1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps

46 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật mô phỏng trong tính toán, thiết kế một số máy và thiết bị sản xuất vật liệu xây dựng tiêu biểu
Tác giả PGS. TS. Nguyễn Văn Vịnh, KS. Nguyễn Thoại Anh
Trường học Trường Đại học Giao thông Vận tải
Chuyên ngành Kỹ thuật xây dựng, Chế tạo máy, Công nghệ vật liệu xây dựng
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua quá trình khảo sát tình hình sử dụng và chế tạo các loại máy sàng, máy trộn BTXM, hệ ván khuôn đúc dầm BTCT hiện nay ở Việt Nam chúng tôi có một số nhận xét sau đây: - Với sự phát tr

Trang 1

MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG

TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY

VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU

PGS TS NGUYỄN VĂN VỊNH

KS NGUYỄN THOẠI ANH

Bộ môn Máy xây dựng - Xếp dỡ Khoa Cơ khí

Trường Đại học Giao thông Vận tải

Tóm tắt: Báo cáo trình bày tóm tắt những kết quả nghiên cứu thu được khi tiến hành đề

tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ B2006-04-18 “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật mô phỏng trong tính toán, thiết kế một số máy và thiết bị sản xuất vật liệu xây dựng tiêu biểu” Các kết quả của

đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo có ích phục vụ cho việc tính toán thiết kế, chế tạo trong nước các thiết bị như: máy sàng, máy trộn BTXM, hệ thống rung động đúc dầm BTCT và phục vụ giảng dạy

Summary: The report briefly represents achieved result when carrying out scientific

research subject at ministerial level B2006-04-18 “Study and Application of imitation technology in calculation and design of machinery and production equipment for specific construction material” Results of this subject can be used as useful reference for calculation, design and domestic manufacturing of equipments such as: sieve machine concrete mixing plant, reinforced-concrete girder casting system as well as for training

CK

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm đổi mới vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước đã thu được những thắng lợi hết sức to lớn Cơ sở hạ tầng, bộ mặt của các đô thị đạng thay đổi từng ngày Đóng góp vào thành tích chung đó có những đóng góp của ngành xây dựng dân dụng, xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi… Cùng với tốc độ phát triển của ngành xây dựng là nhu cầu ngày càng lớn các máy móc thiết bị thi công nói chung, máy và thiết bị sản xuất vật liệu xây dựng nói riêng Để đáp ứng nhu cầu trên, ngành chế tạo máy nước nhà cần phải có những bước đột phá trong quá trình nội địa hoá, chế tạo sản phẩm cơ khí trong nước

Để tiết kiệm ngoại tệ, tận dụng tiềm năng cơ khí trong nước, các đơn vị cơ khí, các viện nghiên cứu trong nước đã mạnh dạn tính toán, thiết kế, chế tạo các máy móc thiết bị, sản xuất vật liệu xây dựng nhằm thay thế thiết bị ngoại nhập Qua quá trình sử dụng các thiết bị chế tạo trong nước đã bộc lộ một số nhược điểm cơ bản như chất lượng còn thấp, tuổi thọ ngắn, độ tin cậy, độ bền chưa cao

Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, nhiều phần mềm mạnh của công nghệ CAD, CAM đã xuất hiện và được ứng dụng rộng rãi Kỹ thuật mô phỏng ngày càng phát triển, ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có ngành chế tạo máy

Do máy và thiết bị sản xuất vật liệu xây dựng rất đa dạng và phong phú về chủng loại nên bước đầu chúng tôi chỉ lựa chọn 03 loại máy tiêu biểu cho các nhóm máy là: máy sàng, máy

Trang 2

trộn bê tông xi măng và hệ thống rung động đúc dầm cầu bê tông cốt thép dự ứng lực làm đối

tượng nghiên cứu của đề tài

II NỘI DUNG

2.1 Đánh giá tình hình chế tạo, sử dụng máy sàng, máy trộn bê tông xi măng, bàn rung

hiện nay ở Việt Nam

Qua quá trình khảo sát ở các đơn vị xây dựng CTGT lớn ở Việt Nam là Tổng công ty xây

dựng Thăng Long, Tổng công ty xây dựng CTGT 8 và một số đơn vị khác Chúng tôi thấy rằng

đa số các máy móc thiết bị nói trên chủ yếu là thiết bị ngoại nhập

Để chế tạo các trạm trộn BTXM, bê tông nhựa nóng và các loại bàn rung đúc cấu kiện bê

tông cốt thép, hiện nay ở Việt Nam đã có một số đơn vị tự thiết kế, chế tạo các loại máy sàng,

máy trộn BTXM, bàn rung, hệ thống rung động đúc dầm

Đối với các loại trạm trộn BTNN, công ty cơ khí ôtô 1/5, công ty cơ khí công trình và một

số đơn vị cơ khí khác bên cạnh với việc nhập khẩu các loại máy sàng từ Hàn Quốc, đã chế tạo

lắp đặt sàng rung quán tính trên trạm để thay thế thiết bị nhập ngoại Từ thực tế đưa vào sử dụng

đã cho thấy, các loại máy sàng chế tạo trong nước có chất lượng chưa cao và tuổi thọ ngắn khi

làm việc trong môi trường khắc nghiệt, nhiều bụi

Qua quá trình khảo sát tình hình sử dụng và chế tạo các loại máy sàng, máy trộn BTXM, hệ

ván khuôn đúc dầm BTCT hiện nay ở Việt Nam chúng tôi có một số nhận xét sau đây:

- Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và kỹ thuật mô phỏng chúng ta hoàn

toàn có thể tự thiết kế, chế tạo trong nước các loại thiết bị trên để thay thế thiết bị nhập ngoại

- Với khả năng công nghệ của nền cơ khí nước nhà, chúng ta hoàn toàn có thể làm chủ

công nghệ và chế tạo được các sản phẩm có chất lượng tương đương các thiết bị nhập ngoại nếu

chúng ta có những công trình nghiên cứu cơ bản, toàn diện về các máy và thiết bị sản xuất

VLXD

2.2 Mô phỏng hoạt động của một số máy và thiết bị sản xuất vật liệu xây dựng tiêu

biểu

2.2.1 Máy sàng rung

Ứng dụng ngôn ngữ lập trình Visual Basic 6.0 để tính toán năng suất và công suất của

máy sàng rung vô hướng, máy sàng rung có hướng

Dựa trên các công thức tính toán năng suất và công suất của máy sàng rung đã được diễn

giải chi tiết trong các tài liệu chuyên ngành, với mục đích khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến

năng suất và công suất của máy, chúng tôi đã sử dụng ngôn ngữ lập trình Visual Basic 6.0 để

xây dựng chương trình tính toán với sơ đồ thuật toán như trên hình 1

Ứng dụng phần mềm Dynamic Designer Motion mô phỏng quá trình thiết kế và lắp ghép

máy sàng rung

Trên cơ sở khai thác các tính năng ưu việt của phần mềm Dynamic Designer Motion

(DDM) chúng tôi đã tiến hành thiết kế và mô phỏng hoạt động của máy sàng rung Kết quả cụ

Trang 3

Hình 3 Hình vẽ tổng thể của máy sàng rung vô hướng trong Inventor

2.2.2 Máy trộn bê tông xi măng

Ứng dụng ngôn ngữ lập trình Visual Basic 6.0 để tính toán năng suất và công suất của máy trộn

Tương tự như trên, chúng tôi cũng xây dựng chương trình tính năng suất và công suất của máy trộn với sơ đồ thuật toán như trên hình 4

Trang 4

Hình 4 Sơ đồ khối thuật toán xác định năng suất, công suất máy trộn kiểu Rôto, hành tinh

CKckck

Hình 5 Giao diện tính toán năng sất và công suất của máy trộn kiểu Rôto, hành tinh

Trang 5

Ứng dụng phần mềm Dynamic Designer Motion mô phỏng quá trình thiết kế và lắp ghép máy trộn bê tông xi măng kiểu rô to

Tương tự như trên, chúng tôi cũng tiến hành mô phỏng cho máy trộn bê tông xi măng kiểu

Rô to

Hình 6 Mô hình máy trộn bê tông xi măng kiểu Rô to được mô phỏng 2.3 Nghiên cứu động lực học của một số máy và thiết bị sản xuất vật liệu xây dựng tiêu biểu

2.3.1 Nghiên cứu động lực học của bộ máy trộn bê tông xi măng kiểu dẫn động ngang một trục

Với mục đích đặt ra là nghiên cứu ảnh hưởng của các lực động tới biến dạng các trục trong

hệ máy trộn của trạm trộn HZ25 - (do Trung Quốc chế tạo) trong quá trình vận hành máy Để đơn giản, trong quá trình nghiên cứu nhưng vẫn đảm bảo độ chính xác cho phép, chúng tôi đưa

ra mô hình bài toán như sau:

CK

(a) (b)

Hình 7 Sơ đồ nguyên lý của bộ máy trộn (a) và mô hình động lực học (b)

1- Động cơ điện; 2- Hộp gảm tốc; 3- Bộ truyền xích; 4- Vỏ thùng trộn; 5-Bàn tay trộn;

6- Cánh tay trộn; 7- Trục trộn; 8- ổ bi đỡ

Viết phương trình chuyển động và kết quả bài toán

Chúng tôi sử dụng phương trình Lagrange loại 2 để thiết lập phương trình chuyển động cho

mô hình đã lập và có kết quả như sau:

Hệ phương trình vi phân chuyển động

=

−+

C 2

2 1 2

r 2

1 2

1 1

r 1

Mq.i

Sq.iSqJ

qMq.iSSqq.J

Trang 6

1 2

2

1 r 2

r 1

M

)q(Mq

qxSiS.i

S.iSq

qxJ0

0

&&

&&

Kết quả bài toán

Dùng phần mềm MATLAB 7.02 giải hệ phương trình với các thông số cụ thể Kết quả cho

chúng ta đồ thị chuyển vị, đồ thị vận tốc, đồ thị gia tốc của trục động cơ điện, của trục trộn

Hình 8 Sơ đồ giải phương trình bằng Simulink

CKckck

Hình 9 Đồ thị biểu diễn gia tốc, vận tốc, chuyển vị góc q 1 , q 2 , mô men động trên trục trộn

Nhận xét:

- Các đồ thị cho kết quả sát với lý thuyết, do đó mô hình mà đề tài xây dựng là phù hợp

Vận tốc góc và gia tốc góc của trục động cơ ở thời điểm mở máy (khoảng 2/20s) có giá trị rất

lớn, sau đó giá trị ổn định, giá trị của gia tốc góc gần bằng không Từ đó, chúng ta thấy rằng

phải điều chỉnh tốc độ động cơ trong giai đoạn mở máy để giảm giá trị gia tốc góc, tăng thời

gian mở máy

- Trên đồ thị hình 9, vận tốc góc của trục động cơ biến thiên từ 0 cho đến giá trị ổn định

trong một khoảng thời gian rất ngắn, do đó gia tốc góc của trục trộn cũng tăng nhanh và giảm

đột ngột về 0 Như vậy trong giai đoạn mở máy trục trộn phải chịu thêm một mô men quán tính

tương đối lớn Do đó khi tính toán thiết kế chúng ta phải kể đến đại lượng này

Trang 7

2.3.2 Nghiên cứu động lực học của máy sàng rung

Mô hình dao động của sàng rung

(a)

Hình 10 Mô hình dao động của sàng rung có hướng (a); vô hướng (b)

Phương trình dao động của sàng rung có hướng Xét phương trình cân bằng lực theo hai phương X và Y đối với sàng rung có hướng ta có: Theo phương X (phương ngang):

)t

sin(

)

cos(

r.mX.SX.KX

0 0 X

X

ωαω

=++

Theo phương Y (phương thẳng đứng):

)sin(

)

sin(

r

mY.SY.KY

0 0 y

y

ωαω

=++

Xét phương trình cân bằng lực theo hai phương X và Y đối với sàng rung vô hướng ta có: Theo phương X (phương ngang):

(mh+m) + KX x.X = mrω2cos(ω t) Theo phương Y (phương thẳng đứng):

CK

(mh+m) + KY y.Y = mrω2sin(ω t)

Ứng dụng phần mềm Matlab - Simulink để giải bài toán dao động của sàng rung

Hình 11 Sơ đồ khối giải phương trình dao động sàng rung có hướng, vô hướng

Trang 8

Giải bài toán với các thông số của một máy sàng cụ thể

Máy sàng rung có hướng mã hiệu PDU do Cộng hoà liên bang Nga chế tạo có các thông số

kỹ thuật như sau:

- Góc dao động so với phương ngang α = 380

- Độ cứng theo phương dao động X : SX = 1,418.104 N/m

- Độ cứng theo phương dao động Y: Sy = 84.103 N/m

- Khối lượng dao động của toàn hệ mh = 1915 kg

- Hệ số dập tắt dao động theo phương X: Kx = 1,68.103 Ns/m

- Hệ số dập tắt dao động theo phương Y: KY = 280 Ns/m

Nhập các thông số của sàng như trên vào chương trình Simulink, tiến hành chạy chương

trình, thu được kết quả như trên hình 12

CKckck

Hình 12 Dao động của mặt sàng rung có hướng theo phương dao động Y, X

Nhận xét

Với loại sàng rung có các thông số như trên thì biên độ dao động của sàng theo phương dao

động Y (phương trục của lò xo) có trị số Ay = 4 mm, biên độ dao động theo phương dao động X

(phương vuông góc với trục của lò xo) có trị số Ax = 3,5 mm

Hình 13 Dao động của mặt sàng rung có hướng theo phương dao động Y, X

Trang 9

CK 1- Tấm ván đáy; 2- Tà vẹt bê tông; 3- Tăng đơ liên kết giữa tà vẹt và ván khuôn; 4- Ván khuôn thép;

5- Tăng đơ liên kết ván khuôn hai bên; 6- Đầm rung; 7- Dầm BTCT; 8- Nền đất rải đá dăm

Hình 15 Mô hình động lực học một khối lượng.

Phương trình chuyển động của hệ:

=++ yky

m&& & sy p.sin tLực động của hệ tác dụng xuống nền:

Fđ =K.y&+sy Trong đó:

m - Khối lượng quy dẫn của hệ; s, k - Hệ số độ cứng và hệ số dập tắt dao động quy dẫn của

Trang 10

nền; y - Chuyển vị theo phương đứng của m

Xây dựng mô hình thuật toán và giải trên Matlab-Simulink

Hình 16 Sơ đồ khối thuật toán giải hệ phương trình chuyển động

Các kết quả thu được như chuyển vị, vận tốc, gia tốc, lực động tác dụng xuống nền được

thể hiện trên các hình 17 và hình 18 sau đây:

CKckck

Hình 17 Chuyển vị, vận tốc của thành ván khuôn

Hình 18 Gia tốc của thành ván khuôn; lực tác động của hệ ván khuôn lên nền

Nhận xét:

- Chúng tôi tiến hành nghiên cứu động lực học của hệ thống rung động đúc dầm BTCT dự

ứng lực có kích thước lớn và kết quả nghiên cứu cho thấy: Biên độ dao động của thành ván

khuôn trong một hệ thống cụ thể đưa vào tính toán - trên công trường TAISEI phía bắc cầu

Thăng Long trung bình A = 0,4 mm Như vậy là hợp lý vì người ta thường quy định giá trị này

[A] = 0,4 ÷ 0,8 mm

Trang 11

- Có thể sử dụng mô hình động lực học trên để khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến chế độ rung động của hệ thống, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng đầm lèn của phiến dầm

III KẾT LUẬN

Công trình nghiên cứu của chúng tôi đã thực hiện các nội dung cơ bản sau đây:

1 Khảo sát tình hình chế tạo sử dụng máy sàng, máy trộn BTXM, bàn rung hiện nay ở Việt Nam

2 Ứng dụng phần mềm Dynamic Designer mô phỏng hoạt động và sử dụng ngôn ngữ lập trình Visual Basic 6.0 để xây dựng chương trình tính năng suất, công suất của các loại thiết bị trên

3 Nghiên cứu động lực học của máy sàng, máy trộn bê tông xi măng và hệ thống rung động đúc dầm BTCT dự ứng lực

4 Từ các kết quả khảo sát ảnh hưởng của các thông số cấu tạo và thông số làm việc đến quá trình làm việc của các thiết bị bằng mô hình động lực học, đề tài đã chỉ ra những giá trị hợp

lý của những thông số trên và quy trình tính toán, thiết kế các loại máy trên theo quan điểm động lực học

5 Ngoài ra, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để xác định độ cản nhớt của các loại vật liệu và tìm hiểu bản chất của quá trình truyền dao động từ vỏ ván khuôn vào bên trong bê tông cốt thép

Các kết quả khoa học mới được thể hiện ở chỗ:

- Xác định được giá trị độ cản nhớt của các loại vật liệu khác nhau

- Xây dựng được các chương trình mô phỏng hoạt động và nghiên cứu tính toán động lực học các loại thiết bị đã lựa chọn

CK

Các kết quả nghiên cứu thu được như đã trình bày ở trên có ý nghĩa khoa học và thực tiễn,

có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo có ích phục vụ sản xuất và đào tạo

Tài liệu tham khảo

[1] - TS Trần Quang Quý, TS Nguyễn Văn Vịnh, TS Nguyễn Bính; Máy và thiết bị sản xuất vật liệu xây

dựng; Nhà xuất bản giao thông vận tải 2001

[2] - TS Nguyễn Thiệu Xuân, PGS-TS Trần Văn Tuấn, KS Nguyễn Thị Thanh Mai, ThS Nguyễn Kiếm

Anh; Máy sản xuất vật liệu và cấu kiện xây dựng; Nhà xuất bản xây dựng, Hà nội 2000 [3] - Nguyễn Hữu Tình, Lê Tuấn Hùng, Phạm Thị Yến Ngọc, Nguyễn Thị Lan Hương; Cơ sở Matlab và

ứng dụng; Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà nội, 2001

[4] - Nguyễn Hoàng Hải, Nguyễn Khắc Kiểm, Nguyễn Trung Dũng, Hà Trấn Đức; Lập tình Matlab; Nhà

xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà nội, 2003

[5]- Nguyễn Thị Ngọc Mai; Microsoft VisualBasic Lập trình cơ sở dữ liệu 6.0; Nhà xuất bản Lao động -

[8] - PGS-TS Trần Văn Tuấn; Cơ sở kỹ thuật rung trong xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng; Nhà

xuất bản Xây dựng, Hà nội, 2005♦

Trang 12

CHẨN ĐOÁN KỸ THUẬT ĐỘNG CƠ DIESEL BẰNG PHÂN TÍCH DAO ĐỘNG VÀ PHÂN TÍCH DẦU BÔI TRƠN

GS TS ĐỖ ĐỨC TUẤN

Bộ môn Đầu máy - Toa xe

ThS LÊ LĂNG VÂN

Bộ môn Kỹ thuật máy Khoa Cơ khí

Trường Đại học Giao thông Vận tải Tóm tắt: Bài báo trình bày nghiên cứu phân tích dầu bôi trơn và phân tích dao động

trong chẩn đoán kỹ thuật Bài báo đánh giá khả năng ứng dụng của phân tích dầu bôi trơn và

phân tích dao động trong thực tế Bài báo cũng đề cập tới khả năng của phương pháp này

trong chẩn đoán tình trạng kỹ thuật của động cơ diesel dựa trên các kết quả phân tích dầu bôi

trơn và hạt mài mòn tại Xí nghiệp Đầu máy Hà nội, Việt Nam

Summary: This paper presents a research of oil and vibration analysis in machine

condition monitoring and evaluating the use of oil and particle analysis in practice The paper

also mentions to capable of this method in diesel engine diagnostic based on the result of oil

and vibration analysis at Hanoi Locomotive Entreprise, Vietnam

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Phân tích dầu bôi trơn và phân tích dao động là một phương pháp đã và đang được nghiên

cứu ứng dụng trong chẩn đoán kỹ thuật máy móc nói chung và động cơ đốt trong nói riêng Nhờ

những tiến bộ của các thiết bị phân tích, phân tích dầu bôi trơn và phân tích dao động ngày càng

trở nên hiệu quả và trở thành một công cụ trong chẩn đoán tình trạng kỹ thuật của động cơ đốt

trong và thiết bị máy móc Những tiến bộ này đã làm cho kết quả chẩn đoán có độ tin cậy cao

hơn, ngăn ngừa được một số các hư hỏng bất thường và giảm thiểu thời gian dừng máy để sửa

chữa hay bảo dưỡng Bài báo đề cập đến một khía cạnh của phân tích tích dầu bôi trơn đó là

phân tích hình dáng hạt mài mòn, kích thước và số lượng hạt mài mòn có trong dầu bôi trơn dựa

trên kết quả phân tích các mẫu dầu bôi trơn động cơ diesel trên đầu máy D12E sử dụng tại Xí

nghiệp Đầu máy Hà nội

CKckck

II NỘI DUNG

2.1 Ứng dụng của phân tích dầu bôi trơn

Hạt mài mòn trong dầu bôi trơn động cơ diesel cho các thông tin quan trọng về tình trạng

kỹ thuật của động cơ vì vậy phân tích dầu bôi trơn trở thành một công cụ để chẩn đoán kỹ thuật

động cơ diesel Các công ty đường sắt của Mỹ vào cuối những năm 40 và đầu những năm 50 đã

nhận ra rằng kim loại trong dầu bôi trơn đã cho biết tình trạng mòn của các chi tiết máy trên

động cơ điêzen của đầu máy Ngày nay phân tích dầu bôi trơn và hạt mài mòn đã được sử dụng

để chuẩn đoán tình trạng kỹ thuật của rất nhiều loại máy khác nhau như động cơ, hộp số của

máy bay trực thăng, các loại máy móc xây dựng, giao thông hay các nhà máy công nghiệp khác

Phân tích dầu bôi trơn và hạt mài mòn tiến hành cùng với phân tích dao động đã trở thành một

công cụ hiệu quả để chuẩn đoán tình trạng kỹ thuật của máy móc trong các ngành công nghiệp

nói chung và ngành giao thông vận tải nói riêng

Các chi tiết máy của động cơ diesel như píttông, xécmăng, xilanh, bạc trục, bánh răng sẽ

sinh các hạt kim loại nhỏ, mịn trong quá trình làm việc bình thường Vào thời điểm mòn khốc

liệt kích thước của hạt sẽ tăng lên và hình dạng của hạt cũng thay đổi Người ta đã xác định

Trang 13

được dạng hạt thay đổi liên quan như thế nào đến dạng mài mòn Do đó việc phân tích dạng hạt mài mòn cho phép xác định được trạng thái mòn trong máy và từ đó có thể xác định được tình trạng kỹ thuật của máy Ưu điểm của phân tích dầu bôi trơn và hạt mài mòn là:

- Nhiều thông tin tình trạng kỹ thuật của máy chỉ có thể thu được từ quá trình phân tích dầu bôi trơn

- Mức độ đầu tư về trang thiết bị không đòi hỏi quá cao

- Dầu bôi trơn chứa đựng các thông tin về dạng hỏng của nhiều chi tiết khác nhau

Kết hợp phân tích dao động và phân tích dầu bôi trơn mang lại một công cụ hiệu quả trong chẩn đoán kỹ thuật động cơ diesel nói riêng và máy móc nói chung

2.2 Phân tích thành phần kim loại

Phân tích thành phần kim loại có trong dầu bôi trơn có thể biết được nguồn gốc hạt mài mòn Khi xuất hiện nguyên tố Crôm, nguồn gốc của các hạt mài mòn này có thể là từ xéc măng, xilanh Nếu thành phần sắt trong mẫu dầu cao, nguồn gốc hạt mài mòn từ hai loại chi tiết trên có thể được dự báo với mức độ tin cậy nhất định Để có các dự đoán với độ tin cậy cao, cần dựa vào hình dáng hạt mài để phân biệt với các nguồn gốc phát sinh khác Khi xuất hiện nguyên tố đồng (Cu), nguồn gốc có thể là từ bạc biên hay các loại ổ trượt Nếu xuất hiện cùng với đồng còn có thiếc với hàm lựơng cao thì có thể dự đoán hạt này có nguồn gốc phát sinh từ bạc biên Máy phân tích thành phần kim loại dùng trong nghiên cứu này là Máy phân tích thành phần kim loại ALLOY PRO 9388 (hình 1)

CK

Hình 1 Máy phân tích thành phần kim loại ALLOY PRO 9388

Hình 2 Xác định thành phần kim loại của Píttông động cơ trên đầu máy D12E

Trang 14

2.3 Phân tích hình dáng hạt mài mòn

Mẫu dầu sử dụng trong nghiên cứu này được lấy từ các đầu máy diesel D12E sử dụng tại

Xí nghiệp Đầu máy Hà nội trong khoảng thời gian từ tháng 2/2006 đến tháng 4/2007 Quá trình

mài mòn bình thường từ các mẫu dầu trên đầu máy 660, 657, 658, số lượng hạt ít và kích thước

hạt nhỏ (từ 0,2 đến 5 μm)

Hình 3 Mẫu dầu có hạt mài mòn (lấy từ Đầu máy 660 ngày 17/5/2006)

CKckck

Hình 4 Mẫu dầu có hạt mài mòn nhiều và kích thước hạt bắt đầu tăng

(lấy từ Đầu máy 658 ngày 18/5/2006)

Quá trình mài mòn khác nhau sẽ sản sinh các hạt mài mòn khác nhau Hình dáng hạt mài

mòn có thể là hình cầu, hình sợi dài, hình sợi xoắn, hình dạng tấm, mảnh nhỏ… Dạng hạt hình

cầu có kích thước tương tự nhau theo cả 3 phương trong hệ trục toạ độ 3 chiều Dạng hạt này

thường xuất hiện trong các mẫu dầu lấy từ các đầu máy vừa qua cấp trung tu hay đại tu

Hình 5 Hạt mài mòn dạng hình cầu (mẫu dầu lấy từ Đầu máy 660 ngày 17/5/2006)

Dạng hạt hình elíp: trong một số trường hợp các hạt có thành phần bao gồm các nguyên tố

là kim loại bị mài mòn từ các chi tiết trong động cơ như xéc măng, xi lanh [1]

Trang 15

Hình 6 Hạt mài mòn dạng hạt hình elíp (mẫu dầu từ Đầu máy 658 ngày 18/5/2006)

Dạng hạt hình viên sỏi có nguồn gốc do mỏi bề mặt hay do dính, hoặc gây ra khi bề mặt bị cào xước bởi kim loại có bề mặt nhám [2] Dạng hạt này xuất hiện khi các bề mặt trượt trên nhau trong điều kiện áp suất và nhiệt độ cao, điều kiện bôi trơn không phù hợp Các dạng hạt này có thể

là đồng hay hợp kim của đồng, thép tôi Mức độ xuất hiện của dạng hạt này còn phụ thuộc vào môi trường mà đầu máy đang vận hành Dựa và mầu sắc có thể phân biệt được các hạt tinh thể than và kim loại Khi xúp páp của động cơ bị mài mòn dạng hạt này xuất hiện nhiều [4]

Hình 7 Hạt mài mòn dạng hình viên sỏi (mẫu dầu từ Đầu máy 658 ngày 18/5/2006)

Dạng hạt hình tấm mỏng đôi khi còn bị xoắn nhưng thông thường là tương đối phẳng Dạng hạt này xuất hiện nhiều khi đầu máy vận hành bình thường Dạng hạt trở nên mỏng hơn trong điều kiện bôi trơn tốt Quá trình nghiên cứu cho thấy có thể có một số nhận xét như sau:

4 Dính, xước bề mặt bạc biên: xảy ra khi các bề mặt trượt chịu tải trọng và nhiệt độ cao Tải trọng và nhiệt độ càng lớn tỉ lệ các hạt có kích thước lớn so với các hạt có kích thước nhỏ càng cao [4]

2.4 Kích thước hạt mài mòn

Độ lớn của các hạt mài mòn thay đổi từ vài micro mét đến khoảng 100 hay 300 micro mét Hình dạng của các hạt mài mòn thay đổi theo tình trạng mài mòn Kích thước hạt lớn sẽ phản ánh tình trạng mòn khốc liệt của máy Nghiên cứu cho thấy:

- Mòn bình thường của động cơ sẽ có các hạt mài mòn dạng hình cầu kích thước từ

5 - 10 µm

- Cào xước: Khi các bề mặt mềm của bạc biên bị cào xước, các hạt mài mòn có hình dạng sợi

- Tróc rỗ bề mặt do mỏi: Kích thước hạt lớn nhất có thể tới 100 µm

Trang 16

- Mòn do thiếu dầu bôi trơn: Dạng mòn này các hạt có kích thước lớn phụ thuộc vào tải

trọng và tốc độ Ứng suất tiếp xúc trên bề mặt càng lớn kích thước của hạt càng lớn

- Mòn do dính: Các hạt mài mòn lớn hơn 10 micro mét, dạng hạt là tấm, thường gặp đối

với mòn các răng của bánh răng, hạt mòn từ xupáp

Kích thước hạt đo được từ các mẫu dầu của các đầu máy có sự cố dao động trong khoảng

100 - 120 µm

2.5 Số lượng hạt mài mòn

Xác định số lượng hạt thường là một yêu cầu đối với các quá trình chuẩn đoán tình trạng

kỹ thuật của máy Lượng hạt mài mòn được xác định bằng cách đếm hạt sẽ sơ bộ phản ánh tình

trạng mòn của các chi tiết Việc đếm các hạt mài mòn trên một ml dần, số hạt trên ml dầu hay

hình dạng, kích cỡ của hạt phản ánh tình trạng mòn Số lượng hạt mài mòn đếm được trên các

các mẫu dầu của 2 đầu máy vào đại tu đều vượt quá 100 hạt mài trên một ml

2.6 Phân tích dao động

Thiết bị đo và phân tích dao động được dùng trong nghiên cứu này là thiết bị đo bao gồm

các đầu đo vận tốc và đầu đo gia tốc, bộ khuếch đại và phần mềm xử lý là DasyLab Thí nghiệm

đo được tiến hành tại Xí nghiệp Đầu máy Hà nội ngày 29.6 và 29.6.2006, ngày 6.1.2007 và trên

đầu máy D12E số hiệu 642, 648 và 643 trước khi và sau khi đại tu Đầu đo dao động dùng trong

phép đo này là đầu đo vận tốc Đầu đo vận tốc bao gồm 3 đầu đo riêng biệt theo 3 phương x, y,

z Đầu đo theo phương x và y lần lượt được gá lắp ở đầu và mặt bên của thân động cơ Đầu đo

theo phương z được lắp phía trên nắp máy và có thể di chuyển để đo tại các xi lanh khác nhau

của động cơ

CKckck

Hình 8 Phổ dao động đo được trên đầu máu D12E 643, đo ngày 6.1.2007

(trạng thái động cơ làm việc tốt)

Các thông số đo được ghi lại nhờ phần mềm DasyLab Các thông số đo ban đầu có thể là

biên độ dao động (chuyển vị, mm), vận tốc dao động (mm/s) hay gia tốc (mm/s2) Chuyển vị,

vận tốc và gia tốc đuợc ghi theo miền thời gian và các file dữ liệu này có thể biến đổi FFT thành

các phổ công suất hay phổ mật độ công suất theo miền tần số phục vụ cho các mục đích chẩn

đoán khác nhau

Khi động cơ làm việc tốt, phổ dao động thu được phân bố đều đặn trên đồ thị biên độ vận

tốc dao động theo thời gian Khi trạng thái kỹ thuật của các cụm chi tiết xéc măng, xi lanh

Trang 17

không tốt hay khi bơm cao áp không phun nhiên liệu vào xi lanh, đầu đo vận tốc Z sẽ cho tín hiệu biên độ vận tốc dao động thay đổi bất thường (hình 9)

Hình 9 Tín hiệu dao động khi động cơ có xi lanh hư hỏng (đo trên đầu máy D12E 642 ngày 29.6.2006)

Cơ sở dữ liệu trong quá trình đo có thể lưu trữ trong các tệp tin dạng Excel, có thể biến đổi FFT, xử lí vi phân hoặc tích phân, đánh giá, so sánh với các dữ liệu đo và tính toán ra các giới hạn cảnh báo

III KẾT LUẬN

Kỹ thuật chuẩn đoán trạng thái kỹ thuật của động cơ đốt trong bằng cách phân tích dầu bôi trơn và phân tích dao động đã được nghiên cứu ở một số nước trên thế giới và đã có được thành công bước đầu Nghiên cứu này kết hợp phương pháp phân tích dao động và phân tích dầu bôi trơn trên động cơ diesel K6S230DR sử dụng trên đầu máy D12E Khi kích thước hạt mài mòn vượt quá giới hạn 120 micromét, thành phần kim loại (Cu, Fe, Cr) tăng cao, hình dáng hạt mài

có thay đổi bất thường và dao động vượt quá các giới hạn (vận tốc dao động vượt quá 20mm/s, gia tốc dao động vượt quá 7 mm/s2) có thể có các hư hỏng về xécmăng, xilanh, píttông, bạc biên, hay xupáp của động cơ Phân tích dầu bôi trơn và hạt mài mòn khẳng định các kết quả của phân tích dao động Phân tích dầu bôi trơn và hạt mài mòn có thể chẩn đoán tình trạng kỹ thuật của máy từ một nguồn thông tin khác hơn so với phân tích dao động và do đó người phân tích

có thể tự tin hơn khi đưa ra các kết luận chuẩn đoán Phân tích dầu bôi trơn có thể củng cố các

dự đoán về những hư hỏng có thể có đối với các cụm chi tiết trong động cơ như xilanh-píttông, bạc biên, xupáp khi các thông số về dao động đã có các dấu hiệu cảnh báo

xécmăng-CK

Tài liệu tham khảo

[1] Calder, N., Marine Diesel engines: Maintenance, troubleshooting, and repair, International Marine,

1992

[2] Bowen, E.R & Westcott, V.C., Wear particle atlas, Naval Air Engineering Center, 1976

[3] Doebelin, E O., Measurement systems, McGraw- Hill Companies, 1990

[4] Hunt, Trevor M., Handbook of wear debris analysis and particle detection, Elsevier Applied Science,

1993

[5] Rao, J S., Vibratory condition monitoting of machines, Published by Addison - Wesley, America,

2000 ♦

Trang 18

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG MÁY XÂY DỰNG - XẾP DỠ

BẰNG VIỆC ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP SỬA CHỮA MÁY

THEO CỤM - TỔNG THÀNH

PGS TS NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆM

Bộ môn Máy xây dựng - Xếp dỡ Khoa Cơ khí

Trường Đại học Giao thông Vận tải

Tóm tắt: Bản báo cáo trình bày kết quả nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp nâng cao

hiệu quả sử dụng khai thác máy thông qua việc áp dụng các quy tắc tập trung hóa sửa chữa và

sửa chữa xe máy theo cụm - tổng thành, trên cơ sở so sánh hiệu quả của hai phương pháp: sửa

chữa đơn chiếc và sửa chữa theo cụm - tổng thành

Summary: The report represents reseach result and application of improvement methods

of effeciency using of application of concentrated rules in term of repairing and repairing

machine in group-general, it is basis to have effective comparision of two methods: single

repairing and group-repairing

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong quá trình sử dụng Máy xây dựng - xếp dỡ, các xí nghiệp khai thác (XNKT) cần chú

ý đến công tác bảo dưỡng kỹ thuật (BDKT) và sửa chữa (SC) máy để làm tăng tuổi thọ của

máy Tuy nhiên công tác SC máy cần được tiến hành như thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng

máy là một vấn đề rất đáng được quan tâm Bài báo trình bày biện pháp nâng cao hiệu quả sử

dụng máy thông qua việc áp dụng phương pháp sửa chữa máy theo cụm - tổng thành

CKckck

II NỘI DUNG

Trong thành phần của một cơ sở kỹ thuật về cơ giới hóa xây dựng, ngoài XNKT và nhà

máy sửa chữa (NMSC) cần có thêm một xí nghiệp chuyên môn hóa thứ ba để thực hiện sửa

chữa các cụm - tổng thành, đồng thời cung cấp phụ tùng, vật tư và vốn tổng thành luân chuyển

cho XNKT Việc tổ chức những xí nghiệp như vậy sẽ làm giảm chi phí cho công tác xây dựng

cơ sở kỹ thuật cần thiết và giảm chi phí đơn vị cho việc bảo toàn khả năng hoạt động của máy

dẫn tới làm tăng tiềm năng tối ưu của máy, tiềm năng đó được xác định theo mức độ hiệu quả

khai thác

Khi áp dụng đồng thời phương pháp sửa chữa máy theo cụm - tổng thành và tập trung

hóa sửa chữa ta sẽ gặp những vấn đề phức tạp do có quá nhiều yếu tố liên quan, cho nên hợp

lý hơn là nên giải bài toán trên theo phương pháp phân tích hệ thống Như vậy, để giải quyết

vấn đề nêu trên cần thiết lập một sơ đồ của phương pháp nghiên cứu chung, sơ đồ đó biểu thị

hệ thống “Độ tin cậy - Công nghệ - Cơ sở sản xuất - Chi phí” trong các thành phần chủ yếu

của hệ thống

Trang 19

Phương pháp tối ưu hóa vốn tổng thành luân chuyển theo tiêu chuẩn cực đại khả năng hoạt động (năng suất) của trạm máy

Bài toán có thể được phát biểu như sau: Giả sử có một khoản tiền C để mua máy và cụm - tổng thành luân chuyển (các cụm máy thay thế), cần phải phân chia số tiền đó cho việc mua máy

và mua cụm - tổng thành luân chuyển như thế nào để có được một số lượng máy lớn nhất trong trạng thái hoạt động tốt

Trong điều kiện trên, số lượng máy cần cụm - tổng thành luân chuyển ( ) được xác định như sau:

lc m

N

Q

aj aj

j 1 m.lc

m

C n C N

Q - Số chủng loại cụm - tổng thành luân chuyển;

aj

n - Số lượng cụm - tổng thành loại j;

m

aj,C

C - Tương ứng là giá thành cụm - tổng thành loại j và giá thành máy

Trong trường hợp Q = 1 (chỉ xét 1 chủng loại cụm tổng thành) thì bài toán được giải như sau:

( ) với hệ số sẵn sàng khi sửa chữa bằng phương pháp cụm - tổng thành ( ) và với xác suất máy không phải nằm chờ sửa chữa do có cụm - tổng thành thay thế ( ) Cực đại hóa số lượng máy hoạt động tốt ( ) chính là phép giải của bài toán, do vậy hàm mục tiêu có dạng:

t

N

lc m

a a m

C

C.n1).(

C

C(

Trong biểu thức (3), thừa số (C/Cm) sẽ xác định số lượng máy có thể mua được ( ) bằng nguồn kinh phí (C) nếu như không mua cụm - tổng thành, tức là phải sửa chữa bằng phương pháp đơn chiếc Như vậy có nghĩa là phải có một giá trị nào đó về số lượng cụm - tổng thành để làm cho số lượng tương đối máy hoạt động tốt

đc m

N

( ) đạt giá trị cực đại, số lượng này nhận được từ phép chia của số lượng máy hoạt động tốt ( ) cho số lượng máy có thể mua được (N

N

t

thức (3) có thể được viết dưới dạng:

Trang 20

kc sc

a a tđ

C

C.n1(

Trong biểu thức (4), sự thay đổi số lượng cụm - tổng thành luân chuyển na sẽ làm ảnh

hưởng gấp đôi đến trị số Nt.tđ : Nếu na tăng thì thừa số thứ nhất (trong ngoặc đơn) sẽ giảm, lúc

đó Nt.tđ sẽ giảm, nhưng đồng thời xác suất Pkc sẽ tăng, điều đó dẫn tới Nt.tđ cũng sẽ tăng Như

vậy có nghĩa là sẽ tồn tại một trị số nào đó về số lượng cụm - tổng thành mà làm cho kết quả

tính toán theo biểu thức (4) đạt cực đại, tức là N

* a

n

t.tđ → Max

Xác suất được xác định theo lý thuyết phục vụ đám đông trên cơ sở là dòng nhu cầu

thay thế các cụm - tổng thành được coi ở dạng đơn giản nhất Nếu các cụm - tổng thành được

sửa chữa tại một nhà máy sửa chữa với công suất sản xuất lớn hơn so với số lượng cần sửa chữa

theo nhu cầu của XNKT thì sự thay đổi mức nhu cầu sửa chữa của XNKT sẽ không làm ảnh

hưởng đến thời gian quay vòng của cụm - tổng thành, lúc đó số lượng luồng phục vụ của các

cụm tổng thành luân chuyển sẽ có một trị số rất lớn Còn nếu cụm - tổng thành được sửa chữa

tại xưởng của XNTK thì trong trường hợp này phải có một hệ thống phục vụ đám đông có kỳ

vọng

kc

P

Để xác định hiệu quả của phương pháp tổ chức sửa chữa theo cụm - tổng thành ΔNt.tđ so

với phương pháp sửa chữa đơn chiếc thì từ (4) ta trừ đi hệ số sẵn sàng Ksđ trong điều kiện sửa

chữa đơn chiếc:

sđ kc sc

a a tđ

C

Cn1

P kc

N t.tđ

Hình 1 Quan hệ giữa hiệu quả sửa chữa theo phương pháp cụm tổng thành

so với tiềm năng của vốn luân chuyển

Trang 21

Trên hình 1 biểu thị mối quan hệ giữa hiệu quả sửa chữa theo cụm - tổng thành với tiềm năng của vốn luân chuyển, trong đó các trị số và xác định ranh giới phạm vi hiệu quả của việc áp dụng phương pháp sửa chữa theo cụm - tổng thành, ngoài ranh giới đó thì phương pháp

áp dụng sẽ không có hiệu quả

' a

Hiện nay ở Việt Nam, mô hình tổ chức sửa chữa này đã được áp dụng ở một số đơn vị và đưa lại hiệu quả thiết thực Ưu điểm nổi bật của phương pháp sửa chữa theo cụm - tổng thành là thời gian máy nằm chờ sửa chữa được rút ngắn đến mức thấp nhất, trên cơ sở đó thời gian sử dụng - khai thác máy cũng được kéo dài đến mức tối đa Một ví dụ điển hình nhất là Nhà máy sửa chữa lớn xe - máy công binh Z143 (thuộc Binh chủng công binh - Bộ Quốc phòng) đã áp dụng mô hình sửa chữa xe - máy theo cụm - tổng thành trong nhiều năm nay Các cụm - tổng thành do nhà máy sửa chữa, thay thế là động cơ đốt trong, hộp số, ly hợp, các bộ truyền động và một số bộ phận công tác của các loại xe - máy công binh Mô hình tổ chức sửa chữa trên đây của nhà máy Z143 cần được nghiên cứu nhân rộng cho các đơn vị khác để làm tăng hiệu quả sử dụng máy trong quá trình thi công

Tài liệu tham khảo

[1] PGS TS Nguyễn Đăng Điệm - Nghiên cứu tổ chức sửa chữa lớn Máy xây dựng và làm đường - Báo

cáo tổng hợp chuyên đề nghiên cứu, Hà Nội, 2004

[2] PGS TS Nguyễn Đăng Điệm - Tổ chức tối ưu công tác sửa chữa Máy thi công - xếp dỡ Tài liệu

giảng dạy cao học Hà Nội, 2005

Trang 22

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ĐỘ BỀN VÀ TUỔI THỌ MỎI

CỦA KHUNG GIÁ CHUYỂN HƯỚNG VÀ TRỤC BÁNH XE ĐẦU MÁY D19E

TRÊN CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐỒNG DẠNG PHÁ HUỶ MỎI DẠNG TƯƠNG ĐỐI

PGS TS NGÔ VĂN QUYẾT

Học viện Kỹ thuật Quân sự

(hệ số an toàn mỏi) và tuổi thọ mỏi của khung giá chuyển hướng và trục bánh xe đầu máy

D19E đang sử dụng tại Xí nghiệp đầu máy Hà Nội trên cơ sở lý thuyết đồng dạng phá huỷ mỏi

dạng tương đối

Summary: In this article, authors present the reseach method and the evaluation result of

Fatigue Strength (calculation ratio of Fatigue Safety) and fatigue longivity of bogie frame and

wheel shafts of locomotive - type D19E which have been operating by Hanoi Locomotive

Enterprise basing on theory of relativity similar fatigue failure.

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Đầu máy D19E là loại đầu máy chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số các loại đầu máy hiện có

của nước ta Sau khoảng 2 năm vận dụng loại đầu máy này tại Xí nghiệp đầu máy Hà Nội, các

xà dọc của một số lớn khung giá chuyển hướng đã xuất hiện các vết nứt, dẫn tới nguy cơ mất an

toàn rất lớn cho việc chạy tàu

CKckck

Để có cơ sở tiếp tục sử dụng, khái thác loại đầu máy này trong thời gian tới với yêu cầu tốc

độ chạy tàu ngày càng được nâng cao, thời gian vừa qua ngành đường sắt Việt Nam đã đề xuất

vấn đề nghiên cứu và đánh giá độ bền mỏi của các kết cấu bộ phận chạy của đầu máy, trong đó

có trục của bánh xe và khung giá chuyển hướng

Để đánh giá được độ bền mỏi và tuổi thọ mỏi của khung giá chuyển hướng đầu máy D19E

cần có các kết quả chính xác về các đặc trưng mỏi của vật liệu bằng cả phương pháp thực

nghiệm và bằng cả phương pháp tính toán lý thuyết Trong bài báo này trình bày phương pháp

đánh giá độ bền mỏi của khung giá chuyển hướng và trục bánh xe của đầu máy D19E (đợt 1) ở

Xí nghiệp đầu máy Hà Nội theo phương trình đồng dạng phá huỷ mỏi tương đối [2]

II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, TÍNH TOÁN

2.1 Cơ sở đánh giá độ bền mỏi khung giá chuyển hướng đầu máy D19E theo phương

trình đồng dạng phá huỷ mỏi tương đối

a Cơ sở lý thuyết tính hệ số an toàn

Khung giá chuyển hướng và trục bánh xe đầu máy D19E vừa chịu mô men xoắn, vừa chịu

mô men uốn và lực dọc trục nên ứng suất tại điểm nguy hiểm của mặt cắt nguy hiểm thay đổi

theo chu kỳ ứng suất đối xứng (r = - 1) Hệ số an toàn mỏi được xác định như sau:

Gọi:

kσ - Hệ số tập trung ứng suất pháp thực tế;

kτ - Hệ số tập trung ứng suất tiếp thực tế

Trang 23

Với trường hợp kτ/kσ = 1, các số liệu thí nghiệm thu được hầu như phân bố trên một đường tròn từ dạng phương trình chính tắc của đường tròn có điểm là gốc toạ độ, có thể viết được:

2 2

1s

1s

τ σ

τ

τ−

σa - Biên độ ứng suất pháp do mômen uốn M gây ra;

τa - Biên độ ứng suất tiếp do mômen xoắn T gây ra;

chu kỳ đối xứng với số chu kỳ ứng suất cơ sở N0;

chu kỳ đối xứng với số chu kỳ ứng suất cơ sở N0

τ σ

τ σ

b Phương trình đồng dạng phá huỷ mỏi tương đối [2]

Dạng tổng quát của phương trình đồng dạng phá huỷ mỏi tương đối là:

Sgh - Giới hạn mỏi của mẫu chuẩn ở chu trình ứng suất N0;

ε - Hệ số ảnh hưởng của kích thước tuyệt đối tới sức chống phá huỷ mỏi của tiết máy;

up - (còn ký hiệu là zp) - phân vị với xác suất phá huỷ P%; khi Smax ≤ Sgh thì P(Smax ≤ Sgh) = 0

ss - Độ lệch bình phương trung bình của đại lượng ứng suất S;

a’,b’ - Những hằng số mới của vật liệu làm tiết máy;

Π- Chỉ tiêu đồng dạng Π phá huỷ mỏi không thứ nguyên

Ngày đăng: 06/08/2014, 16:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Sơ đồ thuật toán xác định năng suất, công suất của máy sàng rung - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 1. Sơ đồ thuật toán xác định năng suất, công suất của máy sàng rung (Trang 3)
Hình 4. Sơ đồ khối thuật toán xác định năng suất, công suất máy trộn kiểu Rôto, hành tinh - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 4. Sơ đồ khối thuật toán xác định năng suất, công suất máy trộn kiểu Rôto, hành tinh (Trang 4)
Hình 5. Giao diện tính toán năng sất và công suất của máy trộn kiểu Rôto, hành tinh - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 5. Giao diện tính toán năng sất và công suất của máy trộn kiểu Rôto, hành tinh (Trang 4)
Hình 6. Mô hình máy trộn bê tông xi măng kiểu Rô to được mô phỏng - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 6. Mô hình máy trộn bê tông xi măng kiểu Rô to được mô phỏng (Trang 5)
Hình 7. Sơ đồ nguyên lý của bộ máy trộn (a) và mô hình động lực học (b)  1- Động cơ điện; 2- Hộp gảm tốc; 3- Bộ truyền xích; 4- Vỏ thùng trộn; 5-Bàn tay trộn; - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 7. Sơ đồ nguyên lý của bộ máy trộn (a) và mô hình động lực học (b) 1- Động cơ điện; 2- Hộp gảm tốc; 3- Bộ truyền xích; 4- Vỏ thùng trộn; 5-Bàn tay trộn; (Trang 5)
Hình 11. Sơ đồ khối giải phương trình dao động sàng rung có hướng, vô hướng - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 11. Sơ đồ khối giải phương trình dao động sàng rung có hướng, vô hướng (Trang 7)
Hình 10. Mô hình dao động của sàng rung có hướng (a); vô hướng (b) - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 10. Mô hình dao động của sàng rung có hướng (a); vô hướng (b) (Trang 7)
Hình 13. Dao động của mặt sàng rung có hướng theo phương dao động Y, X - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 13. Dao động của mặt sàng rung có hướng theo phương dao động Y, X (Trang 8)
Hình 12. Dao động của mặt sàng rung có hướng theo phương dao động Y, X - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 12. Dao động của mặt sàng rung có hướng theo phương dao động Y, X (Trang 8)
Hình 14. Mặt cắt ngang hệ thống rung động đúc dầm BTCT. - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 14. Mặt cắt ngang hệ thống rung động đúc dầm BTCT (Trang 9)
Hình 16. Sơ đồ khối thuật toán giải hệ phương trình chuyển động - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 16. Sơ đồ khối thuật toán giải hệ phương trình chuyển động (Trang 10)
Hình 17. Chuyển vị, vận tốc của thành ván khuôn - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 17. Chuyển vị, vận tốc của thành ván khuôn (Trang 10)
Hình 1. Máy phân tích thành phần kim loại ALLOY PRO 9388 - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 1. Máy phân tích thành phần kim loại ALLOY PRO 9388 (Trang 13)
Hình 2. Xác định thành phần kim loại của Píttông động cơ trên đầu máy D12E - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 2. Xác định thành phần kim loại của Píttông động cơ trên đầu máy D12E (Trang 13)
Hình 3. Mẫu dầu có hạt mài mòn (lấy từ Đầu máy 660 ngày 17/5/2006) - Báo cáo khoa học: "MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MÔ PHỎNG TRONG TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ MỘT SỐ MÁY VÀ THIẾT BỊ SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG TIÊU BIỂU" pps
Hình 3. Mẫu dầu có hạt mài mòn (lấy từ Đầu máy 660 ngày 17/5/2006) (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w