Tỷ lệ tái phát phụ thuộc nhiều vào phương pháp điều trị: Phẫu thuật cắt nạo bướu và ghép xương là 22,5% 9/40 ca.. Phân BĐBX thuộc nhóm bướu không xác định bản chất: Tomeno B7 Do có nhiều
Trang 1BƯỚU ĐẠI BÀO XƯƠNG: CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
Nguyễn văn Thắng *, Lê Chí Dũng **
1 TÓM TẮT Tổng quan: Bướu đại bào xương
(BĐBX) chiếm khoảng 15% bướu xương
nguyên phát Hơn 75% BĐBX có vị trí đầu
các xương dài
Vật liệu và Phương pháp nghiên cứu:
Qua nghiên cứu 332 trường hợp BĐBX điều
trị tại Khoa Bệnh học, Bệnh viện Chấn
thương chỉnh hình (CTCH), Thành phố Hồ
Chí Minh từ (11/1991 – 8/2006) Phương
pháp nghiên cứu: tiền cứu
Kết quả: chúng tôi ghi nhận: Bệnh
nhân phân bố từ 16 – 86 tuổi, xuất độ cao
ở tuổi từ 20 – 40: (67,5%) Bệnh gặp ở nữ
nhiều hơn nam ((nữ/nam =1/0,93) Tỷ lệ
tái phát chung là 9,1%(30 ca) Tỷ lệ tái
phát phụ thuộc nhiều vào phương pháp
điều trị: Phẫu thuật cắt nạo bướu và ghép
xương là 22,5% (9/40 ca) Phẫu Thuật cắt
nạo bướu và đổ xi măng và ghép xương là
11,3% (11/97 ca) Phẫu thuật cắt rộng,
ghép xương và kết hợp xương có là 5,6%
(9/160 ca) Phẫu thuật đoạn chi là 3%
(1/33 ca) 2 ca hóa ác và di căn phổi
(chiếm tỷ lệ 0,6%)
Kết luận: BĐBX là bướu lành nhưng
thường tấn công tại chỗ Tỷ lệ tái phát của
BĐBX phụ thuộc nhiều vào phương pháp
điều trị
1 SUMMARY Background: Giant cell tumor (GCT)
0f the bone, accounts for about 15 percent
of biopsied primary bone tumors More than 75 percent of GCT are located near the articular end of a tubular bone
Material and Method: We have
studied 332 cases GCT 0f the bone, treated
at the department of orthopedic disease and oncology, Hospital for traumatology and orthopedies in HochiMinh city (from
november 1991 to august 2006)
Results: - Incidence: The patients
range from 16 – 86 years of age The incidence peak is from 20 to 40 years of age (67.5%) Female sexual predilection (F/M = 1/0.93) - Recurrence rate was 9.1 percent (30 cases) Recurrence depended
on method of treatment: 22,5 percent (9 cases) of recurrence GCT if treated by resection-curettage and bone grafting (40 cases) 11.3 percent (11 cases) of recurrence GCT if treated by resection-curettage and cement and bone grafting (97 cases) 5.6 percent (9 cases) of recurrence GCT if treated by wide resection and bone grafting (160 cases) 3 percent (1 cases) of recurrence GCT if treated by amputation (33 cases) Malignant transformation and pulmonary metastasis 2 cases (0.6%)
Conclusions: GCT is a benign tumor
but often locally aggressive Recurrence rate
GCT depended on method of treatment
Trang 22 ĐẶT VẤN ĐỀ
BĐBX là loại bướu xương thường gặp
(15%) sau sarcom tạo xương (23%) và
bướu lành sụn xương (22%) BĐBX được
các tác giả quan tâm nghiên cứu từ đầu
thế kỷ XIX song tới nay thế kỷ XXI vẫn
còn rất nhiều bí ẩn Càng nghiên cứu
BĐBX chúng tôi càng nhận thấy bướu có
nhiều phức tạp Hiện nay BĐBX vẫn còn
tồn tại 5 cách phân loại khác nhau:
1 Chia BĐBX thành nhiều nhóm,
nhiều độ: Jaffe, Lichtenstein và portis
(1940)11,13, Hutte10, Dalin2
2 Phân BĐBX thuộc nhóm bướu đôi
khi ác8
3 Xác định BĐBX là bướu ác thấp,
độ tái phát cao nhưng di căn chậm 5.6
4 Xác định BĐBX là bướu lành
nhưng thường tấn công tại chỗ, Fechner 7
5 Phân BĐBX thuộc nhóm bướu
không xác định bản chất: Tomeno B7
Do có nhiều quan niệm, nhận thức về
bản chất và phân loại BĐBX khác nhau
nên việc quyết định, chọn lựa cách điều trị
cũng khác nhau như:
1 Cắt nạo bướu và ghép xương (tự
thân hay đồng loại)
2 Cắt nạo bướu và đổ xi măng
3 Cắt nạo bướu, hóa chất và ghép
xương hoặc đổ xi măng
4 Cắt rộng bướu, ghép xương (tự
thân hay đồng loại) và kết hợp xương
5 Cắt đoạn chi
Do đó MỤC TIÊU công trình
nghiên cứu này:
1 Xác định bản chất của BĐBX
2 Đề xuất phương pháp điều trị BĐBX
3 Đề xuất chương trình quản lý BĐBX
3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Theo dòng lịch sử Y học, Giải phẫu bệnh có lịch sử tồn tại và phát triển từ xa xưa Lịch sử nghiên cứu BĐBX mới bắt đầu từ đầu thế kỷ XIX và ghi nhận nhiều quan điểm khác nhau Quá trình phát triển luôn có tranh luận, mâu thuẫn trong: nhận định về bản chất, phân loại của bướu cũng như lựa chọn phương pháp điều trị cho BĐBX Trên cơ sở hiểu biết tường tận quá khứ phát triển, kế thừa có chọn lọc những thành quả nghiên cứu BĐBX và sử dụng tốt kỹ thuật nghiên cứu hiện đại sẽ giúp chẩn đoán và
điều trị BĐBX ngày càng tốt hơn
3.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU BƯỚU ĐẠI BÀO XƯƠNG
1805 Boyer định nghĩa hai loại
bướu: 1) Sarcom xương là sự chuyển từ xương thành thịt 2) Spina Ventosa nghĩa là "túi của gió", một tổn thương dạng bọc giãn xương có vỏ mỏng trong chứa máu Hình vẽ "túi gió" rất giống với BĐBX hiện
nay 1818 Astley, Travers và Cooper đã
cung cấp hình ảnh đại thể đầu tiên của bướu đầu trên xương chày mà ngày nay
được ghi nhận là BĐBX 1838 Johannes
Muller (người Đức) người đầu tiên mô tả
hình ảnh vi thể của BĐBX 1845 Lebert
nhấn mạnh: nếu không quan sát dưới kính hiển vi thì không thể hiểu được bản chất bướu Ông ghi nhận về nhóm bướu chứa đại bào: bướu dễ tái phát, do vậy khi điều
trị bướu nên đoạn chi 1854 James Paget mô tả lần đầu tiên về BĐBX 1860
Eugene Nélaton phát hành tập tài liệu
gồm 364 trang hình về bướu xương chứa đại bào, với tựa đề là "Bướu đại bào" Ông cho rằng bướu có tính chất lành và khẳng
định BĐB là của riêng xương 1862
Rudolph Virchow (1821- 1902) nhà GPB
người Đức Khác với Nélaton, Virchow cho rằng BĐBX là loại bướu ác và có tiên
Trang 3lượng xấu 1876 Morris báo cáo 1 ca, nạo
bướu dạng tủy (BĐBX) đầu dưới xương
quay thành công 1879 Samuel Gross báo
cáo công trình LS gồm: 165 ca sarcom
trong đó có 70 ca sarcom đại bào 1894
Clutton báo cáo 2 ca thành công sau cắt
rộng bướu dạng tủy 1895 Mikulitz báo
cáo 6 ca cắt rộng BĐBX 1898 Hinds báo
cáo 1 ca sarcom dạng tủy (BĐBX ) có hình
ảnh XQ 1911 Barrie cho rằng BĐBX là
viêm chảy máu xương tủy và không nên
xếp loại vào bướu Về sau các tác giả
Hutter, Jaffe; Goldenberg, Campbell và
Bonfiglio ghi nhận tỷ lệ tái phát và sự hóa
ác của bướu cao, do vậy luận thuyết của
Barrie không còn phù hợp 1912
Bloodgood (1867 - 1935) người đầu tiên
đặt tên cho tổn thương này là BĐBX và
cho rằng bướu có đặc tính lành Ông cũng
là người đầu tiên dùng xương ghép lấp đầy
chỗ thiếu xương do bướu 1919 Ewing
quan niệm toàn bộ các bướu chứa đại bào
được gọi là sarcom đại bào lành Giữa
năm 1920 Codman ủng hộ luận thuyết của
Barrie và cũng cố thêm khi phát hiện bướu
nâu, bướu hạt sửa chữa 1920 Nhóm
nghiên cứu sarcom xương của Hội phẫu
thuật đại học Mỹ được thành lập bởi
Ernest Codman ở Boston Gồm 3 chuyên
gia về bướu xương: Joseph Bloodgood,
Jame Ewing và Ernest Codman 1922
Stewart nhấn mạnh rằng hủy cốt bào thực
sự là tế bào của xương Nên đặt tên bướu
sau khi quan sát nhiều vùng khác nhau của
bướu Ông đã đặt tên bướu là sarcom hủy
cốt bào Năm 1925 nhóm tập hợp được 100
trường hợp BĐBX và cho rằng BĐBX là
bướu lành nên đã bỏ thuật ngữ sarcom
1925 Jaffe Jaffe ghi nhận không nên dựa
đơn thuần vào sự hiện diện nhiều đại bào
mà phải quan sát toàn diện hình ảnh mô
học của tổn thương, để xác định bướu Mặt
khác để chẩn đoán chính xác BĐBX cần
phải kết hợp chặt chẽ giữa: LS-XQ-GPB
1940 Jaffe, Lichtenstein và Portis dựa
trên mức độ tăng sinh và bất thường của các tế bào đơn nhân, chia BĐBX thành 3 độ GPB: Độ I (lành); Độ II (có thể lành
hay ác); Độ III (ác) 1941 Gomori là người
nghiên cứu hóa mô miễn dịch đầu tiên cho
BĐBX 1949 Willis và Russell cho rằng
BĐBX hoăïc ác tính rõ hoặc luôn luôn tấn
công, chứ không thể là lành tính 1954
Dahlin chia BĐBX thành 2 nhóm: lành và
ác Ông cũng như Williams, Ghomley, Schajowicz, Spjut, Ackerman cho rằng việc phân độ BĐBX là không hữu ích Năm 1969 chính Jaffe cũng không phân độ
GPB của BĐBX nữa 1961 Schajowicz đã
chú ý sự giống nhau về hóa mô miễn dịch giữa hủy cốt bào và đại bào, ông cho rằng
các tế bào này cùng một nguồn gốc 1962
Hutter chia BĐBX thành 3 nhóm: lành,
giáp biên và ác 1962 Lichtenstein thêm độ II(+) 1963 Aegerter đưa ra quan điểm:
1) "BĐBX chính danh" là các bướu độ II theo Jaffe, bướu ác ngay từ đầu, hay tái phát nhưng di căn chậm 2) Vì vậy phương pháp điều trị là: Không nên nạo bướu mà phải cắt rộng hoặc đoạn chi (nếu ở vị trí không cho phép cắt rộng) 3) Bướu độ I của Jaffe là tổn thương dạng bướu hoặc bướu lành có đại bào 4) Bướu độ III đúng
ra phải chẩn đoán là sarcom sợi, sarcom xương, sarcom sụn có nhiều đại bào Lúc đầu quan điểm của ông ít được chấp nhận
nhưng ngày càng có tính thuyết phục 1977
Lichtenstein tuy vẫn giữ cách phân độ
nhưng nhận xét: "rất khó chẩn đoán đúng một BĐBX chính danh, càng khảo sát càng phải thận trọng và càng thấy bướu ác
tính hơn" 1980 Sanerkin chia BĐBX làm
3 độ Các tác giả Hà Lan phân BĐBX thành 4 độ (I,II,III,IV) 1981 Schajowicz
nhận xét: BĐBX là một bướu tấn công
1984 Dahlin báo cáo 425 ca BĐBX và
Trang 4phân BĐBX thành 2 loại: lành và ác 1987
Mirra nhận định tuy không phải là sarcom
nhưng vì BĐBX hủy xương nhiều, xâm lấn
và hay tái phát nên phải điều trị như một
sarcom độ ác thấp 1987 Carnesale,
Pittcok xếp BĐBX vào nhóm bướu đôi khi
ác tính 1993 Robert E Fechner xác định
BĐBX là bướu lành nhưng thường tấn công
tại chỗ Ông khuyên không nên dùng thuật
ngữ "bướu ác đại bào" và ông nhận thấy
những bướu được gọi là bướu ác đại bào
thực sự là sarcom xương, bướu mô bào sợi
ác hay sarcom sợi có nhiều đại bào 1994
Lê Chí Dũng chia BĐBX thành 2 loại:
BĐBX chính danh và BĐBX ác 1998
Howard Dorfman chia BĐBX thành 2
loại: Bướu đại bào kinh điển (BĐBX lành)
BĐBX ác, nhưng tác giả nhấn mạnh BĐBX
ác nguyên phát ngay từ đầu, cực kỳ hiếm,
thường là thứ phát sau sự hiện diện của
BĐBX lành Năm 2000 Nguyễn Văn
Thắng, qua nghiên cứu 135 ca, đồng quan
điểm với Fechner xác định: bản chất BĐBX
là bướu lành nhưng thường tấn công tại chỗ
* Về X quang: Merle D'Aubigné
năm 1954 đã chia BĐBX thành: Thể yên
tĩnh; Thể hoạt động; Thể tấn công
Campanacci cũng chia ra 3 độ XQ: I, II,
III và ghi nhận 70-80% BĐBX thuộc độ II
1986 Enneking chia BĐBX thành 3 thể: I/
bướu yên tĩnh, II/ bướu hoạt động, III/
bướu tấn công
* Tham khảo qua MEDLINE
Từ 1982 − 1998 có 732 báo cáo gồm
6188 ca BĐBX, nghiên cứu trên nhiều mặt
khác nhau: điều trị, X quang, lâm sàng, giải
phẫu bệnh, tế bào học, hóa mô miễn dịch
* Tại Việt Nam: Từ 1965 đến nay
có 15 công trình nghiên cứu (CTNC) về
BĐBX gồm 509 ca trong đó có 6 ca di căn
phổi chiếm tỷ lệ 1,2%
Tóm lại
Trong 2 thế kỷ XIX và XX có rất
nhiều CTNC về BĐBX trên các phương diện khác nhau như: LS, XQ, GPB, điều trị và tiên lượng… Mục tiêu của các tác giả là
đi tìm bản chất và phương pháp điều trị hữu hiệu cho BĐBX Tuy vậy tới nay bên
thềm thiên niên kỷ mới (thế kỷ XXI) vẫn
chưa đạt được sự thống nhất về bản chất cũng như cách phân loại BĐBX
* Trong thế kỷ XIX tồn tại 2 quan
điểm khác nhau về bản chất BĐBX là: lành và ác Phương pháp điều trị là nạo bướu và đoạn chi nhưng chủ yếu là đoạn chi
* Trong thế kỷ XX có 5 cách phân
loại chính cho BĐBX Phương pháp điều trị đa dạng hơn: Phương pháp điều trị bảo tồn chi được sử dụng rộng rãi Phương pháp đoạn chi chỉ sử dụng khi bướu xâm lấn nhiều không còn khả năng cắt rộng bướu Phương pháp xạ trị được khuyến cáo không nên dùng để điều trị BĐBX song vẫn được sử dụng cho những trường hợp không còn khả năng phẫu thuật
3.2 NGUỒN GỐC VÀ SIÊU CẤU TRÚC CỦA ĐẠI BÀO
3.2.1 Hình ảnh siêu cấu trúc của đại bào
Siêu cấu trúc của đại bào được nghiên cứu bởi nhiều trung tâm khác nhau, đặc biệt là Mỹ, Nhật như: Hanaoka và cộng sự 1970; Ueno 1964; Kuwana 1967; Steiner 1972; Schajowicz 1981 và nhiều tác giả khác Tất cả các tác giả đều kết luận: siêu cấu trúc đại bào và hủy cốt bào không có sự khác biệt
3.2.2 Các quan điểm về nguồn gốc và quá trình hình thành đại bào
- Nguồn gốc đại bào là tế bào trung
mô chưa biệt hóa
Trang 5- Hình thành đại bào, do 2 cơ chế:
1) Do sự hợp của các tế bào đơn nhân
2) Do sự phân chia của nhân
nhưng bào tương không phân chia
- Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng
nghiên cứu nhằm phân biệt Đại bào, hủy cốt
bào cuối cùng chung một kết luận: đại bào và
hủy cốt bào không có sự khác nhau về cấu
trúc cũng như phản ứng hóa mô miễn dịch
Phương pháp hóa mô miễn dịch, không phân
biệt được các loại đại bào
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 4.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trong 14 năm 7 tháng, từ 11/1991 –
8/2006 chúng tôi ghi nhận 332 trường hợp
BĐBX được khám và điều trị tại Khoa
bệnh học cơ xương khớp, bệnh viện
CTCH Các bệnh phẩm mổ được gởi tới
phòng xét nghiệm BV CTCH, Phân môn
Giải phẫu bệnh của Khoa Điều dưỡng Kỹ
thuật Y học và Bộ môn GPB của Khoa Y,
Đại học Y Dược TP HCM Mẫu mô được
xử lý theo kỹ thuật GPB quy ước và
nhuộm bằng phương pháp HE
(Hematoxilin Eosin) Sau đó được khảo sát
bởi 2 Bác sỹ có kinh nghiệm về bệnh học
của xương Những trường hợp không điển
hình thì được tiến hành hội chẩn
4.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.2.1 Thiết bị và dụng cụ nghiên cứu:
- Chúng tôi sử dụng: máy móc, dụng cụ, hóa chất xử lý và làm tiêu bản giải phẫu bệnh Kính hiển vi quang học, tại Phân môn Giải phẫu bệnh của Khoa Điều dưỡng Kỹ thuật Y học và Bộ môn GPB của Khoa Y, Đại học Y Dược TP HCM
- Hồ sơ, phim X Quang của bệnh nhân tại phòng lưu trử BV CTCH
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu:
Tiền cứu, loại nghiên cứu phân tích Tiến hành lập hồ sơ nghiên cứu cho từng bệnh nhân, mỗi bệnh nhângồm 3 phiếu: Thu thập dự kiện lâm sàng, Thu thập dự kiện X Quang, Thu thập dự kiện giải phẫu bệnh
4.2.3 Xử lý số liệu và tính toán thống kê:
- Lưu trữ các dự kiện LS – XQ – GPB trong máy vi tinh
- Phân tích tổng hợp từ những đặc tính
LS – XQ – GPB và theo dõi diễn tiến của bệnh để đề xuất phương pháp điều trị và quản lý cho BĐBX
- Dùng biểu đồ và bảng để trình bày các kết quả nghiên cứu và dùng các phép kiểm U, T, để kiểm chứng, so sánh các kết quả của công trình nghiên cứu này và với kết quả các tác giả khác
5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
5.1 Số bệnh nhân phân bố theo năm điều trị
Bảng 1: Số bệnh nhân phân bố theo năm điều trị
TT NĂM SỐ CA PHẦN TRĂM
Trang 6TT NĂM SỐ CA PHẦN TRĂM
- Năm 2004 có số bệnh nhân nhiều nhất: 30 bệnh nhân
- Năm 1993 có số bệnh nhân ít nhất: 5 bệnh nhân
5.2 Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới
Bảng 2: Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới
TUỔI NAM NỮ TỔNG %
21 – 30 71 56 127 38,3
>80 0 1 1 0,3
TỔNG 160 172 332 100
- BĐBX hầu hết xảy ra ở bệnh nhân lớn hơn 20 tuổi (95%) và có xuất độ cao ở lứa tuổi từ
21 – 40 (224/332 ca chiếm 67,5%) Bệnh nhân có tuổi nhỏ nhất trong công trình nghiên cứu (CTNC) này là 16 tuổi và lớn nhất là 86 tuổi Nữ nhiều hơn nam một ít: nữ/nam
=172/160 ca =1,07
5.3 Phân bố bệnh nhân theo vị trí
Bảng 3 Phân bố chi tiết số lượng bướu theo các vị trí
SỐ CA
VỊ TRÍ
Phải Trái
TỔNG %
Trang 7CHI TRÊN 58 50 108 32.53
CHI DƯỚI 108 100 208 62,65
BĐBX hầu hết xảy ra ở xương dài gồm 316 ca(95,2%) Vị trí bướu ở vùng gần gối xa khuỷu có xuất độ bướu cao, gồm 279/332 ca (84%) Vùng xương có xuấât độ cao nhất là chi dưới gồm 208/332 ca (62,7%) Đặc biệt bướu tập trung nhiều ở vùng gốâi 173/332 ca (chiếm 52,1%) BĐBX và 83,2% BĐBX của chi dưới) Xương đùi có xuất độ bướu cao nhất gồm
103 ca (31%) 3 vị trí thường gặp của bướu: Đầu dưới xương đùi 86 ca (25,9%) Đầu trên xương chày 76 ca (23%) Đầu dưới xương quay 66 ca (20%)
5.4 Triệu chứng lâm sàng
1 Đau : Nhiều: 103 ca (31%);
vừa:186 ca (56%); ít 43 ca (13%)
2 Sưng nổi bướu : 295/332 ca (89%);
3 Gãy xương bệnh lý: ghi nhận
73/332 ca (22%);
4 Giới hạn cử động: ghi nhận 149 ca
(45%);
5 Chấn thương: 26 ca (8%) có tiền sử
chấn thương trước khởi bệnh 1 tháng
6 Thời gian khởi bệnh trước nhập
viện: Bệnh nhân tới khám sớm nhất
là sau 1 tháng và trễ nhất là 20 năm
sau khởi bệnh Thường từ 4 – 8
tháng gồm 126/332 ca (38%) Bệnh
nhân tới khám trễ sau 4 tháng khởi
bệnh gồm 286/332 ca (86%)
5.5 Hình ảnh X quang (XQ) BĐBX
- Vị trí bướu trong xương dài (316 ca)
Ở xương dài bướu luôn hiện diện ở vùng đầu thân xương (100%) Vùng đầu thân – đầu xương có số bướu nhiều nhất 245/316 ca (78%) Bướu xâm lấn thân xương 66/316 ca (21%) Bướu còn khu trú trong vùng đầu thân xương 5/316 ca (1,6%)
- Số bệnh nhân phân bố theo kích thước bướu
Hầu hết bướu có kích thước >2cm : 312/332 ca (94%), thường nhất từ 4 – 8 cm : 205/332 ca (62%)
- Tính chất của tổn thương xương
Tổn thương X quang của BĐBX có 7 đặc tính chính:
Trang 8- 4 đặc tính thường gặp:
1 Hủy xương đơn thuần (98%), 2 Có
giới hạn rõ (72%), 3 Mỏng, phình vỏ
Xương (85%), 4 Tổn thương dạng tổ
ong (83%)
- 3 đặc tính ít gặp hơn
1 Tổn thương lệch tâm (46%), 2
Bướu xâm lấn mô mềm (35%), 3 Gãy
xương bệnh lý (27%)
- Phân độ X quang:
- Độ 1: 30/332 = 9%
- Độ II: 166/332 = 50%
- Độ III: 136/332 = 41%
5.6 Đặc tính giải phẫu bệnh (GPB)
- Đặc tính đại thể :
1 Ranh giới giữa bướu và mô xung
quanh, khảo sát 312 ca: 98% mô
bướu có giới hạn, 46% ở vị trí lệch
tâm, 90% bướu làm mỏng phình
vỏ xương BĐBX luôn luôn tấn
công vào đầu xương (97%), nhưng
không bao giờ làm hủy sụn khớp
2 Mặt cắt của bướu, khảo sát 214
ca mổ, chúng tôi ghi nhận: 64 ca
(30%) mặt cắt đặc mềm bở và có
nhiều màu sắc (đỏ nâu như thịt
xen lẫn màu đen, vàng) 150 ca
(70%) mặt cắt không đồng nhất,
hiện diện những hốc chứa máu
hay dịch và đa màu sắc bướu
luôn luôn có một lớp vỏ bao ngăn
cách giữa mô lành và mô bướu Khảo sát 74 mẫu bướu được nạo: mẫu mô nạo có mật độ mềm, mũn có màu nâu đỏ xen lẫn vàng hoặc đen
- Đặc tính vi thể
1 Cấu trúc các tế bào đơn nhân:
275 ca (83%) có tế bào đơn nhân hình tròn hay bầu dục chiếm ưu thế, 43 ca (13%) có tế bào đơn nhân hình thoi chiếm
ưu thế 13 ca (4%) có tế bào đơn nhân vón
2 Đại bào có kích thước khoảng 100 micrômét, bào tương nhiều bờ rõ, ái toan mạnh Đại bào có nhiều nhân (từ 20 đến 200 nhân), tập trung ở vùng trung tâm 93% các đại bào phân bố lan tỏa trong nền tế bào đơn nhân
3 Các thành phần khác của BĐBX: Qua nghiên cứu 332 ca chúng tôi ghi nhận: 282 ca (85%) hiện diện mô xuất huyết tụ máu 292 ca (88%) hiện diện mô hoại tử 56 ca (17%) hiện diện mô hạt mỡ vàng 20 ca (6%) BĐBX kết hợp với bọc phình mạch xương 37 ca (11%) có thâm nhập viêm 63 ca (19%) mô bướu xâm nhập mạch máu
76 ca (23%) hiện diện nhiều mô sợi phản ứng
5.7 Kết quả điều trị BĐBX
Bảng 4: Kết quả điều trị phân phối theo phương pháp điều trị
Kết quả
TT Phương pháp điều trị Số ca
Tốt Tr bình Xấu
1 - Cắt nạo + ghép xương đồng loại
- Cắt nạo + ghép xương tự thân
- Cắt nạo + ghép xương tự thân và đồng loại
9
19
12
3
10
5
4
5
4
2
4
3
Trang 9Kết quả
TT Phương pháp điều trị Số ca
Tốt Tr bình Xấu
2 - Cắt nạo + Ximăng
- Cắt nạo + Ximăng + ghép xương 26 71 15 52 12 7 4 7
3 - Cắt rộng đơn thuần
- Cắt rộng + Kết hợp xương
- Cắt bướu thay khớp nhân tạo
26
107
27
18
77
22
4
25
5
4
5
1 Số bệnh nhân phân bố theo phương
pháp điều trị, trong 332 ca BĐBX
có: 2 ca mổ sinh thiết, 330 ca điều
trị bằng mổ phẫu thuật gồm:
- Cắt nạo bướu, đổ xi măng hoặc
ghép xương 137/330ca (41,5%)
- Cắt rộng bướu, kết hợp xương hay
không 160/330 ca (48,5%)
- Đoạn chi 33 ca (10%)
2 Kết quả: kết quả tốt chiếm tỷ lệ
cao gồm 228/330 ca (chiếm
69,1%) Kết quả xấu (bướu tái
phát) có tỷ lệ thấp 30/330 ca
(9,1%) Đa số gặp trong phương
pháp cắt nạo bướu 20/30 ca
(66,6%) 4 biến chứng thường gặp
sau phẫu thuật BĐBX là: rỉ dịch,
nhiễm trùng, gãy đinh và biến
dạng chi
3 Tái phát của bướu 30/330 ca (9,1%)
- Tái phát của bướu theo tuổi và
giới: Bướu tái phát ở cả 2 giới (17
nữ, 13 nam) Bướu tái phát ở
nhiều ở lứa tuổi, từ 21- 40 là 22/30
ca (73%)
- Tái phát của bướu theo vị trí: tái
phát nhiều nhất là chi trên gồm
14/30 ca (47%)
- Tái phát của bướu theo phương
pháp điều trị: Phương pháp cắt
nạo bướu và ghép xương có tỷ lệ tái phát cao nhất gồm 9/40 ca (22,5%) Nếu kết hợp đổ xi măng sau nạo bướu thì tỷ lệ tái phát giảm, gồm 11/97 ca (11,3%)
Phương pháp có tỷ lệ tái phát ít nhất là: cắt rộng, ghép xương + kết hợp xương 9/160 ca (5,6%) vàø đoạn chi 1/33 ca (3%)
- Tái phát của bướu theo độ XQ:
hầu hết các trường hợp tái phát đều có hình ảnh XQ của bướu ở độ II & III gồm 26/30 ca (87%)
- Thời điểm tái phát: Trong 2 năm sau mổ gồm 19 ca (63%) Trong 5 năm sau mổ lần đầu gồm 26/30 ca (87%)
- Bướu tiến triển hóa ác
Trong CTNC này ghi nhận 2 bệnh nhân nữ (0,6%):
Bệnh nhân 1: 36 tuổi có BĐBX đầu dưới xương quay, được nạo bướu ghép xương tự thân 1986 Năm 1996 tái phát lần 2 và hóa ác, mổ cắt khối bướu tái phát + hóa trị Tháng 4/1999 mổ đoạn chi 1/3 dưới cánh tay Năm 2000 phát hiện di căn và mổ cắt bỏ khối u ở phổi Năm 2001 khối u
ở phổi tái phát
Bệnh nhân 2: 27 tuổi BĐBX đầu dưới xương quay, mổ cắt rộng u năm 2003
Trang 10Tháng 6/2005 bướu tái phát và được mổ
cắt rộng + kết hợp xương 10/2006 di căn
phổi mổ cắt thùy phổi ở BV Chợ rẫy
5/2007 mổ tháo nẹp ốc, bệnh tạm ổn
11/2007 u tái phát, được đoạn chi 1/3 giữa
cánh tay
6 BÀN LUẬN :
6.1 Tái phát của BĐBX
- Thời điểm tái phát
CTNC này có 19/30 ca (63%) tái phát
trong 2 năm đầu và 26/30 ca (87%) tái
phát trong vòng 5 năm đầu, phù hợp với
các tác giả tỷ lệ này từ 60 – 97%
- Tái phát theo độ giải phẫu bệnh
Mnaymneh-VA; Jaffe-HL11.,
Tomeno-B., Sung-HW., Goldenbeyr- RR8
., Komiya-s., Lausten- GS Và Mirra –
JM16 … Cho rằng sự tái phát và di căn
không liên quan đến độ GPB, do đó
CTNC này không tiến hành phân độ GPB
- Tái phát theo độ X quang
CTNC này ghi nhận 26/30 ca tái phát
có độ X quang là II và III (87%), phù hợp
Tomeno-p campanacci-M1,4
- Tái phát của bướu theo các phương
pháp điều trị:
Các tác giả ghi nhận sự tái phát sau
nạo bướu đơn thuần: từ 56% - 85%
Phương pháp nạo bướu ghép xương: các
tác giả ghi nhận tỷ lệ tái phát từø 20%-
86% CTNC này (22,5%) thấp hơn trị
trung bình của các tác giả, có ý nghĩa
thống kê (p<0,01) Phương pháp nạo
bướu, đổ xi măng và hóa chất: 6 tác giả
ghi nhận sự tái phát từ 4%- 22%, CTNC
này (11,3%) Phương pháp nạo bướu, đổ
xi măng và hóa chất có tỷ lệ tái phát
(11,3%) ít hơn phương pháp nạo bướu,
ghép xương (22,5%) Phương pháp cắt rộng ghép xương: CTNC này tái phát (5,6%) cao hơn số trung bình của 4 tác giả
(4%) có ý nghĩa thống kê (p<0.05)
- Tái phát theo vị trí của bướu:
CTNC này cũng như các tác giả đều ghi nhận bướu thường tái phát ở những vị trí khó phẫu thuật lấy bướu như: đầu dưới xương quay, cột sống …
- Tỷ lệ tái phát chung :
CTNC này ghi nhận 9,1% thấp hơn tỉ lệ trung bình của tác giả 33%, có ý nghĩa thống kê (p < 0.01)
6.2 Bướu tiến triển hóa ác và di căn
- Hóa ác:
Tỷ lệ hóa ác trong CTNT này (0.6 %) ít hơn số trung vị của tác giả (5,6,8,9,10,11)
(10%) có ý nghĩa thống kê (p<0.01)
- Di căn:
CTNT này ghi nhận 2 ca di căn phổi sau khi hóa ác thành sarcôm xương (0.6%) Các tác giả 14,17,20,21) ghi nhận về “di căn” của BĐBX, phân bố từ 0 tới 30%, đa số từ 1 – 10% Qua hệ thống METLINE từ 1982 –
1998 ghi nhận 106/6188 ca di căn (1.7%) Việt nam ghi nhận 10/963 ca di căn (1.04%)
vi trí “di căn” thường nhất là phổi (99%) Ngoài ra có thể “di căn” tới hạch, xương nhưng hiếm
6.3 Bản chất và phân loại BĐBX
Để xác định bản chất và phân loại BĐBX chúng tôi tiến hành khảo sát các đặc tính của bướu như sau:
1) Đặc tính GPB: Không hiện diện tế bào di dạng và phân bào bất thường 2) Đặc tính LS- XQ: Bướu gây hủy xương nhiều nhưng bướu luôn có giới hạn (100%)