 46

khác nhau

Trang 8

1.1 Sơ lược đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre 3

1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh cá da trơn trên thế giới 5 1.4 Tình hình nghiên cứu bệnh mủ gan trên Cá Tra ở Việt Nam 9

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 16

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học 18

2.2.3 Phương pháp thu thập mẫu vật cá bệnh và mô tả bệnh lý 20

3.1 Hiện trạng kỹ thuật nuôi Cá Tra thương phẩm trong ao đất 21 3.1.1 Diện tích và sản lượng nuôi Cá Tra tại 3 huyện 21 điều tra và tại Bến Tre

3.1.2 Trình độ học vấn và chuyên môn nuôi trồng thủy sản 23 của các nông hộ nuôi cá tra ở vùng điều tra

3.1.3 Hiện trạng kỹ thuật nuôi cá tra 24

3.1.3.1 Diện tích và độ sâu của các ao nuôi cá tra 24 3.1.3.2 Kỹ thuật cải tạo ao trước mỗi vụ nuôi 25

Trang 9

3.1.3.3 Mật độ thả, nguồn, kích cỡ và chất lượng giống 27

3.1.3.5 Thức ăn và chế độ chăm sóc 29 3.1.4 Các loại bệnh thường gặp ở cá tra nuôi tại Bến Tre 32 3.2 Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh mủ gan ở cá tra nuôi tại Bến Tre 33 3.2.1 Tần xuất gặp bệnh mủ gan trong các ao nuôi cá tra 33

tại vùng điều tra 3.2.2 Các dấu hiệu chính của bệnh được mô tả bởi người nuôi 34 3.2.3 Kết quả phân tích nhanh một số mẫu cá tra bị bệnh 36

mủ gan tại Bến Tre 3.2.4 Tác hại của bệnh và số lần phát bệnh trong một vụ nuôi 38 3.2.5 Tần xuất gặp bệnh mủ gan ở các mùa vụ trong năm 39 3.2.6 Tần xuất gặp bệnh mủ gan ở các cỡ cá khác nhau 40 3.2.7 Tần xuất gặp bệnh mủ gan ở các mật độ nuôi khác nhau 41 3.2.8 Tần xuất gặp bệnh mủ gan ở các nhóm kích thước 42

giống thả ban đầu 3.2.9 Tần xuất gặp bệnh mủ gan với kỹ thuật tẩy dọn ao 43 3.2.10 Tần xuất gặp bệnh mủ gan ở các độ sâu khác nhau 44 3.2.11 Tần xuất gặp bệnh mủ gan ở số lần hút bùn đáy ao 45 3.2.12 Tìm hiểu về vấn đề dùng thuốc để trị bệnh mủ gan 46 3.3 Phân tích các yếu tố nguy cơ liên quan tới bệnh mủ gan ở cá tra 49 3.4 Một số giải pháp phòng trị bệnh mủ gan cho cá tra 50

Trang 10

MỞ ĐẦU

Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Cá Tra (Pangasius hypophthalmus Sauvage,

1878) là loài cá nước ngọt được nuôi phổ biến, năng suất cao, là một trong những đối tượng nuôi chủ lực cho xuất khẩu, đứng thứ hàng thứ 2 sau con tôm Kim ngạch xuất khẩu Cá Tra ở Đồng Bằng Sông Cửu Long năm 2008 đạt 1,4 tỉ USD, chiếm 31,1% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước (4,51 tỉ USD), tăng 43,72% so với năm 2007 [42]

Trước đây, Cá Tra được nuôi chủ yếu theo qui mô gia đình, mật độ thấp và nguồn giống chủ yếu dựa vào tự nhiên Việc sinh sản nhân tạo thành công vào năm

1980 cùng với thị trường xuất khẩu mở rộng, sức tiêu thụ lớn làm cho quá trình đầu tư nuôi phát triển mạnh, mô hình nuôi thâm canh mật độ cao được áp dụng rộng rãi Tuy nhiên, nuôi cá thâm canh với mật độ cao đã phải đối đầu với vấn đề suy thoái môi trường và dịch bệnh, gây tổn thất lớn về kinh tế Tại Bến Tre, trong năm 2008 có 130 hộ nuôi Cá Tra, với 650 ha diện tích mặt nước nuôi, sản lượng đạt 100.223 tấn Tuy nhiên, việc phát triển tự phát chưa có qui hoạch, mức độ thâm canh cao, trong khi kiến thức về quản lý chăm sóc ao nuôi, ý thức về bảo vệ môi trường nuôi, kinh nghiệm và kiến thức về quản lý dịch bệnh của người nuôi còn hạn chế, tình trạng sử dụng thuốc và hóa chất tràn lan đã làm cho môi trường ngày càng xấu đi, dịch bệnh xảy ra ngày càng nhiều [10], [11]

Ở Bến Tre, mặc dù nghề nuôi Cá Tra thâm canh bắt đầu từ năm 2003 và mới phát triển nhanh từ năm 2006 đến nay nhưng dịch bệnh trên Cá Tra cũng đã xuất hiện gây thiệt hại lớn đối với nghề nuôi Cá Tra thâm canh trong ao Bệnh xảy

ra khá thường xuyên ở hầu hết các ao nuôi, đặc biệt là bệnh mủ gan, bệnh này có thể gây chết cá từ rải rác đến hàng loạt dẫn đến việc dùng kháng sinh và hóa chất rất phổ biến trong suốt quá trình nuôi Tình trạng bệnh và dùng kháng sinh để phòng trị bệnh đã ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất, sản lượng và chất lượng cá tra nuôi tại Bến Tre Do vậy, một đề tài nghiên cứu về dịch tễ của bệnh mủ gan ở

cá tra trong các ao nuôi thương phẩm là rất cần thiết đối với địa phương để có thể đưa ra các biện pháp quản lý bệnh và phòng bệnh hợp lý nhằm góp phần duy trì và phát triển bền vững nghề nuôi cá Tra thâm canh tại Bến Tre

Trang 11

Được sự đồng ý của Trường Đại Học Nha Trang, Hội đồng xét duyệt đề cương luận văn cao học ngành Nuôi trồng thủy sản năm 2008, tôi đã được phép thực hiện đề tài luận văn thạc sỹ với tiêu đề:

“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (Pangasius

hypophalmus Sauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện Châu

Thành, Giồng Trôm và Bình Đại - tỉnh Bến Tre”

Mục tiêu đề tài: Xác định hiện trạng và mối liên quan của bệnh mủ gan ở cá tra

nuôi trong ao đất ở Bến Tre với một số yếu tố môi trường ( khí hậu, thời tiết), yếu

tố kỹ thuật nuôi (kỹ thuật tẩy dọn ao, mật độ nuôi, độ sâu của ao, thức ăn) và bản thân cá nuôi để có thể đưa ra được các biện pháp quản lý bệnh hợp lý và có hiệu quả

Nội dung đề tài:

1 Điều tra về hiện trạng kỹ thuật nuôi ở cá tra nuôi thương phẩm trong các

ao nuôi tại 3 huyện Châu Thành, Giồng Trôm và Bình Đại, tỉnh Bến Tre

2 Hiện trạng về bệnh mủ gan ở cá tra nuôi thương phẩm tại vùng điều tra ở tỉnh Bến Tre

3 Phân tích các yếu tố nguy cơ liên quan tới sự bùng phát của bệnh mủ gan

ở cá tra, làm cơ sở để đưa ra các biện pháp phòng bệnh mủ gan trong nuôi thương phẩm

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Kết quả nghiên cứu cung cấp các thông tin khoa học góp phần xây dựng

hệ thống quản lý bệnh cho cá tra nuôi tại Bến Tre

- Các biện pháp phòng ngừa bệnh mủ gan bằng giải pháp môi trường và kỹ thuật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho mô hình nuôi cá tra thâm canh

Do kinh nghiệm của bản thân về lĩnh vực đang nghiên cứu còn nhiều hạn chế, nên bản luận văn này sẽ không tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến và lượng thứ của quí Thầy Cô, các anh chị và bạn bè đồng nghiệp

Trang 12

PHẦN 1 TỔNG QUAN 1.1 Sơ lược đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre

Tỉnh Bến Tre nằm ở hạ lưu châu thổ Sông Mekong, về phía tây Nam bộ, thuộc vùng đồng bằng Sông Cửu Long Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Giới hạn bởi 9o48’ – 10o20’ độ vĩ Bắc, 105o57’ – 106o48’ độ kinh đông Phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía nam giáp tỉnh Trà Vinh, có ranh giới chung là sông Cổ Chiên, phía đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển

65 km Những con sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính (Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên), ngược về phía thượng nguồn đến tận Campuchia Những con sông này bao bọc và chia Bến Tre thành ba phần: cù lao

An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh [43]

Khí hậu ở Bến Tre mang tính chất nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có 2 mùa khá rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa (mùa của gió Tây nam) từ cuối tháng

tư đến đầu tháng mười một hàng năm, mùa khô (mùa của gió Đông bắc) từ tháng mười một đến tháng tư năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.250 - 1.500 mm/năm Hơn 90% lượng mưa tập trung trong mùa mưa Lượng mưa lớn thường xảy ra vào mùa gió Tây nam, nên tháng 5 cũng có mưa, nhưng tháng 9 - 10 là những tháng có mưa lớn, trong năm có khoảng 100 - 130 ngày có mưa [11]

Nhiệt độ không khí trung bình từ 26 - 28oC Nhiệt độ tuyệt đối thấp nhất trong ngày là 18,1oC và cao nhất là 36oC Tuy nhiên, biên độ nhiệt dao động ngày đêm khá rõ 11,4oC vào mùa mưa, 14oC vào mùa khô Độ ẩm không khí tương đối cao vì Bến Tre có mật độ sông ngòi và kênh rạch cao, chênh lệch độ ẩm trung bình tháng ẩm nhất và khô nhất là 15% Độ bốc hơi cao trong mùa khô, trung bình đạt 6 mm/ngày đêm Vào mùa mưa, độ bốc hơi trung bình đạt 3,5 mm/ngày đêm [11] Diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh Bến Tre là 2.315 km2 trong đó bao gồm 1.812 km2 đất nông nghiệp Dân số Bến Tre khoảng 1.369.358 người Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằn chịt khoảng 6.000 km (các sông lớn: sông Cổ Chiên 82

km, sông Hàm Luông 71 km, sông Ba Lai 59 km, sông Cửa Đại 83 km) chở phù sa chảy khắp ba dải cù lao là một lợi thế của Bến Tre trong phát triển giao thông thủy,

Trang 13

hệ thống thủy lợi, phát triển kinh tế biển, kinh tế vườn, trao đổi hàng hóa với các tỉnh lân cận Vào mùa khô, gió chướng mạnh đưa nước biển vào sâu trong nội đồng, dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn xảy ra vào khoảng 2 tháng cuối mùa khô, gây trở ngại cho hoạt động nông nghiệp và ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cho sinh hoạt Vào giữa đến cuối mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 11) nước lũ từ thượng nguồn Sông MeKong tràn về, theo dòng nước lũ, tôm cá trên sông MeKong di trú

về làm cho nguồn lợi thủy sản khá dồi dào Là tỉnh gần biển nên lũ không ảnh hưởng nhiều đến các công trình giao thông thủy lợi, cây trồng, nhưng nó lại ảnh hưởng đến dịch bệnh trên Cá Tra nuôi thâm canh như bệnh mủ gan thường xuất hiện vào mùa lũ [2]

Về hành chính, tỉnh Bến Tre có một thành phố và tám huyện, trong đó có ba huyện ven biển Đông có ưu thế về khai thác thủy sản, nuôi tôm Sú, Nghêu và Sò Huyết, đó là các huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú Các huyện còn lại là Châu Thành, Giồng Trôm, Chợ Lách, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc có ưu thế về sản xuất nông nghiệp và nuôi thủy sản nước ngọt như Cá Tra, Tôm Càng Xanh… Tổng diện tích nuôi thủy sản năm 2008 của Bến Tre là 42.106 ha, tăng 6% so với cùng

kỳ năm 2007 Sản lượng nuôi đạt 158.995 tấn, tăng 60,8% so với cùng kỳ năm

2007 Tổng kim ngạch xuất khẩu của thủy sản năm 2008 đạt 70,098 triệu USD chiếm khoảng 38,1% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Trong đó sản lượng cá Tra xuất khẩu là 22.442 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 53,111 triệu USD [10]

1.2 Tình hình nuôi Cá Tra ở Bến Tre

Phong trào nuôi Cá Tra thâm canh trong ao đất ở Bến Tre lúc đầu (năm 2003) chỉ tập trung ở vài hộ nuôi, nhưng đến năm 2006 thị trường cá da trơn thương phẩm hút giá, nên nghề nuôi cá tra thâm canh đã phát triển rất nhanh ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), trong đó có Bến tre Tại Bến Tre, cá tra được nuôi chủ yếu trong ao đất và đến năm 2008, toàn tỉnh đã có 130 hộ nuôi Cá Tra, với diện tích mặt nước nuôi là 650 ha, sản lượng đạt 100.223 tấn Mặc dù diện tích nuôi và sản lượng cá tra tại Bến Tre thấp hơn nhiều so với các vùng trọng điểm nuôi cá Tra tại ĐBSCL như tỉnh An Giang, nhưng do phát triển nuôi tự phát thiếu qui hoạch của các nhà quản lý ở địa phương, nên khó kiểm soát nguồn giống, thuốc và hóa chất phòng trị bệnh, nguồn nước thải chủ yếu từ các ao nuôi cá tra được thải trực tiếp ra sông làm ô nhiễm môi trường, cho nên trong quá trình nuôi,

Trang 14

dịch bệnh xảy ra thường xuyên Một số bệnh thường gặp và gây thiệt hại lớn cho

cá Tra nuôi như: bệnh mủ gan, bệnh xuất huyết phù đầu, bệnh trắng gan trắng mang… Những bệnh này đã gây ra hiện tượng cá chết từ rải rác đến hàng loạt, nếu người nuôi không có các biện pháp xử lý kịp thời [10]

1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh cá da trơn trên thế giới

Bệnh cá luôn được xem là một trong những tác nhân gây hao hụt lớn trong nghề nuôi cá trên thế giới Nghề nuôi cá da trơn ở Mỹ và nhiều nước trên thế giới

đã phát triển vào đầu những năm 1980 và đi cùng với sự phát triển của nghề nuôi này, bệnh ở cá da trơn được phát hiện ngày càng nhiều, những bệnh này đã gây

thiệt hại lớn đến hiệu quả của cho nghề nuôi cá da trơn (Ictalurus punctatus

Rafinesque) ở Mỹ và nhiều nước khác [22]

Vi khuẩn Edwardsiella sp đã được biết đến như một tác nhân nguy hiểm

trong việc gây bệnh ở nhiều loài cá nước ngọt, đặc biệt chúng có thể gây ra những bệnh rất nguy hiểm ở loài cá nheo Mỹ, như bệnh nhiễm trùng máu do

Edwardsiella ictaluri và tổ chức thế giới về sức khỏe động vật (OIE) đã đặt cho

bệnh này là: ESC (Edwardsiella septicaemia of catfish) Ngoài ra, Edwardsiella

tarda đã được biết gây ra bệnh hoại tử, thối giữ và nhiễm trùng máu ở cá da trơn

và các loài cá khác (ES- Edwardsiella septicaemia) [17; 21]

Bệnh hoại tử và nhiễm trùng máu do E, tarda đã xuất hiện đầu tiên trên các

loài cá nhiệt đới ở Châu Mỹ và Châu Á [27] E tarda được là vi khuẩn gram âm,

hình que, di động yếu, đường kính khoảng 1µm, dài 2 - 3 µm, lên men đường, sinh

khí, phát triển ở nồng độ muối 3‰ và chịu được nhiệt độ cao [41] Vi khuẩn E

tarda được phân lập ở Nhật Bản với tên gọi đầu tiên là Paracolabacterium anguillimortiferum [25] Khi gây bệnh ở các loài cá khác nhau, E tarda có thể

gây ra những dấu hiệu bệnh lý không giống nhau Chúng gây bệnh mủ trên gan,

thận ở Cá Chình Nhật Bản (Anguilla japonica) và ở Cá Bơn (Paralichthys

olivaceus) [29], [30]; ở cá nheo Mỹ Ictalurus sp bệnh gây ra những đốm trắng nhỏ

trên da ở phần đuôi, từ đó vết thương tổn có thể tạo thành vết loét sâu vào trong cơ, kèm theo hiện tượng xuất huyết hoại tử lỏng với mùi hôi đặc trưng do vi khuẩn có khả năng sinh H2S Ở Mỹ E tarda gây bệnh nhiễm trùng máu cấp tính trên Cá Nheo (Ictalurus punctatus), bệnh gây ra những đốm trắng nhỏ trên da ở phần đuôi,

từ đó vết thương tổn có thể tạo thành vết loét sâu vào trong cơ, kèm theo hiện

Trang 15

tượng xuất huyết hoại tử lỏng với mùi hôi đặc trưng do vi khuẩn có khả năng sinh

H2S và gây tỉ lệ hạo hụt cao [16] Ước tính thiệt hại do bệnh nhiễm trùng máu ở Cá Nheo nuôi công nghiệp tại Mỹ khoảng 60 triệu USD/ hàng năm [38]

Bệnh ESC cũng đã được biết là bệnh gây thiệt hại lớn nhất cho nghề nuôi Cá

da trơn ở Mỹ, có tần số bắt gặp là 32,9% [24] bệnh được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1976, đến 1979 được Hawke và ctv xác định là bệnh do một loài vi khuẩn mới thuộc họ Enterobacteriaceae gây ra và tác nhân này có quan hệ gần gũi với

loài vi khuẩn E tarda nên được đặt tên là E ictaluri [22] Những nghiên cứu ban đầu cho rằng E ictaluri có ký chủ đặc hữu là cá da trơn nên không phải là mối

nguy đối với các loài cá khác trong cùng một ao Tuy nhiên, vi khuẩn này đã được phân lập từ đường ruột của nhiều loài cá khác nhau, vì vậy người ra cho rằng, những loài cá khác có mặt ở trong ao nuôi cá da trơn có thể là sinh vật mang mầm bệnh [37]

Vi khuẩn E ictaluri có dạng hình que ngắn, kích thước 0,75 x 1,5 – 2,5 µm,

di động, Gram âm, yếm khí tùy tiện, không sinh bào tử, phản ứng oxidase âm tính, catalase dương tính và lên men đường glucose, không sinh ra H2S và Indole âm tính [39] và mọc chậm trên môi trường tổng hợp Các môi trường thường được lựa chọn để nuôi cấy vi khuẩn này là TSA (Trypton soya agar) có bổ sung 5% máu cừu, BHIA (Brain heart infusion agar) và EIA (Edwardsiella ictaluri agar) Sau 36

- 48 giờ ủ ở 25 – 30oC mới xuất hiện những khuẩn lạc rất nhỏ (1 – 2 mm), hơi lồi, rìa bằng, không màu Vi khuẩn phát triển tốt ở 25 – 30oC, có thể tồn tại được 3 - 4 tháng trong nước ao, bùn đáy, thực vật thủy sinh, sống sót tốt trong các mô đông lạnh [22], [23], [24], [37]

Khi cá Nheo Mỹ bị bệnh ESC đã bộc lộ các dấu hiệu đặc trưng như có hiện tượng viêm dưới da, xương nắp mang, bụng Những vết loét màu đỏ xuất hiện nhiều trên da, xung huyết xảy ra khắp các vi, xuất hiện những đốm trắng nhỏ đường kính 1 – 3 mm ở vùng da có màu tối, mang sưng, lồi cầu mắt Nội quan cá bệnh chứa dịch, phù đục, thận, tỳ tạng sưng to, gan có nhiều đốm hoại tử [23], [37], [40] Bệnh ESC đã gặp ở hai dạng, là nhiễm trùng máu cấp tính và viêm não mãn tính Ở dạng cấp tính cá thường hôn mê, bỏ ăn, mắt lồi, xuất huyết xung quanh miệng, hậu môn, các gốc vây, có nhiều thương tổn tạo đốm trắng ở trên da, tích dịch trong xoang cơ thể, xuất huyết đường ruột, có nhiều điểm xuất huyết và

Trang 16

đốm hoại tử trắng ở gan và các cơ quan nội tạng khác Ở dạng mãn tính vi khuẩn xâm nhập vào cơ quan khứu giác di chuyển dọc thần kinh khứu giác lên não, qua

sọ xâm nhập đến da và nội tạng gây ra những biến đổi đặc trưng như hình thành lỗ hổng ở phần đầu (hole in the head), bơi lội hỗn loạn thường bơi xoắn và gần tằng mặt [22], [24]

Vi khuẩn E ictaluri có thể xâm nhập vào cá theo hai hướng khác nhau: khi

điều kiện môi trường nước thuận lợi, vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ quan khứu giác của cá theo đường mũi sau đó chúng di chuyển đến dây thần kinh khứu giác

để tấn công vào não, sự nhiễm trùng này lan rộng đến màng não và da gây nên

hiện tượng “đầu trên đuôi dưới” và E ictaluri có thể xâm nhập vào máu, gây

nhiễm trùng máu, chính vì thế làm cho biểu bì da bị họai tử và mất sắc tố

E.ictaluri gây sưng gan và hoại tử trên gan, thận, tỳ tạng của cá Nheo Mỹ [35] Vi

khuẩn E ictaluri được tìm thấy trong máu và tại các cơ quan như thận trước và

sau, não, gan, tỳ tạng, buồng trứng, tuyến tụy và cơ trên cá Nheo Mỹ [28]

Cá Tra (P hypophthalmus) được nuôi ở Indonesia có dấu hiệu bệnh lý

tương tự như bệnh “mủ gan” trên Cá Tra ở Việt Nam, bệnh được thông báo từ tháng 2 năm 2002 Bệnh xảy ra lần đầu tiên tại hai nông trại nuôi cá ở miền trung Sumatra, gây chết 50-100% cá nuôi trong 2 tuần với dấu hiệu bệnh lý như: mang nhợt nhạt, bụng sưng to, xuất huyết ở gốc vây và xung quanh hậu môn, giải phẫu nội tạng cho thấy gan, tỳ tạng và thận trước có nhiều đốm trắng với đường kính 1 - 2mm Từ gan, thận của cá bệnh người ta đã phân lập được một dạng vi khuẩn hình que, gram âm, kích thước thay đổi từ 1.2 - 15mm, có khả năng di động nhưng yếu

ở 25oC, không di đông ở 37oC, kiểm tra các phản ứng sinh hóa bằng API 20 kit cho thấy hầu hết các đặc điểm sinh hóa của các chủng phân lập đều giống với

Edwardsiella ictaluri là vi khuẩn gây bệnh ESC (enteric septicemia of catfish) Thí

nghiệm cảm nhiễm ngược với các chủng vi khuẩn bằng các phương pháp tiêm vào

cơ, xoang bụng và phương pháp ngâm đều gây chết 100% cá thí nghiệm trong vòng một tuần với những dấu hiệu đặc thù của bệnh Vi khuẩn phân lập lại từ cá bệnh được khẳng định là vi khuẩn gây nhiễm Kết luận của nhóm nghiên cứu cho

rằng đây là bệnh do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra, mặc dù sai khác ba đặc

điểm sinh hóa so với chủng chuẩn (ornithine, phản ứng sinh hơi từ D-glucose và khả năng sử dụng tinh bột) [26]

Trang 17

Hawke, J.P (1981) cho rằng, ESC là bệnh phổ biến và gây tác hại lớn nhất, chiếm khoảng 50% tổng thiệt hại do các bệnh khác gây ra trên cá da trơn ở mỹ Bệnh này có tính chất mùa vụ rõ rệt, khi nhiệt độ từ 18 – 28oC của mùa xuân và mùa thu được xem là yếu tố quyết định cho sự bùng phát bệnh [22] Theo Francis - Floyd et al, (1987) trong thí nghiệm gây cảm nhiễm cá Nheo Mỹ giống, tỷ lệ chết cao nhất của cá xảy ra ở 25oC và thấp hơn tại 23oC và 28oC, cá không chết khi bị cảm nhiễm ở nhiệt độ 17oC, 21oC hay 32oC [20]

Thí nghiệm của Plumb, J.A và ctv (1995) về ảnh hưởng của nhiệt độ và độ

mặn lên sự bùng phát của bệnh ESC ở cá Nheo Mỹ đã cho thấy: tỷ lệ chết tích lũy

sau 28 ngày của đàn cá có 10% số cá thể bị nhiễm vi khuẩn này ban đầu là 77% khi nuôi ở 25oC và thấp hơn có ý nghĩa khi nuôi ở 18oC (10%) và 30oC (23%); khi nuôi cá đã bị cảm nhiễm vi khuẩn ở các nồng độ muối 0‰, 0.1‰, 1‰, 2‰, 3‰, ở

250C trong 28 ngày, tỷ lệ chết tích lũy lần lượt là 100%, 96%, 33%, 45%, 17% Đây là những nghiên cứu cho thấy rằng việc kiểm soát các yếu tố môi trường như nhiệt độ và độ muối có thể giảm thiểu sự bùng phát của bệnh [36] Trong nuôi công nghiệp, tỷ lệ chết tích lũy do bệnh này có thể đạt 100% Bệnh gây thiệt hại lớn ở giai đọan cá giống đến cá lớn khoảng 300 g, làm giảm mật độ nuôi trong ao

và gây thiệt hại lớn về sản lượng cho nghề nuôi cá da trơn công nghiệp [23]

Bệnh ES và ESC là bệnh do vi khuẩn gây ra nên có thể chữa trị bằng nhiều loại kháng sinh khác nhau Ở Mỹ có sáu nhóm thuốc và hóa chất cho phép sử dụng trong nuôi trồng cá da trơn, đó là: chorionic gonadotropin, formalin solution, tricaine methanesulfonate, oxytetracycline, sulfamerazine và sulfadimethoxine/ ormetoprim [44] Theo Plumb (1999), ở Mỹ có hai loại kháng sinh được FDA (Food and Drug Administration] cho phép sử dụng để điều trị bệnh ESC ở cá da trơn là oxytetracycline và sulfadimethoxine/ormetoprim với liều lượng như sau: oxytetracycline sử dụng với liều lượng 50 – 75 mg/kg cá/ngày, sử dụng liên tiếp từ

12 – 14 ngày, sulfadimethoxine/ormetoprim sử dụng với liều 50 – 75 mg/kg cá/ngày, sử dụng liên tiếp 5 ngày, kháng sinh Flofenicol dùng với liều lượng 10 mg/kg cá trong 10 ngày có hiệu quả trị bệnh [32], [34]

Bệnh nhiễm khuẩn ở thận cá (Bacterial Kidney Disease of fish) gây ra bởi

Renibacterium salmoninarum, là một vi khuẩn hình que ngắn hơi tròn 0.5 – 1 µm,

gram dương, không sinh bào tử, không vận động nhưng thường xếp với nhau theo

Trang 18

cặp, chuỗi Gây bệnh trên cả cá nước ngọt và nước mặn Bệnh xảy ra ở Bắc Mỹ,

Tây Âu, Nhật và Chile Bệnh này chỉ xảy ra trên cá hồi (Oncorhynchus mykiss) một năm tuổi Ở cá bệnh, mắt cá bị lồi, bụng phình to ở các mức độ khác nhau do

chức năng thận bị phá hủy, nội tạng bị xuất huyết, ở gan, tỳ tạng đặc biệt là thận có hiện tượng sưng và xuất hiện nhiều điểm hoại tử màu trắng kem, các điểm trắng này có thể rất dày, xuất huyết trên toàn bộ thận, làm thận sưng to [16], [31]

Bệnh mycobacteriosis ở cá do tác nhân là vi khuẩn Mycobacterium spp gây

ra Đây là vi khuẩn hiếu khí, không di động, không sinh bào tử, gram dương yếu,

hình que, kháng acid Đây là vi khuẩn đã được thông báo là tác nhân gây bệnh cho

151 loài cá nước ngọt và nước mặn phân bố ở các vùng nước nhiệt đới Cá bệnh cũng có những biểu hiện như mắt cá bị lồi, trên da có hiện tượng mất dân sắc tố, hoại tử, loét, trên bề mặt cơ thể có thể xuất hiện các đốm trắng nhỏ, vây cá bị xơ, mòn cụt Đặc biệt, ở cá tra khi bệnh nặng, các dấu hiệu tương tự như Cá Tra bị bệnh mủ gan là các cơ quan nội tạng sưng to, các cơ quan trong nội quan như: gan, thận, tỳ tạng xuất hiện các đốm trắng Tuy nhiên, các đốm trắng này nổi lên trên bề mặt của nội tạng, khác hẳn so với các đốm trắng nằm dưới bề mặt của nội tạng của bệnh ESC [4]

1.4 Tình hình nghiên cứu bệnh mủ gan trên Cá Tra ở Việt Nam

Bệnh mủ gan được ghi nhận xuất hiện đầu tiên trên Cá Tra (Pangasius

hypophthalmus Sauvage, 1878) nuôi ở Đồng bằng Sông Cửu Long vào cuối năm

1998 [19], khi nghề nuôi Cá Tra xuất khẩu ở mức độ thâm canh cao đã phát triển mạnh Bệnh có thể kéo dài hoặc gây chết cấp tính, gây tổn thất lớn trong nghề nuôi Cá bị bệnh có thể không thể hiện dấu hiệu bất thường về bên ngoài, hoặc có một số dấu hiệu không đặc trưng như: giảm ăn, bơi lội lờ đờ, da nhạt màu, cá gầy yếu, bụng sưng to, có xuất huyết ở quanh miệng và hậu môn Giải phẫu nội tạng là phương pháp chẩn đoán lâm sàng tốt nhất cho bệnh này Nội quan cá bệnh xuất hiện nhiều đốm trắng có kích thước từ 1 – 3 mm trên gan, đầu thận, lá lách [2] Chính vì thế mà bệnh này còn được gọi với nhiều tên khác nhau như: bệnh đốm trắng, bệnh trắng gan, bệnh mủ gan thận, bệnh hoại tử nội tạng [2], [4], [15], [19], [26] Các cơ quan gan, thận, lá lách sưng to, đặc biệt thận sưng và mềm nhũn Bệnh có thể xảy ở giai đoạn cá hương, cá giống đến giai đoạn cá nuôi thịt và giảm dần sau giai đoạn 5 tháng tuổi [12]

Trang 19

Bệnh thường xảy ra vào mùa nước lũ, cao điểm vào tháng 7 và tháng 8 Tỉ lệ chết tích lũy từ 10 - 90% nếu không có biện pháp kỹ thuật kịp thời [2] Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm lại cho rằng bệnh thường xảy ra vào mùa mưa, nhất là mùa nước rút tháng 11 – 12 hàng năm [2], [12], [19] Theo kết quả điều tra của Trần Anh Dũng (2005), tỉ lệ xuất hiện bệnh mủ gan ở An Giang trên Cá Tra trong mô hình nuôi ao là 61%, mô hình nuôi bè là 73,9%, mô hình nuôi đăng quầng là 88% [3]

Do đặc điểm phân bố địa lý, Cá Tra được nuôi chủ yếu ở khu vực hạ lưu sông Mekong, phổ biến ở các nước Việt Nam, Lào, Campuchia Tuy nghề nuôi cá Tra đã có từ lâu đời, các bệnh về Cá Tra vẫn ít được nghiên cứu Tại Việt Nam, các kết quả nghiên cứu về bệnh mủ gan trên Cá Tra như sau:

Nghiên cứu của trường đại học Cần Thơ (Việt Nam) kết hợp với đại học Stirling (Anh) lần đầu tiên đã công bố về tác nhân gây bệnh hoại tử nội tạng trên

cá tra nuôi ở Việt Nam vào năm 2001 Thông báo này cho rằng Bacillus fumarioli

chính là tác nhân gây bệnh mủ gan của cá Tra nuôi ở ĐBSCL Thí nghiệm cảm nhiễm nhân tạo của nhóm tác giả này đã được thực hiện và cá khỏe sau khi bị tiêm vào xoang bụng của cá một lượng vi khuẩn là 2 x 107 CFU, sau bảy ngày thí

nghiệm cá đã xuất hiện bệnh tích tương tự cá bị cảm nhiễm tự nhiên [19]

Tuy nhiên, vào năm 2002 nhóm tác giả này đã cải chính lại rằng tác nhân

gây bệnh mủ gan ở cá tra lại là Edwardsiella ictaluri và vi khuẩn này đã được

nuôi cấy phân lập trong phòng thí nghiệm trên môi trường EIA (Edwardsiella ictaluri agar) Kết quả định danh cho thấy mặc dù các chủng vi khuẩn này mang

những đặc trưng cơ bản của Edwardsiella ictaluri nhưng có một số đặc điểm khác biệt so với chủng chuẩn Thông thường E.ictaluri là trực khuẩn nhỏ, kích thước

1µm x 2 - 3µm Tuy nhiên, những chủng vi khuẩn phân lập từ Việt Nam cho thấy

có sự thay đổi lớn về kích thước, thường là trực khuẩn lớn, dễ quan sát [15]

Trang 20

kết hợp của 2 loài vi khuẩn Hafnia alvei và Plesiomonas shigelloides Cả hai loài

vi khuẩn trên đều là trực khuẩn gram âm, tròn hai đầu, trong đó H alvei là thành viên của họ Enterobacteriaceae còn P shigelloides lại thuộc họ Vibrionaceae

[12]

(Ảnh của Trần Thị Minh Tâm, 2003)

Hình 1.2: Hafnia alvei - trực khuẩn G (-) (A); Có ký sinh nội bào (B)

Nhóm tác giả này đã cảm nhiễm với hai chủng vi khuẩn này bằng cách tiêm vào xoang bụng 0,2 mL ở nồng độ 5 x 108 CFU/mL, cá chết sau 5 ngày tiêm

và chết tập trung kể từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 7, tỷ lệ chết cao từ 80 - 85% cá thí nghiệm với những biểu hiện bệnh tích giống như cá bị bệnh ngoài tự nhiên

A

Hình 1.1: Cá Tra bị bệnh mủ gan: các đốm trắng trên gan, thận, lá lách (A);

Vi khuẩn E ictaluri dưới kính hiển vi quang học (B);

Vi khuẩn E ictaluri phát triển trên môi trường TSA sau 48 giờ (C)

Trang 21

Vi khuẩn Hafnia alvei còn được gọi với nhiều tên khác nhau như: Bacillus

asiaticus (Castellani, 1912), Bacterium cadaveria (Gale EF and Epps HMR

1943), Enterobacter alvei (Sakazaki.R 1961), Enterobacter aerogenes subsp

hafniae (Ewing WH And Fife MA, 1968), đến 1954, Moeller đã xác định tên

chính xác là H alvei và là loài duy nhất của giống Hafnia Đây là tác nhân được

thông báo là gây một số bệnh cho người và động vật trên cạn như: bệnh đường ruột, xuất huyết, nhiễm trùng đường tiểu, nhiễm trùng máu ở người và gia súc; giảm năng suất trứng, bỏ ăn, mất phương hướng và gây chết ở gà mái và được xem

là tác nhân gây bệnh cơ hội Vi khuẩn có thể được tìm thấy trong đất, nước và các loại thực phẩm khác nhau như sữa bò, mật ong, thịt bò Chỉ có một vài thông báo

H alvei có khả năng gây bệnh cho động vật thủy sản: bệnh nhiễm trùng máu và

xuất huyết ở cá hồi (Salmo gairdneri, Oncorhynchus mykiss), hay gây bệnh trên cá trê sông (Ictalurus punctatus) với những biểu hiện mắt sưng, lồi, xuất huyết vùng

đầu, gan thận có nhiều đốm đỏ [12]

Gần đây Lý Thị Thanh Loan và ctv, 2007 lại có thông báo rằng đã phân lập được từ các mẫu cá tra bị bệnh mủ gan ở ĐBSCL loài vi khuẩn gram (+), hình que, kỵ khí, có sinh bào tử, bào tử có dạng như dùi trống, phình to, thường nằm ở

vị trí giữa, cuối hoặc gần cuối tế bào làm tế bào bị biến dạng Hình ảnh chụp dưới kính hiển vi điện tử cho thấy vi khuẩn này cũng có hiện tượng ký sinh trong tế bào gan, thận của cá tra bệnh Kết luận ban đầu của tác giả cho rằng đây là vi khuẩn

thuộc giống Clostridium mà chưa xác định đến loài (69,38%) Cảm nhiễm ngược với hai chủng có tần số bắt gặp cao nhất là Clostridium sp và A hydrophila Đối với lô cảm nhiễm với Clostridium sp cho thấy sau 4 ngày thí nghiệm cá vẫn bắt

mồi tốt, đến ngày thứ 5 toàn bộ cá được cảm nhiễm đều có biểu hiện bơi yếu, gần như mất định hướng và không bắt mồi Đến ngày thứ 7 cá chết hàng loạt 100% với những dấu hiệu bệnh tích giống như cá bị bệnh mủ gan ngoài tự nhiên Trong khi

lô cảm nhiễm với A hydrophila lại gây ra dấu hiệu của bệnh xuất huyết nhưng

không gây chết hàng loạt trong 7 ngày thí nghiệm [7]

Trang 22

(Ảnh của Lý Thị Thanh Loan, 2007)

Hình 1.3: Clostridium sp trực khuẩn G (+), có nội bào tử (A);

Có ký sinh nội bào (B); Có tiên mao (C)

Theo Nguyễn Hữu Thịnh và ctv (2004), khi phân tích mô học của 241 mẫu

Cá Tra, trong đó có 181 con có biểu hiện của bệnh mủ gan, các mẫu còn lại là cá khỏe Cá được thu từ An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp với cả hai hình thức nuôi

là ao và bè đã đưa ra kết luân là những biểu hiện về mặt vi thể khi cá tra bị bệnh đốm trắng ở gan do vi khuẩn là sự xung huyết, xuất huyết và cuối cùng là sự xuất hiện từng vùng hoại tử trên cá cơ quan gan, thận và tỳ tạng, ở từng giai đoạn bệnh

cá sẽ có những biểu hiện khác nhau Những cụm vi khuẩn xuất hiện ở rìa của các vết thương, vết hoại tử Mô mang, cơ và tim không có những biến đổi lớn khi cá bị bệnh mủ gan [13]

Ngoài vi khuẩn, ký sinh trùng thuộc nhóm thích bào tử trùng Myxobolus đã

gặp ký sinh ở nhiều cơ quan khác nhau của cá tra bị bệnh đốm trắng ở gan, thận và lách, tim Khi nhiễm bệnh, cá bơi lội không bình thường, hay quẫy mạnh, dị hình cong đuôi, cá kém ăn rồi chết [4], [5]

Bệnh mủ gan trên Cá Tra đã được xác định là bệnh do vi khuẩn [2], [12], [15], [19] nên khi bệnh xảy ra đa số người nuôi đều sử dụng nhiều loại kháng sinh khác nhau để điều trị Tuy nhiên, theo Nguyễn hữu Thịnh, việc sử dụng kháng sinh tùy tiện, không đúng liều lượng và phác đồ điều trị đã làm giảm hiệu quả của

thuốc kháng sinh Hơn nữa việc hình thành chủng vi khuẩn Edwarsiella ictaluri đề

kháng kháng sinh đã làm giảm hiệu quả điều trị [13]

Trang 23

Từ Thanh Dung và ctv (2004) đã thông báo về kết quả kiểm tra kháng sinh

đồ của 11 loại kháng sinh là Furazolidon, nitrofurant, norfloxacin, gentanmicin, oxolinic acid, oxytetracylin, sulfonamide, enrofloxacin, florfenicol, amoxycillin

với vi khuẩn E ictaluri phân lập từ Cá Tra, kết quả cho thấy, vi khuẩn này đã

kháng với các loại thuốc kháng sinh oxytetracyclin, oxolinic acid, sulphonamid [2] Trong khi đó, Nguyễn Hữu Thịnh và ctv, 2007 cũng đã kiểm tra kháng sinh

đồ với các chủng E ictaluri phân lập được từ 47 mẫu Cá Tra bị mủ gan ở ĐBSCL cho rằng: 100% chủng E ictaluri phân lập được đều đề kháng

Sulfamethoxazole/Trimethoprim và 97,9% đối với Colistin, do vậy hai loại kháng sinh này không còn hiệu quả trong điều trị bệnh mủ gan [14]

Theo Trần Thị Minh Tâm và ctv, 2003 khi kiểm tra kháng sinh đồ với hai

chủng vi khuẩn là Hafnia alvei và Plesiomonas shigelloides gây bệnh hoại tử gan

thận trên Cá Tra nuôi thâm canh ở ĐBSCL, thí nghiệm được lập lại 25 lần trên 17 loại kháng sinh là: Norfloxacin, ampicilin, sulfaguanidin, kanamycin, colistin, streptomycine, sulfamethoxazol, trimethoprim, trimethoprim/sulfamethoxin, sulfadimidin, trimethoprim/ sulfadimidin, gentamicin, amoxiciline, cephalexin,

chlotetraciline, neomycin, enrofloxacin Kết quả có 6 loại nhạy cảm với H alvei và

P Shigelloides là Norfloxacin, kanamycin, gentamicin, cephalexin, neomycin và

enrofloxacin [12]

Hiện nay, bên cạnh bệnh mủ gan còn có một số bệnh khác cũng gây thiệt hại đáng kể cho nghề nuôi Cá Tra như bệnh xuất huyết, vàng da, trắng gan trắng mang, bệnh do ký sinh trùng…

Theo nghiên cứu của Hứa Thị Phương Liên (1998) bệnh xuất huyết trên cá basa xảy ra gần như quanh năm không mang tính mùa vụ nhưng đôi khi có những thời điểm bệnh bộc phát cao độ vào tháng 2 - 3 đầu mùa khô, tháng 7 - 8 mùa nước

lũ và tháng 11 mùa nước rút Cá basa bệnh có những biểu hiện: thịt có đốm đỏ, xoang miệng, vây xuất huyết, hậu môn sưng đỏ, mang đen, tữa ra Cá bệnh mất nhớt, bụng trướng to, có mùi hôi dặc trưng Cá giảm ăn hoặc bỏ ăn, hay nhào lộn bất thường, ngửa bụng trôi theo dòng nước hoặc uốn cong thân, bơi lội không định hướng Giải phẫu cá bệnh thấy gan đen bầm hoặc xuất huyết, dạ dày và ruột xuất huyết, xoang bụng chứa dịch vàng Trường hợp cấp tính bệnh gây chết cao 80 -

Trang 24

90% Trường hợp mãn tính thịt cá có điểm xuất huyết màu đỏ và giảm giá trị thương phẩm hiện nay vẫn chưa có biện pháp phòng trị hữu hiệu [6]

Cũng như một số loài cá nước ngọt khác, bệnh trắng đuôi do vi khuẩn

Pseudomonas sp cũng xuất hiện trên Cá Tra ở giai đọan cá hương, cá giống Thời

kỳ đầu của bệnh, ở vị trí gần đuôi có một điểm trắng sau đó lan dần về phía trước cho đến vây lưng và vây hậu môn, cả đoạn thân sau màu trắng Bệnh nặng cá cắm đầu xuống dưới, đuôi hướng lên trên tạo thành góc vuông với mặt nước, còn gọi là

cá “trồng cây chuối”, cá bệnh chết nhanh chóng và hàng loạt trước khi chết có hiện tượng co giật [4]

Cá Tra giống thường bị nhiễm các nhóm ký sinh trùng đơn bào và đa bào có chu kỳ phát triển trực tiếp không qua ký chủ trung gian như trùng bánh xe (Trichodina), thích bào tử trùng (Myxobolus, Henneguya), trùng miệng lệch (Chilodonella), sán lá đơn chủ (Datylogyrus, Gyrodactylus), trùng mỏ neo (Lernaea) Chúng gây thành bệnh và làm thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuôi cá Cho đến nay đã phát hiện được 29 loài ký sinh trùng trên Cá Tra Trong đó nhóm

ký sinh trùng đơn bào (Protozoa) gặp 21 loài thuộc 10 giống: Cryptobia, Ceratomyxa, Myxobolus, Henneguya, Balantidium, Ichthyophthyrius, Epistylis, Apisoma, Trichodina, Tripatiella; sán lá đơn chủ (Monogenea) gặp 2 loài thuộc

giống Thaparocleidus; sán dây (Cestoidea) gặp 2 loài: Lystocestus varvulus,

Proteocephalus osculatus; sán lá song chủ (Tremtoda) gặp 1 loài: Bucephalopsis gracilescens; giun tròn (Nematoda) gặp 2 loài: Spectatus pangasia, Cucullanus chabaudi; giáp xác (Crustacea) gặp một loài: Egasius sp [5]

Cho đến thời điểm này, chưa có một nghiên cứu nào về bệnh cá tra nuôi tại Bến Tre thực sự được công bố Năm 2008, một sinh viên ngành bệnh học của Trường Đại học Nha Trang đã vào Bến Tre để thu mẫu cá bệnh cho nghiên cứu phân tích tác nhân gây bệnh mủ gan, nhưng kết quả của những nghiên cứu này đến tận bây giờ vẫn chưa được công bố chính thức Do vậy, việc tìm hiểu tình hình lưu hành của bệnh này ở các vùng nuôi cá tra tại Bến Tre, một số đặc điểm dịch tễ của bệnh để làm cơ sở cho công tác quản lý và phòng bệnh là thật sự cần thiết

Trang 25

PHẦN 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu:

 Đối tượng nghiên cứu

Bệnh mủ gan trên Cá Tra (Pangasius hypothalmus) nuôi thương phẩm trong

ao đất tại Bến Tre

 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 8/2008 đến tháng 8/2009

 Địa điểm nghiên cứu

Ba huyện Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre

CHÂU THÀNH

BÌNH ĐẠI GIỒNG TRÔM

Trang 26

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Sơ đồ khối của đề tài

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (Pangasius

hypophalmus Sauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện Châu

Thành, Giồng Trôm và Bình Đại - tỉnh Bến Tre

Hiện trạng kỹ thuật nuôi cá tra Hiện trạng bệnh mủ gan ở cá tra

Phân tích các yếu tố nguy cơ

Kỹ thuật Cải tạo

ao

Kỹ thuật chăm sóc quản lý

Tác hại bệnh

Mùa

vụ bệnh

Giai đoạn

cá bị bệnh

Biện pháp chữa hiệu quả

Dấu hiệu

Quan hệ bệnh - Kỹ thuật nuôi Quan hệ bệnh - Môi trường

Kết luận và đề xuất ý kiến

Hình 2.2: Sơ đồ khối của đề tài

Trang 27

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học

Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả và dịch tễ phân tích được giới thiệu bởi Đào Ngọc Phong (2001) được sử dụng cho nghiên cứu này [8] Các dữ liệu phục vụ cho phân tích đặc điểm dịch tễ của bệnh mủ gan ở cá tra được thu thập từ 2 nguồn:

2.2.2.1 Dịch tễ học mô tả: tiến hành hình thức điều tra cắt ngang để tìm hiểu về

bệnh mủ gan ở thời điểm hiện tại xuất hiện trong các ao nuôi cá tra tại Bến Tre, kết hợp trực tiếp thu mẫu bệnh để có thể mô tả được: hiện trạng bệnh trong thời điểm hiện tại và mô tả được các bệnh lý đặc trưng, tác hại của bệnh, tần suất gặp của bệnh và đánh giá các mối liên quan của bệnh với các yếu tố khác tại các ao đang bị bệnh

2.2.2.2 Dịch tễ học phân tích

Để có dữ liệu cho phân tích các yếu tố nguy cơ của bệnh, phương pháp điều tra hồi cứu cũng đã được thực hiện để tìm hiểu tình trạng bệnh xảy ra trong những năm đã qua kèm theo các yếu tố có liên quan để phân tích, đo lường sự tiếp xúc với tình trạng bệnh tật

Các yếu tố nguy cơ của bệnh được phân tích dựa vào 2 chỉ số: chỉ số nguy cơ tương đối (Relative Rick - RR) và chỉ số chênh (Odd Ratio - OR):

Nguy cơ bệnh ở nhóm tiếp xúc

Nguy cơ bệnh ở nhóm khôngtiếp xúc xúc

Trang 28

Bảng 2.1: Trình bày số liệu trong nghiên cứu hồi cứu

Các dữ liệu thứ cấp về tổng số hộ nuôi cá tra ở các huyện Châu Thành, Bình

Đại và Giồng Trôm thuộc tỉnh Bến Tre, diện tích hiện đang nuôi, năng suất, sản lượng và phân bố số hộ nuôi cá tra ở 3 huyện trên đã được thu thập từ các báo cáo tổng hợp về tình hình nuôi cá tra ở Bến Tre trong một số năm gần đây của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tỉnh Bến Tre Các dữ liệu này là cơ sở để xác định số mẫu điều tra và phân bố mẫu điều tra cho hợp lý

Bảng 2.2: Phân bố phiếu điều tra

Địa điểm Tổng số hộ

nuôi cá tra

Số phiếu điều tra Tỷ lệ (%)

b Nguồn dữ liệu sơ cấp:

50 hộ nuôi cá tra thương phẩm ở các huyện: Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm thuộc tỉnh Bến Tre (bảng 2.2) đã được phỏng vấn trực tiếp thông quan

bộ câu hỏi được xây dựng sẵn, nhằm thu thập các thông tin về bệnh mủ gan ở cá tra và các yếu tố liên quan đến sự xuất hiện của bệnh Cấu trúc của bộ câu hỏi gồm

3 phần: phần thông tin chung về cơ sở nuôi, phần thông tin về các biện pháp kỹ

thuật nuôi và phần thông tin về bệnh mủ gan ở cá tra (phụ lục 1)

Trang 29

2.2.3 Phương pháp thu thập mẫu vật cá bệnh và mô tả bệnh lý:

Việc thu mẫu cá bệnh được thực hiện cùng lúc với điều tra cắt ngang, từ 3-5 mẫu cá bệnh và cũng chừng ấy cá còn khỏe được thu từ mỗi ao cá đang bị bệnh Trong khuôn khổ một đề tài điều tra dịch tễ học thực hiện ở địa phương, những phân tích sâu hơn để tìm hiểu về tác nhân gây bệnh không thể thực hiện được Do vậy, những mẫu vật này đã được giải phẫu, quan sát, mô tả và chụp hình biểu thị những bệnh lý cơ bản để khẳng định rằng cá trong ao đang bị bệnh mủ gan Ngoài

ra một vài thủ thuật kiểm tra nhanh sự hiển diện của dạng trực khuẩn Gram âm, tồn tại trong mô của thận cá bệnh bằng các tiêu bản phết (smear) với phương pháp nhuộm Gram đã được thực hiện trong phòng thí nghiệm còn thô sơ của địa phương

* Phương pháp làm các tiêu bản phết mô (smear) và nhuộm Gram

Dùng bông thấm cồn 70o sát trùng bên ngoài cơ thể của cá Ổ bụng của cá được mở ra bằng kéo và panh vô trùng Dùng mắt thường để quan sát những dấu hiệu bất thường của gan, thận và lách Một lắt nhỏ của thận hoặc lách (hoặc gan) được cắt rời ra và dùng pang vô trùng để kẹp lấy lát mô vừa cắt, phết nhẹ mắt cắt của lát mô lên tấm lam sạch, rồi để khô trong không khí Sau khi tiêu bản phết đã khô, đưa vào nhuộm Gram theo các bước sau:

- Nhỏ dung dịch tím Crystal lên vùng mô phết trên lam, để 30-60 giây

- Rửa lame nhanh bằng nước chảy nhẹ, vẩy khô nước

- Nhỏ dung dịch Lugol trong 1 phút

- Rửa lame nhanh bằng nước, vẩy khô nước

- Nhỏ dung dịch cồn – Aceton, nghiêng lame cho cồn chảy qua vùng mô phết để tẩy màu trong 10 giây

- Rửa lame nhanh bằng nước chảy nhẹ, vẩy cho khô nước

- Nhỏ dung dịch Fuchsin trong 1 – 2 phút

- Rửa lại bằng nước và để khô tự nhiên

Các tiêu bản sau khi nhuộm Gram được quan sát dưới kính hiển vi quan học

ở độ phóng đại 400 lần hoặc 1000 lần có kèm một giọt dầu

Kết quả: Vi khuẩn có màu xanh/tím: Gram dương (+)

Vi khuẩn có màu đỏ /hồng: Gram âm (-)

2.3 Phương pháp phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm Microsoft EXCEL và SPSS 15.0 để xử lý số liệu

Trang 30

PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Hiện trạng kỹ thuật nuôi Cá Tra (Pangasius hypophalmus Sauvage, 1878)

thương phẩm trong ao đất tại Bến Tre

3.1.1 Diện tích và sản lượng nuôi Cá Tra tại 3 huyện điều tra và tại Bến Tre

Tổng hợp thông tin từ kết quả điều tra cho thấy Cá Tra (Pangasius

hypophthalmus) là đối tượng nuôi truyền thống của vùng đồng bằng sông Cửu

Long Tuy nhiên, nghề nuôi cá tra ở Bến Tre chỉ mới phát triển vài năm trở lại đây Mặc dù có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nhưng diện tích nuôi và sản lượng cá tra của tỉnh còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng sẳn có, theo thông tin từ người nuôi sở dĩ diện tích ao nuôi Cá Tra ở Bến Tre không lớn là do nghề nuôi cá tra ở đây mới bắt đầu hình thành, khả năng kinh tế của các hộ nuôi còn hạn chế, còn nghi ngờ về tính ổn định của mô hình này, một số nông hộ muốn nuôi thử Bên cạnh đó, trong quá trình nuôi người dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là giá nguyên liệu và dịch bệnh, cho nên họ không mạnh dạn đầu tư Tuy nhiên, diện tích ao nuôi Cá Tra vẫn có xu hướng tăng, bởi vì các ao nuôi Cá Tra chủ yếu có nguồn gốc từ vườn cây ăn trái, khi so sánh giữa mô hình trồng cây và nuôi cá tra trên cùng một đơn vị diện tích thì hiệu quả mang lại từ mô hình nuôi Cá Tra là cao hơn

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre, năm 2006 toàn tỉnh có 96,5 ha ao nuôi thâm canh Cá Tra với sản lượng 18.340 tấn Năm 2007, diện tích nuôi là 495 ha, tăng 5,13 lần so với năm 2006; sản lượng đạt 40.639 tấn, tăng 2,22 lần so với năm 2006 Tính đến hết năm 2008, diện tích nuôi

cá tra toàn tỉnh là 650 ha, sản lượng đạt 100.223 tấn, tăng 2,47 lần so với năm

2007, điều này cho thấy xu hướng phát triển “nóng” của cá tra nuôi thâm canh Năm 2008, diện tích nuôi Cá Tra thương phẩm ở ba huyện Châu Thành, Bình Đại

và Giồng Trôm chiếm 65,84% so với toàn tỉnh (Bảng 3.1) với diện tích và sản lượng luôn tăng qua các năm từ năm 2006 đến năm 2008 [10]

Trang 31

Bảng 3.1: Diện tích nuôi và sản lượng Cá Tra ở Bến Tre từ năm 2006 – 2008

Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Địa phương

(huyện)

Diện tích nuôi (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích nuôi (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích nuôi (ha)

Sản lượng (tấn)

Toàn tỉnh 96,5 18.340 495 40.639 650 100.223

(Nguồn báo cáo tổng kết năm Sở Nông nghiệp và PTNT Bến Tre)

Hiện nay, tình trạng nuôi Cá Tra ở Bến Tre là tự phát, không theo quy hoạch của địa phương, nên đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và gây ô nhiễm môi trường Đa số các hộ nuôi tự phát, chạy theo phong trào dẫn đến khủng hoảng sản phẩm, gây ô nhiễm môi trường và bệnh tật xuất hiện làm tổn thất lớn cho chính các hộ nuôi Để giải quyết bức xúc trên và tạo cho nghề nuôi Cá Tra có hiệu quả và bền vững, hạn chế việc gây ô nhiễm môi trường, ngành nông nghiệp Bến Tre vừa xây dựng hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết vùng nuôi Cá Tra Theo đó, vùng nuôi trọng tâm là các cù lao, bãi bồi ven sông, từ bờ sông vào không quá 200 m

Bản quy hoạch có đề cập các giải pháp về kỹ thuật, các mô hình 2 ao nuôi,

3 ao nuôi; Giải pháp trong tổ chức quản lý, tạo một chuỗi liên liên kết bền vững giữa ban quản lý vùng nuôi, hiệp hội cá tra Bến Tre – Đồng bằng Sông Cửu Long, các nông hộ nuôi cá tra Cùng với quy hoạch, hiện Sở Nông nghiệp và PTNT cũng đang xúc tiến xây dựng phương án hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong tỉnh hợp đồng liên kết giữa nhà máy chế biến, các doanh nghiệp chuyên sản xuất thức ăn với người nuôi, tạo vùng nguyên liệu chế biến xuất khẩu ổn định lâu dài, tránh những rủi ro như trong thời gian vừa qua [11]

Trang 32

3.1.2 Trình độ học vấn và chuyên môn nuôi trồng thủy sản của các nông hộ nuôi cá tra ở vùng điều tra

Trình độ văn hóa và chuyên môn về nuôi trồng thủy sản là điều kiện căn bản để người nuôi có thể lựa chọn mô hình nuôi hợp lý với điều kiện tài chính và khả năng quản lý của mình, ứng dụng khoa học công nghệ để giảm bớt nguy cơ xuất hiện các yếu tố rủi ro trong quá trình nuôi

Bảng 3.2: Trình độ văn hóa và chuyên môn của người nuôi cá tra tại 3 huyện

2 Chuyên môn nuôi thủy sản

Trình độ văn hóa của người nuôi cá tra tại 3 huyện được điều tra tại Bến tre

ở mức cao: kỹ thuật viên của các hộ có trình độ văn hóa kết thúc trung học phổ thông, trung cấp và đại học chiếm tới 80% số hộ được phỏng vấn Chỉ có 20% người nuôi cá tra đang ở trình độ văn hóa trung học cơ sở

Về trình độ chuyên môn nuôi trồng thủy sản cũng khá cao, người nuôi cá tra

có bằng kỹ sư về nuôi thủy sản chiếm tới 26%, trung cấp nuôi trồng thủy sản 26%,

số còn lại là công nhân được tập huấn kỹ thuật 18% và chưa qua đào tạo nuôi trông thủy sản 30% Như đã trình bày ở trên, khi người nuôi có trình độ chuyên môn cao

là một thuận lợi để áp dụng khoa học kỹ thuật trong nghề nuôi, quản lý môi trường

và quản lý sức khỏe cho cá

Đa số những người trực tiếp đứng kỹ thuật tại ao nuôi mới nuôi cá tra 2 năm trở lại (70%); số người nuôi từ 2 đến 4 năm (26%); số người nuôi trên 4 năm (4%)

Trang 33

Tuy cá tra là đối tượng nuôi truyền thống ở vùng ĐBSCL nhưng nghề nuôi cá tra ở Bến Tre mới phát triển 2 năm gần đây Số hộ mới nuôi từ 2 năm trở lại chiếm 70%, hộ nuôi từ 2 đến 4 năm (30%) Tuy nhiên, đa phần những người này đã có nhiều năm tham gia nuôi các đối tượng thủy sản khác như tôm sú, nên kinh nghiêm của họ về nuôi thủy sản khá tốt

Bảng 3.3: Số năm kinh nghiệm nuôi cá tra

Ao nuôi Tỷ lệ

(%)

Năm kinh nghiệm

Tỷ lệ (%)

3.1.3 Hiện trạng kỹ thuật nuôi cá tra

Qua quá trình khảo sát thực tế, đã thu thập được một số thông tin về kỹ thuật nuôi từ 50 hộ nuôi Cá Tra tại ba huyện Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm Cụ thể như sau:

3.1.3.1 Diện tích và độ sâu của các ao nuôi cá tra tại vùng điều tra

Kết quả phỏng vấn trực tiếp 50 nhân viên kỹ thuật tại 50 hộ nuôi Cá Tra thương phẩm trong ao đất ở ba huyện Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm tỉnh Bến Tre về diện tích của các ao nuôi cá tra được thể hiện ở bảng 3.4

Bảng 3.4: Diện tích nuôi Cá Tra của các nông hộ ở ba huyện Châu Thành, Bình

Đại và Giồng Trôm (n = 50) Nơi điều tra

Tổng số hộ điều tra

Tổng diện tích (ha)

Trung bình/hộ (ha)

Min (ha)

Max (ha)

Tại các hộ nuôi cá tra đuợc khảo sát cho thấy, ao nuôi cá tra có độ sâu rất lớn, có ao sâu đến 5m, được thể hiện ở bảng 3.5

Trang 34

Bảng 3.5: Độ sâu của ao nuôi cá tra tại vùng điều tra (n = 50)

Nơi điều tra Tổng số hộ

điều tra

Độ sâu trung bình/hộ (m)

Min (m)

Max (m)

3.1.3.2 Kỹ thuật cải tạo ao trước mỗi vụ nuôi

Từ kết quả khảo sát thực tế cho thấy đa số các hộ nuôi cá đều thực hiện cải tạo ao đúng kỹ thuật cơ bản như: tháo nước ao, diệt cá dữ, cá tạp và địch hại khác, vét hút bùn đáy ao, rãi vôi với liều lượng từ 7 – 10 kg/100 m2, cấp nước vào ao nuôi qua lưới chắn lọc và thả giống Thời gian tẩy dọn ao trước khi thả giống từ 5 đến 10 ngày Tuy nhiên, do ao nuôi có độ sâu lớn và chất đất là bùn cát nên việc tháo cạn nước ao gặp nhiều khó khăn, nếu nước được tháo cạn để phơi đáy ao thì

bờ ao sẽ bị sạt lở, nên các hộ nuôi chỉ tháo bớt nước, phần nước còn lại trong ao nuôi khoảng 2 m Do đó không phơi đáy ao được (Hình 3.1) Bên cạnh đó, sau mỗi

vụ nuôi, người dân đều vét bùn đáy ao, có 26% các hộ nuôi bơm bùn vào ao chứa bùn và vườn cây, còn 74% các hộ nuôi thải trực tiếp ra ngoài sông rạch (bảng 3.6) Đây chính là điều kiện thuật lợi để tác nhân gây bệnh ở cá tra phát triển và lây lan trong vùng nuôi, vì nguồn nước được lấy vào ao nuôi trực tiếp từ sông rạch, nơi

mà 74% hộ nuôi đã xả chất thải từ ao nuôi trực tiếp ra sông rạch

Trang 35

Bảng 3.6: Kỹ thuật tẩy dọn ao trước khi nuôi cá tra tại vùng điều tra

Kết quả điều tra

5 Phơi nắng đáy ao (trong tẩy dọn khô) 0 0

6 Sát trùng ao bằng hóa chất trước nuôi 50 100

Trang 36

nuôi có phương pháp xử lý khác nhau Các loại hóa chất được người nuôi sử dụng

để cải tạo ao và xử lý nước được thể hiện ở hình 3.2 Kết quả khảo sát cho thấy người dân đã dùng 11 loại hóa chất để cải tạo ao và xử lý nước, trong đó vôi và BKC được sử dụng nhiều nhất Có 100% số hộ sử dụng vôi, 86% số hộ sử dụng BKC và 64% số hộ sử dụng chlorine

100 86 64 42

3.1.3.3 Mật độ thả nuôi, nguồn, kích cỡ và chất lượng giống thả

Qua khảo sát đã cho thấy, mật độ thả nuôi cá tra ở các hộ điều tra trong ao đất tại vùng điều tra có sự chênh lệnh nhau lớn, dao động từ 30 con đến 68 con/m2(Bảng 3.7)

Bảng 3.7: Mật độ và cỡ giống cá Tra thả nuôi thương phẩm ở 3 huyện Châu

Thành, Bình Đại và Giồng Trôm

Các hộ nuôi có mật độ thả thấp (dưới 40 con/m2) cho rằng thả ở mật độ thấp

sẽ dể dàng trong khâu chăm sóc và quản lý Còn các hộ nuôi với mật độ thả cao (hơn 50 con/m2) lại cho rằng thả nuôi với mật độ cao để bù lại sự hao hụt trong quá

Trang 37

trình nuôi Mặc khác, nếu nuôi mật độ cao hay thấp thì công chăm sóc, chi phí hóa chất xử lý nước và ao nuôi là như nhau (trong điều kiện cùng diện tích và thể tích nước) cho nên họ nuôi mật độ cao để giảm chi phí, tăng năng suất Điều này gây khó khăn trong quá trình chăm sóc quản lý ao nuôi Tuy nhiên, có tới 50% số hộ nuôi ở mật độ từ 40 - 50con/m2.Cỡ giống thả nuôi dao động từ 30 – 150 con/kg)

Cỡ giống này phụ thuộc vào thói quen của người nuôi và thị trường cung ứng giống

Bảng 3.8: Nguồn và đánh giá chất lượng giống cá tra thả nuôi ở 3 huyện Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm (n = 50)

Nguồn

giống

Đồng Tháp

An Giang

Bến Tre

Tiền Giang

Trang 38

3.1.3.4 Mùa vụ thả nuôi cá tra

Bảng 3.9: Mùa vụ thả giống và số vụ nuôi cá tra trong năm ở ba huyện Châu

Thành, Bình Đại và Giồng Trôm Mùa vụ thả giống Quanh năm Mùa mưa Mùa khô

cá thì sẽ nuôi vụ tiếp theo Nên mùa vụ thả nuôi chủ yếu là rãi đều quanh năm (88%) Từ kết quả khảo sát cho thấy, số vụ nuôi cá tra của các nông hộ bình quân

là 3 vụ trong 2 năm, với qui mô công nghiệp, được đầu tư cao từ phía người nuôi, nên không phân ra mùa vụ thả giống rõ ràng, thời gian thả giống phụ thuộc vào thời gian thu hoạch, mà thời điểm thu hoạch lại phụ thuộc vào yêu cầu kích cỡ cá tiêu thụ và giá cả thị trường

3.1.3.5 Thức ăn và chế độ chăm sóc

Các hộ nuôi đều cho rằng, khâu cho ăn và tính toán lượng thức ăn phù hợp

là vấn đề rất quan trọng để tránh trường hợp cho ăn thừa làm ô nhiễm môi trường

và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế

Qua bảng 3.10 cho thấy, chỉ có 4% các hộ nuôi sử dụng thức ăn chế biến và

có đến 96% sử dụng thức ăn công nghiệp Các lọai thức ăn công nghiệp được người nuôi sử dụng như: CP, Cargill, Greenfeed, Việt Thắng, Thành Hưng Điều này cho thấy hộ nuôi đã nhận thức được vai trò của thức ăn công nghiệp trong nuôi

cá tra thâm canh, góp phần ổn định, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho cá và hạn chế sự ô nhiễm môi trường Đặc biệt là ở giai đoạn cá mới thả đến 1 tháng nuôi thì 100% các hộ nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp có thành phần dinh dưỡng cao, phù hợp cho cá nhỏ Cho cá ăn định kỳ 2 lần/ngày với khẩu phần cho ăn dao động từ 4-

Trang 39

5% (trong 2 tháng đầu) giảm dần đến khi thu hoạch xuống còn 1% khối lượng cá/ngày Tuy nhiên, các hộ nuôi đều cho rằng khi thời tiết thay đổi, hoặc cá bị bệnh thì giảm lượng thức ăn lại, nếu cá ăn không hết phần thức ăn trong ngày thì phải vớt lượng thức ăn thừa ra khỏi ao và điều chỉnh khẩu phần thích hợp cho lần kế tiếp cho phù hợp với sự ăn mồi của cá Bên cạnh đó có 100% các hộ nuôi đều có

bổ sung khoảng 2% các loại Vitamin và chất khoáng vào thức ăn của cá từ 2 – 3 lần/tuần

Bảng 3.10: Sử dụng thức ăn trong nuôi cá tra thương phẩm tại Bến Tre

Giai đoạn nuôi 2 tháng đầu 2 tháng giữa 2 tháng cuối

Khẩu phần cho ăn (%

khối lượng cá/ngày)

4-5% khối lượng cá

2-3% khối lượng

1 - 1,5% khối lượng cá Khi thả cá với mật độ cao, thức ăn cho cá nhiều và chất thải ra cũng rất lớn, làm cho môi trường ao nuôi nhanh bị nhiễm bẩn Trong quá trình điều tra, đa số các hộ nuôi đều cho rằng khâu quan trọng nhất khi nuôi cá tra là phải giữ nguồn nước trong ao nuôi được trong sạch, nên giải pháp của họ là phải thay nước và hút bùn đáy ao

Ngày đăng: 06/08/2014, 17:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2.1. Sơ đồ khối của đề tài  17 - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
2.2.1. Sơ đồ khối của đề tài 17 (Trang 8)
Hình 1.2:    Hafnia  alvei - trực khuẩn G (-) (A);    Có ký sinh nội bào (B) - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
Hình 1.2 Hafnia alvei - trực khuẩn G (-) (A); Có ký sinh nội bào (B) (Trang 20)
Hình 1.1: Cá Tra bị bệnh mủ gan: các đốm trắng trên gan, thận, lá lách (A); - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
Hình 1.1 Cá Tra bị bệnh mủ gan: các đốm trắng trên gan, thận, lá lách (A); (Trang 20)
Hình 1.3: Clostridium sp trực khuẩn G (+), có nội bào tử (A); - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
Hình 1.3 Clostridium sp trực khuẩn G (+), có nội bào tử (A); (Trang 22)
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre (Trang 25)
2.2.1. Sơ đồ khối của đề tài - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
2.2.1. Sơ đồ khối của đề tài (Trang 26)
Bảng 2.1: Trình bày số liệu trong nghiên cứu hồi cứu  BỆNH - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
Bảng 2.1 Trình bày số liệu trong nghiên cứu hồi cứu BỆNH (Trang 28)
Bảng 2.2:  Phân bố phiếu điều tra  Địa điểm  Tổng số hộ - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
Bảng 2.2 Phân bố phiếu điều tra Địa điểm Tổng số hộ (Trang 28)
Bảng 3.1: Diện tích nuôi và sản lượng Cá Tra ở Bến Tre từ năm 2006 – 2008  Năm 2006        Năm 2007        Năm 2008  Địa phương - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
Bảng 3.1 Diện tích nuôi và sản lượng Cá Tra ở Bến Tre từ năm 2006 – 2008 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Địa phương (Trang 31)
Bảng 3.2: Trình độ văn hóa và chuyên môn của người nuôi cá tra tại 3 huyện  (n=50) - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
Bảng 3.2 Trình độ văn hóa và chuyên môn của người nuôi cá tra tại 3 huyện (n=50) (Trang 32)
Bảng 3.3: Số năm kinh nghiệm nuôi cá tra  Ao nuôi  Tỷ lệ - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
Bảng 3.3 Số năm kinh nghiệm nuôi cá tra Ao nuôi Tỷ lệ (Trang 33)
Bảng 3.4: Diện tích nuôi Cá Tra của các nông hộ ở  ba huyện Châu Thành, Bình  Đại và Giồng Trôm (n = 50) - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
Bảng 3.4 Diện tích nuôi Cá Tra của các nông hộ ở ba huyện Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm (n = 50) (Trang 33)
Bảng 3.5: Độ sâu của ao nuôi cá tra tại vùng điều tra (n = 50)  Nơi điều tra  Tổng số hộ - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
Bảng 3.5 Độ sâu của ao nuôi cá tra tại vùng điều tra (n = 50) Nơi điều tra Tổng số hộ (Trang 34)
Bảng 3.6: Kỹ thuật tẩy dọn ao trước khi nuôi cá tra tại vùng điều tra  Kết quả điều tra  TT  Các chỉ tiêu kỹ thuât - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
Bảng 3.6 Kỹ thuật tẩy dọn ao trước khi nuôi cá tra tại vùng điều tra Kết quả điều tra TT Các chỉ tiêu kỹ thuât (Trang 35)
Hình 3.2: Các loại thuốc, hóa chất được người nuôi sử dụng để cải tạo ao và xử lý  nước - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre
Hình 3.2 Các loại thuốc, hóa chất được người nuôi sử dụng để cải tạo ao và xử lý nước (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w