Trước thực trạng suy giảm nguồn lợi tự nhiên, được sự đồng ý của Khoa Nuôi trồng thủy sản, trường Đại học Nha Trang, tôi đã thực hiện để tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-
CAO XUÂN DŨNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN
CỦA CÁ NGẠNH (Cranoglanis henrici VAILLANT, 1893)
LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
NHA TRANG - 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-
CAO XUÂN DŨNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN
CỦA CÁ NGẠNH (Cranoglanis henrici VAILLANT, 1893)
Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Cao Xuân Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Phòng đào tạo Đại học và Sau Đại học trường Đại học Nha Trang, Ban Giám hiệu trường Cao Đẳng Thủy sản, Ban Quản lý Dự án Hợp phần Hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững (SUDA) đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được học tập và nghiên cứu chuyên môn
Đề tài khó có thể thực hiện được nếu thiếu sự hướng dẫn tận tình và khoa học của PGS TS Nguyễn Đình mão, cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ quý báu đó
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Khoa học và Hợp tác Quốc tế, Phòng thí nghiệm, Trại thực nghiệm Nuôi trồng Thủy sản nước ngọt trường Cao đẳng Thủy sản - Từ Sơn - Bắc Ninh; Phòng công nghệ tế bào động vật - Trung tâm nghiên cứu khoa học sự sống - Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn T.S Thái Thanh Bình đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và đóng góp ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn
Sau cùng, lời cảm ơn xin được gửi tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp, các anh chị học viên lớp Cao học nuôi trồng thủy sản 2009 đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Nha Trang, tháng 10 năm 2010
Cao Xuân Dũng
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
Danh mục ký hiệu và chữ viết tắt viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG LUẬN 3
1.1 Tổng quan về bộ cá da trơn 3
1.1.1 Phân loại 4
1.1.2 Tiến hóa 5
1.1.3 Phân bố và môi trường sống 6
1.1.4 Đặc trưng hình thái ngoài 7
1.1.5 Kích thước 9
1.1.6 Đặc trưng giải phẫu trong 10
1.1.7 Tình hình nuôi cá da trơn 11
1.2 Vài nét về đối tượng nghiên cứu 12
1.2.1 Vị trí phân loại 12
1.2.2 Phân bố, môi trường sống và hiện trạng nguồn lợi 13
1.2.3 Sinh trưởng 13
1.2.4 Dinh dưỡng 14
1.2.5 Sinh sản 14
1.2.6 Khai thác 14
1.3 Một vài nghiên cứu về cá ngạnh trên thế giới 15
1.3.1 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái 15
1.3.2 Các nghiên cứu về tên loài trong giống cá ngạnh 16
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
Trang 62.2 Đối tượng nghiên cứu 19
2.3 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản 20
2.4.1 Tuổi và kích thước thành thục ngoài tự nhiên 20
2.4.2 Mùa vụ sinh sản 20
2.4.3 Xác định hệ số thành thục 21
2.4.4 Nghiên cứu sự biến đổi tuyến sinh dục cá ngạnh qua các tháng nghiên cứu 21
2.4.5 Xác định sức sinh sản của cá 25
2.4.6 Đặc điểm dinh dưỡng 25
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Một số đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng của cá ngạnh 27
3.1.1 Thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa 27
3.1.2 Độ no 28
3.1.3 Mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng 28
3.2 Hình thái và các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục 30
3.2.1 Hình thái ngoài cơ quan sinh dục 30
3.2.2 Cấu tạo tuyến sinh dục 31
3.2.3 Các giai đoạn phát triển của buồng trứng 32
3.2.4 Các giai đoạn phát triển của tinh sào 35
3.3 Tuổi và kích thước thành thục 37
3.4 Mùa vụ sinh sản 40
3.4.1 Sự phát triển của tuyến sinh dục theo thời gian 40
3.4.2 Biến thiên hệ số thành thục theo thời gian 41
3.4.3 Biến thiên độ béo 43
3.5 Sức sinh sản 44
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tần số xuất hiện các loại thức ăn 27
Bảng 3.2: Độ no của cá ngạnh 28
Bảng 3.3: Giá trị tương quan giữa chiều dài và trọng lượng theo nhóm kích thước của cá ngạnh (n = 91) 29
Bảng 3.4: Tỷ lệ các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục cá ngạnh 38
Bảng 3.5: Tương quan thành thục sinh dục theo nhóm kích thước của cá cái 39
Bảng 3.6: Tương quan thành thục sinh dục theo nhóm kích thước của cá đực 39
Bảng 3.7: Sự phát triển của tuyến sinh dục theo thời gian 40
Bảng 3.8: Hệ số thành thục trung bình qua các tháng nghiên cứu 41
Bảng 3.9: Biến thiên độ béo của cá ngạnh 43
Bảng 3.10: Sức sinh sản của cá ngạnh theo các nhóm kích thước khác nhau 45
Bảng 3.11: So sánh sức sinh sản của cá ngạnh với các loài trong bộ cá da trơn 46
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Cá trê Mỹ (Ictalurus punctatus) có 4 cặp râu 8
Hình 1.2: Tấm giáp bảo vệ ở Corydoras semiaquilus 8
Hình 1.3: Cú chích từ cá ngát sọc (Plotosus lineatus) có thể gây tử vong 8
Hình 1.4: Cá ngạnh Cranoglanis henrici 12
Hình 1.5: A - mặt trái mấu lồi của Cranoglanis henrici, 143,3 mm SL; B - mặt trái mấu lồi của C bouderius, 146,0 mm SL 18
Hình 1.6: Nhìn mặt dưới đầu A- Cranoglanis henrici, 197,8 mm SL; B - C multiradiatus, 187,6 mm SL 18
Hình 2.1: Sơ đồ khối nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản 19
Hình 3.1: Đồ thị mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng 29
Hình 3.2: Cá ngạnh đực 30
Hình 3.3: Cá ngạnh cái 30
Hình 3.4: Cá ngạnh cái đang mang trứng 31
Hình 3.5: Buồng trứng cá ngạnh cái 31
Hình 3.6: Cá ngạnh đực mang tinh sào 32
Hình 3.7: Tinh sào cá ngạnh đực 32
Hình 3.8: Buồng trứng giai đoạn II 33
Hình 3.9: Tiêu bản buồng trứng GĐ II 33
Hình 3.10: Buồng trứng giai đoạn III 33
Hình 3.11: Tiêu bản buồng trứng GĐ III 33
Hình 3.12: Buồng trứng giai đoạn IV 34
Hình 3.13: Tiêu bản buồng trứng GĐ IV 34
Hình 3.14: Buồng trứng giai đoạn V 35
Hình 3.15: Tiêu bản buồng trứng GĐ V 35
Hình 3.16: Tinh sào giai đoạn II 36
Hình 3.17: Tinh sào giai đoạn III 36
Hình 3.18: Tinh sào giai đoạn IV 36
Trang 9Hình 3.19: Tinh sào giai đoạn V 36
Hình 3.20: Kích thước thành thục lần đầu của cá ngạnh cái 39
Hình 3.21: Kích thước thành thục lần đầu của cá ngạnh đực 39
Hình 3.22: Đồ thị biểu diễn sự biến thiên tỷ lệ thành thục 41
Hình 3.23: Đồ thị biểu diễn sự biến thiên hệ số thành thục của cá ngạnh cái 42
Hình 3.24: Đồ thị biểu diễn sự biến thiên hệ số thành thục cá ngạnh đực 42
Hình 3.25: Đồ thị biểu diễn biến thiên độ béo của cá ngạnh 44
Trang 10DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ACSI : All Catfish Species Inventory
Trang 11MỞ ĐẦU
Cá ngạnh Cranoglanis henrici (Vaillant, 1893) là loài cá phân bố trong tự nhiên
có giá trị kinh tế cao Thịt cá ngạnh mềm, ít xương dăm, ăn rất ngon, được coi là loài cá đặc sản nước ngọt
Cá ngạnh thuộc nhóm ăn tạp, thức ăn là các động vật không xương sống, côn trùng, cá con và cả động vật có xương sống Cá ngạnh thành thục ở tuổi 2+ Mùa sinh sản vào tháng 4 - 6 Cá đẻ ven bờ, hạ lưu các sông lớn Cá bố mẹ có tập tính bảo vệ trứng và cá bột
Trên thế giới, cá ngạnh phân bố ở Thái Lan, Philippin, Inđônêxia, Trung Quốc, Việt Nam Ở Việt Nam thường gặp ở nơi nước chảy êm, cá sống trong tầng đáy và tầng nước giữa các hệ thống sông từ miền Bắc đến Nam Trung Bộ, không gặp ở Nam Bộ
Trước đây, sản lượng cá đánh bắt tự nhiên tương đối lớn Tuy nhiên, trong những năm gần đây do ảnh hưởng của điều kiện môi trường bị suy thoái như nạn phá rừng, đắp đập, đào đãi vàng ở lòng sông, nhưng chủ yếu là do khai thác quá mức bằng những phương tiện huỷ diệt như dùng xung điện, thuốc nổ, chất độc, ruốc cá và những phương tiện khai thác khác nên sản lượng cá ngạnh đã giảm sút nghiêm trọng Hiện tại, cá ngạnh được xếp vào mức đe dọa bậc V (Vulnerable), cần phải bảo vệ gấp
Trước thực trạng suy giảm nguồn lợi tự nhiên, được sự đồng ý của Khoa Nuôi
trồng thủy sản, trường Đại học Nha Trang, tôi đã thực hiện để tài: “Nghiên cứu
một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá ngạnh (Cranoglanis henrici Vaillant,
1893)”, làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu sinh sản nhân tạo, tạo con giống
để gia hóa trong điều kiện nuôi, làm phong phú thêm cơ cấu loài cá nuôi và giảm áp lực khai thác cá tự nhiên Đây được coi là biện pháp hữu hiệu nhất trong công tác bảo tồn loài cá này thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng
Trang 12Ý nghĩa của đề tài:
Ý nghĩa khoa học
Là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về đặc điểm sinh học sinh sản của cá ngạnh
Cranoglanis henrici, làm tiền đề cho nghiên cứu sinh sản nhân tạo loài cá này
Ý nghĩa thực tiễn
+ Góp phần bảo tồn loài cá này trước nguy cơ tuyệt chủng
+ Tạo tiền đề cho nghiên cứu sản xuất giống, phục vụ cho nghề nuôi loài cá này trong tương lai
Mục tiêu của đề tài: Nghiên cứu nhằm thu được các dẫn liệu bước đầu về đặc
điểm sinh học sinh sản, góp phần phát triển và bảo tồn loài cá ngạnh (Cranoglanis
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG LUẬN
Bộ Cá da trơn hay bộ Cá nheo (danh pháp khoa học: Siluriformes) là một bộ cá
rất đa dạng trong nhóm cá xương Các loài cá trong bộ này dao động khá mạnh về
kích thước và cách thức sinh sống, từ loài nặng nhất là cá tra dầu (Pangasius gigas)
ở Đông Nam Á tới loài dài nhất là cá nheo châu Âu (Silurus glanis) của đại lục Á -
Âu, hay những loài chỉ ăn xác các sinh vật chết ở lớp nước đáy, hay các loài cá ký
sinh nhỏ bé như Vandellia cirrhosa Có loài có tấm xương bảo vệ, cũng có loài
không có tấm xương bảo vệ, nhưng tất cả chúng đều không có vảy Không phải loài
cá da trơn nào cũng có râu, các đặc trưng để xác định bộ Siluriformes trên thực tế là các đặc điểm chung của hộp sọ và bong bóng Bộ cá này có tầm quan trọng kinh tế đáng kể, nhiều loài được nuôi ở quy mô lớn để cung cấp thực phẩm, một vài loài được nuôi thả phục vụ cho việc giải trí Nhiều loài cá nhỏ, cụ thể là các loài trong
giống Corydoras, được nuôi làm cảnh trong các bể cá [3]
Cá da trơn được nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và trở thành một nguồn thủy sản quan trọng trong công nghiệp thực phẩm, được chế biến và tiêu thụ rộng rãi trên toàn cầu Tại Hoa Kỳ, loài catfish (cá mèo hay cá trê Mỹ) thuộc họ Ictaluridae của bộ cá da trơn được nuôi với quy mô công nghiệp Các chủ trại nuôi
cá catfish đã thành lập một hiệp hội nghề nghiệp nuôi cá catfish để truyền bá, trao đổi kinh nghiệm nuôi loài cá này và bảo vệ quyền lợi cho các thành viên trong
Trang 14trường hợp gặp phải sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường Cũng trong
cuộc cạnh tranh này, đã có thời kỳ các loài cá tra (Pangasius hypophthalmus) và cá
ba sa (Pangasius bocourti) của Nam Bộ, mặc dù thuộc họ Pangasiidae (tiếng Anh
gọi là shark catfish) cũng trong bộ cá da trơn nhưng vẫn bị cho là thuộc họ cá trê (Clariidae) và cho tới nay tại thị trường Mỹ vẫn không được dán nhãn là catfish và
áp dụng thuế chống phá giá lên các loài cá nhập khẩu này [3]
Ở Việt Nam có nhiều loài thuộc bộ cá da trơn như cá trê, cá nheo, cá bông lau, cá
ba sa, cá tra, cá lăng, cá ngạnh… đại đa số chúng sinh sống tự nhiên trong các ao, đầm, sông, hồ Chỉ đến gần đây, khi nhu cầu tiêu thụ loài cá này dưới dạng thực phẩm tăng lên một cách đột biến, một số loài cá thuộc bộ này bắt đầu được các chủ trại nuôi cá ở Việt Nam đưa vào nuôi, mặc dù với quy mô không lớn [3]
1.1.1 Phân loại
Cá da trơn thuộc về trên bộ Ostariophysi, bao gồm các bộ khác như Cypriniformes, Characiformes, Gonorynchiformes và Gymnotiformes, với đặc trưng chung của trên bộ này là sự hiện diện của bộ máy Weber - một kết cấu nối bàng quang với bộ phận thu âm của cá Một số tác giả đặt bộ Gymnotiformes như một phân bộ của Siluriformes, tuy nhiên điều này ít được chấp nhận Hiện tại, người
ta cho rằng bộ Siluriformes là nhóm có quan hệ gần gũi với bộ Gymnotiformes, mặc
dù điều này gây tranh cãi do các kết quả từ nghiên cứu phân tử gần đây Tại thời điểm năm 2007, người ta công nhận khoảng 36 họ cá da trơn với khoảng 3.023 loài còn tồn tại đã được miêu tả Điều này làm cho bộ cá da trơn trở thành nhóm động vật có xương sống đứng hàng thứ 2/3 về sự đa dạng [3]
Phân loại của bộ cá da trơn thay đổi rất nhanh Trong một bài báo năm 2007,
Horabagrus, Phreatobius và Conorhynchos không được phân loại trong bất kỳ họ
cá da trơn nào Cũng có một số bất đồng về địa vị họ của một số nhóm; chẳng hạn, Nelson (2006) liệt kê Auchenoglanididae và Heteropneustidae như là các họ riêng biệt, nhưng All Catfish Species Inventory (ACSI) lại đưa chúng vào các họ khác Ngoài ra, FishBase và ITIS liệt kê Parakysidae như một họ riêng, trong khi nhóm này lại được cả Nelson (2006) và ACSI gộp vào trong họ Akysidae Nhiều nguồn
Trang 15khác không liệt kê họ mới sửa đổi gần đây là Anchariidae Họ Horabagridae, bao
gồm Horabagrus, Pseudeutropius và Platytropius, cũng không được một số tác giả
liệt kê nhưng lại được những người khác coi là một nhóm thật sự Vì thế, số lượng các họ là không đồng nhất giữa các tác giả Số lượng loài cũng luôn luôn thay đổi vì các nghiên cứu trong phân loại cũng như từ sự miêu tả các loài mới Nhưng có lẽ, kiến thức chung về cá da trơn có thể sẽ được tăng lên trong những năm tới nhờ các công trình của ACSI [3]
Tần suất miêu tả các loài cá da trơn mới là rất cao Trong giai đoạn 2003 - 2005, trên 100 loài đã được đặt tên, một tốc độ cao gấp 3 lần so với thế kỷ vừa qua Tháng
6 - 2005, các nhà khoa học đã đặt tên cho một họ cá da trơn mới là Lacantuniidae, là
họ cá mới thứ ba trong vòng 70 năm qua (hai họ kia là cá vây tay (Latimeriidae) năm 1938 và cá mập miệng to (Megachasmidae) năm 1983) Loài mới trong họ
Lacantuniidae, Lacantunia enigmatica, đã được tìm thấy tại khu vực sông Lacantun
ở Chiapas, Mexico [3]
1.1.2 Tiến hóa
Một loạt các hóa thạch cá da trơn đã được biết đến Cá da trơn thông thường có bộ xương lớn và nặng, có xu hướng dễ hóa thạch hóa và tạo ra các sỏi thính giác tương đối lớn Vì thế, một lượng lớn các loài cá da trơn đã được đặt tên từ các hóa thạch bộ xương toàn bộ hay một phần hoặc từ các sỏi thính giác, trong đó 19 chi và 72 loài chỉ dựa hoàn toàn vào các tàn tích hóa thạch Có hai họ đã hóa thạch là Andinichthyidae
từ tầng Maastricht tới thế Paleocen, và Hypsidoridae từ giữa thế Eocen [3]
Cá da trơn đã biết sớm nhất có từ cuối tầng Campania đến đầu tầng Maastricht ở Argentina Các hóa thạch cá da trơn được tìm thấy ở mọi châu lục, ngoại trừ Australia Các hóa thạch với niên đại khoảng thế Eocen đã được phát hiện tại đảo Seymour ở châu Nam Cực
Người ta tin rằng các nhánh của cá da trơn đã phân tỏa từ một tổ tiên chung trong một thời gian tương đối ngắn Trung tâm nguồn gốc cá da trơn có lẽ là Nam Mỹ Tại khu vực này, cá da trơn có sự đa dạng cao nhất về loài Ngoài ra, hai trong số các họ cá da trơn nguyên thủy nhất, là họ Hypsidoridae đã tuyệt chủng và
Trang 16Diplomystidae được tìm thấy tương ứng ở các rìa bắc và nam của khu vực phân bố này Các họ cá da trơn tại châu Phi là tương đối nguyên thủy Mặc dù bộ Siluriformes và bộ Gymnotiformes thường được coi là hai nhóm có quan hệ gần gũi, nhưng chứng cứ phân tử gần đây lại chỉ ra rằng chúng có nguồn gốc độc lập Các loài cá da trơn tại Australia là các loài từ các họ có thể sống được trong môi trường nước mặn, chúng có thể đã di chuyển tới khu vực này thông qua môi trường biển và sau đó lại chuyển sang kiểu sống trong môi trường nước ngọt [3]
Cá da trơn có thể đã phổ biến từ châu Phi sang châu Á vào cuối kỷ Jura nếu chúng có thể đến được đó Trong kỷ Phấn Trắng, vết nứt giữa châu Phi và Nam Mỹ
có thể đang được hình thành và điều này có thể giải thích cho các trái ngược trong các họ giữa hai châu lục Phần lớn cá da trơn nước ngọt của hai châu lục này dường như hoàn toàn không có quan hệ họ hàng gì Sự tương đối ít đa dạng của chúng ở châu Phi có thể giải thích tại sao một vài họ cá da trơn nguyên thủy lại cùng tồn tại với chúng trong khi chúng lại không có ở Nam Mỹ, trong đó các dạng cá da trơn nguyên thủy hơn có thể đã bị tuyệt chủng Thời gian sớm nhất mà cá da trơn phổ biến tới Trung Mỹ là vào cuối thế Miocen [3]
1.1.3 Phân bố và môi trường sống
Các loài cá da trơn sinh sống trong các vùng nước nội địa hay ven biển của mọi châu lục, ngoại trừ châu Nam Cực, nhưng chúng có lẽ đã từng sinh sống trong mọi châu lục vào khoảng thời gian này hay khoảng thời gian khác Cá da trơn là nhóm
cá đa dạng nhất tại khu vực nhiệt đới Nam Mỹ, châu Phi và châu Á Trên một nửa
số loài cá da trơn sinh sống tại châu Mỹ, chúng là các loài cá thuộc trên bộ Ostariophysi đã di cư vào môi trường sống nước ngọt ở Madagascar, Australia và New Guinea [3]
Cá da trơn chủ yếu được tìm thấy tại các môi trường sống nước ngọt, trong các vùng nước nông và có sự lưu thông (nước chảy) Các đại diện của ít nhất 8 họ là các loài sinh sống ngầm dưới đất với 3 họ có khả năng sinh sống trong các hang hốc Vì thế, cá da trơn là một trong những nhóm cá thành công nhất trong việc chiếm lĩnh
Trang 17các hang hốc Nhiều loài từ các họ Ariidae và Plotosidae, cùng vài loài từ các họ Aspredinidae và Bagridae có thể sinh sống tốt trong môi trường biển [3]
Tại Việt Nam, có thể tìm thấy cá lăng Hemibagrus elongatus, cá chiên Bagarius
bagarius, cá ngạnh Cranoglanis henrici ở các sông đồng bằng miền Bắc như sông
Lô, sông Hồng, sông Thao, sông Đà, sông Mã, sông Lam Miền Nam thì có cá chiên
sông Bagarius yarrelli, cá lăng nha Mystus nemurus, cá tra dầu Pangasianodon
gigas, cá trèn bầu Ompok bimaculatus được thấy tại các sông rạch như sông Đồng
Nai, sông Sài Gòn và hạ lưu sông Cửu Long, vùng Tiền Giang, Hậu Giang [3]
1.1.4 Đặc trưng hình thái ngoài
Phần lớn cá da trơn có các đặc điểm thích nghi với cuộc sống ở tầng đáy Nói chung, chúng có sức nổi âm, nghĩa là chúng thường sống chìm hơn là sống nổi do bong bóng bị suy giảm, đầu nhiều xương và nặng Cá da trơn có hình dạng phần thân không đồng nhất, nhưng phần lớn có thân hình trụ với bụng hơi phẳng để thích hợp với việc kiếm ăn ở tầng đáy
Đầu bẹp có thể cho phép chúng đào bới trong tầng đất bùn, cũng như phục vụ trong vai trò tạo sức nâng giống như ở tàu ngầm Phần lớn phần miệng có thể mở to
và không có răng cửa, cá da trơn nói chung ăn uống theo kiểu bú mút hay nuốt hơn
là theo kiểu cắn xé con mồi Tuy nhiên một vài họ, chẳng hạn Loricariidae và Astroblepidae, có miệng kiểu giác mút hướng xuống dưới, cho phép chúng bám chắc vào các vật thể trong dòng nước chảy nhanh Cá da trơn cũng có hàm trên bị suy giảm để hỗ trợ râu, điều này có nghĩa là chúng không thể thò miệng ra như ở các loài cá khác, chẳng hạn như ở cá chép [3]
Cá da trơn có thể có tới 4 cặp râu: ở mũi, hàm trên (hai bên miệng), và 2 cặp râu cằm, mặc dù ở các loài khác nhau thì các cặp râu có thể không có Do râu quan trọng hơn trong việc tìm kiếm thức ăn nên mắt của chúng nhìn chung là nhỏ Giống như ở các nhóm cá khác trong siêu bộ Ostariophysi, chúng có cơ quan Weber phát triển khá tốt và bong bóng suy giảm để cho phép chúng cải thiện thính giác cũng như để tạo ra âm thanh [3]
Trang 18Hình 1.1: Cá trê Mỹ (Ictalurus
punctatus) có 4 cặp râu
Hình 1.2: Tấm giáp bảo vệ ở Corydoras
semiaquilus
Hình 1.3: Cú chích từ cá ngát sọc (Plotosus lineatus) có thể gây tử vong
Cá da trơn không có vảy, thân của chúng thường trần trụi Ở một số loài, lớp da phủ chất nhầy được sử dụng trong hô hấp, chúng trao đổi khí thông qua lớp da đó
Ở một số loài cá da trơn khác, da che phủ các tấm giáp bảo vệ giống như mai (hình 1.5); một dạng bảo vệ cơ thể đã tiến hóa trong phạm vi bộ này Ở siêu họ
Loricarioidea và giống Sisor, lớp giáp bảo vệ chủ yếu được cấu thành từ một hay
nhiều hàng chứa các tấm hạ bì tự do Các tấm giáp bảo vệ tương tự cũng thấy có ở
các cá thể lớn của giống Lithodoras, các tấm này có thể được hỗ trợ bằng các chồi cột sống, như ở họ Scoloplacidae và giống Sisor, nhưng các chồi này không bao giờ
hợp nhất vào các tấm giáp hay tạo ra bất kỳ một lớp giáp bảo vệ ngoài nào Ngược lại, ở phân họ Doumeinae (họ Amphiliidae) và ở phân họ Hoplomyzontinae (họ Aspredinidae), thì lớp giáp được hình thành bằng cách mở rộng các chồi cột sống để
tạo ra các tấm giáp đó Cuối cùng, tấm giáp bên của Doradidae, Sisor,
Hoplomyzontinae gồm có các xương nhỏ thể trắc tuyến nở to với các phiến mỏng ở lưng và bụng [3]
Trang 19Tất cả các loài cá da trơn, ngoại trừ họ Malapteruridae (cá trê điện), đều có ngạnh (tia giống như gai to, rỗng và xương hóa) ở vây lưng và vây ngực Khi phòng thủ, các ngạnh này có thể khóa vào vị trí sao cho chúng có thể chọc ra ngoài và có thể gây ra những vết thương nghiêm trọng cho kẻ thù Ở một số loài có thể sử dụng các ngạnh này để phóng ra các protein gây buốt nếu cá bị kích động Nọc được sản xuất
ra từ các tế bào có tuyến trong lớp mô biểu bì che phủ các ngạnh Ở các thành viên
của họ Plotosidae và giống Heteropneustes, protein của nọc là đủ mạnh để gây ra
những vết thương nghỉêm trọng cho con người khi bị chúng chích; nọc cá ngát sọc
(Plotosus lineatus) có thể gây ra tử vong (hình 1.6) [3]
Cá da trơn con cũng giống như ở phần lớn các loài cá khác có đầu, mắt và các vây phía sau tương đối to hơn khi so sánh với các bộ phận tương ứng ở các cá thể
đã trưởng thành Đối với phần lớn các loài cá da trơn, các đặc điểm dùng để nhận dạng loài như vị trí của miệng và vây, hình dạng vây, độ dài các râu chỉ có sự khác biệt rất nhỏ giữa cá con và cá trưởng thành
Đối với nhiều loài, kiểu màu da cũng tương tự ở cả cá con lẫn cá trưởng thành
Vì thế cá con phát triển dần lên để thành cá trưởng thành mà không có các chuyển hóa khác biệt nào khác Ngoại lệ với điều này là ở các loài cá da trơn trong họ cá úc (Ariidae), trong đó cá bột mới sinh ra giữ túi noãn hoàng cho đến giai đoạn cá con,
và nhiều loài trong họ Pimelodidae, trong đó cá có các râu thon dài và các sợi vây hay kiểu màu da [3]
Dị hình giới tính có ở khoảng một nửa trong số các họ cá da trơn Sự biến đổi của vây hậu môn thành dương cụ (cơ quan thụ tinh của con đực ở các loài thụ tinh trong) cũng như các cấu trúc phụ trợ của cơ quan sinh sản (ở cả các loài thụ tinh trong và thụ tinh ngoài) đã được miêu tả ở các loài thuộc 11 họ khác nhau [3]
1.1.5 Kích thước
Cá da trơn là bộ cá có sự biến thiên lớn nhất về kích thước trong nhóm cá xương Nhiều loài của bộ này có kích thước tối đa nhỏ hơn 12 cm Một vài loài nhỏ nhất trong các họ Aspredinidae và Trichomycteridae đạt đến giai đoạn thành thục khi chỉ dài 10 mm [3]
Trang 20Cá nheo châu Âu (Silurus glanis), cùng với họ hàng nhỏ bé hơn nhiều của nó là
cá nheo Aristotle (Silurus aristotelis) tìm thấy ở Hy Lạp là những loài bản địa duy
nhất của châu Âu Các ghi chép đã chỉ ra kích thước kinh ngạc của cá nheo châu Âu trung bình khoảng 1,2 - 1,6 m, còn cá có kích thước dài trên 2 m thì rất hiếm Con
to nhất đã ghi nhận được dài trên 2,5 m và đôi khi nặng trên 100 kg [3]
Cá trê Mỹ (Ictalurus furcatus) đánh bắt được tại sông Mississippi ngày 22 tháng
5 năm 2005 cân nặng 56,25 kg, cá trê đầu bẹt (Pylodictis olivaris) đánh bắt được tại
Independence, Kansas cân nặng 56 kg Tuy nhiên, tất cả các số liệu này đều thua xa
kỷ lục của con cá tra dầu (Pangasius gigas) đánh bắt được tại miền bắc Thái Lan
ngày 1 tháng 5 năm 2005 và được thông báo với báo chí khoảng gần 2 tháng sau, với khối lượng 293 kg Đây là con cá tra to và nặng nhất đã đánh bắt được, nhưng chỉ tính từ khi Thái Lan bắt đầu duy trì việc ghi chép vào năm 1981 [3]
1.1.6 Đặc trưng giải phẫu trong
Ở nhiều loài cá da trơn, chồi xương cánh tay là chồi xương kéo dài về phía sau từ
đai vai, ngay phía trên phần gốc của vây ngực, nằm dưới lớp da [3]
Võng mạc của cá da trơn bao gồm các tế bào nón và các tế bào que lớn Nhiều loài cá da trơn có lớp phản quang trong võng mạc giúp chúng tăng cường tiếp nhận ánh sáng và tăng độ nhạy cảm với cường độ chiếu sáng yếu Các tế bào nón kép có
ở phần lớn các loài cá xương, nhưng lại không có ở cá da trơn [3]
Cấu tạo của tinh hoàn không giống nhau ở các loài cá da trơn, nhưng phần lớn chúng có tinh hoàn với các tua, bao gồm các họ Ictaluridae, Claridae, Auchenipteridae, Doradidae, Pimelodidae và Pseudopimelodidae Trong tinh hoàn của một vài loài trong bộ Siluriformes, các cơ quan và cấu trúc như khu vực đầu sinh tinh và khu vực đuôi kích thích tiết tinh dịch đã được quan sát thấy, bên cạnh
sự hiện diện của các bọng sinh tinh trong phần đuôi tinh hoàn Tổng số tua và độ dài của chúng là khác nhau ở các vị trí đầu, đuôi tinh hoàn giữa các loài Các tua ở phần đuôi tinh hoàn có thể là các ống nhỏ, trong đó các khoang được chứa đầy bằng tinh dịch và tinh trùng Nang tinh hoàn được hình thành từ sự mở rộng tế bào chất của các tế bào Sertoli, sự giải phóng tinh trùng xảy ra khi phá vỡ thành của túi bao [3]
Trang 21Sự có mặt của các bọng sinh tinh, mặc dù có sự biến thiên trong kích thước, hình thái tổng thể và chức năng giữa các loài, nhưng nó không liên quan tới phương pháp thụ tinh Thông thường chúng tạo thành các cặp, nhiều khoang và kết nối với ống dẫn tinh, đóng vai trò của các tuyến và lưu trữ Các chất tiết ra từ bọng sinh tinh có thể bao gồm các steroit và các glucuronit dạng steroit, với các chức năng hormon và pheromon, nhưng dường như nó chủ yếu bao gồm các mucoprotein, các axít mucopolysaccarit và các photpholipit [3]
Buồng trứng của cá da trơn có thể là một trong hai kiểu: buồng trứng trần hay buồng trứng bao Ở kiểu đầu tiên, các noãn bào được giải phóng trực tiếp vào khoang bụng và sau đó được phóng ra Ở kiểu thứ hai, các noãn bào được chuyên chở ra ngoài thông
qua vòi trứng Nhiều loài cá da trơn có kiểu buồng trứng bao, như Pseudoplatystoma
corruscans, P fasciatum, Lophiosilurus alexandri, Loricaria lentiginosa [3]
1.1.7 Tình hình nuôi cá da trơn
Cá da trơn dễ dàng nuôi trong khu vực có khí hậu ấm áp, làm cho giá thành sản phẩm không cao mà vẫn đảm bảo chất lượng của sản phẩm Các loài trong họ Ictaluridae được nuôi tại Bắc Mỹ (đặc biệt là khu vực Deep South, với Mississippi
là bang sản xuất lớn nhất của Hoa Kỳ) Chỉ riêng loài Ictalurus punctatus đã đưa lại
sản lượng đạt trị giá 450 triệu USD/năm cho công nghiệp nuôi trồng thủy sản [3] Tại châu Á, nhiều loài cá da trơn là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng Một vài loài cá trê (họ Clariidae) và cá tra (họ Pangasiidae) được nuôi nhiều tại châu Phi
và châu Á Xuất khẩu cá ba sa (Pangasius bocourti) từ miền nam Việt Nam, đã gặp
phải áp lực từ ngành công nghiệp cá da trơn của Hoa Kỳ Năm 2003, Quốc hội Hoa
Kỳ đã thông qua một đạo luật ngăn không cho cá da trơn nhập khẩu được dán nhãn
là catfish (chỉ chung các loài cá da trơn) Kết quả là hiện nay các nhà xuất khẩu cá
ba sa Việt Nam dán nhãn sản phẩm để bày bán tại Hoa Kỳ là "basa fish" [3]
Việc buôn bán cá da trơn làm cá cảnh cũng đang gia tăng, với hàng trăm loài, như các loài của giống Corydoras và họ Loricariidae là các thành phần phổ biến trong nhiều bể cá cảnh Các loài cá da trơn khác cũng hay được tìm thấy trong các
bể cảnh là các loài của họ Aspredinidae, Doradidae, Pimelodidae
Trang 221.2 Vài nét về đối tượng nghiên cứu
Tên tiếng anh: Cranoglanidid catfish
Tên đồng vật [8]:
Anopleutropius henrici Vaillant, 1893 [8], [25]
Pseudotropichthys multiradiatus Koller, 1927 [29]
Cranoglanis multiradiatus Myers, 1931 [31]
Cranoglanis sinensis (non Peters, 1880) [4], [21], [34]
Cranoglanis bouderius multiradiatus [23]
Craniglanis henrici [25], [32]
Cá ngạnh (cá lớn), cá hau (cá nhỏ), cá hau mùn, cá hau trung hoa (tên Việt), Papé (tên Thái) [8]
Trang 231.2.2 Phân bố, môi trường sống và hiện trạng nguồn lợi
Phân bố
- Trên thế giới có 15 giống thuộc họ cá da trần nước ngọt (Bagridae), phân
bố chủ yếu ở sông ngòi Châu Á, Châu Phi, một số loài sống được ở nước lợ Thuộc
họ này, ở Việt Nam có 4 giống: giống cá ngạnh (Cranoglanis), giống cá đủng đeng (Liobagrus), giống cá lăng (Hemibagrus) và giống cá bò (Pseudobagrus) [5]
- Trên thế giới cá ngạnh Cranoglanis henrici phân bố ở Thái Lan, Philippin,
Inđônêxia, Trung Quốc (đảo Hải Nam, Quảng Đông, Quảng tây, Vân Nam) và Việt Nam [4], [8], [24], [25]
- Ở Việt Nam gặp ở tất cả các hệ thống sông từ miền Bắc đến miền Nam Trung Bộ, không gặp loại này ở Miền Nam Giới hạn thấp nhất về phía Nam biết được của loài cá này là sông Trà Khúc, Quảng Ngãi (Nguyễn Hữu Dực, 1997) [8]
Môi trường sống: Cá ngạnh là loài đặc trưng cho khu hệ cá các tỉnh Nam
Trung Quốc và Bắc Việt Nam Cá sống ở tầng đáy và kề đáy, thích sống ở nơi nước chảy vừa hoặc chậm, đáy nhiều bùn cát Cá thường sống thành từng đàn và thường
thấy ở vùng hạ lưu nhiều hơn trung và thượng lưu các sông ở các tỉnh phía Bắc [8]
Hiện trạng nguồn lợi: Cá được ghi trong sách Đỏ ở mức độ V (Vulnerable)
[17] Hiện nay nguồn lợi cá ngạnh ở các sông đang giảm mạnh do khai thác quá
mức, khai thác nhiều tại nơi cá đẻ
Tốc độ lớn theo năm chậm, năm thứ 2 bằng 31,4% năm đầu, còn các năm sau chỉ
từ 19 - 23% Nhìn chung tốc độ lớn những năm sau giảm dần về chiều dài, nhưng lớn nhanh về khối lượng [8]
Trang 241.2.4 Dinh dưỡng
Cá ngạnh ăn tạp và rất phàm ăn nên phổ thức ăn rất rộng Thành phần thức ăn đa dạng, gồm thực vật, mảnh vụn hữu cơ và động vật Thức ăn thực vật là lá, hạt, quả; thức ăn động vật gồm nhiều nhóm ấu trùng, côn trùng và côn trùng trưởng thành
(thuộc Epherneroptera, Odonata, Coleopreta, Micronecta, Chirinomidae,
Oliochaeta, Giun đốt, Decapoda, Mollusca, ốc, hến…) [5], [8]
Thành phần thức ăn thay đổi theo kích thước cá, theo mùa vụ và phụ thuộc vào nơi sống Ở hạ lưu cá có kích thước lớn, ngoài mảnh vụn hữu cơ, rau, quả… thì
trong ống tiêu hóa gặp đa số là Annelides, Decapoda, Mollusca [8]
Chiều dài ruột tăng dần theo tuổi, song chỉ dài hơn chiều dài thân một ít Cá tích cực kiếm mồi nên dạ dày thường có độ no cao Chúng hay tập trung ở các bến phà,
bến tắm rửa ở hai ven sông và ăn tất cả những thải bỏ của con người và động vật [8]
Cá ngạnh là đối tượng cá kinh tế ở miền Bắc nước ta Ở vùng hạ lưu sản lượng cá
cao hơn vùng trung lưu và kích thước cá cũng lớn hơn [5], [8]
Mùa khai thác cá kéo dài quanh năm nhưng tập trung vào mùa nước cạn
Dụng cụ khai thác gồm chài, lưới, câu Trong mùa đẻ người ta còn lặn và bắt cá trong bờ, tổ đẻ Cá ham mồi nên dễ câu, mồi câu thường là giun, ruột gà … [4], [8]
Trang 251.3 Một vài nghiên cứu về cá ngạnh trên thế giới
1.3.1 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái
Theo Ng H H & Kottelat M (2000) [34] cá ngạnh (Cranoglanis henrici) có thân
trần, trơn láng Viền lưng cong không đều, từ mút mõm đến gốc vây lưng vát chéo, sau vây lưng đến vây mỡ thẳng, sau vây mỡ hơi cong lên Viền bụng cong, nông và đều Đầu dẹp bằng, thân và đuôi dẹp bên Hốc mắt và xương trán nhăn nheo, không được bảo vệ Cán đuôi hẹp Mõm tù
Lỗ mũi gần mõm hơn mắt, hai lỗ mũi trước và sau phân cách, lỗ mũi sau có râu
Có 4 đôi râu (1 đôi râu mũi, 1 đôi râu hàm và 2 đôi râu cằm), râu hàm kéo dài đến quá gốc vây bụng Miệng ở dưới, hình vòng cung Hàm trên dài hơn hàm dưới Răng hàm dạng lông nhung, cong, thon dài co lại phía sau và bị ngắt quãng ở giữa; răng cửa hàm trên rộng, yếu, hình chữ nhật cong, ngắt quãng ở giữa Môi trên dày Mắt ở 2 bên đầu, có mang mỡ che Khoảng cách hai mắt rộng Có một rãnh ở giữa đầu chạy từ chẩm đến hết mắt Mút sau phần nhô của gai xương thìa ngắn, tròn tầy Khe mang rộng Màng mang không liền với eo mang Đường bên hoàn toàn, chạy giữa chiều cao thân
Vách ngăn mang rời và thoát khỏi eo, với 5 (1), 6 (5), 7 (1), hoặc 8 (1) tia Vây lưng có ngạnh với 6 (7) hoặc 7 (2) tia; cạnh trước của ngạnh có 3 - 6 răng cưa và 8 -
14 răng cưa ở cạnh sau Vây mỡ ngắn, cong lại ở mép sau Vây hậu môn dài vừa phải, với 34 (1), 35 (1), 37 (1), 38 (1) hoặc 39 (2) tia Vây đuôi hình chạc, 2 thùy ngang bằng nhau, và có 7/7 (2), 7/8 (3) hoặc 8/8 (4) tia Vây hông lồi ở mép ngoài
và có 10 (2) hoặc 10 (7) tia Ngạnh vây ngực có 3 hoặc 4 răng cưa ở cạnh trước, và
10 - 17 răng cưa ở cạnh sau
(%SL) Chiều dài đầu 24,5 - 27,7; rộng đầu 16,1 - 20,4; dày đầu 15,2 - 16,8
Chiều dài trước hậu môn 52,3 - 61,1; chiều dài trước khung chậu 45,1 - 49,3; chiều dài trước vây ngực 22,6 - 26,9 Bề dày cơ thể ở vùng hậu môn 20,5 - 26,2; chiều dài cuống đuôi 11,8 - 13,5; bề dày cuống đuôi 7,6 - 9,4 Chiều dài ngạnh vây ngực 15,3
- 20,8; chiều dài vây ngực 19,1 - 28,5; chiều dài vây lưng 25,5 - 32,5; chiều dài gốc vây lưng 7,8 - 9,6; chiều dài vây hông 12,8 - 15,3; chiều dài gốc vây hậu môn 30,2 -
Trang 2635,0; chiều dài vây đuôi 19,7 - 25,8; chiều dài vây mỡ 12,4 - 18,7; chiều cao lớn nhất của vây mỡ 3,2 - 4,8; khoảng cách từ vây lưng đến vây mỡ 17,5 - 25,1
(% HL) Chiều dài mõm 40,1 - 49,1; chiều rộng mõm 34,5 - 36,4; khoảng cách
giữa 2 hốc mắt 47,0 - 55,0; đường kính mắt 16,1 - 19,8; chiều dài râu ở mũi 63,4 - 78,8; chiều dài râu hàm trên 148,1 - 187,1; chiều dài râu bên trong hàm dưới 38,3 - 50,9; chiều dài râu phía ngoài hàm dưới 76,4 - 99,5
Màu sắc: Cũng theo Ng H H & Kottelat M (2000) [34] thì trong dung dịch cồn
70%, cá có màu xám trên vùng lưng và 1/3 bên trên sườn, 2/3 bên dưới sườn và vùng bụng màu hơi trắng Vây màu xám, vùng ngoại biên của vây đuôi màu đen, vùng ngoại biên của các vây khác trong suốt Trong vòng đời, cơ thể từ bạc hơi xám tới màu đồng, tối ở trên lưng, trắng ở dưới bụng; các vây màu hơi nâu đỏ
1.3.2 Các nghiên cứu về tên loài trong chi cá ngạnh
Richardson (1846) [35] đã mô tả Bagrus bouderius từ Quảng Châu, Trung Quốc
dựa vào hình vẽ của một họa sỹ người Trung Quốc, John Reeves
Peters (1880) [34] đã xác minh được tên giống Cranoglanis cho một loài mới mà ông đã mô tả, Cranoglanis sinensis
Sau này Koller (1927) [29] đã mô tả 1 giống và loài mới, Pseudeutropichthys
multiradiatus, từ đảo Hải Nam
Myers (1931) [31] đã đồng nhất Cranoglanis và Pseudeutropichthys, nhưng xét
C.sinensis và C multiradiatus như 2 loài riêng biệt Nhưng ông không thể đưa ra vị
trí của giống này trong một vài họ đã biết, bởi vậy đã đưa ra họ mới Cranoglanididae, và được các tác giả khác công nhận (như Mo 1991 [30])
Jayaram (1995) [28] cũng công nhận giống Cranoglanis, nhưng đã đồng nhất cả 3 tên loài (Bagrus bouderius, C sinensis và C multiradiatus) dưới cái tên C bouderius Gần đây các tác giả người Trung Quốc lại cho rằng C bouderius và C
multiradiatus như những phân loài riêng biệt, nghiên cứu cuối này được ghi chép từ
sông Hồng bởi Chu & Kuang (1990) [23] và từ đảo Hải Nam bởi Pan (1991) [33] nhưng theo Ng H H & Kottelat M (2000) [32] lại phủ nhận những mẫu nghiên cứu từ lưu vực sông Hồng chưa bao giờ được so sánh với những mẫu từ Hải Nam
Trang 27Ng H H & Kottelat M (2000) [32] đã so sánh vật mẫu chuẩn của C.sinensis và hình vẽ mô tả loài C bouderius mô phỏng như bản 19b của Whitehead 1969 [37] (trong đó có một ít sự nghi ngờ chúng cùng 1 loài) Cả hình vẽ C bouderius và mẫu nghiên cứu C sinensis đều cho ra số lượng nhánh tia vây hậu môn thấp (khoảng 31
ở hình vẽ và 30 ở mẫu vật của C sinensis) Trong khi Cranoglanis bouderius phân
biệt với 2 loài khác của giống này bởi có số nhánh tia vây hậu môn ít hơn (28 - 32
so với 34 - 39)
Eschmeyer (1998) [26] cho rằng phân bố chuẩn của C.sinensis ở gần Hong Kong
Điều này khác với Herre (1934) [27], ông đưa ra giả thuyết là Wuchow ở trung tâm tỉnh Quảng Đông, phía đông nam Trung Quốc theo Perter (1880) [34] thực tế tên loài
C sinensis cho biết nó đến từ sông Lian Jiang ở Lianzhou, phía bắc tỉnh Quảng Đông
Sự mô tả của Macrones sinensis Bleeker (1873) trên một bức vẽ ở Trung Quốc,
đã được Jayaram & Boeseman (1976) [28] chỉ ra chính là một loài thuộc
Cranoglanis Điều này làm Cranoglanis sinensis Peter, 1880 lại trùng với Macrones sinensis Bleeker, 1873 Ở bức vẽ đó, sự mô tả của Bleeker mô phỏng theo bảng 1
của Jayaram & Boeseman (1976) có những chi tiết không chính xác, đặc biệt những điểm đặc trưng, như hình dạng của mấu lồi (miêu tả trên bức vẽ là 1 tam giác quá
rộng cho 1 vài loài Cranoglanis), và số tia vây hậu môn (khoảng 22 cái, quá thấp cho 1 vài loài Cranoglanis)
Để xóa bỏ 1 vài sự mơ hồ về tính đồng nhất của 3 tên loài, Ng H H & Kottelat
M (2000) [32] lựa chọn Cranoglanis sinensis là tên chuẩn mới của Macrones
sinensis và Bagrus bouderius
Léon Vaillant (1893) [36] đã mô tả loài Cranoglanis henrici, mặc dù không được
chú ý nhiều, nhưng đây là một loài tương đối có giá trị
Cả C henrici và C multiradiatus có 1 mấu lồi rộng hơn, vây hậu môn dài hơn
(30,2 - 35,0% SL so với 27,6 - 30,0) với nhiều tia nhánh hơn (34 - 39 so với 28 -
32), và có nhiều đốt sống hơn C bouderius (46 - 47 so với 41 - 44) Hai loài này lại không giống nhau, trong đó C henrici có miệng rộng hơn (34,5 - 36,4% HL so với 30,8) và đôi mắt bố trí xa nhau hơn C multiradiatus (Khoảng cách giữa 2 hốc mắt
là 47,0 - 55,0% HL so với 41,9 - 42,4)
Trang 28Hình 1.5: A - mặt trái mấu lồi của Cranoglanis henrici, 143,3 mm SL; B - mặt trái
mấu lồi của C bouderius, 146,0 mm SL
Hình 1.6: Nhìn mặt dưới đầu A- Cranoglanis henrici, 197,8 mm SL;
B- C multiradiatus, 187,6 mm SL
Ng H H & Kottelat M (2000) [32] đã đối chiếu các mẫu nghiên cứu
Cranoglanis thu được từ phía Bắc Việt Nam với các tài liệu đã thu được từ phía
Nam Trung Quốc và đảo Hải Nam, đã kết luận rằng đó là loài C henrici
Trang 29CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 01/01/2010 đến tháng 01/06/2010
- Địa điểm nghiên cứu: Trường cao đẳng Thủy sản - Từ Sơn - Bắc Ninh
- Địa điểm thu mẫu: Hồ Thác Bà (Yên Bái), Sông Đuống (Hà Nội), Sông Bắc
Hưng Hải (Văn Giang - Hưng Yên)
2.2 Đối tượng nghiên cứu: Cá ngạnh Cranoglanis henrici Vaillant, 1893
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Hình 2.1: Sơ đồ khối nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản cá ngạnh
Nhận xét, kết luận
Xác định sức sinh sản của cá
Sự phát triển của tuyến sinh dục
Một số đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng
Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm Điều tra hiện trường
Trang 302.4 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản
2.4.1 Tuổi và kích thước thành thục ngoài tự nhiên
- Thu mẫu cá trưởng thành ở các nhóm kích thước (15 - 20 cm; 20 - 25 cm; 25 -
30 cm; 30 - 40 cm) và khối lượng khác nhau
- Xác định giới tính: mô tả đặc điểm hình thái
- Giải phẫu quan sát tuyến sinh dục để xác định mức độ thành thục của tuyến sinh dục theo thang 6 bậc của Sakun [20] (số mẫu xử lý > 30 mẫu)
- Xác định tuổi: thu mẫu tia vây ngực để xác định tuổi
Các mẫu tia vây ngực thu được ngâm trong nước sôi từ 5 - 10 phút, sau đó dùng panh, kéo gỡ hết thịt, da bám trên xương, sau đó phơi khô và bảo quản trong các túi thu mẫu
Dụng cụ: 1 kẹp Êtô, 1 cưa sắt loại nhỏ, 1 cưa xương mỹ nghệ, 1 viên đá mài
ráp, 1 viên đá mài thô
Thực hiện: Dùng Êtô kẹp xương, lấy cưa sắt cưa đứt ngang đoạn xương cách
củ đầu 1 cm, sau đó dùng cưa xương mỹ nghệ có lưỡi nhỏ và mỏng cắt lát xương có
độ dày 0,7 - 1 mm Mài các lát cắt đó trên đá thô ráp cho đến khi đạt được độ dày 0,3 - 0,4 mm rồi chuyển sang mài trên đá mịn khoảng 1 - 2 phút Có thể quan sát vòng tuổi trên các lát cắt bằng kính lúp cầm tay hoặc bằng kính hiển vi có độ phóng đại nhỏ, nhưng với điều kiện ánh sáng đủ mạnh
- Xác định khối lượng cá bằng cân đồng hồ có độ chính xác đến gam
- Đo chiều dài thân cá bằng thước dây độ chính xác đến mm
Từ kết quả số liệu thu được sẽ thiết lập được mối quan hệ giữa tuổi với chiều dài
và giữa tuổi với khối lượng Kết hợp với việc phân tích tổ chức mô học tuyến sinh dục để xác định được tuổi và kích thước thành thục
Trang 31- Điều tra sự xuất hiện, thời gian xuất hiện và cỡ cá giống của cá ngạnh
Cranoglanis sinensis ở các khu vực khác nhau
2.4.3 Xác định hệ số thành thục theo công thức sau:
Trong đó:
K: hệ số thành thục (%)
Wo: Khối lượng cá bỏ nội quan (g)
GW: Khối lượng tuyến sinh dục (g)
2.4.4 Nghiên cứu sự biến đổi tuyến sinh dục cá ngạnh qua các tháng nghiên cứu
- Định kỳ 1 lần/tháng thu mẫu tuyến sinh dục cá ngạnh trong các tháng nghiên cứu
- Phân tích tổ chức mô học tuyến sinh dục thông qua việc cắt lát tế bào tuyến sinh dục và phân tích đồng thời giới tính, mức độ thành thục qua các tháng nghiên cứu
- Dùng kính hiển vi có độ phóng đại 400 lần để phân tích giới tính, cũng như mức độ biến đổi của tuyến sinh dục qua các tháng trong năm
Xử lý mẫu tuyến sinh dục và phân tích tổ chức học được thực hiện theo quy trình của Phòng công nghệ tế bào động vật, Trung tâm nghiên cứu khoa học sự sống, Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên, bao gồm các bước sau:
(1) Định hình, vùi, cắt mẫu
- Định hình
+ Cắt mẫu có kích thước tối đa 1 cm3 (rửa qua dung dịch nước muối sinh lý nếu cần), cho vào dung dịch Bouin với thể tích lớn gấp 30 - 50 lần thể tích mẫu Chất định hình Bouin có công thức:
750 ml dung dịch acid picric bão hòa
250 ml formalin 40%
50 ml acid axetic đậm đặc + Định hình mẫu trong 24 - 72 giờ, sau đó đem rửa nước Nếu chưa có thời gian để làm các bước tiếp theo sau khi cố định thì chuyển mẫu từ dung dịch Bouin
K (%)
GW x 100
Wo
Trang 32vào dung dịch Formol 10% (gọi là dung dịch đợi) để bảo quản lâu dài, tránh hiện tượng cố định quá mức
- Rửa nước
Mẫu sau cố định (hoặc từ dung dịch đợi) được rửa dưới vòi nước chảy trong khoảng 6 giờ hoặc ngâm trong cốc nước to và cứ 15 - 20 phút thay nước một lần trong 8 - 10 giờ tùy thuộc kích thước mẫu
- Khử nước ở mẫu cố định
Sau khi rửa nước, mẫu được chuyển qua các dung dịch cồn có nồng độ khác nhau tăng dần, từ cồn 70o rồi sang 90o - 96o - 100o1 - 100o2 mỗi lần 1 - 2giờ tùy thuộc kích thước mẫu
- Làm trong mẫu: mẫu đã khử nước và được lần lượt chuyển vào:
Cồn - Xilen (tỷ lệ 1:1): 1 lần trong 60 phút
Xilen II: 1 lần trong 60 phút
Xilen I: 1 lần trong 60 phút
- Thấm Parafin: Chuyển mẫu lần lượt vào:
Xilen - parafin (tỷ lệ 1:1) để ở nhiệt độ 37 - 40oC
Parafin2, parafin1 ở nhiệt độ từ 56 - 58oC
Mỗi bước tiến hành trong 4 - 6 giờ
Sau đó ngâm trong parafin nguyên chất có trộn thêm 5 - 10% sáp ong, để ở
58 - 60oC trong 12giờ rồi đem ra đúc (không được để nhiệt độ tăng quá 60oC vì sẽ làm mẫu quá cứng và dễ vỡ)
- Đúc Parafin
Lấy Parafin của lần thấm cuối cùng để đúc
Chuẩn bị khuôn đúc bằng giấy sáp hoặc đĩa đồng hồ có bôi một lớp glyxerin rất mỏng (lớp glyxerin này làm parafin sau khi nguội sẽ tự bong ra khỏi đĩa)
Parafin đã nóng chảy (có thể đun nhẹ để nhiệt độ khoảng 65oC) được
đổ vào khuôn đúc, chờ khi parafin hơi đục lại và dưới đáy có một lớp đã đông thì dùng panh nhỏ hơ nóng gắp mẫu đưa vào khuôn và chỉnh mẫu sao cho chiều cắt là
Trang 33thẳng đứng (phải hơ nóng panh để tránh sự đông đặc nhanh và tạo bọt khí của parafin khi gặp lạnh, khi cắt mẫu dễ bị đứt)
Sau khi khối parafin đã đông đặc lại nhưng vẫn còn hơi nóng thì thả vào cốc nước lạnh để parafin được biệt hóa đồng đều, tạo độ dẻo và kết dính tốt
Mẫu sau khi đúc để 24 giờ cho parafin ổn định thì mới cắt
Chỉnh độ nghiêng của lưỡi dao khoảng 45o, kẹp đế có mẫu vào và chỉnh cho cạnh của khối song song với lưỡi dao, chỉnh để khối parafin gần sát với lưỡi dao, điều chỉnh độ dày lát cắt cho thích hợp (khoảng 7 - 12 µm)
Quay tay theo chiều kim đồng hồ để cắt mẫu thành những lát mỏng, dùng bút lông hoặc kim nhỏ để đỡ lát cắt, chuyển các lát cắt vào hộp đĩa petri có lót giấy lọc để tránh bụi khi chưa gắn ngay lên lam kính
Chuẩn bị một bát nước nóng khoảng 50oC, chọn một vài lát cắt phẳng nhất và lành nhất cho vào bát nước nóng để lát cắt dãn phẳng ra Lấy lam đã bôi
Trang 34albumin nhúng vào bát nước, đồng thời vớt lát cắt ra, gắn và chỉnh cho lát cắt vào giữa lam
Để lam đã gắn mẫu vào tủ ấm 37oC trong 12 giờ hoặc để ở nhiệt độ phòng trong 24 giờ, tránh để bụi bám vào, sau đó mới đem xử lý loại parafin
- Loại parafin
Cho lam có mẫu vào qua xilen II, Xilen I mỗi lần 15 - 20 phút để loại bỏ parafin, rồi chuyển vào cồn - xilen tỉ lệ 1:1, cồn 100o, cồn 96o, cồn 90o, cồn 70o, nước mỗi lần 2 - 3 phút để làm no mẫu nước
- Nhuộm Hematoxylin và Eosin
Dùng phương pháp nhuộm kép Hematoxylin và Eosin
Nhuộm Hematoxylin trước trong vòng 15 - 20 phút, sau đó rửa dưới vòi nước chảy để làm xanh hoặc có thể biệt hóa bằng dung dịch cồn 96o và HCl tỉ lệ 99:1 trong 1 - 2 giây và rửa nước lại
Để ráo nước, sau đó nhuộm tiếp bằng Eosin 1% trong 10 - 15 phút, rồi rửa nước
Sau mỗi lần nhuộm nên xem dưới kính hiển vi để xác định mẫu đã bắt màu đủ chưa hay quá nhiều, nếu chưa đủ thì nhuộm thêm, nếu nhuộm quá thì với Hematoxylin biệt hóa thêm bằng cồn + acid hoặc ngâm nước cho nhạt bớt; với Eosin thì ngâm nước hoặc cồn 70o
Cho lamen vào tủ ấm 37 - 40oC trong 3 - 4 ngày để khô, rồi dán nhãn cho tiêu bản
Trang 35
Trong đó:
a: Số lượng trứng trung bình đếm được
n: Khối lượng 3 phần buồng trứng đem đếm (g)
GW: Khối lượng buồng trứng (g)
- Sức sinh sản tương đối (S2):
Trong đó:
S1: Sức sinh sản tuyệt đối
BW: Khối lượng toàn thân (g)
2.4.6 Đặc điểm dinh dưỡng
- Tìm hiểu phổ thức ăn: Thu mẫu cá trưởng thành, rồi cố định nhanh bằng formalin 10% để giữ cho thức ăn trong dạ dày cá không bị tiêu hóa
+ Tại phòng thí nghiệm giải phẫu lấy phần dạ dày, rửa trôi thức ăn vào trong một ống nghiệm bằng nước cất, làm tiêu bản, rồi quan sát dưới kính hiển vi để xác định loại thức ăn
- Giải phẫu và quan sát thức ăn trong ruột, dạ dày cá và chia độ no theo thang