Hiện nay, do khó khăn chung, hiện trạng thiếu vốn là rất phổ biến, nguồn vốn của hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ - thành phần chiếm tỷ trọng lớn
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết, ý nghĩa của đề tài
Đất nước ta sau một thời gian dài nỗ lực đã có những bước tiến đáng kể trong công cuộc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường sôi động Kể từ đó, hàng loạt các doanh nghiệp ra đời, tạo ra công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước Một doanh nghiệp muốn đi vào hoạt động, muốn tiến từng bước vững chắc trên thị trường, muốn tạo ra tăng trưởng thì yếu tố không thể thiếu là vốn Doanh nghiệp cần phải có đủ vốn để đảm bảo các xây dựng cần thiết, máy móc và thiết bị, mua nguyên vật liệu, đáp ứng các chi phí quảng cáo, tiêu thụ, trả lương cho nhân công và trang trải cho vô số các loại chi phí phát sinh khác Như vậy có thể nói, vốn
là máu của doanh nghiệp, là điều kiện tiên quyết không thể thiếu cho mỗi doanh nghiệp
Có hai nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động, đó là vốn tự có và vốn đi vay
Tuy nhiên, nếu ở thời điểm 30 năm trở về trước, doanh nghiệp hoạt động dưới
sự bảo trợ của Nhà nước, mọi nhu cầu về vốn đều được Nhà nước chu cấp Còn trong bối cảnh ngày nay với những chuyển biến không ngừng và áp lực cạnh tranh mạnh mẽ, doanh nghiệp phải tự đối mặt với những nhu cầu vốn phát sinh, những khó khăn cũng như rủi ro trong việc huy động và sử dụng vốn Một trong những vấn
đề làm đau đầu các nhà quản trị doanh nghiệp là cơ cấu vốn của doanh nghiệp như thế nào, vốn chủ sở hữu bao nhiêu, vay ngân hàng bao nhiêu, phát hành trái phiếu hay huy động vốn qua thị trường chứng khoán v.v
Hiện nay, do khó khăn chung, hiện trạng thiếu vốn là rất phổ biến, nguồn vốn của hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ - thành phần chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Việt Nam, luôn ở trong tình trạng thiếu hụt, quá nhỏ bé so với nhu cầu hoạt động kinh doanh, hoặc được sử dụng không triệt để, không thu được lợi ích tối ưu… Từ đó tạo áp lực không nhỏ cho quá trình hoạt động sản xuất, phát triển của doanh nghiệp
Trang 2Hiểu được vấn đề này, trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Thủy sản
584 Nha Trang, được sự tư vấn và giúp đỡ của bộ phận Kế toán – Tài chính và sự hướng dẫn nhiệt tình của Cô Phan Thị Lệ Thúy, giảng viên khoa Kế toán – Tài chính trường Đại học Nha Trang, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Phân tích cấu trúc vốn và chi phí sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang” để thực hiện luận văn tốt nghiệp
Nội dung của đề tài gồm 3 phần chính:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn và chi phí sử dụng vốn
- Chương 2: Phân tích cấu trúc vốn và chi phí sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang
- Chương 3: Một số giải pháp để tối ưu hóa cấu trúc vốn và giảm chi phí sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang
Mặc dù chọn đề tài không quá đặc biệt, mới mẻ, hơn nữa kiến thức bản thân
em còn hạn hẹp, nhiều thiếu sót, nhưng với sự giúp đỡ tận tình của tập thể cán bộ Công ty và giáo viên hướng dẫn, em rất mong quý thầy cô xem xét, đóng góp ý kiến
để đề tài luận văn này được hoàn thiện và có giá trị thực tiễn hơn
2 Mục đích của đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm vận dụng lý luận vào thực tiễn, giúp công ty tìm ra giải pháp về cấu trúc vốn tối ưu, đồng thời tìm hiểu các phương pháp tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, tạo tiền đề cho việc nâng cao lợi nhuận từ các hoạt động của công ty
3 Đối tƣợng của đề tài
Đề tài nghiên cứu về cấu trúc vốn và chi phí sử dụng vốn, tác động của chúng tới hoạt động của công ty, làm thế nào để xác định cấu trúc vốn tối ưu và giảm thiểu chi phí sử dụng vốn
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang, đại diện cho bộ phận doanh nghiệp vừa và nhỏ - chiếm tỷ lệ lớn trong cấu trúc nền kinh tế
Trang 3Việt Nam hiện nay Công ty kinh doanh, chế biến thực phẩm từ thủy hải sản cũng là đặc thù sản xuất kinh doanh của tỉnh Khánh Hòa
Thời gian nghiên cứu: Sử dụng các số liệu kinh doanh từ năm 2009 đến năm
2011
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần vào lý luận của việc xây dựng cấu trúc
vốn, chi phí sử dụng vốn
- Về mặt thực tiễn: Luận văn đã đưa ra giải pháp để xây dựng được cơ cấu vốn tối ưu cho Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang và chúng ta có thể vận dụng phương pháp này cho các công ty cổ phần hiện nay ở Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN
1.1 Tổng quan về cấu trúc vốn
1.1.1 Khái niệm
Cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh
Cấu trúc vốn xuất phát từ cấu trúc của bảng cân đối kế toán Trong bảng cân đối kế toán, cấu trúc vốn cần chỉ ra được phần nào của tổng tài sản doanh nghiệp hình thành từ vốn góp của chủ sở hữu và lợi nhuận của chủ sở hữu được giữ lại đầu
tư cho hoạt động doanh nghiệp và phần nào hình thành từ các nguồn có tính chất công nợ (thông qua các khoản nợ khác nhau)
Từ đó, cấu trúc vốn của doanh nghiệp được định nghĩa như là sự kết hợp giữa
nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn và vốn cổ phần mà doanh nghiệp có thể huy động để tài trợ cho các dự án đầu tư
1.1.2 Vai trò
Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
Cấu trúc vốn liên quan tới việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp Tài trợ bằng vốn vay nợ tạo ra “tấm chắn thuế” cho doanh nghiệp; gánh nặng nợ, mặt khác, tạo áp lực với doanh nghiệp Chi phí vay nợ có tác động đáng kể tới vận hành kinh doanh, thậm chí, dẫn tới đóng cửa doanh nghiệp Tài trợ từ vốn góp cổ phần không gây ra gánh nặng nợ, tuy nhiên, các cổ đông có thể can thiệp vào hoạt động điều hành doanh nghiệp Sự kỳ vọng cao vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư cũng tạo sức ép đáng kể cho đội ngũ quản lý doanh nghiệp
Trang 5Cấu trúc vốn có quan hệ gần gũi với một khái niệm khác của tài chính là lãi suất Do việc tính toán tài chính có quan điểm coi mức rủi ro giữa vốn chủ sở hữu
và vốn vay khác nhau, tỉ lệ nguồn hình thành trong cấu trúc vốn sẽ làm thay đổi nhận thức của giới đầu tư về mức rủi ro của một doanh nghiệp Chẳng hạn một doanh nghiệp có quá ít vốn chủ sở hữu và quá nhiều vốn vay thì rủi ro thường sẽ cao hơn nhiều do giới kinh doanh nhận định rằng sức ép chi trả các trách nhiệm tài chính có thể có tác động tiêu cực lên các quyết định quản lý của ban giám đốc và tình trạng tài chính của doanh nghiệp
1.1.3 Các nhân tố cấu thành cấu trúc vốn
1.1.3.1 Nguồn vốn vay
Trong nền kinh tế thị trường, hầu như không doanh nghiệp nào có thể hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ với nguồn vốn tự có Vốn hoạt động của doanh nghiệp được huy động từ nhiều nguồn, trong đó nguồn vốn vay chiếm tỷ lệ tương đối đáng kể
Nguồn vốn vay là nguồn vốn được tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp và doanh nghiệp phải trả các khoản vay đúng thời hạn cam kết, đồng thời phải trả lãi vay theo mức lãi suất thỏa thuận Nguồn vốn vay mang ý nghĩa quan trọng đối với việc mở rộng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó giúp doanh nghiệp giải quyết nhu cầu vốn hoạt động, dễ dàng tiếp cận hơn tới các công nghệ kỹ thuật mới, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường
Trong cấu trúc vốn, ta chỉ xét tới nguồn vốn vay trung và dài hạn Nguồn vốn vay này có thể được huy động từ các tổ chức tài chính, các ngân hàng, hoặc thông qua hình thức phát hành trái phiếu
Việc doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn vay này nhiều hay ít còn phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp, loại hình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đang ở chu kỳ sản xuất nào…
1.1.3.2 Nguồn vốn chủ sở hữu
Trang 6Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn đầu tiên mà doanh nghiệp huy động được Một doanh nghiệp muốn đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có vốn điều
lệ (vốn góp nếu là doanh nghiệp cổ phần, hoặc vốn do Nhà nước cấp nếu đó là doanh nghiệp Nhà nước)
Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trong tổng tài sản nợ phản ánh tình hình tự chủ
về tài chính của doanh nghiệp
Như vậy, nguồn vốn vay và nguồn vốn chủ sở hữu có những điểm khác biệt như sau:
Nguồn vốn vay:
- Không phải từ chủ sở hữu doanh nghiệp;
- Phải trả lãi cho các khoản tiền vay;
- Mức lãi suất cho các khoản vay thường ổn đinh, được thỏa thuận khi vay;
- Doanh nghiệp phải hoàn trả nợ khi đáo hạn;
- Doanh nghiệp có thể thế chấp tài sản hoặc bảo lãnh khi vay nợ;
Nguồn vốn chủ sở hữu:
- Do các chủ sở hữu của doanh nghiệp tự đóng góp;
- Chỉ chia lợi tức cho các chủ sở hữu nếu doanh nghiệp có lợi nhuận;
- Lợi tức chia cho các chủ sở hữu doanh nghiệp tùy theo quyết định của hội đồng quản trị và tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp;
- Doanh nghiệp không phải hoàn trả tiền vốn cho chủ sở hữu, trừ trường hợp doanh nghiệp bị phá sản;
- Doanh nghiệp không cần thế chấp khi huy động vốn
1.1.4 Cấu trúc vốn tối ƣu
Cấu trúc vốn tối ưu là sự kết hợp giữa nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, cổ phần thường, cho phép tối đa hóa thu nhập của chủ sở hữu, tối thiểu hóa rủi ro và tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp Với một cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn bình quân được tối thiểu hóa, tổng giá trị các chứng khoán của
Trang 7doanh nghiệp, giá trị của doanh nghiệp sẽ được tối đa hóa Do đó, cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn tối thiểu được gọi là cấu trúc vốn tối ưu
Một doanh nghiệp có thể có cấu trúc vốn tối ưu bằng cách sử dụng đòn bẩy tài chính phù hợp, như vậy có thể hạ thấp chi phí sử dụng vốn thông qua việc gia tăng
sử dụng nợ (vì khi sử dụng nợ doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế)
Tuy nhiên khi tỷ lệ nợ gia tăng thì rủi ro cũng gia tăng do đó nhà đầu tư sẽ yêu cầu mức sinh lợi cao hơn (re) Mặc dù vậy sự gia tăng re lúc đầu cũng không hoàn toàn xóa sạch lợi ích của việc sử dụng nợ như là một nguồn vốn rẻ hơn, cho đến khi nhà đầu tư tiếp tục gia tăng lợi nhuận đòi hỏi, khiến cho lợi ích của việc sử dụng nợ không còn nữa Tình hình này được mô tả ở đồ thị (xem hình 1.1)
(Hình 1.1)
Nhìn vào đồ thị ta thấy rằng lúc đầu re tăng khi tỷ lệ đòn bẩy gia tăng trong khi chi phí sử dụng nợ vay rd không đổi và do hưởng được lợi ích từ tấm chắn thuế khi gia tăng sử dụng nợ nên chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) giảm
Nhưng khi đòn bẩy tài chính gia tăng đến điểm X nào đó thì WACC tăng lên,
do rủi ro tăng lên khiến cho re và rd cùng tăng lên Như vậy tại điểm X là điểm có chi phí sử dụng vốn thấp nhất, hay tại đó doanh nghiệp có cấu trúc vốn tối ưu
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn tối ưu :
Trang 8- Rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp: Khi doanh nghiệp đang trong tình
trạng khó khăn, có thể do cạnh tranh gay gắt, hoặc do việc phát triển sản phẩm mới chưa được thị trường chấp nhận … thì doanh nghiệp thường chấp nhận thua lỗ, do
đó sẽ hạn chế việc sử dụng nợ vay để bổ sung nguồn vốn kinh doanh Điều này làm thay đổi cấu trúc vốn hiện tại của doanh nghiệp
- Chính sách thuế của quốc gia: Ảnh hưởng trực tiếp tới cấu trúc vốn của
doanh nghiệp, vì phần chi phí sử dụng vốn vay mà doanh nghiệp phải trả không bị tính vào thu nhập trước thuế Từ đó doanh nghiệp sẽ tùy vào chính sách thuế hiện hành mà tăng hay giảm tỷ trọng vốn vay trong cấu trúc vốn
- Tình hình tài chính của doanh nghiệp: Khả năng tài chính của doanh
nghiệp là nhân tố tác động trực tiếp tới cấu trúc vốn tối ưu Khi nguồn vốn hiện tại không đủ để trang trải hoặc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp có thể ra quyết định sử dụng vốn vay Ngược lại, khi nguồn vốn hiện tại đủ cung cấp cho nhu cầu thì doanh nghiệp không nhất thiết phải huy động vốn vay
- Quan điểm của nhà quản lý: Nhà quản lý doanh nghiệp là người đưa ra
quyết định có nên sử dụng vốn vay hay vốn chủ sở hữu Trên thực tế, tùy quan điểm của từng nhà quản lý mà cấu trúc vốn của doanh nghiệp sẽ thay đổi, có người ưu tiên sử dụng nợ vay để tăng lợi nhuận, có người lại chọn dùng vốn chủ sở hữu để giảm rủi ro
1.2 Tác động của cấu trúc vốn đến doanh lợi và rủi ro:
1.2.1 Khái quát về rủi ro:
1.2.1.1 Khái niệm rủi ro:
Rủi ro là tình huống mà tại đó gây ra những sự cố không mong muốn, ảnh hưởng không tốt tới thu nhập và sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp
Rủi ro có thể xuất phát từ những nguyên nhân khách quan như: khủng hoảng kinh tế, chính trị; thiên tai; sự thay đổi các chính sách của Nhà nước; đình công … hoặc từ các nguyên nhân chủ quan như: nhà quản lý yếu kém, đưa ra những dự báo, những quyết định sai lầm; sai sót của thành viên trong doanh nghiệp …
1.2.1.2 Phân loại rủi ro:
Trang 9Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp khó có thể tránh khỏi rủi ro, những rủi ro ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp có thể được chia làm 2 loại: rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính
Rủi ro kinh doanh: Là sự không chắc chắn về mức thu nhập trong tương
lai Rủi ro kinh doanh gắn liền với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên ảnh hưởng trực tiếp tới doanh lợi của doanh nghiệp Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan hơn là yếu tố chủ quan, do đó rất khó kiểm soát, tuy nhiên, nếu các nhà quản lý đưa ra những lựa chọn và quyết định đầu tư sáng suốt thì vẫn có thể hạn chế rủi ro tới mức thấp nhất Để làm được điều này, các nhà quản lý phải am hiểu những nhân tố nào gây ảnh hưởng tới mức độ rủi ro trong kinh doanh, không được bỏ qua
dù là những dự báo tưởng chừng là an toàn nhất Một số nhân tố tiêu biểu:
- Sự không chắc chắn về mức cầu trong tương lai, do xu hướng của thị trường hoặc thị phần của doanh nghiệp thay đổi;
- Sự thay đổi giá cả của các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, lương người lao động … dẫn đến sự thay đổi giá cả đầu ra của các sản phẩm của doanh nghiệp;
- Sự thay đổi về mức độ cạnh tranh trong ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động;
- Sự phát triển về công nghệ (tỷ trọng biến phí và định phí trong tổng chi phí hoạt động của doanh nghiệp)
Để hạn chế rủi ro kinh doanh do các yếu tố nêu trên gây ra, ta có thể thấy việc xây dựng một cấu trúc chi phí hợp lý có vai trò rất quan trọng Nhà quản lý phải xem xét và dự đoán các tình huống làm ảnh hưởng tới mức sinh lợi, từ đó điều chỉnh tỷ lệ các loại chi phí để giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp của mình
Rủi ro kinh doanh làm nền tảng cho đòn bẩy kinh doanh: Trên phương diện tài
chính, rủi ro kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào sự phân bổ biến phí và định phí của doanh nghiệp Mối quan hệ giữa biến phí, định phí và thu nhập được thể hiện qua phân tích điểm hòa vốn, đây là quá trình đóng vai trò quan trọng và dẫn ta tới khái niệm về đòn bẩy kinh doanh, hay còn gọi là đòn cân định phí
Trang 10 Rủi ro tài chính: Là sự không chắc chắn về khả năng thanh toán lãi vay
của doanh nghiệp Rủi ro tài chính xuất phát từ việc sử dụng công cụ nợ trong cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp, nghĩa là khi thu nhập của doanh nghiệp không đủ
để chi trả các khoản chi phí vay thì doanh nghiệp gặp rủi ro về tài chính
Rủi ro tài chính làm nền tảng cho đòn bẩy tài chính: Việc sử dụng nợ vay có
những ảnh hưởng vừa tích cực vừa tiêu cực đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, phân tích mức độ của những ảnh hưởng này dẫn ta tới khái niệm đòn bẩy tài chính Thông qua việc phân tích sự tác động của đòn bẩy tài chính lên doanh lợi của cổ đông sẽ giúp ta hiểu rõ hơn ảnh hưởng của rủi ro tài chính tới doanh nghiệp
Những doanh nghiệp sử dụng 100% vốn chủ sở hữu sẽ không gặp phải rủi ro tài chính, tuy nhiên thực tế hiện nay hầu như không có trường hợp này Các nhà quản lý không chỉ phải cân nhắc vấn đề “có nên sử dụng nợ vay hay không”, mà còn phải quyết định tỷ số nợ tới mức nào để đạt được tỷ suất sinh lợi cao, muốn đạt lợi ích này thì sẽ phải đương đầu với rủi ro kia và ngược lại, muốn giảm thiểu rủi ro thì sẽ khó đạt được lợi ích như mong đợi Thêm vào đó, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận càng thúc đẩy nhà quản lý tìm cách để tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp mình
1.2.2 Các loại đòn bẩy trong doanh nghiệp:
Xác định cấu trúc về chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh là quyết định
về đòn bẩy kinh doanh Xác định cấu trúc vốn là quyết định về đòn bẩy tài chính Đòn bẩy trong doanh nghiệp có tác dụng chứng minh khả năng chi trả của doanh nghiệp đối với các khoản chi phí cố định khi sử dụng vốn chủ sở hữu hoặc vốn vay
Có 3 loại đòn bẩy doanh nghiệp:
- Đòn bẩy kinh doanh DOL (Đòn cân định phí);
- Đòn bẩy tài chính DFL (Đòn cân nợ);
- Đòn bẩy tổng hợp DTL (Đòn cân tổng hợp)
1.2.2.1 Đòn bẩy kinh doanh DOL – Degree Operating Leverage:
Khái niệm:
Trang 11DOL =
Tỷ lệ % thay đổi EBIT
Tỷ lệ % thay đổi của doanh thu (Q)
Q*(P – V) – F
Đòn bẩy kinh doanh, hay còn gọi là đòn bẩy hoạt động, đòn cân định phí, là sự đánh giá phạm vi mà chi phí cố định được sử dụng trong việc điều hành doanh nghiệp
Đòn bẩy kinh doanh phản ảnh mối quan hệ giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi Đòn bẩy sẽ cao trong các doanh nghiệp có chi phí cố định lớn hơn chi phí biến đổi và ngược lại Một doanh nghiệp có đòn bẩy kinh doanh cao thì chỉ cần một thay đổi nhỏ của doanh thu hoặc sản lượng sẽ ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận trước thuế và lãi vay của doanh nghiệp (EBIT), nghĩa là lợi nhuận của doanh nghiệp rất nhạy cảm với thị trường khi sản lượng thay đổi
Hay:
Trong đó:
DOL: Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh;
EBIT: Earning Before Interest and Tax - lợi nhuận trước thuế và lãi vay;
Q: Sản lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ;
P: Giá bán cho mỗi đơn vị sản phẩm;
V: Biến phí cho mỗi đơn vị sản phẩm;
F: Tổng định phí chưa có lãi vay
Khái niệm đòn bẩy kinh doanh cung cấp cho các nhà quản lý doanh nghiệp một công cụ để gia tăng lợi nhuận Với các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy kinh doanh, tức là đầu tư nhiều cho tài sản cố định, định phí sẽ rất cao so với biến phí, làm cho sản lượng hòa vốn lớn Khi đó chỉ cần doanh thu của doanh nghiệp tăng lên, vượt sản lượng hòa vốn một tỷ lệ nhỏ là có thể tăng lên một tỷ lệ lớn về lợi nhuận Nhưng cần chú ý rằng khi chưa vượt qua sản lượng hòa vốn thì doanh
Trang 12nghiệp nào có định phí cao sẽ càng lỗ lớn Điều này giải thích tại sao các doanh nghiệp không muốn đòn cân định phí quá cao để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh
Lấy ví dụ công ty sản xuất phần mềm Microsoft: Phần lớn chi phí trong cấu trúc chi phí của công ty này là chi phí cố định và được giới hạn để phục vụ cho việc phát triển và chi phí marketing Dù bán được 1 hay 10 triệu bản copy phần mềm Windows thì về cơ bản chi phí của Microsoft vẫn không đổi Vì vậy, một khi công
ty bán được số lượng phần mềm đủ để bù đắp chi phí cố định, cứ mỗi 1 đô la tăng thêm trong doanh số bán hàng gần như sẽ được chuyển hết thành lợi nhuận biên tế (lợi nhuận tăng thêm) Có thể nói Microsoft đã sử dụng một đòn bẩy kinh doanh cao
ấn tượng
Ngược lại, một doanh nghiệp bán lẻ, ví dụ như Wal-Mart Doanh nghiệp này
có mức độ đòn bẩy kinh doanh thấp Công ty đã sử dụng chi phí cố định thấp ở mức vừa phải trong khi chi phí biến đổi của nó lại rất lớn Hàng hóa tồn kho để bán được xem là chi phí lớn nhất của Wal- Mart Với mỗi doanh thu sản phẩm mà Wal-Mart bán được, nó phải trả cho nhà cung cấp sản phẩm đó 1 phần khá lớn gọi là giá vốn hàng bán Kết quả là, giá vốn hàng bán tiếp tục tăng lên khi doanh thu bán hàng
tăng lên (Nguồn: Saga.vn)
Phân tích hòa vốn:
Điểm hòa vốn (break even point) là điểm mà tại đó, doanh thu bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ bằng mức chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra, cũng có nghĩa là tại điểm hòa vốn, doanh nghiệp có lợi nhuận hoạt động bằng 0 Điểm hòa vốn được xác định dựa trên những giả định sau:
- Giá bán không đổi;
- Biến phí đơn vị không đổi và tổng biến phí tăng tỷ lệ theo khối lượng sản xuất, tiêu thụ;
- Tổng định phí không đổi
Những giả định trên được sử dụng trong những phân tích ngắn hạn, tức là trong điều kiện quy mô sản xuất đã được xác lập và giá không đổi Giới hạn sản
Trang 13Sản lượng hòa vốn Qo = Tổng định phí (F)
Giá bán (P) - Biến phí (v)
lượng là công suất thiết kế tối đa, nếu sản lượng tăng vượt mức công suất tối đa thì tất cả các giả định trên không còn phù hợp nữa vì lúc này tổng định phí sẽ tăng và biến phí cũng có thể thay đổi
Trong ngắn hạn, quy mô hay công suất hoạt động của một doanh nghiệp đã được thiết lập, chi phí cố định là chi phí không thay đổi theo số lượng sản xuất hay tiêu thụ Chi phí cố định bao gồm các loại chi phí như khấu hao, bảo hiểm, một bộ phận chi phí điện nước và một bộ phận chi phí quản lý Chi phí biến đổi là chi phí thay đổi khi số lượng sản phẩm sản xuất hay tiêu thụ thay đổi, chẳng hạn như chi phí nguyên vật liêu, lao động trực tiếp, một phần chi phí điện nước, hoa hồng, một phần chi phí quản lý hành chính
Trong kinh doanh chúng ta phải đầu tư chi phí cố định, còn hoạt động tiêu thụ sản phẩm và cung ứng dịch vụ sẽ tạo ra doanh thu, nếu doanh thu đủ lớn để bù đắp chi phí cố định và chi phí biến đổi thì doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận, còn ngược lại nếu doanh thu quá thấp, phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bị âm thì doanh nghiệp bị lỗ
Khi doanh thu đã vượt qua mức bù đắp chi phí cố định và chi phí biến đổi thì doanh nghiệp có thể gia tăng lợi nhuận, những doanh nghiệp có chi phí cố định lớn thường tiết kiệm chi phí biến đổi hơn nên khả năng gia tăng doanh thu cao hơn Phân tích hòa vốn là nội dung quan trọng trong việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận Nó giúp người quản lý xác định được sản lượng, doanh thu hòa vốn để xác định vùng lãi, lỗ của doanh nghiệp Từ đó nhà quản lý sẽ có những chiến lược trong sản xuất và cạnh tranh để đưa sản lượng, doanh thu của mình vượt lên điểm hòa vốn này trong dài hạn
Doanh thu hòa vốn So = Giá bán (P) x Sản lượng hòa vốn (Qo)
Minh họa bằng đồ thị về sản lượng hòa vốn (xem hình 1.2)
Trang 14- Khi đường tổng chi phí TC nằm bên trên đường doanh thu S, chứng tỏ với mức sản lượng Q1 bán ra, doanh nghiệp không bù đắp được tổng chi phí nên bị lỗ
Đó gọi là “khoảng lỗ” của doanh nghiệp
- Khi đường TC năm bên dưới đường S, chứng tỏ với mức sản lượng Q2 bán
ra, doanh nghiệp đã bù đắp được tổng chi phí và thu được lợi nhuận Đó gọi là
“khoảng lãi” của doanh nghiệp
Ý nghĩa của việc phân tích điểm hòa vốn của doanh nghiệp:
- Giúp doanh nghiệp lựa chọn quy mô đầu tư phù hợp với quy mô thị trường, đồng thời lựa chọn hình thức đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro do sự biến động sản lượng tiêu thụ sản phẩm Nếu quy mô thị trường nhỏ hoặc có nhiều đối thủ cạnh tranh, một dự án có điểm hòa vốn thấp sẽ ít rủi ro hơn dự án có điểm hòa vốn cao Tuy nhiên trong quy mô thị trường có tiềm năng lớn, dự án có quy mô lớn sẽ có khả năng mang lại lợi nhuận cao hơn
Doanh thu, chi phí
Trang 15- Tại điểm hòa vốn, độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh không xác định;
- Sản lượng tiêu thụ càng vượt xa điểm hòa vốn thì rủi ro càng giảm
Phân tích độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh:
Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh (DOL) của một doanh nghiệp sẽ tiến đến cực đại khi sản lượng của doanh nghiệp tiến gần đến sản lượng hòa vốn Qo
Đòn bẩy kinh doanh dùng các chi phí hoạt động cố định làm điểm tựa: khi một doanh nghiệp sử dụng các chi phí hoạt động cố định, một thay đổi trong doanh thu
sẽ được phóng đại thành một thay đổi tương đối lớn trong thu nhập trước thuế và lãi vay (EBIT) Tác động của việc sử dụng các chi phí cố định này được gọi là độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh (DOL)
DOL đánh giá tỷ lệ % thay đổi EBIT khi doanh thu thay đổi 1%
Qua công thức trên ta thấy định phí đóng vai trò quan trọng trong việc khuếch đại lợi nhuận cũng như rủi ro của doanh nghiệp Định phí càng cao thì độ nghiêng đòn cân định phí càng lớn, kéo theo sự gia tăng nhanh của EBIT; ngược lại, nếu doanh thu giảm thì EBIT cũng giảm đi rất nhanh Do đó cần phải xác định rõ ràng phương hướng tăng giảm của doanh số để xác định một tỷ lệ đòn bẩy kinh doanh thích hợp
Sản lượng càng gần với sản lượng hòa vốn thì độ nghiêng của đòn cân định phí càng tạo nhiều rủi ro cho doanh nghiệp, lúc này doanh nghiệp có nguy cơ rơi vào khoảng “lỗ” Như vậy để giảm thiểu rủi ro kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải có biện pháp nhằm tăng sản lượng vượt càng xa sản lượng hòa vốn càng tốt
Điều này không có nghĩa là doanh nghiệp cần phải giảm định phí và tăng sản lượng để giảm thiểu rủi ro Trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay, doanh
Trang 16nghiệp chịu sức ép rất lớn, buộc phải tăng đầu tư vào máy móc thiết bị, nhằm hiện đại hóa quy trình sản xuất, tạo ra sản phẩm tốt, có chất lượng cao, giảm giá thành,
từ đó định phí tăng thêm rất nhiều Hơn nữa, chiến lược mở rộng thị phần cũng góp phần làm tăng định phí Như vậy trong tương lai, điểm hòa vốn và định phí càng bị đẩy lên một mức cao hơn
Tóm lại, ta có thể xem độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh như một dạng rủi ro tiềm ẩn, bản thân nó không tạo ra rủi ro cho doanh nghiệp, nó chỉ tác động làm gia tăng rủi ro khi có sự biến động doanh thu và chi phí sản xuất Việc sử dụng đòn bẩy phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của từng ngành nghề hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp
1.2.2.2 Đòn bẩy tài chính DFL - Degree Financial Leverage
Khái niệm:
Đòn bẩy tài chính là việc sử dụng các chi phí tài chính cố định như lãi vay hay lợi tức cổ phần ưu đãi, nhằm khuếch đại lợi nhuận của chủ sở hữu doanh nghiệp Đòn bẩy tài chính xuất hiện khi doanh nghiệp quyết định tài trợ cho phần lớn tài sản của mình bằng nợ vay Khoản nợ vay của doanh nghiệp sẽ trở thành khoản nợ phải trả, lãi vay được tính dựa trên số nợ gốc này Một doanh nghiệp chỉ sử dụng nợ khi
họ có thể chắc rằng tỷ suất sinh lợi trên tài sản cao hơn lãi suất vay nợ
Tấm chắn thuế từ lãi vay
Khi doanh nghiệp sử dụng nợ dài hạn để tài trợ thì luôn nhận được một khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế của lãi vay, đây được xem là lợi ích chủ yếu có được từ việc vay nợ Khoản sinh lời này cũng được coi là một khoản mà chính phủ đã trợ cấp cho các doanh nghiệp dưới hình thức giảm thuế để khuyến khích doanh nghiệp
sử dụng các khoản vay nợ
Do đó khi sử dụng càng nhiều nợ vay thì khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế của lãi vay này càng lớn, tuy nhiên doanh nghiệp cũng cần chú ý là khi nợ vay ngày càng lớn thì rủi ro tài chính mà doanh nghiệp phải gánh chịu cũng ngày càng gia tăng Do đó doanh nghiệp nên thận trọng cân nhắc kỹ trước khi quyết định gia tăng
nợ vay trong cấu trúc vốn
Trang 17DFL =
Tỷ lệ % thay đổi EPS (ROE)
Tỷ lệ % thay đổi EBIT
DFL = EBIT = Q*(P - V) - F
EBIT - I Q*(P - V) – F - I
Phân tích độ nghiêng đòn bẩy tài chính:
Doanh nghiệp được coi là có đòn bẩy tài chính cao khi tỷ trọng nợ vay và cổ phần ưu đãi trong tổng vốn của doanh nghiệp cao Đòn bẩy tài chính càng cao, lợi nhuận của các cổ đông càng cao, tuy nhiên rủi ro cũng càng lớn Để đo lường mức
độ tác động của đòn bẩy tài chính lên cơ cấu tài chính của doanh nghiệp, người ta dùng chỉ tiêu độ nghiêng của đòn bẩy tài chính
Độ nghiêng đòn bẩy tài chính thể hiện quan hệ tỷ lệ giữa tốc độ thay đổi của lợi nhuận trên mỗi cổ phần (ROE hay EPS) với tốc độ thay đổi của lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
Hay:
Trong đó:
DFL: Độ nghiêng đòn bẩy tài chính;
EPS: Thu nhập trên mỗi cổ phiếu;
ROE: Tỷ suất thu nhập trên vốn chủ sở hữu;
EBIT: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay;
I : Interest - lãi vay phải trả;
Q: Sản lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ;
P: Giá bán cho mỗi đơn vị sản phẩm;
V: Biến phí cho mỗi đơn vị sản phẩm;
F: Tổng định phí chưa có lãi vay
Ý nghĩa :
Khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) thay đổi 1% thì lợi nhuận trên số cổ phần (EPS), hoặc lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE) thay đổi 1% x DFL
Trang 18Lợi nhuận trước thuế và lãi vay không đủ lớn để trang trải lãi vay thì doanh lợi vốn chủ sở hữu của chủ doanh nghiệp cũng bị giảm sút Nhưng khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay đủ lớn thì chỉ cần một biến động nhỏ của nó cũng tạo ra sự biến động về doanh lợi vốn chủ sở hữu
Điều khác biệt giữa DOL và DFL chính là doanh nghiệp có thể lựa chọn đòn bẩy tài chính trong khi khó có thể lựa chọn đòn bẩy hoạt động:
- Đòn bẩy hoạt động do đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp quyết định, chẳng hạn các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, sản xuất sẽ có đòn bẩy hoạt động cao, ngược lại, các doanh nghiệp thuộc ngành dịch vụ có đòn bẩy hoạt động thấp;
- Đòn bẩy tài chính thì doanh nghiệp được tự do lựa chọn, vì không ai bắt buộc doanh nghiệp có phải sử dụng nợ, cổ phiếu ưu đãi hay không
1.2.2.3 Đòn bẩy tổng hợp DTL - Degree Total Leverage
Đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính đều cho thấy mức độ mạo hiểm và đều ảnh hưởng tới mức sinh lời của doanh nghiệp Nếu đòn bẩy kinh doanh làm khuếch đại mức lời hoặc lỗ trước thuế và lãi vay khi doanh thu thay đổi, thì đòn bẩy tài chính thay đổi làm ảnh hưởng tới doanh lợi vốn chủ sở hữu Như vậy, sự tác động này có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó sự thay đổi của doanh thu kéo theo sự thay đổi của EBIT, rồi EBIT thay đổi kéo theo sự thay đổi của doanh lợi vốn chủ sở hữu
Trên cơ sở mối quan hệ đó, ta kết hợp sự tác động của 2 đòn bẩy trên và tạo nên đòn bẩy tổng hợp
Trang 19Độ nghiêng của đòn bẩy tổng hợp đánh giá mức độ nhạy cảm của EPS (ROE) đối với sự thay đổi của sản lượng (Q), hay doanh thu tiêu thụ (S)
DTL = Mức độ ảnh hưởng của DFL * Mức độ ảnh hưởng của DOL
Hay:
Trong đó:
DFL: Độ nghiêng đòn bẩy tài chính;
DOL: Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh;
DTL: Độ nghiêng đòn bẩy tổng hợp;
EPS: Thu nhập trên mỗi cổ phiếu;
EBIT: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay;
I : Interest - lãi vay phải trả;
Q: Sản lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ;
P: Giá bán cho mỗi đơn vị sản phẩm;
V: Biến phí cho mỗi đơn vị sản phẩm;
F: Tổng định phí chưa có lãi vay
Điều này có nghĩa là chỉ cẩn doanh số bán ra tăng hay giảm 1% thì làm cho thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) tăng hay giảm 1% x DTL
1.2.3 Mối quan hệ giữa rủi ro tài chính và đòn bẩy tài chinh
Như đã đề cập đến ở phần trên, trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có thể gặp phải những rủi ro: rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính Tuy nhiên, do đề tài liên quan đến cấu trúc vốn, chi phí sử dụng vốn, tức là liên quan đến nợ vay của doanh nghiệp, ở đây em chỉ đề cập đến rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải
= Tỷ lệ % thay đổi của EPS
* Tỷ lệ % thay đổi của EBIT
Tỷ lệ % thay đổi của EBIT Tỷ lệ % thay đổi của doanh thu
= Tỷ lệ % thay đổi của EPS
Tỷ lệ % thay đổi của doanh thu
DTL = Q*(P – V) – F * Q*(P – V) = Q*(P – V)
Q*(P – V) – F – I Q*(P – V) – F Q*(P – V) – F – I
Trang 20ROA (Tỷ suất thu
nhập trên tài sản) = Lợi nhuận ròng Tổng tài sản
ROE (Tỷ suất thu
Có 3 phương án tài trợ cho doanh nghiệp ABC: (Đơn vị tính: USD)
- PA1: không sử dụng đòn bẩy tài chính
- PA2: sử dụng đòn bẩy tài chính với mức độ là 30%, chi phí sử dụng nợ
Trong từng phương án, để xác định được số lượng cổ phần cần có, ta lấy vốn
cổ phần chia cho giá mỗi cổ phần Giá bán mỗi cổ phần được cố định là 50 USD Các chỉ số được tính theo các công thức sau:
Trang 21BÁO CÁO THU NHẬP
Trường hợp 1: Công ty A có EBIT là 2.000.000 USD, tức ROA = 20%
Bảng 1.2: Phân tích các chỉ số theo trường hợp 1
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) 2.000.000 2.000.000 2.000.000 Lãi vay (I = nợ vay * lãi suất) 0 300.000 600.000 Lợi nhuận trước thuế (EBT) 2.000.000 1.700.000 1.400.000 Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế suất 25%) 500.000 425.000 350.000 Lợi nhuận sau thuế (EAT) 1.500.000 1.275.000 1.050.000
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE) 15,00% 18,21% 26,25%
Từ bảng 1.2, ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Với mức EBIT = 2.000.000 tương đương ROA = 20%, PA3 là phương án đem lại EPS và ROE cao nhất cho doanh nghiệp (EPS = 13.13 và ROE = 26.25%) Do
đó vì mục tiêu tối đa hóa thu nhập cho cổ đông, doanh nghiệp chắc chắn chọn PA3
PA3 có mức đòn bẩy tài chính cao nhất (60%) là phương án tốt nhất vì khi sử dụng mức độ đòn bẩy này công ty đã đảm bảo điều kiện để nhận được mặt thuận lợi của đòn bẩy tài chính là ROA > 0 và ROA > lãi vay rd (ROA = 20%, rd = 10%)
Trang 22 Trường hợp 2: EBIT giảm xuống 25%, còn 1.500.000 USD, ROA = 15% Bảng 1.3: Phân tích các chỉ số theo trường hợp 2
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) 1.500.000 1.500.000 1.500.000
Lợi nhuận trước thuế (EBT) 1.500,00 1.200.000 900.000 Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế suất 25%) 375.000 300.000 225.000 Lợi nhuận sau thuế (EAT) 1.125.000 900.000 675.000
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE) 11,25% 12,86% 16,88% Phần trăm thay đổi của ROE -25,00% -29,41% -35,71%
Từ bảng 1.3, ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Trong trường hợp 1 cho thấy tác động của việc tăng mức độ đòn bẩy tài chính
từ 0 đến 30% lên 60% đã làm cho ROE tăng từ 15% lên 18,21% lên 26,25%, doanh nghiệp hiện đang có ROA = 20% trong khi sử dụng đòn bẩy công ty chỉ trả chi phí
là 10% Như vậy khi công ty sử dụng đòn bẩy tài chính trong cấu trúc vốn, sai biệt giữa ROA và rd tăng lên càng cao thì sẽ đem lại thu nhập cho cổ đông càng lớn
Tuy nhiên việc sử dụng và gia tăng đòn bẩy tài chính tạo ra sự gia tăng ROE cho cổ đông cũng đồng thời tạo ra rủi ro gia tăng Cụ thể ở trường hợp 2, khi EBIT giảm 25%, ROE của PA1 giảm 25% nhưng PA2 và PA3 thì tỷ lệ giảm cao hơn: với
PA2, mức độ đòn bẩy tài chính là 30% thì ROE giảm 29,41% ; với PA3 mức độ tài chính đòn bẩy tài chính là 60% thì ROE giảm 35,71%
Trang 23 Trường hợp 3: Giả sử EBIT giảm 70% xuống còn 600.000 USD, ROA=6% Bảng 1.4: Phân tích các chỉ số theo trường hợp 3
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) 600.000 600.000 600.000
Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế suất 25%) 150.000 75.000 0
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE) 4,50% 3,21% 0,00% Phần trăm thay đổi của ROE -70,00% -82,35% -100,00%
Từ bảng 1.4, ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Tác động trong việc giảm 70% trong EBIT ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập của chủ sở hữu vì nếu với PA1 không sử dụng đòn bẩy tài chính thì ROE giảm 70% bằng với sự sụt giảm trong EBIT, trong khi đó với PA2, ROE giảm 82,35% và
PA3, ROE giảm 100%
Đặc biệt, sự sụt giảm trong EBIT này đã làm thay đổi quyết định tài trợ của doanh nghiệp, vì với giá trị EBIT này, để tối đa hóa thu nhập cho chủ sở hữu, doanh nghiệp sẽ chọn PA1
Xảy ra tình trạng trên là do mặc dù công ty vẫn hoạt động có lãi với ROA là 6% nhưng công ty phải tốn đến 10% để chi trả cho chi phí sử dụng đòn bẩy tài chính
Như vậy đòn bẩy tài chính luôn mang tính hai mặt:
- Một mặt, sử dụng và gia tăng đòn bẩy tài chính có thể tối đa hóa thu nhập cho chủ sở hữu khi ROA > 0 và ROA > rd, khi đó nếu gia tăng đòn bẩy tài chính sẽ làm cho thu nhập của chủ sở hữu cao càng cao hơn nữa
- Mặt khác, sử dụng và gia tăng đòn bẩy tài chính có thể đưa cổ đông đến một rủi ro lớn hơn nghĩa là khi ROA < rd, cùng với việc sử dụng đòn bẩy tài chính
Trang 24EBIT = (EBIT – I) * (1 – T) – Dp
Ne
sẽ làm cho thu nhập của chủ sở hữu giảm thấp hơn nữa Đặc biệt nghiêm trọng hơn khi doanh nghiệp hoạt động thua lỗ, không có khả năng thanh toán lãi vay, như vậy việc sử dụng và gia tăng đòn bẩy tài chính sẽ khuếch đại lỗ lên rất nhiều và nhanh chóng đưa doanh nghiệp đi đến phá sản
Phân tích quan hệ EBIT – EPS là phân tích sự ảnh hưởng của những phương
án tài trợ khác nhau đối với thu nhập trên mỗi cổ phần của cổ đông Từ sự phân tích này, chúng ta sẽ tìm một điểm bàng quan, còn gọi là điểm hòa vốn, tức là điểm có giá trị EBIT mà ở đó mọi phương án tài trợ đều mang lại EPS như nhau
Để minh họa phân tích quan hệ EBIT – EPS, chúng ta xem xét ví dụ: Doanh nghiệp D có nguồn vốn dài hạn 15 triệu USD hoàn toàn từ nguồn vốn cổ phần thường Doanh nghiệp cần huy động thêm 5 triệu USD cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh nên đã xem xét 3 phương án huy động vốn:
- PA1: phát hành cổ phiếu thường;
- PA2: phát hành trái phiếu với lãi suất 12%;
- PA3: phát hành cổ phiếu ưu đãi với cổ tức 11%
Lợi nhuận trước thuế và lãi (EBIT) hàng năm của công ty hiện tại là 1,5 triệu USD Thuế thu nhập của công ty là 25% và công ty hiện có 250.000 cổ phần
Nếu sử dụng phương án thứ nhất, công ty có thể bán thêm 100.000 cổ phần với giá 50 USD/cổ phần để huy động thêm 5 triệu USD
Mục tiêu của chúng ta là phân tích ra điểm bàng quan, tức là điểm mà ở đó các phương án tài trợ đều mang lại EPS như nhau Trước hết, chúng ta xác định EPS theo công thức sau:
Trong đó: I: là lãi suất hàng năm phải trả;
DP: là cổ tức hàng năm phải trả;
T: là thuế suất thuế thu nhập của công ty;
Ne: là số lượng cổ phần thường
Trang 25Bảng 1.5: Tính EPS theo 3 phương án tài trợ
Lợi nhuận trước thuế là lãi (EBIT) 2.700,00 2.700.000 2.700.000
Lợi nhuận trước thuế (EBT) 2.700.000 2.100.000 2.700.000 Thuế thu nhập (thuế suất 25%) 675.000 525.000 675.000 Lợi nhuận sau thuế (EAT) 2.025.000 1.575.000 2.025.000
Cổ tức cổ phiếu ưu đãi (DP) 0 0 550.000 Lợi nhuận dành cho cổ đông thường 2.025.000 1.575.000 1.475.000
Số lượng cổ phần thường (Ne) 350.000 250.000 250.000 Lợi nhuận trên cổ phần (EPS) 5,79 6,3 5,9
Dựa vào kết quả bảng 1.5, chúng ta có thể xác định điểm hòa vốn EBIT bằng một trong hai phương pháp: phương pháp hình học và phương pháp đại số
Xác định điểm hòa vốn bằng phương pháp hình học:
Sử dụng đồ thị biểu diễn quan hệ giữa EBIT và EPS chúng ta có thể tìm ra được điểm hòa vốn EBIT, tức là điểm giao nhau giữa các phương án tài trợ ở đó EBIT theo bất kỳ phương án nào cũng mang lại EPS như nhau Để làm được điều này chúng ta xây dựng đồ thị theo như hình vẽ Đối với mỗi phương án, chúng ta lần lượt vẽ đường thẳng phản ánh quan hệ giữa EPS với tất cả các điểm của EBIT Trước hết trên đồ thị chúng ta chọn các điểm có hoành độ lần lượt là 5,79; 6,30
và 5,90 (5,79 và 5,90 gần nhau nên trên đồ thị chúng gần như trùng nhau)
Kế đến chúng ta tìm điểm thứ hai bằng cách lần lượt cho EPS = 0 để tìm ra EBIT tương ứng:
Với phương án tài trợ bằng cổ phiếu thường:
(EBIT – I) * (1 – T) – Dp = 0
<=> (EBIT – 0) * (1 – 0,25) – 0 = 0
<=> EBIT * 0,75 = 0
Trang 27Xác định điểm hòa vốn bằng phương pháp đại số
Phương trình xác định điểm hòa vốn (EBIT) của hai phương án tài trợ 1 và 2 được viết như sau:
- EBIT là EBIT hòa vốn EBIT giữa hai phương án tài trợ 1 và 2
EPS = EBIT * (1 – T) = (EBIT – I) * (1 – T)
Trang 28Theo ví dụ trên, chúng ta tìm điểm bàng quan giữa hai phương án tài trợ bằng
nợ và cổ phiếu thường như sau:
Ý nghĩa của điểm hòa vốn EBIT
Từ phương pháp hình học cũng như phương pháp đại số chúng ta tìm thấy điểm hòa vốn EBIT giữa hai phương án tài trợ bằng nợ và cổ phiếu thường là 1,8 triệu USD Điều này có nghĩa là nếu EBIT thấp hơn điểm hòa vốn EBIT thì phương
án tài trợ bằng cổ phiếu thường tạo ra được EPS cao hơn phương án tài trợ bằng nợ, nhưng nếu EBIT vượt qua điểm hòa vốn EBIT thì phương án tài trợ bằng nợ mang lại EPS cao hơn phương án tài trợ bằng cổ phiếu thường
Tương tự điểm hòa vốn EBIT giữa hai phương án tài trợ bằng cổ phiếu thường
và cổ phiếu ưu đãi là 2,566 triệu USD Nếu EBIT nằm dưới điểm này thì phương án tài trợ bằng cổ phiếu thường tạo ra EPS cao hơn phương án tài trợ bằng cổ phiếu ưu đãi, nhưng nếu EBIT vượt qua điểm hòa vốn EBIT thì phương án tài trợ bằng cổ phiếu ưu đãi mang lại EPS cao hơn phương án tài trợ bằng cổ phiếu thường
EPS = EBIT * (1 – 0,25) = (EBIT – 600.000) * (1 – 0,25)
EPS = EBIT * (1 – 0,25) = (EBIT – 0) * (1 – 0,25) – 550.000
Trang 291.2.4 Xây dựng cấu trúc vốn trên thực tế:
Quy trình gồm 5 bước:
Bước 1: Tính toán mức EBIT dự kiến sau khi mở rộng hoạt động
Theo như ví dụ trên, căn cứ theo kinh nghiệm hoạt động đã qua và một dự kiến
về tác động của việc mở rộng kinh doanh, giám đốc tài chính của công ty D ước tính EBIT dự kiến sẽ là 2,7 triệu USD/năm trong các điều kiện hoạt động bình thường
Bước 2: Ước lượng tính khả biến của mức lợi nhuận kinh doanh này Dựa trên
thành quả quá khứ của công ty qua nhiều chu kỳ kinh doanh mà ta tính được độ lệch chuẩn của lợi nhuận
Bước 3: Tính toán điểm hòa vốn EBIT giữa hai phương án tài trợ - thêm nợ
vay mới hay duy trì cấu trúc vốn 100% cổ phần Dùng phương pháp phân tích EBIT – EPS vừa trình bày, giám đốc tài chính đã tính được điểm hòa vốn EBIT là 1,8 triệu USD
Bước 4: Phân tích các ước lượng này trong bối cảnh rủi ro mà công ty sẵn
sàng chấp nhận
Bước 5: Xem xét các chứng cứ thị trường để xác định cấu trúc vốn đề xuất có
quá rủi ro không Việc làm này liên quan đến các điểm sau: mức độ rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp, định mức ngành cho các tỷ số đòn bẩy và chỉ số khả năng thanh toán, khuyến cáo của các ngân hàng đối với doanh nghiệp
Bước này chỉ được thực hiện sau khi cấu trúc vốn đề xuất đáp ứng được các thí nghiệm “nội bộ” và tính khả thi của nó Đòn bẩy tài chính là một con dao hai lưỡi: làm tăng lợi nhuận dự kiến nhưng cũng làm tăng rủi ro Nếu gia tăng trong rủi ro cảm nhận được lớn hơn gia tăng trong thu nhập dự kiến, chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp có thể tăng thay vì giảm, và giá trị của doanh nghiệp sẽ sụt giảm
Điều quan trọng cần ghi nhận là doanh nghiệp không cần cảm thấy bị hạn chế bởi các tiêu chuẩn ngành trong việc ấn định cấu trúc vốn riêng của mình Thí dụ, nếu một doanh nghiệp có truyền thống sinh lợi cao hơn một doanh nghiệp trung
Trang 30bình trong ngành, hay nếu lãi trước thuế và lãi vay của doanh nghiệp ổn định hơn lãi trước thuế và lãi vay của doanh nghiệp trung bình trong ngành, thì doanh nghiệp này có thể chấp nhận một đòn bẩy tài chính cao hơn Lựa chọn cuối cùng về trúc vốn liên quan đến một phân tích thận trọng các rủi ro và lợi nhuận dự kiến trong tương lai so với các doanh nghiệp khác trong ngành
1.2.5 Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp:
Tài nguyên cơ bản của một doanh nghiệp là dòng tiền do tài sản của doanh nghiệp tạo ra Khi doanh nghiệp được tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần thường, tất cả các dòng tiền đó thuộc về các cổ đông Khi doanh nghiệp phát hành cả chứng khoán nợ và chứng khoán cổ phần thường, doanh nghiệp phải phân chia các dòng tiền thành hai dòng: một dòng tương đối an toàn thuộc về chủ nợ và một dòng rủi ro hơn thuộc về cổ đông
Sự kết hợp các chứng khoán và nợ vay khác nhau của doanh nghiệp được gọi
là cấu trúc vốn của doanh nghiệp Lựa chọn cấu trúc vốn là một vấn đề quan trọng, doanh nghiệp có thể phát hành hàng tá các chứng khoán khác nhau và vô số cách kết hợp, nhưng phải cố gắng tìm một kết hợp đặc thù làm tối đa hóa tổng giá trị thị trường của mình
1.3 Chi phí sử dụng vốn:
1.3.1 Khái niệm:
Mỗi nguồn vốn được huy động để sử dụng cho hoạt động của doanh nghiệp đều phải trả một khoản tiền cho quyền sử dụng nguồn vốn đó Khoản phải trả này gọi là chi phí sử dụng vốn
Chi phí sử dụng vốn bao gồm chi phí phải trả cho việc sử dụng nợ vay và chi phí trả cho việc đầu tư bằng nguồn vốn chủ sở hữu, dưới các hình thức bổ sung bằng các lợi nhuận chưa phân phối hoặc bằng các quỹ chuyên dùng của doanh nghiệp
- Chi phí sử dụng nợ phải trả (vốn vay): Nếu sử dụng vốn vay ngân hàng thì phải trả lãi vay, nếu sử dụng nợ do phát hành trái phiếu thì phải trả cho trái chủ một khoản lợi tức nhất định theo lãi suất đã ghi trên trái phiếu
Trang 31- Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước thường
sử dụng nguồn vốn ngân sách cấp, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn, với nguồn vốn này doanh nghiệp còn sử dụng nguồn vốn tự bổ sung, trong trường hợp này chi phí sử dụng vốn chỉ là chi phí cơ hội Đối với các doanh nghiệp sử dụng vốn liên doanh liên kết hoặc vốn cổ phần thì phải trả lãi cho người góp vốn và trả lợi tức cổ phần cho cổ đông
- Chi phí sử dụng vốn bình quân (The weighted average cost of capital –WACC)
1.3.2.1 Chi phí sử dụng vốn vay trước thuế:
Đối với khoản vốn vay ngắn hạn:
Chi phí sử dụng vốn trước thuế được tính theo công thức sau:
rd = (1 + i/n)n - 1
Trong đó:
rd: Chi phí sử dụng vốn vay ngắn hạn;
i: Lãi suất một năm;
n: Số kỳ tính lãi trong một năm
Đối với khoản vốn vay dài hạn:
Trường hợp vay vốn từ các tổ chức tín dụng:
Thông thường, lãi suất vay dài hạn sẽ được quy định trong hợp đồng vay vốn
Trường hợp huy động vốn bằng phát hành trái phiếu:
Chi phí sử dụng vốn trái phiếu được tính theo công thức gần đúng sau:
Trang 32Trong đó:
rd: Chi phí sử dụng vốn trái phiếu;
CF: Tiền lãi phải trả cho nhà đầu tư trái phiếu vào cuối mỗi kỳ;
Pn: Mệnh giá của trái phiếu;
Po: Thị giá trái phiếu;
n: Thời gian tồn tại của trái phiếu
1.3.2.2 Chi phí sử dụng vốn vay sau thuế:
rd’ = rd * (1 - tỷ suất thuế thu nhập doanh nghiệp)
1.3.2.3 Chi phú sử dụng vốn chủ sở hữu:
Chi phí sử dụng vốn cổ phần thường đang lưu thông (r e ):
Là tỷ suất sinh lợi trên mỗi cổ phần mà các nhà đầu tư trên thị trường vốn kỳ vọng
Theo mô hình định tăng trưởng cổ tức (DCF):
Trong đó:
re: Tỷ suất sinh lời kỳ vọng của nhà đầu tư;
g: Tỷ lệ tăng trưởng cổ tức của doanh nghiệp;
re: Tỷ suất sinh lời kỳ vọng của nhà đầu tư;
rf: Lãi suất phi rủi ro;
Trang 33(rm – rf): Lãi suất đền bù rủi ro của thị trường;
Rủi ro hệ thống của tài sản đầu tư so với rủi ro bình quân của thị trường gọi là
hệ số βe
Chi phí sử dụng vốn cổ phần thường mới phát hành (r ne ):
Trong đó:
rne: Chi phí sử dụng vốn do phát hành cổ phần mới;
D1: Cố tức các cổ đông mong muốn đạt được sau một năm;
Pt: Tổng số tiền công ty thực nhận khi phát hành cổ phần
Chi phí của lợi nhuận giữ lại (r s ):
Là phần lợi tức từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mà các cổ đông lẽ ra được chia, nhưng doanh nghiệp giữ lại để tái đầu tư
Trong đó:
rs: Chi phí của lợi nhuận giữ lại;
D1: Lợi tức trên mỗi cổ phần thường kỳ sắp tới;
Po: Giá bán cổ phần hiện tại;
g: Tỷ lệ tăng trường hàng năm
Chi phí sử dụng vốn cổ phần ưu đãi (r p ):
Cổ phần ưu đãi được xem như một loại nguồn vốn chủ sở hữu đặc biệt của doanh nghiệp Những cổ đông ưu đãi sẽ được nhận cổ tức nhất định như đã công bố với thứ tự ưu tiên, trước khi lợi nhuận thuần được phân phối cho các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường
Trang 34Dp: Cổ tức của cổ phần ưu đãi;
Po: Giá cổ phần hiện tại;
f: Tỷ lệ phần trăm chi phí phát hành cổ phần mới
1.3.2.4 Chi phí sử dụng vốn bình quân WACC:
Vốn của một doanh nghiệp hoặc một dự án được huy động từ hai nguồn: Vốn chủ sở hữu và vốn đi vay Mỗi nguồn vốn đòi hỏi một tỷ suất sinh lời khác nhau Đối với bên cho vay thì yêu cầu của họ là lãi suất, đối với bên đầu tư vào vốn chủ
sở hữu thì yêu cầu là mức sinh lời Trong trình tự thanh khoản, vốn chủ sở hữu nằm
ở vị trí sau cùng, khoản nợ vay được ưu tiên nhận trước
Trong doanh nghiệp luôn sử dụng nhiều nguồn tài trợ khác nhau, vì vậy cần xác định chi phí sử dụng vốn bình quân của tất cả các nguồn vốn huy động được Chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc vốn của doanh nghiệp, cấu trúc vốn thay đổi dẫn tới chi phí sử dụng vốn bình quân thay đổi
Ta tính chi phí sử dụng vốn bình quân theo công thức sau:
WACC = t 1 *k 1 + t 2 *k 2 + t 3 *k 3 + … + t n *k n
Trong đó:
t1, … , tn: Tỷ trọng từng loại vốn được sử dụng trong kỳ;
k1, …, kn: Chi phí sử dụng từng loại vốn sau thuế;
hoặc cũng có thể viết theo cách khác:
re: Tỷ suất sinh lời yêu cầu của vốn chủ sở hữu;
rD: Lãi suất tiền vay
1.4 Chi phí sử dụng vốn biên tế và quyết định đầu tƣ
1.4.1 Chi phí sử dụng vốn biên tế (MCC – Margin cost of capital):
Trang 35Chi phí sử dụng vốn biên tế là chi phí để huy động thêm 1 đồng vốn để tài trợ cho doanh nghiệp, khi quy mô đầu tư gia tăng Nói cách khác, chi phí sử dụng vốn biên tế là chi phí sử dụng vốn bình quân cho mỗi đồng vốn tài trợ tăng thêm
Khi quy mô nguồn tài trợ bắt đầu vượt quá một điểm giới hạn xác định (điểm zero) thì rủi ro đối với những người cung cấp các nguồn tài trợ sẽ gia tăng Nói cách khác các nhà cung cấp nguồn tài trợ sẽ yêu cầu một tỷ suất sinh lợi cao hơn, ví dụ như lãi suất cho vay cao hơn, cổ tức cao hơn hoặc mức độ tăng trưởng cao hơn như
là sự bù đắp cho rủi ro gia tăng khi quy mô nguồn tài trợ mới lớn hơn xảy ra
Chi phí sử dụng vốn biên tế của doanh nghiệp có thể thay đổi vì các lý do sau:
- Việc huy động vốn vay mới với chi phí cao hơn chi phí sử dụng vốn vay trong hiện tại
- Huy động vốn cổ phần bằng cách phát hành thêm cổ phiếu vì lợi nhuận giữ lại không đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư
Điểm gãy (BP – Breaking point):
Để tính chi phí sử dụng vốn biên tế, trước hết ta phải xác định điểm gãy của từng nguồn tài trợ
Điểm gãy phản ánh mức độ của tổng nguồn tài trợ mới nào đó mà tại đó chi phí của một nguồn vốn thành phần sẽ tăng thêm Tức là, khi quy mô tài trợ vượt qua điểm gãy, thì chi phí sử dụng vốn của nguồn tài trợ thành phần sẽ tăng, làm cho chi phí sử dụng vốn bình quân tăng theo
Điểm gãy được tính bằng công thức sau:
Trong đó:
BPj: Điểm gãy cho nguồn tài trợ j;
AFj: Số lượng tài trợ của nguồn tài trợ j;
Wj: Tỷ trọng của nguồn tài trợ thành phần j trong cấu trúc vốn mục tiêu
3 bước để tính toán chi phí sử dụng vốn biên tế (MCC):
Bước 1: Xác định điểm gãy theo công thức trên
BP j = AF j
W j
Trang 36Bước 2: Tính chi phí sử dụng vốn biên tế (WACC) trên toàn bộ phạm vi nguồn tài trợ mới giữa các điểm gãy
(Bao gồm WACC của tổng nguồn tài trợ mới giữa điểm zero và điểm gãy thứ nhất, WACC của tổng nguồn tài trợ mới giữa điểm gãy thứ 2 và điểm gãy thứ 3…) Bước 3: Lập đồ thị biểu diễn MCC
1.4.2 Đường cơ hội đầu tư – IOS
Tại bất kỳ một thời điểm nào, doanh nghiệp luôn có những cơ hội đầu tư khác nhau về quy mô, về tỷ suất sinh lợi, về rủi ro
Đường IOS biểu diễn quy mô khả năng sinh lợi của các dự án đầu tư từ tốt nhất (IRR cao nhất) cho tới xấu nhất (IRR thấp nhất)
Các dự án được sắp xếp theo thứ tự IRR giảm dần Như vậy khi tổng vốn đầu
tư lũy kế vào các dự án của doanh nghiệp tăng lên thì IRR của các dự án sẽ giảm xuống Nói cách khác, tỷ suất sinh lợi của các dự án đầu tư sẽ giảm xuống khi doanh nghiệp chấp nhận các dự án bổ sung
1.4.3 Thực hành các quyết định đầu tư, tài trợ
Doanh nghiệp chỉ chấp nhận những dự án có tỷ suất sinh lợi ngang bằng hoặc lớn hơn chi phí sử dụng vốn biên tế
Các dự án được chấp nhận là các dự án bắt đầu với khoảng cách giữa tỷ suất sinh lợi nội bộ (IRR) và chi phí sử dụng vốn biên tế (WACC) lớn nhất, sau đó giảm dần cho tới điểm có IRR bằng WACC
Trang 37CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CẤU TRÚC VỐN VÀ CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN 584 NHA TRANG
2.1 Khái quát về Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang tiền thân là doanh nghiệp Nhà nước, trực thuộc Công ty Thủy sản khu vực II, được Nhà nước tiếp quản từ hệ thống kho chứa hàng sau ngày thống nhất đất nước Để đảm bảo cho sự tiêu thụ sản phẩm thủy sản của ngư dân, phục vụ tốt hơn nhu cầu đời sống của nhân dân, Bộ Nội thương đã cho thành lập trạm trung chuyển thủy sản
Năm 1977, khi nhu cầu về sản phẩm thủy sản ngày càng cao và lượng thủy sản đánh bắt được ngày càng nhiều, Bộ Thủy sản đã cho thành lập thêm trạm thủy sản Hai trạm này có chức năng như nhau và cùng làm nhiệm vụ trung chuyển thủy sản trong thời kỳ bao cấp
Năm 1987, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước quyết định đổi tên trạm thành Xí nghiệp Thủy sản Nha Trang, trực thuộc Công ty Thủy sản khu vực II, có nhiệm vụ phân bổ sản phẩm của địa phương như nước nắm, cá khô cho các tỉnh không có nguồn lợi thủy sản như Gia Lai, Đắc Lắc
Năm 1989, khi nền kinh tế đang chuyển sang cơ chế thị trường, Nhà nước không còn bao cấp, đơn vị được chủ động hạch toán trong sản xuất kinh doanh, hoạt động của công ty bắt đầu khởi sắc Với tinh thần vượt khó, sự nỗ lực không ngừng của cán bộ công nhân viên, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty từng bước đi vào ổn định, tiếp tục trụ vững trong cơ chế thị trường và ngày càng phát triển
Năm 2006, với chủ trương đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, đơn vị đã được chuyển đổi từ Xí nghiệp Thủy sản Nha Trang sang Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang vào ngày 01/03/2006, theo quyết định 1287/QĐ-BTS của Bộ Thủy sản
Trang 38(Một số thông tin về công ty Cổ Phần Thủy Sản 584-Nha Trang)
Hiện nay, công ty có hơn 30 sản phẩm nước mắm các loại, từ 12 đến 60 độ đạm, được đóng trong các loại chai từ 50ml đến 5 lít Sản phẩm nước mắm nhỉ của công ty đạt danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao” từ năm 2000 đến năm 2009, chất lượng vàng hội chợ triển lãm du lịch – thương mại – thủy sản Khánh Hòa Năm
2002, cúp vàng tại hội chợ triển lãm Festival Tây Nguyên năm 2005, chứng nhận đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm
Số tài khoản tiền gửi ngân hàng: 431.101.000.009
Số tài khoản tiền vay ngân hàng: 211.101.000.009
Giấy phép kinh doanh số:
Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất nước mắm, chế biến cá và thủy
sản khác, sản xuất chế biến và kinh doanh ngư lưới cụ, thu mua thủy sản, kinh doanh xăng dầu, kinh doanh khách sạn, dịch vụ
Trang 39Sản xuất nước mắm là một nghề sản xuất truyền thống, được phát triển từ rất lâu đời trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, hầu hết các cơ sở sản xuất nước mắm đều do
tư nhân tự tổ chức, sản xuất nước mắm đã đi cùng lịch sử dân tộc bởi hương vị đặc trưng và giá trị dinh dưỡng của nó
Nhận thức được giá trị to lớn của nước mắm và nhu cầu ngày càng cao của thị trường, Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang đã chọn nước mắm là đối tượng sản xuất chính Trải qua sự thay đổi cơ chế quản lý, công ty vẫn tồn tại và tiếp tục phát triển, tạo được vị thế trên thị trường
Chức năng của công ty chính là thu mua, chế biến, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nước mắm các loại, phục vụ nhu cầu xã hội
Chăm lo đời sống vật chất cũng như tinh thần của cán bộ công nhân viên trong công ty;
Song song với việc sản xuất kinh doanh, công ty luôn chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ, năng lực để phù hợp với cơ chế thị trường; Gia công chế biến sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng;
Thực hiện tốt vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, an ninh trật tự xã hội tại địa bàn nơi công ty hoạt động;
Thực hiện sản xuất kinh doanh theo đúng lĩnh vực đã đăng ký với cơ quan Nhà nước và tuân thủ các nghĩa vụ theo Luật pháp hiện hành;
Sản xuất kinh doanh phải có hiệu quả, đảm bảo bù đắp chi phí và phải có lợi nhuận để tái sản xuất, mở rộng quy mô, giải quyết thỏa đáng, hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể trong quá trình quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh
2.1.3 Bộ máy quản lý:
Trang 402.1.3.1 Sơ đồ cơ cấu quản lý tại công ty
Hình 2.1: SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY
2.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong công ty
Đại hội đồng cổ đông:
Là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, đại hội đồng cổ đông bầu ra hội đồng quản trị để quản lý công ty giữa 2 kỳ đại hội, bầu ban kiểm soát để kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh, quản trị, điều hành công ty
Đại hội đồng cổ đông quyết định loại, tổng số cổ phần và các loại chứng khoán khác của công ty được quyền bán Quyết định thành lập, hợp nhất, sát nhập, phân chia, chuyển dời hoặc đóng cửa các đơn vị trực thuộc, mở thêm chi nhánh hoặc các
Đại hội cổ đông
Hội đồng quản trị Ban kiểm soát
Giám đốc
Phó giám đốc sản xuất
Phó giám đốc kinh doanh
Phó giám đốc bán hàng
Phòng đầu
tư - marketing
Phân xưởng
1
Phân xưởng
2
Chi nhánh
TP HCM
Phòng tài chính kinh doanh