1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học: "XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP THI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN MỚI" pot

6 387 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 382,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp trắc nghiệm khách quan đã và đang được áp dụng rộng rãi trong các môn học khoa học xã hội.. Trong bài báo này, các tác giả xây dựng lý luận về đề tài trắc nghiệm nhằm nâng c

Trang 1

CT1

XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP THI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN MỚI

ÁP DỤNG CHO MÔN HỌC SỨC BỀN VẬT LIỆU

GS TS VŨ ĐÌNH LAI

TS LƯƠNG XUÂN BÍNH ThS VŨ VĂN THÀNH

Bộ môn Sức bền Vật liệu Khoa Công trình Trường Đại học Giao thông Vận tải

Tóm tắt: Kiểm tra đánh giá môn học là một khâu quan trọng của quá trình dạy-học Cải

tiến phương pháp kiểm tra đánh giá có ý nghĩa lớn giúp nâng cao chất lượng dạy-học Phương pháp trắc nghiệm khách quan đã và đang được áp dụng rộng rãi trong các môn học khoa học

xã hội Đối với các môn học khoa học kỹ thuật, ứng dụng của phương pháp này vẫn còn hạn chế Trong bài báo này, các tác giả xây dựng lý luận về đề tài trắc nghiệm nhằm nâng cao độ chính xác trong việc đánh giá môn học bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan; xây dựng công cụ chế tác bộ đề trắc nghiệm khách quan trên máy tính; áp dụng kết quả nghiên cứu vào môn học Sức bền vật liệu

Summary: Assessment plays an important part in teaching-learning process The

improvement of testing methods is meaningful towards enhancing the quality of teaching-learning process Objective tests have been widely applied to social science subjects For technical science subjects, the application of the objective test is still restricted In this paper, the authors will propose the methodology on the objective test aiming at enhancing the accuracy ofthe tests; establishing a tool-kit to produce question sheets on computer; applying research results to Mechanics of Materials subject

I TỔNG QUAN

Một vài năm gần đây, trong ngành giáo dục đào tạo phương pháp kiểm tra kiến thức bằng trắc nghiệm khách quan được nhắc tới rất nhiều và đã được áp dụng rộng rãi ở các kỳ thi phổ thông Ở bậc đại học, chưa thấy đặt vấn đề một cách rộng rãi Hiện nay các bộ môn vẫn thực hiện hai cách kiểm tra truyền thống: kiểm tra viết và vấn đáp Trong trường Đại học GTVT có

bộ môn thuộc Khoa Lý luận Chính trị đã áp dụng phương pháp “trắc nghiệm tự luận” do Vụ Đại học và Sau Đại học hướng dẫn Phương pháp này có ưu nhược điểm gì chưa được bàn, nhưng đối với các môn khoa học tự nhiên, chúng tôi thấy không thể áp dụng được

Về phần chủ quan Bộ môn Sức bền Vật liệu (SBVL), tình hình hiện nay của bộ môn cũng thấy cần phải có một phương pháp kiểm tra gọn và nhanh để giải quyết khối lượng sinh viên ngày càng đông, trong khi đó yêu cầu đánh giá của nhà trường lại cao hơn trước

Theo [1], người ta phân phương pháp trắc nghiệm khách quan thành: Trắc nghiệm cổ điển

và trắc nghiệm hiện đại

Ở cả hai phương pháp này, ngoài độ giá trị là tất yếu chung cho cả hai thì sự phân biệt theo chúng tôi là ở độ tin cậy, hay là độ chính xác trong việc đo lường kiến thức thông qua câu hỏi trắc nghiệm Phương pháp thứ nhất với yêu cầu không cao của độ chính xác, phù hợp với việc

Trang 2

TCT1

đánh giá trong tiến trình học tập, thí dụ đánh giá giữa học kỳ Phương pháp thứ hai với việc

chuẩn bị và đánh giá, chỉnh sửa lâu dài chỉ thích hợp với các kỳ kiểm tra cuối môn hoặc cuối

khóa

Ở đây, chúng tôi hướng xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm theo phương pháp thứ nhất, có cải

tiến

II MỤC TIÊU VÀ KẾ HOẠCH

Phương pháp trắc nghiệm khách quan theo kiểu cổ điển đã có từ lâu nên việc áp dụng có

thể rất dễ dàng Tuy nhiên vì nhận thấy nhược điểm của phương pháp hiện có là mức độ đánh

giá chính xác còn thấp, nền cần phải nghiên cứu thêm về mặt lý luận để tìm ra giải pháp trắc

nghiệm có độ chính xác cao hơn Vì vậy chúng tôi đề xuất “phương pháp trắc nghiệm mới”

Vì sản phẩm của việc nghiên cứu là bộ đề kiểm tra trắc nghiệm và phiếu đáp án nên chúng

tôi đã thực hiện theo các bước dưới đây:

- Thử nghiệm dạng phiếu đề thi để chọn dạng thích hợp

- Thử nghiệm ở một số lớp dạng đã chọn gồm đề thi và phiếu đáp án

- Lấy ý kiến sinh viên và rút kinh nghiệm

- Soạn bộ đề thi (nội dung)

- Chế bản và làm phiếu đáp án để chấm

III NHỮNG KẾT QUẢ LÝ LUẬN ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã phải tìm hiểu qua một số thông tin hạn chế Về

phía Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng không có hướng dẫn gì ngoài tài liệu [1] mới xuất bản gần

đây, chỉ có hướng dẫn về trắc nghiệm tự luận đã nói ở trên Sau một thời gian thử nghiệm một

vài phương án, về cơ bản chúng tôi vẫn sử dụng mẫu thông dụng nhưng đã có cải tiến dựa vào

lập luận có cơ sở khoa học

Chúng ta đều biết rõ để xây dựng được những tư liệu dùng để kiểm tra trắc nghiệm, ngoài

việc đảm bảo nội dung môn học, số lượng đề và cách đặt câu hỏi, một vấn đề mà các thầy cô

giáo cũng như các nhà quản lý giáo dục đều quan tâm, đó là làm cách nào để đánh giá đúng

trình độ người học thông qua trắc nghiệm khách quan

Nếu phương pháp kiểm tra bằng tự luận (kiểm tra viết) cho phép sai số là 0,5 điểm trong

thang điểm 10 tức là 5% thì phương pháp kiểm tra bằng trắc nghiệm có 4 phương án trả lời

cho sai số là bao nhiêu? Có thỏa đáng và khuyến khích việc học tập của sinh viên không?

Để giải đáp câu hỏi này, trong nghiên cứu đề tài, các tác giả đã đề xuất một số khái niệm

mới là số lựa chọn và một công thức quan hệ giữa kiến thức của sinh viên với điểm đạt được

liên quan đến số lựa chọn Bộ đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan mà bộ môn đã hoàn thành là

bước đầu dựa vào kết quả nghiên cứu này

3.1 Số lựa chọn (c)

Theo phương thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan truyền thống với mỗi câu hỏi người ta

đưa ra 4 phương án trả lời A, B, C, D để sinh viên chỉ lựa chọn một trong 4 phương án ấy Ta

gọi số lựa chọn ở đây là 4 Như ở phần 2 sẽ chứng minh, nếu số lựa chọn càng lớn thì xác suất

đúng ngẫu nhiên càng thấp, độ chính xác đánh giá sinh viên càng cao

Theo phương thức truyền thống thì số lựa chọn bằng số phương án Chúng tôi đề xuất vẫn

giữ số lượng phương án A, B, C, D (4 phương án) như cũ nhưng phối hợp các phương án để có

Trang 3

CT1

số lựa chọn nhiều hơn Cộng tổ hợp các phương án, nhiều nhất có thể đạt số lựa chọn là 16 Đó

là các tổ hợp ghi ở bảng 1

Số lựa chọn nhiều nhất c = 16 Tuy nhiên như ở dưới sẽ phân tích nếu dừng ở tổ hợp 2 phương án đúng thì c = 11, độ chính xác đánh giá đã khá tốt, tương đương với kiểm tra tự luận (với điểm đạt yêu cầu 5/10) Trong bộ đề thi SBVL phần 1 và phần 2, bộ môn chỉ mới lấy c = 5 (1 và 2 của bảng 1)

3.2 Công thức KIDI (KIến thức - ĐIểm)

Dưới đây xây dựng công thức quan hệ giữa kiến thức thí sinh và điểm đạt được

Bảng 1 Các phương án và số lựa chọn

1 Không phương án nào đúng 1

2 Một phương án đúng A,B, C, D 4 5

3 Tổ hợp hai phương án đúng A+B, A+C, A+D, B+C, B+D, C+D 6

11

4 Tổ hợp 3 phương án đúng A+B+C, A+B+D, A+C+D, B+C+D 4

5 Tổ hợp 4 phương án đúng A+B+C+D 1

16

Nếu đặt: k là hệ số kiến thức của thí sinh,

d là tỉ số điểm thí sinh đạt được,

c là số lựa chọn, thì quan hệ giữa kiến thức và điểm đạt được như sau:

k =

1 c

1 dc

(1) Thật vậy, khi dự kiểm tra trắc nghiệm, điểm sinh viên đạt được là dN, trong đó N là số điểm tối đa (10 hoặc 20 ) Trong số điểm đạt được ấy có một phần do kiến thức riêng của sinh viên tạo ra và một phần do đánh dấu ngẫu nhiên trên phiếu mà đạt

kN +

c

N ) k 1 ( 

(2)

Từ quan hệ

dN = kN +

c

N ) k 1 ( 

(3)

ta rút ra được:

k =

1 c

1 dc

Hiện nay, các môn học đều quy định điểm đạt tối thiểu (điểm sàn hay điểm đạt yêu cầu) là 5 (5/10) tức là

d = 5 Bảng 2 là các số liệu trình bày theo công thức

KIDI

Bảng 2

d c k 0,5 4 0,33 0,5 5 0,38 0,5 11 0,45 0,5 16 0,47

Trang 4

TCT1

Phân tích bảng trên đây ta thấy nếu lấy số lựa chọn bằng số phương án (c = 4) thì kiến thức

thực của thí sinh khi đạt yêu cầu là quá thấp (k = 0,33) Nếu lấy số lựa chọn là 5 thì kiến thức

thực cao hơn một chút (k = 0,38)

Ta cũng thấy nếu lấy c = 11 thì k = 0,45 tức là sự đánh giá đó đạt độ chính xác của kiểm tra

viết Tuy nhiên trong áp dụng phương pháp này vào môn Sức bền Vật liệu, chúng tôi mới chỉ

lấy c = 5

Thực ra độ chính xác trong việc đo lường kiến thức thí sinh thông qua phương pháp trắc

nghiệm khách quan không chỉ phụ thuộc số lựa chọn c mà còn phụ thuộc số câu hỏi trong một

đề thi Nếu số câu hỏi càng nhiều thì độ chính xác càng cao

Hiện nay các đề trắc nghiệm quốc gia thường

có từ 40 đến 60 câu hỏi, đề trắc nghiệm SBVL

giữa học kỳ có 20 câu hỏi

Vậy số lượng bao nhiêu câu hỏi thì có thể đạt

được độ chính xác mong muốn? Chúng tôi thấy

cần nghiên cứu thêm Ở đây chỉ xin nêu một kết

quả trắc nghiệm chúng tôi đã áp một đáp án bất kỳ

vào các phiếu trả lời bất kỳ (có số lựa chọn 5) của

một đề trắc nghiệm chỉ có 10 câu hỏi Số lượng phiếu là 544 Kết quả thu được như trong bảng 3

Như vậy, nếu đề trắc nghiệm chỉ có 10 câu hỏi thì có 7% sinh viên có kiến thức bằng 0 có

thể đạt điểm từ 5 trở lên đến 7

IV XÂY DỰNG CÔNG CỤ CHẾ TÁC ĐỀ TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

TRÊN MÁY TÍNH

4.1 Sự cần thiết

Các phiếu đề thi trắc nghiệm khách quan (TNKQ) được tạo thành bằng cách gieo các câu

hỏi một cách ngẫu nhiên từ ngân hàng câu hỏi ban đầu vào các ô định sẵn trên phiếu Mỗi lần

gieo ngẫu nhiên sẽ cho một xêri phiếu đề thi Khối lượng công việc này là rất lớn, khó thực hiện

được bằng thủ công Hơn nữa việc thực hiện thủ công sẽ khó đảm bảo tính ngẫu nhiên cho các

phiếu câu hỏi do những sai sót chủ quan mang lại Do vậy, cần thiết phải xây dựng một công cụ

chế tác phiếu câu hỏi TNKQ trên máy tính Bên cạnh ý nghĩa trên, công cụ này còn cho phép

thay mới dễ dàng các xêri câu hỏi thường xuyên để đảm bảo tính bảo mật cũng như tính cập

nhật thông tin cho bộ đề thi TNKQ

4.2 Lựa chọn phần mềm ứng dụng

Tiêu chí lựa chọn phần mềm ứng dụng để xây dựng công cụ chế bộ đề thi TNKQ là:

a) Đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật của việc chế tác các phiếu đề thi TNKQ từ

một ngân hàng câu hỏi ban đầu

b) Phần mềm có tính phổ thông, đơn giản, thân thiện với mọi đối tượng người dùng

c) Không đòi hỏi mất nhiều thời gian cũng như những kỹ xảo phức tạp trong lập trình tin

học để phù hợp với đông đảo giáo viên, không phải là những chuyên gia về công nghệ thông tin

Trên cơ sở đó, các tác giả đi đến lựa chọn phần mềm Microsoft Excel để xây dựng công cụ

chế tác bộ đề thi TNKQ

Bảng 3

Điểm Tỷ lệ (%) Điểm Tỷ lệ (%)

0 6,3 4 10,3

1 25,2 5 5,1

2 28,3 6 1,7

3 22,9 7 0,2

Trang 5

CT1

4.3 Thiết kế cấu trúc phiếu thi TNKQ

Mỗi phiếu thi TNKQ bao gồm các thông số tĩnh (không thay đổi) như: tên môn học, số hiệu học phần, các thông tin chỉ dẫn; và các thông số động (thay đổi) như xêri, các câu hỏi Mẫu phiếu thi TNKQ được thể hiện trong hình 1 Trong đó mỗi phiếu được bố trí 10 câu hỏi với 4 phương án trả lời gieo vào 10 ô tương ứng Bên cạnh các ô câu hỏi là các ô số thứ tự câu hỏi để quản lý các câu hỏi trong phiếu Để quản lý phiếu câu hỏi, xêri gồm 2 phần: phần chữ và phần

số Phần chữ để ký hiệu loại xêri và phần số để chỉ số thứ tự của phiếu câu hỏi trong cùng một loại xêri Để thuận tiện cho việc gieo ngẫu nhiên các câu hỏi cũng như tự động hóa phát sinh mã thứ tự câu hỏi, các ô câu hỏi được bố trí thành hai cột với cách đánh số thứ tự theo trình tự từ trên xuống dưới, từ trái qua phải

Cần chú ý rằng khi cấu trúc một phiếu trắc nghiệm các câu hỏi thuộc các chương (5 chương) được xáo trộn ngẫu nhiên Nếu các chương không được rải đều thì sẽ phải xáo trộn lại

Hình 1 Phiếu thi TNKQ

4.4 Thiết kế phiếu trả lời TNKQ

Chi tiết phiếu trả lời TNKQ được thể hiện trong hình 2 Trong đó đặc biệt chú ý phần hướng dẫn sơ bộ cách trả lời TNKQ Phần hướng dẫn thực hành phải được giáo viên phụ trách căn dặn, phổ biến chi tiết trước khi thi

4.5 Thiết kế phiếu đáp án để chấm

Phiếu đáp án của các xêri được thiết kế cùng kích thước với phiếu trả lời, đáp án được khoanh tròn (hình 3)

Trang 6

TCT1

Phiếu đáp án được in trên giấy plastic trong suốt Khi chấm chỉ cần áp vào phiếu trả lời để

đánh giá

Hình 2 Phiếu trả lời TNKQ

V KẾT LUẬN

Trong nghiên cứu này, các tác giả đã:

i) Xây dựng được lý luận về phương pháp TNKQ

để nâng cao độ chính xác kiểm tra đánh giá môn học

ii) Xây dựng được công cụ chế tác bộ đề thi

TNKQ trên máy tính

iii) Áp dụng thành công phương pháp TNKQ mới

cho môn học Sức bền Vật liệu

Tuy nhiên, một điều quan trọng cần lưu ý là mỗi

phương pháp trắc nghiệm đều có ưu nhược điểm nhất

định, để nâng cao được chất lượng quá trình dạy-học,

cần thiết phải kết hợp nhiều phương pháp trắc nghiệm

Tài liệu tham khảo

[1] Lâm Quang Thiệp Trắc nghiệm và ứng dụng, Nhà xuất bản

Ngày đăng: 06/08/2014, 16:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các phương án và số lựa chọn - Báo cáo khoa học: "XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP THI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN MỚI" pot
Bảng 1. Các phương án và số lựa chọn (Trang 3)
Hình 1. Phiếu thi TNKQ - Báo cáo khoa học: "XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP THI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN MỚI" pot
Hình 1. Phiếu thi TNKQ (Trang 5)
Hình 2. Phiếu trả lời TNKQ - Báo cáo khoa học: "XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP THI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN MỚI" pot
Hình 2. Phiếu trả lời TNKQ (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w