1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà

70 650 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là một phần của đề tài cấp Bộ "Đánh giá thành phần sinh hóa và dược tính của cá ngựa đen có nguồn gốc nuôi và xây dựng giải pháp

Trang 1

HUỲNH KIM KHÁNH

THÀNH PHẦN HÓA SINH VÀ DƯỢC TÍNH CỦA CÁ

THƯƠNG PHẨM VÀ KHAI THÁC TỰ NHIÊN TẠI NHA

TRANG, KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nha Trang – 2010

Trang 2

Huỳnh Kim Khánh

THÀNH PHẦN HÓA SINH VÀ DƯỢC TÍNH CỦA CÁ

THƯƠNG PHẨM VÀ KHAI THÁC TỰ NHIÊN TẠI NHA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là một phần của đề tài cấp Bộ

"Đánh giá thành phần sinh hóa và dược tính của cá ngựa đen có nguồn gốc nuôi và xây dựng giải pháp bảo quản sau thu hoạch" của Trường Đại học Quốc tế - ĐHQG TPHCM do người hướng dẫn khoa học luận văn này làm chủ nhiệm

Tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu và chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nào

Tác giả

Huỳnh Kim Khánh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin gửi đến Ban Giám Hiệu nhà trường, khoa Nuôi trồng Thuỷ sản - Trường đại học Nha Trang sự kính trọng và lòng tự hào đã được học tập và nghiên cứu tại trường trong những năm qua

Xin chân thành cám ơn đến PGS TS Hoàng Tùng đã giúp đỡ, động viên và hướng dẫn trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Xin chân thành cám ơn PGS.TS Nguyễn Đình Mão, PGS.TS Lại văn Hùng và cho tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại khoa Nuôi trồng thuỷ sản - Trường đại học nha Trang Xin chân thành cảm ơn Sở Nông nghiệp và PTNT Khánh Hoà, Chi cục Nuôi trồng thuỷ sản Khánh Hoà, Trung tâm Khuyến ngư Khánh Hoà nay là Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư Khánh Hoà, Trại thực nghiệm Nuôi trồng thuỷ sản Ninh Lộc - Ninh Hoà đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành cuốn luận văn này

Cuối cùng, là lời cảm ơn đến gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập cũng như nghiên cứu thực hiện đề tài

Huỳnh Kim Khánh

Trang 5

CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

ARA: Axít Arachidonic (C20:4n-6)

Bộ NN và PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

DHA: Axít Docosahexaenoic (C22:6n-3)

EPA: Axít Eicosapentaenoic (C20:5n-3)

HUFA: Highly Unsaturated Fatty Acid, các axít béo PUFA có mạch

cacbon dài hơn hoặc bằng C20 và có nhiều hơn hoặc bằng 3 nối đôi

KLK: khối lượng khô

KLT: khối lượng tươi

MUFA Monounsaturated Fatty Acid, axít béo không no một nối đôi n-3 HUFA hàm lượng các axít béo HUFA có nối đôi bắt đầu từ vị trí thứ

ba tính từ gốc methyl

PUFA: Polyunsaturated Fatty Acid, axít béo có mạch cacbon C16 (với

2 – 4 nối đôi); C18 (với 2 – 5 nối đôi); C20 (với 2 – 5 nối đôi) hoặc C22 (với 2 – 6 nối đôi)

SFA: Saturated Fatty Acid, axít béo no (mạch cacbon không có nối

đôi)

TFA Total Fatty Acid, tổng hàm lượng axít béo (mg/g KLK)

TL: Total lipid, hàm lượng lipít tổng số (mg/g KLK)

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương I TỔNG LUẬN 3

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NUÔI CÁ NGỰA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM .3

1.1.1 Đặc điểm phân bố 3

1.1.2 Đặc điểm hình thái .4

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 5

1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 8

1.1.5 Tình hình nuôi cá ngựa 9

1.2 SƠ LƯỢC VỀ VAI TRÒ VÀ CÔNG DỤNG CỦA CÁ NGỰA 10

1.3 KINH DOANH CÁ NGỰA TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI .14

1.4 KINH DOANH CÁ NGỰA Ở VIỆT NAM 15

1.4.1 Kích thước khai thác 15

1.4.2 Sản lượng khai thác 15

1.4.3 Kinh doanh cá ngựa ở Việt Nam 16

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu .19

2.1.1 Thời gian nghiên cứu 19

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19

2.2 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2.1 Cá ngựa 19

2.2.2 Chuột bạch 19

2.3 Các phương pháp phân tích thành phần hoá sinh 21

2.4 Phương thức tiến hành thí nghiệm 23

2.4.1 So sánh thành phần hoá sinh của cá ngựa nuôi với cá ngựa tự nhiên ở hai nhóm kích thước khác nhau 23

Trang 7

2.4.2 Thử nghiệm ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung bột cá ngựa đến

một số chỉ tiêu sinh lý của chuột bạch 24

2.5 Phương pháp xử lý số liệu .28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

3.1 Thành phần sinh hóa của cá ngựa đen 29

3.1.1 Các chỉ tiêu tổng quát 29

3.1.2 Hàm lượng protein và axít amin 29

3.1.3 Hàm lượng lipít và các axít béo 35

3.2 Thử nghiệm ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung bột cá ngựa đến một số chỉ tiêu sinh lý của chuột bạch 38

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Danh mục một số loài cá Ngựa được nuôi trên thế giới 10

Bảng 1.2 Ước tính sản lượng khai thác cá Ngựa ở Việt Nam (1995) 16

Bảng 2.1 Kích thước của 4 nhóm cá khác biệt về nguồn gốc và kích cỡ .23

Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của 3 loại thức ăn (dùng trong 10 ngày) 25

Bảng 3.1 Thành phần sinh hóa cơ bản của cá Ngựa đen thu từ tự nhiên và bể nuôi ở hai nhóm kích thước khác nhau 29

Bảng 3.2 Hàm lượng protein và axít amin của cá Ngựa đen có nguồn gốc và kích thước khác nhau 29

Bảng 3.3 Hàm lượng axít amin ở cá Ngựa đen có nguồn gốc khác nhau 32

Bảng 3.4 Hàm lượng axít amin ở cá Ngựa đen có kích thước khác nhau 33

Bảng 3.5 Các chỉ tiêu liên quan đến lipít ở cá Ngựa đen có nguồn gốc và kích thước khác nhau 36

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cá Ngựa Đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852) 4

Hình 1.2 Phương pháp đo kích thước cá Ngựa 5

Hình 1.3 Cấu trúc ống tiêu hóa cá Ngựa 7

Hình 1.4 Phổ thức ăn của cá Ngựa đen 8

Hình 1.5 Cá Ngựa khô bán trên thị trường 13

Hình 1.6 Cá Ngựa nuôi cảnh 14

Hình 1.7 Cá Ngựa ngâm rượu dùng trong y học cổ truyền 14

Hình 2.1: Chuột 5 tuần tuổi dùng cho thí nghiệm 20

Hình 2.2: Bố trí các lồng nuôi chuột 20

Hình 2.3: Cá Ngựa được mổ bỏ nội tạng 21

Hình 2.4: Máy sắc kí khí HP 6890 23

Hình 2.5: Lấy mẫu máu chuột 26

Hình 2.6: Thiết bị phân tích nội tiết tố Cobass E 411 26

Hình 2.7: Thiết bị phân tích huyết học Pentra 60C + .27

Hình 2.8: Xác định độ khoẻ của cơ 28

Hình 3.1 Hàm lượng các axít amin ở cá Ngựa đen với các nhóm nguồn gốc và kích thước khác nhau 31

Hình 3.2 Hàm lượng các axít béo ở cá Ngựa đen với các nhóm nguồn gốc và kích thước khác nhau 37

Hình 3.3 Biến động một số chỉ tiêu huyết học ở chuột khi cho ăn thức ăn có bổ sung bột cá Ngựa nuôi và cá Ngựa khai thác tự nhiên .39

Trang 10

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu này, so sánh thành phần hóa sinh của cá Ngựa đen

(Hippocampus kuda) nuôi thương phẩm với cá tự nhiên tại Nha Trang, Khánh Hoà

và ảnh hưởng của bột cá ngựa trong thức ăn lên sinh lí của chuột Kết quả nghiên cứu cho thấy Hàm lượng protein ở cá ngựa nuôi thấp hơn so với cá ngựa khai thác

tự nhiên (P<0,05) Tuy vậy, hàm lượng các axít amin như Alanin, Glyxin,

Methionin, Hydroxyprolin và Lysin ở cá nuôi lại cao hơn cá khai thác tự nhiên

(P<0,05) Hàm lượng lipít tổng số ở cá nuôi cao hơn so với cá tự nhiên Các chỉ tiêu

khác TFA, SFA, MUFA, PUFA và HUFA không có sự khác biệt giữa 2 nhóm cá Xét về kích thước, cá ngựa thuộc nhóm kích thước 100 – 120 mm chiều dài thân có

hàm lượng protein cao hơn so với nhóm kích thước 60 – 80 mm (P<0,05) Nhóm

kích thước 100 – 120 mm có hàm lượng 6 axít amin gồm Alanin, Valin, Lơxin, Prolin, Glutamin và Tyrosin cao hơn so với nhóm kích thước 60 – 80 mm, nhưng hàm lượng Methionin là ngược lại Chuột bạch được cho ăn thức ăn có bột cá ngựa nuôi hay khai thác tự nhiên với mức 200 mg/cá thể/ngày có lượng hemoglobin cao hơn so với chuột ăn thức ăn bình thường (P<0,05) Tuy nhiên, các chỉ tiêu huyết học và sinh lý khác như độ khỏe của cơ, hàm lượng các hóc môn sinh dục estrogen hoặc testoterone lại không có sự khác biệt giữa nhóm đối chứng và chuột ăn bột cá ngựa Kết quả nghiên cứu của đề tài này góp phần làm phong phú thêm cơ sở dữ liệu về đặc điểm sinh học và phần nào dược tính hỗ trợ sinh sản của cá Ngựa đen, đồng thời giúp mở hướng phát triển cho nghề nuôi cá Ngựa trong nước, tạo giá trị gia tăng cho đối tượng nuôi và tiến đến khép kín qui trình sản xuất, phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của con người

Từ khóa: cá Ngựa đen, Hippocampus kuda, thành phần hóa sinh, sinh sản

Trang 11

MỞ ĐẦU

Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới với bờ biển dài hơn 3.200 km Chính vì thế nguồn lợi hải sản khai thác được hàng năm là rất đáng kể Trong số nhiều loài sinh vật biển có giá trị phải kể đến cá Ngựa Các loài thuộc giống cá Ngựa ít có giá trị thực phẩm nhưng từ lâu đã được dùng làm thuốc chữa bệnh ở các nước phương Đông hoặc nuôi làm cảnh trong thời gian gần đây ở các nước phương Tây Do bị khai thác nhiều, nguồn lợi cá Ngựa tự nhiên suy giảm nghiêm trọng thúc đẩy sự ra đời của nghề nuôi cá Ngựa [8] Ở Việt Nam nghề nuôi cá Ngựa, trong đó có cá Ngựa đen chỉ mới xuất hiện vài năm gần đây, chủ yếu ở qui mô nhỏ tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà Cá Ngựa được nuôi trong bể xi măng hoặc lồng và tiêu thụ dưới dạng cá cảnh khi đạt kích cỡ khoảng 6 đến 8 cm chiều dài thân Quy mô

sản xuất có thể mở rộng nhưng khả năng xuất khẩu còn nhiều hạn chế

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái, định loại,

kỹ thuật sinh sản nhân tạo, xây dựng quĩ gen …của cá Ngựa Các nghiên cứu ở trong nước chủ yếu được thực hiện ở Viện Hải dương học Nha Trang hoặc Trường Đại học Thủy sản và khá đa dạng về nội dung Tuy vậy, hiện vẫn chưa có báo cáo khoa học nào được công bố về dược tính của cá Ngựa, đặc biệt là cá Ngựa nuôi Nghiên cứu có liên quan nhiều nhất là của Đỗ Tuyết Nga [12] về thành phần hóa sinh của cá Ngựa đen tự nhiên thu ở vùng biển Nha Trang Kết quả cho thấy cá Ngựa đen có thành phần lipít cao nhất ở phần nội quan, chiếm 14,67% ÷ 15,27%; protein cao nhất ở phần đầu, da và xương Những axít amin không thay thế đều có trong cá Ngựa với hàm lượng cao

Xu thế tương lai là dựa vào nuôi trồng thủy sản để đáp ứng nhu cầu hải sản ngày càng tăng của con người Cá Ngựa đen nuôi nhân tạo có điều kiện dinh dưỡng

và môi trường sống khác biệt nhiều so với cá Ngựa đen ngoài tự nhiên Vì thế chất lượng cá, cụ thể là thành phần hóa sinh có thể không giống với cá Ngựa tự nhiên, dẫn đến sự khác biệt có thể về dược tính Ngoài ra, cá Ngựa đen có nguồn gốc nuôi thường được thu ở cỡ 6 – 8 cm chiều dài thân, nhỏ hơn so với cỡ cá Ngựa đen tự nhiên (10 – 12 cm) và vì thế có thể chưa có dược tính hoặc có nhưng thấp hơn so

Trang 12

với cá Ngựa tự nhiên Trên thế giới hiện chỉ có duy nhất nghiên cứu của Lin và cs [34] so sánh thành phần hoá sinh của cá Ngựa đen tự nhiên với cá nuôi ở Trung Quốc mặc dù chỉ là so sánh thuần túy về hoá sinh mà không có liên hệ nào đến tác dụng của cá Ngựa

Nếu suy luận theo logic thì dược tính hỗ trợ sinh sản ở động vật của cá Ngựa nuôi không tốt bằng cá Ngựa tự nhiên Nếu sự khác biệt về dược tính đó có liên quan đến sự khác biệt về thành phần hóa sinh thì chúng ta sẽ có cơ sở để nhận định liệu các thành phần dinh dưỡng cơ bản trong cá Ngựa đen có khả năng hỗ trợ sinh sản của động vật khi được sử dụng làm thuốc hoặc thức ăn hay không Xuất phát từ

những lý do trên, đề tài “Thành phần hoá sinh và dược tính của cá Ngựa đen

(Hippocampus kuda Bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại Nha Trang, Khánh Hoà” đã được thực hiện từ ngày 15/10/2009 đến ngày

15/5/2010 với mục tiêu và các nội dung cụ thể như sau:

Mục tiêu của đề tài: Đánh giá được thành phần hoá sinh và dược tính của cá

Ngựa đen có nguồn gốc nuôi theo qui trình hiện thời tại Khánh Hòa và cá Ngựa đen

có nguồn gốc từ tự nhiên

Các nội dung nghiên cứu:

1 Xác định thành phần hoá sinh (protein, axít amin, lipít, axít béo) của cá Ngựa nuôi và cá Ngựa thu từ tự nhiên ở hai nhóm kích thước 6 - 8 cm và

10 - 12 cm chiều dài thân

2 Thử nghiệm ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung bột cá Ngựa đen đến một số chỉ tiêu sinh lý của chuột bạch

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Kết quả nghiên cứu của đề tài này

vừa góp phần làm phong phú thêm cơ sở dữ liệu về đặc điểm sinh học và phần nào dược tính của cá Ngựa đen, vừa giúp mở hướng phát triển cho nghề nuôi cá Ngựa trong nước, tạo giá trị gia tăng cho đối tượng nuôi và tiến đến khép kín qui trình sản xuất, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người

Trang 13

CHƯƠNG I TỔNG LUẬN 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NUÔI CÁ NGỰA TRÊN THẾ GIỚI VÀ

Họ cá chìa vôi Syngnathidae

Giống cá Ngựa Hippocampus

Loài cá Ngựa đen Hippocampus kuda Bleeker, 1852

Tên tiếng Anh: black seahorse, ocean seahorse

1.1.1 Đặc điểm phân bố

Cá Ngựa phân bố ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới Phạm vi phân bố của chúng từ 45o vĩ Bắc đến 45o vĩ Nam [56] Mặc dù phân bố rộng nhưng trong tự nhiên số lượng cá Ngựa không nhiều Ở Sydney (Australia) nơi có sinh cảnh thích hợp nhất của cá Ngựa, chỉ có 1 con trên 6 m2 [56] Chúng thường sống ở vùng nước

có độ sâu trên 30 m, tuy nhiên cũng có một số loài như H kelloggi, H minotaur

sống ở độ sâu 90 – 100 m [17], [26] Cá Ngựa đen phân bố ở vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương; Pakistan và Ấn Độ, Australia, New Guinea, Indonesia, Malaysia, Philippin, Thái Lan đến Nam Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hawaii Ở Việt Nam, cá Ngựa đen phân bố từ Bắc đến Nam ở vùng nước ven bờ, đặc biệt là ở Khánh Hòa và Bình Thuận [1], [8], [36] Cá Ngựa đen có khả năng sống ở biển nhưng đẻ ở cửa sông [4], [5]

Cá Ngựa chưa thành thục sinh dục thường sống đơn độc, nhưng chúng lại kết cặp khi trưởng thành, sống “chung thủy” với nhau ở một lãnh thổ nhất định “Nhà” của cá đực có diện tích khoảng vài m2, nhưng của cá cái có khi rộng đến 100 m2 Sự sai khác về diện tích lãnh thổ giữa cá đực và cá cái làm giảm sự cạnh tranh về thức

ăn và không gian trong nội bộ loài Chúng thường sống ở vùng biển có nhiều rạn

Trang 14

san hô, rong lá hẹ, rong mơ (Sargassum), bọt biển (Sponges) hoặc đáy bùn cát Theo tính toán của Perante [43] thì loài H comes ở Phi-lip-pin sống ở rạn san hô chiếm 39,89%, ở bọt biển – 25,73%, ở rong Mơ (Sargassum) – 23,83%, phần còn

lại là ở những sinh cảnh khác Một số loài cá Ngựa rộng muối và rộng nhiệt, giới

hạn chịu nhiệt bình thường của cá Ngựa như sau: loài cá Ngựa Nhật Bản (H

loài cá Ngựa Đen (H kuda): 9 – 34oC [66]

Khả năng chịu mặn của cá Ngựa phụ thuộc vào giai đoạn sống của cá thể Cá càng lớn thì khoảng thích ứng với độ mặn càng rộng Cá con có thể sống ở độ mặn

15 ppt, nhưng cá trưởng thành thường chỉ chịu được độ mặn thấp đến 5 ppt [66]

1.1.2 Đặc điểm hình thái

Hình 1.1: Cá Ngựa Đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852)

Cá Ngựa có hình dạng đặc biệt, với cơ thể gồm nhiều đốt xương vòng, các đốt vòng có gai gồm: 1, 4, 7 và 11 ở thân; 1, 4, 8, 11, 14, 16, 18 và 20 ở đuôi Đầu to có dạng như đầu ngựa gập thẳng góc với trục thân Không có vây đuôi, đuôi thường được cuộn lại để bám vào giá thể Chiều dài lớn nhất 30 cm, thường gặp 10 – 20

Trang 15

cm Cá có màu đen hoặc nâu, đôi khi có màu vàng và hiện tượng này chỉ xảy ra đối với con cái

36]

Hình 1.2 Phương pháp đo kích thước cá Ngựa [

Cá Ngựa là loài lưỡng hình giới tính, có sự sai khác giữa con đực và con cái về hình thái Cá Ngựa đực trưởng thành có túi ấp trứng, nằm dưới phần bụng, cá cái không có túi này Đây là dấu hiệu sinh dục thứ cấp

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá Ngựa có ruột thẳng, ngắn, không có dạ dày [50] (Hình 1.3) Cá con ăn các

loài giáp xác nhỏ như Paracalanus, Cyclop, Acartia, Oithona, Neomysis [66] Cá trưởng thành ăn các loài sinh vật đáy như Amphipoda, tôm thuộc họ Palaemonidae

Trang 16

[60] Trong điều kiện nuôi nhốt, cá Ngựa có thể ăn Atemia đã làm giàu, Mysis đông

lạnh [59] Như vậy, cá Ngựa ở giai đoạn con giống ăn động vật nổi, nhưng khi trưởng thành chuyển sang ăn đáy Có nhiều ý kiến khác nhau về hoạt động bắt mồi

ngày đêm của cá Ngựa Theo Perante và cộng sự [43] thì cá Ngựa H comes ở

Phi-lip-pin bắt mồi chủ yếu vào ban đêm, trong khi đó Vincent và Sadler [55] và Lockyear và cs [35] cho rằng cá Ngựa chỉ bắt mồi vào ban ngày Cá Ngựa là loài

bắt mồi khá nhiều, cá con có thể ăn 1.000 ấu thể Artemia trong một ngày, cá lớn ăn

từ 3.000 – 4.000 Artemia trưởng thành [62]

Cá Ngựa bắt mồi sống và di động [5] Thức ăn của chúng là các loài giáp xác

nhỏ thuộc nhóm Bơi nghiêng (Amphipoda), cá con và một số động vật không xương

sống khác [51], [52] Cá Ngựa không ăn thực vật và tảo [8] Một số loài trong họ cá Chìa vôi (Sygnathidae), cá đực mang trứng ăn chủ yếu là con mồi nhỏ hơn cá cái cùng kích thước, bởi vì cá đực mang trứng di chuyển chậm, nên khó bắt được con mồi lớn Trong khi đó D’Entremont [22] cho rằng không có sự khác biệt về thành phần thức ăn giữa cá đực mang trứng và cá cái

Cá Ngựa thay đổi phổ thức ăn theo kích thước [6], [63] Kết quả phân tích dạ

dày cá Ngựa H abdominalis cho thấy cá nhỏ ăn thức ăn chủ yếu là giáp xác chân chèo Copepoda, cá lớn ăn tôm Caridae [63], [65] Loài H erectus khi còn nhỏ ăn

Amphipoda và Copepoda, trong khi cá lớn chỉ ăn Amphipoda [51]

Theo một số tác giả, cá Ngựa thuộc nhóm bắt mồi ít chủ động Chúng theo dõi con mồi ở nhiều tư thế, vị trí khác nhau Trong điều kiện nuôi nhốt chúng có thể ăn nổi hoặc ăn đáy ngay cả khi con mồi bám vào thành bể [58] Khi phát hiện con mồi,

cá chọn vị trí thích hợp và đớp mồi nhanh Tần suất bắt mồi trong 5 phút là 10 - 15 lần, nếu những thức ăn không thích hợp cá sẽ nhả ra [6], [[8]

Hầu hết các loài cá Ngựa có phổ thức ăn tương đối giống nhau: Artemia,

Mysis, Copepoda, Rotifer, Isopoda [47], [50], [64], [67] Chúng có thể tiêu hóa

các loại mồi khác như: Amphipoda, cá nhỏ hoặc động vật không xương khác Theo

quan sát của Đỗ Hữu Hoàng và Trương Sỹ Kỳ [3], ở ngoài tự nhiên một số loài cá Ngựa không ăn thực vật như tảo và rong biển nhưng các mảnh cỏ biển được tìm

Trang 17

thấy trong ruột của một số loài như: H guttulatus có thể do chúng bám vào thức ăn

của cá Ngựa và theo vào trong ruột [22]

Hình 1.3 Cấu trúc ống tiêu hóa cá Ngựa [50]

Cá Ngựa đen bắt mồi vào ban ngày, từ 6 giờ đến 18 giờ Hoạt động bắt mồi mạnh nhất vào 8 giờ sáng và 14 giờ chiều, nhưng lúc 14 giờ cường độ bắt mồi thấp hơn lúc 8 giờ, ban đêm chúng ngừng kiếm ăn [6], [8], [13], [14] Trương Sĩ Kỳ [8]

và Trần Sương Ngọc [13] nhận thấy rằng cá Ngựa đen có thể bắt mồi vào ban đêm với điều kiện chiếu sáng liên tục

Theo Trương Sĩ Kỳ và cs [4], thành phần thức ăn của cá con (H kuda) chủ

yếu là lớp phụ Chân Mái Chèo (Copepoda), chiếm 93% lượng thức ăn Trong đó họ Cyclopoidae và giống Pseudodiaptomus chiếm ưu thế Ngoài ra trong ống tiêu hoá

còn có ấu trùng của các nhóm giáp xác khác Cá Ngựa con thuộc nhóm ăn động vật nổi Kết quả này cũng được sự khẳng định của các công trình nghiên cứu của các tác giả Chen Jia Xin [66] và [25]

Trang 18

Hình 1.4: Phổ thức ăn của cá Ngựa đen

Đối với cá có kích thước lớn hơn 45 mm, phổ thức ăn của chúng hoàn toàn thay đổi Thức ăn chủ yếu là các giống thuộc họ Tôm Palaemonidae, chiếm 47%

lượng thức ăn Kế đến là nhóm Bơi nghiêng (Amphipoda) – 38% Ngoài ra trong

ống tiêu hóa của chúng còn có ấu trùng Giáp xác (Crustacea) và nhóm Thân mềm (Mollusca), số lượng và tần số xuất hiện của chúng rất thấp Nhóm Giáp xác chân

chèo Copepoda không phải là thành phần quan trọng trong thức ăn của cá trưởng

thành vì tần số xuất hiện không cao và khối lượng quá nhỏ [4] [31]

1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng

Cá Ngựa là loài sinh trưởng nhanh, cá đạt kích thước thương phẩm sau 6 tháng nuôi, vòng đời ngắn [25] Hầu hết các loài cá Ngựa đánh bắt được có tuổi từ 1 – 2 năm, kích thước dao động 80 – 160 mm [8] Job và cs [33] cũng cho rằng cá Ngựa đen có tốc độ sinh trưởng nhanh (0,9 – 1,53 mm/ngày)

Năm 2006, Hồ Thị Hoa [2] đã nuôi thành công cá Ngựa đen thương phẩm bằng lồng ở vịnh Nha Trang Cá Ngựa đưa ra nuôi lồng có độ tuổi 45 ngày, 60 ngày

và 75 ngày, với kích thước trung bình ban đầu lần lượt là 45,6; 54,9 và 61,6 mm Sau 60 ngày nuôi cá đạt kích thước trung bình theo thứ tự trên là 84,0; 92,0 và 97,9

mm Tỷ lệ sống tương ứng ở các kích thước là 60,3%; 77,5% và 89,4% Cá Ngựa có tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh, thời gian nuôi tương đương như những đối tượng thủy sản khác nên là một đối tượng nuôi rất có triển vọng

Copepoda Ấu trùng giáp xác

Cá con có chiều dài thân 5 - 15 mm

Palaemonidae Amphipoda

Cá có chiều dài thân lớn hơn 45mmCác nhóm khác

Trang 19

Ở Phi-lip-pin, cá Ngựa được nuôi ở đảo Marrunggas vào năm 1988, nhưng bị thất bại Phương pháp nuôi như sau: cho cá đẻ trong phòng thí nghiệm và nuôi cá con trong các lồng nổi đặt ở biển hoặc cửa sông, tỷ lệ sống sót của cá con là 12% sau một tuần nuôi Năm 1995 đề án nuôi cá Ngựa lại được lặp lại ở Trường Đại Học Tổng hợp Mindanao và hiện nay đề án này thực hiện tại SEADAC/AQD (Southeast Asian Fisheries Development Center Aquaculture Department)

Những năm gần đây, ở Thái Lan bắt đầu nghiên cứu nuôi cá Ngựa thương phẩm trong điều kiện phòng thí nghiệm, nhưng kết quả chỉ dừng lại ở bước đầu Tỷ

lệ sống không cao, không chủ động được khâu thức ăn, chưa cho cá Ngựa tái phát dục trong điều kiện nuôi nhốt, cho nên chưa tạo được thế hệ F2 Có lẽ đây là khó khăn chung cho các nghiên cứu nuôi cá Ngựa Hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất khó khăn này có thể vượt qua Gần đây nhất, các nước Canada, Anh, Úc, Bỉ,

Ấn Độ, Nam Phi, New Zealand đang tập trung nghiên cứu đặc điểm sinh học, sản xuất giống và nuôi thương phẩm loài cá này, nhưng kết quả đạt được còn rất hạn chế, chỉ thành công ở qui mô thí nghiệm

Việc thử nghiệm cho sinh sản nhân tạo cá Ngựa đen ở Việt Nam đã được tiến hành từ những năm 90 của thế kỷ trước [5], [6], [8] Đến nay qui trình nuôi tương đối ổn định, con giống đã được sản xuất nhân tạo và nuôi thương phẩm ở qui mô đại trà

Các loài cá Ngựa đang được nuôi chủ yếu ở Khánh Hòa là cá Ngựa đen (H

kuda), cá Ngựa ba chấm (H trimaculatus), cá Ngựa vằn (H comes) [37] Mô hình

nuôi chủ yếu là trong các bể xi măng, bể composite Kích thước cá thu hoạch

Trang 20

thường 6 – 12 cm, và cá chủ yếu được bán dưới dạng cá cảnh Năm 2006, Hồ Thị

Hoa đã nuôi thành công cá Ngựa bằng lồng ở vịnh Nha Trang, mở ra một nghề mới

rất có triển vọng

Bảng 1.1: Danh mục một số loài cá Ngựa được nuôi trên thế giới

Chen Jia Xin [66]

Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia,

H fuscus, H kuda, H

barbouri

Trương Sĩ Kỳ và cs [53]

1.2 SƠ LƯỢC VỀ VAI TRÒ VÀ CÔNG DỤNG CỦA CÁ NGỰA

Theo ghi chép của sách Y học Trung Hoa, cá Ngựa đã được sử dụng làm thực

phẩm chức năng từ hơn 600 năm trước Các công dụng chữa bệnh của cá Ngựa đã

được liệt kê rất đa dạng như chữa trị chứng mệt mỏi, cholesteron cao, suy nhược cơ

thể, viêm nhiễm hoặc áp xe cổ họng, đờm dãi, các bệnh về hô hấp, hen suyễn, suy

giảm khả năng tình dục, các bệnh về tim và hệ tuần hoàn, thận, gan và thậm chí cá

Ngựa còn được dùng để trị chứng khó sinh ở phụ nữ Công dụng của cá Ngựa chủ

yếu được rút tỉa từ kinh nghiệm dân gian Trước năm 2000, người ta chưa phát hiện

được hợp chất có hoạt tính đặc biệt nào từ cá Ngựa Ngoại trừ một vài nghiên cứu

Trang 21

về di truyền học, hình thái ngoài hay sinh sản của cá Ngựa; cơ chế phân tử của sinh

lý học, dược lý học và miễn dịch học vẫn chưa được nghiên cứu một cách rõ ràng Gần đây, các nhà khoa học Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu thành phần phân tử của các hợp chất trong cá Ngựa ở cấp độ gen và protein Đây là một hướng nghiên cứu hiện đại, chứng minh về mặt cơ chế phân tử công dụng y học của loài sinh vật này trong y học Trung Hoa cổ truyền Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cá Ngựa chứa các phân tử miễn dịch có hai nguồn gốc khác nhau: từ yếu tố di truyền bẩm sinh và từ hệ miễn dịch do quá trình chọn lọc tự nhiên Dạng miễn dịch từ quá trình tiến hóa qua chọn lọc tự nhiên bao gồm các peptide kháng lại các vi sinh vật, các nhân tố làm tăng cường khả năng tiêu diệt tế bào ngoại lai, các protein chống oxy hoá, các phân tử có khả năng giải độc, các lectin và protein có liên quan đến quá trình tạo máu… Các phân tử miễn dịch được di truyền ở cá Ngựa xây dựng hệ thống chống oxy hóa là một trong những hệ thống tự bảo vệ quan trọng nhất của sinh vật, bao gồm hàng loạt các enzyme glutathione S-transferase, protein chống ôxy hóa, enzyme chống ôxy hóa B16, metallothionine A và nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học khác Các chất này có thể cùng tác dụng trong quá trình chống oxy hóa và chống lão hóa Điều thú vị là đã phát hiện được rằng cá Ngựa có chứa ít nhất

5 gene kháng khối u, điều này đã mở ra một cách nhìn mới trong lĩnh vực nghiên cứu cơ chế của khả năng chống ung thư từ cá Ngựa cũng như khả năng sử dụng nguồn dược liệu quý giá này

Người ta còn tìm thấy tất cả các thành phần của chuỗi vận chuyển điện tử trong tế bào như Cytochrome C oxidase, Nicotinamide adenine dinucleotide dehydrogenase, ferritin subunits… Đây là các phân tử có chứa hàm lượng nguyên tố sắt cao, sự có mặt của chúng giải thích công dụng chống mệt mỏi, tái tạo hồng cầu của cá Ngựa khi sử dụng chúng phối hợp với một số dược liệu cổ truyền khác Một điều đáng nói nữa là cá Ngựa có chứa enzyme sinh tổng hợp prostaglandin – chất đóng vai trò điều hoà thần kinh, hormone và hệ miễn dịch Prostaglandin và tiền chất của nó (Arachidonic acid – AA) có khả năng kích thích

sự tiết hormone oxytocin và sự cường dương bằng cách tác động đến vùng điều

Trang 22

khiển tình dục của tuyến yên trong não người Ngoài ra, tiền chất của Arachidonic acid - Docosahexaenoic acid (DHA) là vật liệu cơ bản để sản sinh tinh trùng và do

đó có liên quan chặt chẽ đến khả năng sản sinh tinh trùng ở nam giới Chính hàm lượng DHA cao được tìm thấy trong cá Ngựa đã giải thích và chứng minh tác dụng tăng cường sinh lý ở nam giới của cá Ngựa Nói cách khác, nghiên cứu này xác nhận sự hiện diện của các thành phần hoạt tính cần thiết nhằm tăng cường khả năng sinh lý của nam giới ở cá Ngựa

Khi nghiên cứu về thành phần các chất trong cá Ngựa, Đỗ Tuyết Nga và cộng

sự [12] cho thấy cá Ngựa đen có thành phần lipít cao nhất ở phần nội quan, chiếm 14,7% ÷ 15,3%; thành phần protein cao nhất ở phần đầu, da và xương Những axít amin không thay thế rất cần thiết cho con người như: Lysin, Histidin, Arginin, Threonin, Phenylalanin, Valin, Methionin, Lơxin, Isolơxin đều có trong cá Ngựa Hàm lượng các axít amin cần thiết cho sự tăng trưởng của trẻ em như Histidin, Arginin và Methionin đều cao ở cá Ngựa đen

Các nghiên cứu khoa học về sinh lý, sinh thái học cùng với nghiên cứu hoá sinh học, tác động dược lý học của cá Ngựa giúp con người có được hiểu biết đúng đắn về cách sử dụng loài sinh vật này Ở Trung Quốc cá Ngựa được dùng làm thuốc

và ghi nhận lần đầu tiên ỏ bộ sách Bản Thảo Cương mục Thập Di của Triệu Học Mẫn (1765) Ở Việt Nam, Đỗ Tất Lợi [11] đã ghi nhận cá Ngựa là một vị thuốc bổ

có tác dụng kích thích về sinh dục Thường dùng cho người già yếu, phụ nữ vô sinh hoặc thai ra khó Trong nhiều trường hợp có thể chữa được bệnh hen suyển, hói đầu

Chế biến cá Ngựa có thể theo nhiều cách như ngâm cá (3 cặp gồm 3 cá cái và

3 cá đực) vào rượu có hồi, quế và một số dược liệu có tinh dầu; sấy cá Ngựa rồi đem tán nhỏ, uống dưới dạng bột hoặc viên, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 – 3 gam Trên thị trường cá Ngựa thường được tiêu thụ ở dạng khô Cá được rửa sạch bằng nước ngọt, phơi khô 2 – 3 ngày là có thể đem bán hoặc sử dụng

Trang 23

Hình 1.5: Cá Ngựa khô bán trên thị trường Chính vì công dụng chữa bệnh hữu hiệu nên hiện nay nguồn lợi cá Ngựa đang

bị suy giảm nghiêm trọng do bị đánh bắt quá nhiều cho mục đích thương mại Ngoài ra cá Ngựa có hình dạng kỳ lạ nên còn được nuôi làm cảnh ở nhiều nước trên thế giới Như vậy cá Ngựa là một mặt hàng quí, rất cần thiết cho nhu cầu con người

và đang có nguy cơ tuyệt chủng Ở Việt Nam các biện pháp bảo vệ nguồn lợi cá Ngựa được tiến hành theo hướng chủ động hơn nhờ những thành công trong việc sản xuất giống nhân tạo Trong nhiều năm qua, Viện Hải Dương Học đã thả hàng chục ngàn cá giống, hàng trăm cá trưởng thành từ các bể nuôi ra biển, nơi có sinh cảnh thích hợp cho cá Ngựa phát triển Địa điểm được chọn để thả cá Ngựa là khu vực cảng Nha Trang, đảo Hòn Mun… Cần lưu ý là nơi này trước đây đều không có loài cá Ngựa Đen sinh sống Theo Trương Sỹ Kỳ tại địa điểm Nha Trang sau một thời gian thả cá, tiến hành lặn kiểm tra, kết quả cho thấy trong phạm vi khoảng 30m2, 11 con cá Ngựa đã được phát hiện Mật độ này là rất cao so với các vùng biển khác Gần đây, viện Hải Dương Học đã thử nghiệm nuôi cá Ngựa trong lồng đặt ở biển, kết quả cá phát dục trong lồng và sinh sản, tạo ra rất nhiều thế hệ cá con để bổ sung cho nguồn lợi cá Ngựa ngoài tự nhiên Đến nay Việt Nam có lẽ đang đi đúng hướng trong việc phát triển nghề nuôi cá Ngựa kết hợp với bảo vệ nguồn lợi một cách hiệu quả và ít tốn kém Khép kín chu kỳ nuôi và tiến đến không cần sử dụng cá

bố mẹ khai thác từ tự nhiên

Trang 24

1.3 KINH DOANH CÁ NGỰA TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

Trong số các loài cá cảnh biển, cá Ngựa được xem là loài có giá trị khá cao Hiện nay có khoảng 36 quốc gia trên thế giới như Úc, Ý, Mỹ, Canada, Anh, Na Uy, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc… kinh doanh xuất nhập khẩu cá Ngựa với các mục đích khác nhau Nhu cầu sử dụng cá Ngựa ước tính tăng 5% mỗi năm (Cawthron Report, 2002)

Hình 1.6 Cá Ngựa nuôi cảnh

Hình 1.7 Cá Ngựa ngâm rượu dùng trong y học cổ truyền

Trang 25

1.4 KINH DOANH CÁ NGỰA Ở VIỆT NAM

1.4.1 Kích thước khai thác

Trước đây kích thước thương phẩm của cá Ngựa thường lớn hơn 120 mm, nhưng hiện nay do số lượng cá khai thác có kích thước lớn càng ngày càng giảm nên cá có chiều dài trên 60 mm đã được mua bán trên thị trường Do nhu cầu tiêu thụ cá Ngựa ngày càng lớn, nên dẫn đến tình trạng nguồn lợi một số loài cá Ngựa ngoài tự nhiên ngày càng giảm, thể hiện qua việc giảm cả về kích thước cá khai thác lẫn sản lượng đánh bắt trên đơn vị cường lực theo thời gian (CPUE: catch per unit effort) Cho nên cá Ngựa là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu Bảo tồn thiên nhiên quan tâm chú ý và thực hiện nhiều nghiên cứu nhằm phục hồi nguồn lợi loài

cá quí hiếm này

Cá Ngựa đen là loài cá có kích thước khai thác khá nhỏ, chúng chỉ dao động từ 58mm đến 166mm và không có sự biến động lớn về các nhóm chiều dài qua các tháng Kích thước trung bình của cá Ngựa khai thác năm 1991 là 112,8  23 mm, năm 1995 là 117  20,5 mm

1.4.2 Sản lượng khai thác

Meeuwig và cộng sự [40] đã đánh giá sản lượng khai thác cá Ngựa ở một số tỉnh của Việt Nam Mặc dù số liệu còn ít và tài liệu công bố chưa nhiều nhưng có thể khẳng định sản lượng khai thác và trữ lượng cá Ngựa ở trên thế giới nói chung

và ở Việt Nam đều rất thấp, nhiều nơi nguồn lợi này còn giảm sút nghiêm trọng [56]

Dựa trên số liệu thống kê sản lượng khai thác cá Ngựa của tàu đánh lưới giã cào (n = 1.495 tàu) của 3 tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận và Kiên Giang, Trương Sĩ

Kỳ [8] ước tính sản lượng khai thác của các tỉnh trên (Bảng 1.2) Kết quả ở bảng 1.2 cho thấy sản lượng khai thác cá Ngựa bình quân trên mỗi tàu trong một ngày đêm ở vùng biển Kiên Giang là cao nhất – 2,13 con/tàu/ngày Ở vùng biển Phan Thiết sản lượng cá Ngựa trên đơn vị tàu thấp nhất, chỉ đạt 0,35 con/tàu/ngày Bình quân 1 kg

cá Ngựa khô cần 300 – 400 con cá Ngựa tươi, tùy theo kích thước, từ đây tính được sản lượng khai thác theo đơn vị trọng lượng Kết quả tính toán cho thấy ở 3 vùng

Trang 26

biển nêu trên, sản lượng khai thác cá Ngựa trong năm 1995 dao động từ 4.657 –

Số lượng cá Ngựa/năm

Số kg khô cá Ngựa/năm

1.4.3 Kinh doanh cá Ngựa ở Việt Nam

Cá Ngựa ở Việt Nam thường được tiêu thụ ở dạng khô, chỉ một số rất ít được

nuôi làm cảnh ở Nha Trang, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Cá Ngựa khô bày

bán nhiều nhất ở các cửa hàng đồ lưu niệm Cầu Đá, chợ Đầm (Nha Trang) Ở phố

Hải Thượng Lãn Ông (TP Hồ Chí Minh) có khoảng 25 – 30 quầy hàng thuốc bắc có

bán cá Ngựa Theo ước tính số lượng cá Ngựa (tại thời điểm quan sát, 1995) bày

bán ở đây khoảng 0,5 – 1kg/ngày Ở các tỉnh phía Bắc (Hà Nội, Quảng Ninh, Móng

Cái…) cá Ngựa rất hiếm và cũng được bày bán ở các tiệm thuốc bắc Mỗi tiệm chỉ

có khoảng 5 đến 10 cặp cá Ngựa, có nguồn gốc từ các tỉnh miền Trung như Đà

Nẵng, Khánh Hòa, Bình Thuận… Nhìn chung, lượng cá Ngựa tiêu thụ nội địa

không lớn, chủ yếu để xuất khẩu sang các nước/lãnh thổ như Trung Quốc, Đài

Loan, Hongkong thông qua các công ty xuất nhập khẩu hải sản Sản lượng xuất

khẩu được ước tính ít nhất là 5 tấn cá Ngựa trong năm 1996 Hiện nay, vấn đề kinh

doanh cá Ngựa gặp một số khó khăn vì cung không đủ cầu, nhiều công ty ngưng

Trang 27

xuất khẩu vì lý do này, mặc dù đơn đặt hàng của nước ngoài ngày càng nhiều Một công ty ở Đà Nẵng, trong những năm trước đây xuất khẩu sang Trung Quốc khoảng

1 tấn cá Ngựa khô mỗi năm, đến nay phải ngưng vì không đủ số lượng để đáp ứng cho khách hàng Cho đến thời điểm này, nhiều thương nhân Singapore, Australia, Hong Kong đến Việt Nam để đặt hàng mua cá Ngựa với một lần xuất khoảng 300 đến 500 kg cá khô Để thu mua đủ số lượng cá này đòi hỏi phải mất một thời gian dài và thu gom ở nhiều địa phương, không hiệu quả về mặt kinh tế cho người buôn Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có được một số lượng lớn phục vụ cho xuất khẩu để tăng thu nhập cho người nuôi

Giải pháp có tính khả thi là đầu tư nghiên cứu nuôi cá Ngựa đại trà cho mục đích kinh tế và bảo vệ nguồn lợi loài cá quí hiếm này Trong những năm gần đây Viện Hải dương học Nha Trang đã thành công trong việc sinh sản và nuôi thương phẩm cá Ngựa, đã chuyển giao cho người nuôi Kết quả là hằng năm hàng trăm ngàn cá Ngựa cảnh đang được xuất khẩu sang Mỹ và các nước châu Âu Do số lượng cá Ngựa xuất khẩu phục vụ nuôi cảnh không nhiều, cho nên trong tương lai gần việc nuôi cá Ngựa thương phẩn vì mục đích y học sẽ được chú ý, vì có thị trường rất lớn ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hồng Kông

Do nhu cầu tiêu thụ cá Ngựa ngày càng lớn, dẫn đến sự khai thác quá mức, làm cho nguồn lợi cá ngoài tự nhiên ngày càng giảm Điều này thể hiện qua sự suy giảm kích thước trung bình của cá khai thác được và sản lượng đánh bắt hàng năm

Vì thế việc phát triển nghề nuôi cá Ngựa vừa để tạo sản phẩm, vừa nhằm giảm áp lực khai thác tự nhiên, góp phần bảo vệ nguồn lợi là điều hết sức cần thiết Ngày nay, một số nghị định thư đã được thiết lập cho một số loài, vùng ở nhiệt đới có nguy cơ tiệt chủng ở các quốc gia thuộc khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương [33] Ở Việt Nam kể từ tháng 5 năm 2004, việc xuất khẩu cá Ngựa được kiểm soát bởi CITES (Convention on International Trade in Endangered Species of Flora and Fauna) Để tiếp tục xuất khẩu cá Ngựa, Việt Nam phải chứng minh việc thương mại

cá Ngựa không đe dọa đến sự tồn tại lâu dài của quần đàn cá Ngựa tự nhiên [32]

Trang 28

Như vậy, các nghiên cứu về cá Ngựa cho đến nay vẫn tập trung nhiều về đặc điểm sinh học và nuôi cá Ngựa ở qui mô nhỏ nhằm phục vụ cho việc nuôi cá cảnh hoặc sử dụng làm dược liệu trong y học phương Đông Các nghiên cứu về đặc điểm hóa sinh của cá Ngựa trong điều kiện nuôi còn rất hạn chế Đề tài nghiên cứu

“Thành phần hoá sinh và dược tính của cá Ngựa đen (Hippocampus kuda

Bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại Nha Trang, Khánh

Hoà” được thực hiện không nằm ngoài mục đích cung cấp thêm hiểu biết về đặc

điểm sinh học của đối tượng nuôi đầy tiềm năng này, hướng đến sử dụng nguồn cá nuôi để giảm áp lực khai thác tự nhiên và thúc đẩy nghề nuôi cá Ngựa thương phẩm đáp ứng nhu cầu của con người

Trang 29

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Thời gian nghiên cứu: từ ngày 15/10/2009 đến ngày 30/5/2010

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu:

Mẫu cá Ngựa nuôi được thu thập tại 5 cơ sở nuôi cá Ngựa ở khu vực Ba làng, phường Vĩnh Hòa, Nha Trang Mẫu cá Ngựa khai thác tự nhiên được thu thập tại cảng Cầu Đá, phường Vĩnh Nguyên, Nha Trang Các thí nghiệm sử dụng thức ăn có

bổ sung bột cá Ngựa cho chuột được thực hiện tại Trại Thực nghiệm Nuôi trồng thuỷ sản Ninh Lộc, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Khánh Hoà Các phân tích về thành phần hoá sinh của cá Ngựa được thực hiện tại Viện Công nghệ sinh học và Môi trường, Đại học Nha Trang Các phân tích về một số chỉ tiêu sinh lý ở chuột được thực hiện tại Viện Pasteur Nha Trang

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Cá Ngựa: Cá Ngựa đen Hippocampus kuda được thu từ hai nguồn gốc

khác nhau: đánh bắt tự nhiên và từ các bể nuôi ở vùng biển Nha Trang Cá Ngựa được chọn có màu đen tự nhiên (cá Ngựa nuôi có màu vàng), khỏe mạnh, không có dấu hiệu bị bệnh, cá không bị tổn thương, xây xát, còn nguyên vẹn Toàn bộ cá sử dụng cho nghiên cứu là cá còn sống Cá được đựng trong thùng xốp theo từng nhóm riêng, phân loại kích cỡ và nguồn gốc và vận chuyển sống đến phòng thí nghiệm

Cá Ngựa được thu 6 đợt, từ ngày 17 tháng 8 đến ngày 18 tháng 9 năm 2009 Cá Ngựa từ mỗi nguồn được thu theo hai nhóm kích cỡ riêng biệt là 6 – 8 cm và 10 –

12 cm (Bảng 2.1) Mỗi nhóm gồm 3 đơn vị thu mẫu, mỗi đơn vị thu mẫu có 5 - 10

cá thể Chiều dài cá Ngựa được đo bằng cách kéo thẳng đuôi cá Ngựa và đo từ đỉnh của phần đầu đến điểm mút của phần đuôi [36]

2.2.2 Chuột bạch: Chuột nuôi thí nghiệm là chuột bạch thuộc dòng Swiss có

tên khoa học là Mus musculusdomesticus (hình 2.1), nguồn gốc từ Trại Chăn nuôi

Suối dầu Diên Khánh, Viện Văc-xin Nha Trang Các cá thể chuột cùng lứa, khoảng

Trang 30

5 tuần tuổi, có trọng lượng trung bình từ 20 - 25g/con Chuột được chọn cho thí nghiệm đồng đều về kích thước, độ tuổi và khỏe mạnh

Hình 2.1: Chuột 5 tuần tuổi dùng cho thí nghiệm

Trang 31

tấm lưới đậy để tránh chuột nhảy ra ngoài Chuột được nuôi trong phòng có điều kiện khô ráo và thoáng mát theo nhiệt độ phòng, đảm bảo an toàn vệ sinh

2.3 Các phương pháp phân tích thành phần hoá sinh

Cá Ngựa sau khi thu về được xác định kích thước, trọng lượng và loại bỏ nội quan Sau đó mẫu cá được bảo quản ở -85oC cho đến khi phân tích xác định các chỉ tiêu protein, lipít, axít béo, axít amin, độ ẩm và tro

Hình 2.3: Cá Ngựa được mổ bỏ nội tạng

Phân tích độ ẩm

Sấy khô đĩa sứ dùng để chứa mẫu ở 105oC trong 1 giờ (bằng lò sấy Memmert

UE 500, Đức) Sau đó cân đĩa sứ để xác định khối lượng M0 Cho khoảng 5 gam mẫu vào đĩa sứ và cân để xác định khối lượng đĩa sứ có chứa mẫu (M1) Từ đó xác định được khối lượng mẫu tươi trước khi sấy là m = (M1 – M0) Sấy đĩa sứ chứa mẫu ở 105oC trong vòng 16 giờ Lấy đĩa sứ có mẫu ra khỏi lò sấy và cho vào bình hút ẩm trong 30 phút Cân để xác định khối lượng M (độ chính xác 0,1 mg) của đĩa

sứ và mẫu sau khi sấy Công thức xác định độ ẩm của mẫu như sau:

Độ ẩm (%) = (M1 – M)×100/m

trong đó: M1 là khối lượng của đĩa sứ có chứa mẫu trước khi sấy (g)

M là khối lượng của đĩa sứ có chứa mẫu sau khi sấy (g)

m là khối lượng mẫu trước khi sấy (g)

Trang 32

Phân tích hàm lượng tro

Cho đĩa sứ vào lò nung (47910 Thermolyne, Mỹ) ở 525oC trong 1 giờ Sau đó cân để xác định khối lượng N0 của đĩa sứ bằng cân điện tử (Satorius, Đức) có độ chính xác 0,1 mg Cho khoảng 10 g mẫu vào đĩa sứ và cân để xác định khối lượng

N1 Từ đó xác định được khối lượng mẫu tươi trước khi nung là n = (N1 – N0) Nung mẫu trong lò nung ở 300oC trong 16 giờ Lấy đĩa sứ có mẫu ra khỏi lò nung và cho vào bình hút ẩm trong 30 phút Cân để xác định khối lượng N của đĩa sứ và mẫu sau khi nung Công thức xác định hàm lượng tro của mẫu như sau:

Hàm lượng tro (%) = (N1 – N)×100/n

trong đó: N1 là khối lượng của đĩa sứ có chứa mẫu trước khi nung (g)

N là khối lượng của đĩa sứ có chứa mẫu sau khi nung (g)

n là khối lượng mẫu trước khi nung (g)

Phân tích protein và lipít

Hàm lượng protein được phân tích theo phương pháp Kjeldahl trên hệ thống thiết bị Elementar RapidN Analyser Lipít có trong mẫu được tách chiết bằng chloroform-methanol và phân tích theo phương pháp Folch và cs [23]

Phân tích axít amin

Đông khô mẫu phân tích ở -55oC trong 48 h Axít amin được xác định sau khi thủy phân với acid HCl 6N trong 24h ở 110oC Sản phẩm phản ứng Ninhydrin của chất sau khi thủy phân được phân tích bằng hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC pha ngược Riêng cystine không thể phát hiện được sau khi thủy phân bằng acid Từng axít amin riêng rẽ được phân tích và biểu diễn dạng phần trăm so với tổng số axít amin theo phương pháp Pico Tag được mô tả bởi Cohen và cs [21]

Phân tích axít béo

Axít béo có trong lipít vừa tách chiết được chuyển hóa thành dạng methyl ester (FAMEs) theo phản ứng xà phòng hóa và metylat và nhận biết bằng phương pháp sắc kí khí trên hệ thống HP 6890 (Mỹ)

Trang 33

Hình 2.4: Máy sắc kí khí HP 6890

2.4 Phương thức tiến hành thí nghiệm

2.4.1 So sánh thành phần hoá sinh của cá Ngựa nuôi với cá Ngựa tự nhiên ở hai

nhóm kích thước khác nhau

Mẫu cá Ngựa phân tích được tổng hợp trong bảng 2.1

Bảng 2.1: Kích thước của 4 nhóm cá khác biệt về nguồn gốc và kích cỡ

Nhóm Nguồn gốc Kích thước

(cm)

Khối lượng (g)

Số đơn vị thu mẫu*số cá thể/đơn vị

1 Nuôi 6.6 ± 0.1 0.8 ± 0.0 3 * 10 cá thể (1)

2 Nuôi 11.8 ± 0.2 4.8 ± 0.2 3 * 5 cá thể(1)

3 Tự nhiên 7.4 ± 0.1 1.3 ± 0.1 3 * 10 cá thể

4 Tự nhiên 10.7 ± 0.2 3.9 ± 0.2 3 * 5 cá thể

Số liệu trình bày trên bảng là Giá trị trung bình ± Giá trị trung bình của sai số

Trang 34

SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU (1)

Mẫu cá Ngựa đen với hai nhóm nguồn gốc và kích thước khác nhau

Cá Ngựa khai thác tự

hiê

Cá Ngựa nuôi

2.4.2 Thử nghiệm ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung bột cá Ngựa đến một số

chỉ tiêu sinh lý của chuột bạch

Chuột bạch dùng trong thí nghiệm được phân bổ ngẫu nhiên vào 3 nghiệm thức Các nghiệm thức này cơ bản khác nhau về loại thức ăn sử dụng: thức ăn đối chứng và thức ăn có chứa bột cá Ngựa nuôi hoặc tự nhiên Thành phần thức ăn được trình bày trong bảng 2.2

Mỗi nghiệm thức gồm 25 cá thể chuột được nuôi trong 10 lồng Trong đó, 5 lồng nuôi 3 chuột đực/lồng và 5 lồng còn lại nuôi 1 chuột đực và 1 chuột cái ở mỗi lồng Trong 5 lồng chứa toàn chuột đực, 1 cá thể dùng để lấy mẫu phân tích hàm lượng testosterone, 1 cá thể dùng để phân tích công thức máu và cá thể còn lại dùng

để đánh giá độ khỏe của cơ Ở các lồng nuôi ghép 1 cá thể đực và 1 cá thể cái, cá thể đực được dùng để lấy mẫu phân tích hàm lượng testosterone và cá thể cái được dùng cho phân tích hàm lượng estrogene So sánh hàm lượng testoterone của chuột đực nuôi riêng và nuôi chung với chuột cái trong từng nhóm sẽ giúp nội suy ảnh hưởng của giới khác lên hàm lượng testoterone

Cỡ 10 – 12 cm 3*5 con

Cỡ 6 – 8 cm

3*10 con Cỡ 6 – 8 cm 3*10 con Cỡ 10 – 12 cm 3*5 con

Phân tích protein, axít amin, lipít, axít béo, tro và độ ẩm

Trang 35

Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của 3 loại thức ăn (dùng trong 10 ngày)

Đối chứng Nuôi Tự nhiên Thành phần

Khối lượng (kg)

- Phân tích nội tiết tố trên máy miễn dịch Cobas E411 của Nhật sản xuất

- Phân tích huyết học trên máy Pentra 60 C+ của Pháp sản xuất

Ngày đăng: 06/08/2014, 16:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Thủy Sản (2003), “Danh mục các loài nuôi trồng thủy sản biển và nước lợ ở Việt Nam”, Hợp phần Hỗ trợ Nuôi trồng Thủy sả n Biển và Nước lợ , 104 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục các loài nuôi trồng thủy sản biển và nước lợ ở Việt Nam”
Tác giả: Bộ Thủy Sản
Năm: 2003
2. Hồ Thị Hoa (2006), “Thử nghiệm nuôi lồng cá Ngựa đen (Hippocampus kuda) tại vịnh Nha Trang – Khánh Hòa”, Tuyển tập nghiên cứu biển XV, tr. 254 – 260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm nuôi lồng cá Ngựa đen ("Hippocampus kuda") tại vịnh Nha Trang – Khánh Hòa”, "Tuyển tập nghiên cứu biển XV
Tác giả: Hồ Thị Hoa
Năm: 2006
3. Đỗ Hữu Hoàng, Trương Sỹ Kỳ (2000), “Ảnh hưởng của thức ăn lên sự tăng trưởng của cá Ngựa đen (Hippocampus kuda) trong điều kiện thí nghiệm”, Tuyển tập Báo cáo Khoa học Hội nghị khoa học “Biển Đông – 2000”, tr.481 – 490 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thức ăn lên sự tăng trưởng của cá Ngựa đen ("Hippocampus kuda") trong điều kiện thí nghiệm”, "Tuyển tập Báo cáo Khoa học Hội nghị khoa học “Biển Đông – 2000”
Tác giả: Đỗ Hữu Hoàng, Trương Sỹ Kỳ
Năm: 2000
4. Trương Sỹ Kỳ, Nguyễn Cho, Đào Xuân Lộc, Nguyễn Thanh Tùng và Dương Thị Thơm (1993), “Đặc điểm sinh học và khả năng nuôi trồng loài cá Ngựa đen Hippocampus kuda ở vùng biển Khánh Hòa”, Hội nghị sinh học biển toàn quốc lần thứ III, tr. 156 – 163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh học và khả năng nuôi trồng loài cá Ngựa đen "Hippocampus kuda" ở vùng biển Khánh Hòa”, "Hội nghị sinh học biển toàn quốc lần thứ III
Tác giả: Trương Sỹ Kỳ, Nguyễn Cho, Đào Xuân Lộc, Nguyễn Thanh Tùng và Dương Thị Thơm
Năm: 1993
5. Trương Sỹ Kỳ và Đoàn Thị Kim Loan (1994), “Đặc điểm sinh sản của loài cá Ngựa đen Hippocampus kuda sống ở vùng cửa sông cửa bé Nha Trang”, Tuyển tập nghiên cứu biển V, tr .111 – 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh sản của loài cá Ngựa đen "Hippocampus kuda" sống ở vùng cửa sông cửa bé Nha Trang”, "Tuyển tập nghiên cứu biển V
Tác giả: Trương Sỹ Kỳ và Đoàn Thị Kim Loan
Năm: 1994
6. Trương Sĩ Kỳ, Đỗ Hữu Hoàng, Nguyễn Đình Mão và Tôn Nữ Mỹ Nga (1996), “Thành phần thức ăn và tập tính dinh dưỡng của hai loài cá Ngựa ba chấm (Hippocampus trimaculatus) và cá Ngựa gai (H. histrix) sống ở vùng biển Bình Thuận”, Tuyển tập nghiên cứu biển VII, tr. 163 – 170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần thức ăn và tập tính dinh dưỡng của hai loài cá Ngựa ba chấm ("Hippocampus trimaculatus") và cá Ngựa gai ("H. histrix") sống ở vùng biển Bình Thuận”, "Tuyển tập nghiên cứu biển VII
Tác giả: Trương Sĩ Kỳ, Đỗ Hữu Hoàng, Nguyễn Đình Mão và Tôn Nữ Mỹ Nga
Năm: 1996
7. Trương Sỹ Kỳ (1997), “Đặc điểm sinh sản của cá Ngựa gai (Hippocampus histrix) và cá Ngựa ba chấm (H. trimaculatus) sống ở vùng biển Bình Thuận”, Tuyển tập báo cáo khoa học hội nghị sinh học biển toàn quốc lần thức nhất, tr. 329 – 337 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh sản của cá Ngựa gai "(Hippocampus histrix) "và cá Ngựa ba chấm" (H. trimaculatus) "sống ở vùng biển Bình Thuận”, "Tuyển tập báo cáo khoa học hội nghị sinh học biển toàn quốc lần thức nhất
Tác giả: Trương Sỹ Kỳ
Năm: 1997
8. Trương Sĩ Kỳ (2000), “Kỹ thuật nuôi cá Ngựa ở biển Việt Nam”, NXB Nông nghiệp, TPHCM, 58 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi cá Ngựa ở biển Việt Nam”
Tác giả: Trương Sĩ Kỳ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
10. Trương Sĩ Kỳ (2006), “Kinh doanh và nuôi cá Ngựa trên thế giới”, http://www.thanhnien.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh và nuôi cá Ngựa trên thế giới
Tác giả: Trương Sĩ Kỳ
Năm: 2006
11. Đỗ Tất Lợi. 1977, “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật. Hà Nội
12. Đỗ Tuyết Nga (1991), “Thành phần hóa học chủ yếu của loài cá Ngựa đen (H. kuda) vùng biển Nha Trang – Khánh Hoà”, Báo cáo tổng kết năm 1991, Viện Hải Dương học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần hóa học chủ yếu của loài cá Ngựa đen ("H. "kuda") vùng biển Nha Trang – Khánh Hoà
Tác giả: Đỗ Tuyết Nga
Năm: 1991
13. Trần Sương Ngọc, Nguyễn Hồng Lộc và Vũ Đỗ Quỳnh (1997), “Theo dõi một số tập tính dinh dưỡng của cá Ngựa đen (Hippocampus kuda”, Tuyển tập báo cáo khoa học hội nghị sinh học biển toàn quốc lần thứ I, tr. 320 – 328 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo dõi một số tập tính dinh dưỡng của cá Ngựa đen ("Hippocampus kuda”, Tuyển tập báo cáo khoa học hội nghị sinh học biển toàn quốc lần thứ I
Tác giả: Trần Sương Ngọc, Nguyễn Hồng Lộc và Vũ Đỗ Quỳnh
Năm: 1997
14. Nguyễn Tấn Sỹ, Trương Sỹ Kỳ (1999), “Một số thử nghiệm về dinh dưỡng cá Ngựa đen (Hippocampus kuda) ở vùng biển Khánh Hòa”, Tuyển tập nghiên cứu biển IX, tr. 325 – 320.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thử nghiệm về dinh dưỡng cá Ngựa đen ("Hippocampus kuda") ở vùng biển Khánh Hòa”, "Tuyển tập nghiên cứu biển IX
Tác giả: Nguyễn Tấn Sỹ, Trương Sỹ Kỳ
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cá Ngựa Đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852). - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Hình 1.1 Cá Ngựa Đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852) (Trang 14)
Hình 1.2. Phương pháp đo kích thước cá Ngựa [ - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Hình 1.2. Phương pháp đo kích thước cá Ngựa [ (Trang 15)
Hình 1.4: Phổ thức ăn của cá Ngựa đen. - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Hình 1.4 Phổ thức ăn của cá Ngựa đen (Trang 18)
Bảng 1.1: Danh mục một số loài cá Ngựa được nuôi trên thế giới. - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Bảng 1.1 Danh mục một số loài cá Ngựa được nuôi trên thế giới (Trang 20)
Hình 1.5: Cá Ngựa khô bán trên thị trường - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Hình 1.5 Cá Ngựa khô bán trên thị trường (Trang 23)
Hình 1.6. Cá Ngựa nuôi cảnh. - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Hình 1.6. Cá Ngựa nuôi cảnh (Trang 24)
Hình 1.7. Cá Ngựa ngâm rượu dùng trong y học cổ truyền. - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Hình 1.7. Cá Ngựa ngâm rượu dùng trong y học cổ truyền (Trang 24)
Bảng 1.2. Ước tính sản lượng khai thác cá Ngựa ở Việt Nam (1995). - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Bảng 1.2. Ước tính sản lượng khai thác cá Ngựa ở Việt Nam (1995) (Trang 26)
Hình 2.3: Cá Ngựa được mổ bỏ nội tạng. - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Hình 2.3 Cá Ngựa được mổ bỏ nội tạng (Trang 31)
Hình 2.4: Máy sắc kí khí HP 6890 - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Hình 2.4 Máy sắc kí khí HP 6890 (Trang 33)
SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU (1) - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
1 (Trang 34)
Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của 3 loại thức ăn (dùng trong 10 ngày). - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của 3 loại thức ăn (dùng trong 10 ngày) (Trang 35)
Hình 2.5: Lấy mẫu máu chuột. - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Hình 2.5 Lấy mẫu máu chuột (Trang 36)
Hình 2.6: Thiết bị phân tích nội tiết tố Cobass E 411. - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Hình 2.6 Thiết bị phân tích nội tiết tố Cobass E 411 (Trang 36)
Hình 2.7: Thiết bị phân tích huyết học Pentra 60C  + .  SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU (2) - thành phần hoá sinh và dược tính của cá ngựa đen (hippocampus kuda bleeker 1852) nuôi thương phẩm và khai thác tự nhiên tại nha trang, khánh hoà
Hình 2.7 Thiết bị phân tích huyết học Pentra 60C + . SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU (2) (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm