- Thuế GTGT là công cụ điều tiết vĩ mô và vi mô nền kinh tế: Luật quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hay thấp vào các mặt hàng cụ thể, thông qua đó mà t
Trang 1Khánh Hòa đã dành nhiều sự quan tâm và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốt thời gian thực tập Em thật sự rất cảm động trước tình cảm của tất cả các cô, chú, các anh, chị trong cơ quan đã dành cho em, đặc biệt là các cô chú và anh chị tại Phòng Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế - những người đã tận tình giúp đỡ em trong việc thu thập tài liệu cũng như cho em những lời khuyên bổ ích để em có thể hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy các cô trong khoa Kế toán - Tài chính nói chung cũng như các thầy cô trong ngành Tài chính nói riêng đã truyền đạt cho
em những kiến thức quý báu trong suốt những năm học vừa qua
Em xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới cô ThS Nguyễn Thị Liên Hương là người
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện Khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù em đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện luận văn này nhưng với kiến thức và thời gian có hạn nên bài viết của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót,
em rất mong nhận được sự thông cảm và ý kiến đóng góp của quý thầy cô cùng các
cô chú anh chị tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa để bài viết của em được hoàn thiện hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý thầy cô cùng các cô chú, các anh chị tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa có nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành công
Nha Trang, ngày 24 tháng 6 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Văn Như Ngọc
Trang 2DN : Doanh nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Quy trình quản lý thuế GTGT đối với DN NQD 22
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa: 26
Sơ đồ 2.2: Quy trình cấp phép sử dụng và quản lý hóa đơn tự in 40
Sơ đồ 2.3: Quy trình xử lý hồ sơ khai thuế 46
Sơ đồ 2.4: Quy trình xử lý vi phạm về việc nộp hồ sơ khai thuế 47
Sơ đồ 2.5: Quy trình hoàn thuế 56
Sơ đồ 2.6: Quy trình quản lý nợ thuế 74
Trang 3Bảng 2.2: Tổng hợp số thu các loại thuế trong tổng thu NSNN 30
Bảng 2.3: Tổng hợp số thu thuế GTGT của từng nhóm ngành 32
Bảng 2.4: Tổng hợp nợ thuế các loại tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa 33
Bảng 2.5: Tình hình nợ thuế GTGT theo phân loại từng nhóm ngành 34
Bảng 2.6: Tổng hợp về số lượng và phương pháp kê khai thuế của DN NQD 37
Bảng 2.7: Tổng hợp kết quả thu thuế GTGT đối với DN NQD 45
Bảng 2.8: Thống kê tình hình nộp thuế GTGT của DN NQD 49
Bảng 2.9: Thống kê công tác hoàn thuế GTGT đối với DN NQD 57
Bảng 2.10: Kết quả công tác kiểm tra thuế GTGT đối với DN NQD 62
Bảng 2.11: Kết quả công tác kiểm tra trước hoàn thuế đối với DN NQD 65
Bảng 2.12: Kết quả công tác kiểm tra sau hoàn thuế đối với DN NQD 66
Bảng 2.13: Thống kê kết quả thanh tra thuế GTGT đối với DN NQD 69
Bảng 2.14: Tình hình nợ đọng thuế GTGT của các DN NQD 75
Bảng 2.15: Tình hình nợ đọng thuế GTGT của các DN NQD theo phân loại 75
Bảng 2.16: Tổng hợp kết quả thu hồi nợ có khả năng thu của DN NQD 77
Bảng 2.17: Tổng hợp kết quả thực hiện cưỡng chế nợ đối với DN NQD 78
Trang 4Trang
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG, THẤT THU THUẾ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 4
1.1 Cơ sở lý luận về thuế Giá trị gia tăng 4
1.1.1 Giới thiệu chung về thuế Giá trị gia tăng 4
1.1.2 Nội dung cơ bản của luật thuế GTGT 6
1.2 Thất thu thuế và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT đối với DN NQD 17
1.2.1 Thất thu thuế và các hệ quả của thất thu thuế 17
1.3 Công tác quản lý thuế GTGT 21
1.3.1 Sự cần thiết của công tác quản lý thuế GTGT 21
1.3.2 Nội dung công tác quản lý thuế GTGT đối với DN NQD 21
CHUƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CỤC THUẾ TỈNH KHÁNH HOÀ 24
2.1 Khái quát về Cục Thuế tỉnh Khánh Hoà 24
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 24
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ, cơ cấu: 24
2.1.3 Chức năng nhiệm vụ các phòng ban 27
2.1.4 Đánh giá khái quát tình hình quản lý thuế tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hoà 30
2.2 Thực trạng việc quản lý thuế GTGT đối với DN NQD tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hoà 36
2.2.1 Công tác quản lý đối tượng nộp thuế 36
2.2.2 Công tác quản lý hoá đơn 39
Trang 52.2.6 Công tác thanh tra thuế 67
2.2.7 Công tác quản lý nợ thuế 72
2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý thu thuế GTGT đối với DN NQD tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa 79
2.3.1 Thành tích đạt được 79
2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân 82
CHƯƠNG III: GIẢP PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CỤC THUẾ TỈNH KHÁNH HÒA 88
3.1 Những định hướng chung của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT trong thời gian tới 88
3.2 Những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế GTGT đối với DN NQD tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa 90
3.2.1 Tăng cường công tác quản lý hóa đơn 90
3.2.2 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý ĐTNT và kê khai thuế: 91
3.2.3 Đẩy mạnh hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra 91
3.2.4 Nâng cao công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ 93
3.2.5 Nâng cao chất lượng, trình độ của đội ngũ cán bộ công chức 94
3.2.6 Nâng cao công nghệ thông tin và hoàn thiện hệ thống thông tin kiểm soát thu thuế 95
3.2.7 Tăng cường công tác tuyên truyền và hỗ trợ tư vấn cho ĐTNT 96
3.3 Kiến nghị 97
3.3.1 Kiến nghị đối với Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa 97
3.3.2 Kiến nghị đối với Tổng Cục Thuế 97
KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Chính sách Thuế là một trong những nội dung quan trọng của chính sách Tài chính quốc gia được xuất phát từ vai trò quan trọng của thuế trong việc điều tiết kinh tế vĩ mô nền kinh tế quốc dân, điều tiết mọi hoạt động giữa các thành phần kinh tế, giữa các ngành, giữa các vùng nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội, mặt khác thuế cũng là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước Tại Việt Nam, thuế Giá trị gia tăng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu Ngân sách nhà nước, đây là loại thuế tiến bộ, điều tiết rộng rãi mọi đối tượng trong nhân dân, mọi đối tượng tiêu dùng hàng hóa chịu thuế Do vậy, thuế Giá trị gia tăng có vai trò rất lớn trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Được chính thức đưa vào áp dụng tại Việt Nam từ năm 1999, đến nay luật thuế Giá trị gia tăng đã phát huy những mặt tích cực như là khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu và đầu tư, thúc đẩy hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp, tạo nguồn thu lớn và ổn định cho Ngân sách nhà nước Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, những thành quả đạt được thì việc áp dụng, thực thi luật thuế Giá trị gia tăng vẫn còn nhiều bất cập, số vụ vi phạm luật thuế ngày càng tăng với số tiền chiếm dụng ngày càng lớn, nhiều đối tượng đã lợi dụng kẽ hở trong luật và trong công tác quản lý để bòn rút tiền, gây thất thu cho Ngân sách Những hạn chế đó cần có biện pháp khắc phục để thuế Giá trị gia tăng phát huy hết vai trò của nó trong việc tạo lập nguồn thu cho Ngân sách nhà nước và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển cũng như trên các mặt của đời sống kinh tế -
xã hội
Trong thời gian thực tập tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa, em nhận thấy việc quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn nhiều vấn đề nổi cộm cần giải quyết, trong khi đó đây lại là khu vực đóng góp một phần không nhỏ số thu thuế Giá trị gia tăng của tỉnh Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với những kiến thức đã được trang bị ở trường đại học cùng một số kiến thức và thông tin thu thập được trong thời gian thực tập tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa, em
Trang 7xin chọn đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế Giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà
làm Khóa luận tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là vận dụng những kiến thức đã học tại trường kết hợp với kiến thức thực tế nắm bắt được trong thời gian thực tập tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa để đánh giá tình hình quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và đưa ra những giải pháp, kiến nghị cụ thể phù hợp với tình hình thực tế nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế Giá trị gia tăng tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý thu thuế Giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- Phạm vi nghiên cứu: Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa trong các năm 2009, 2010,
2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập thông tin: Từ hệ thống văn bản pháp luật về thuế Giá trị gia tăng, báo cáo tổng kết công tác thuế qua các năm, tham khảo thông tin trên trang web Tổng cục thuế: www.gdt.gov.vn và báo chí liên quan…
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá: thông qua các số liệu đã thu thập, tiến hành phân tích nghiên cứu, loại bỏ những số liệu không cần thiết và chưa chính xác, chỉnh lý và thu thập những số liệu cần thiết Sau khi đã có số liệu để xử
lý thì tiến hành so sánh, phân tích đánh vấn đề nghiên cứu được trình bày qua các bảng biểu, từ đó rút ra những kết luận cần thiết phục vụ cho công tác quản lý thuế
5 Nội dung và kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế Giá trị gia tăng, thất thu thuế và công tác
quản lý thuế Giá trị gia tăng
Trang 8Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với Doanh
nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế Giá trị gia tăng đối
với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện công tác quản lý, nâng cao hiệu quả quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trang 9CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG, THẤT THU THUẾ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 Cơ sở lý luận về thuế Giá trị gia tăng
1.1.1 Giới thiệu chung về thuế Giá trị gia tăng
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm
đó Do thuế GTGT được tính trong giá bán nên người chịu thuế ít có cảm giác mình
bị Nhà nước đánh thuế, vì vậy thuế GTGT ít gây ra những phản ứng từ phía người chịu thuế
- Đối tượng điều tiết của thuế GTGT là phần thu nhập của người tiêu dùng để mua hàng hóa và dịch vụ Thuế GTGT mang tính trung lập cao, tại mỗi khâu của quá trình sản xuất, số thuế phải nộp được chuyển sang khâu tiếp theo cho đến người tiêu dùng cuối cùng, vì vậy thuế GTGT không ảnh hưởng nhiều đến quyết định kinh doanh của doanh nghiệp( DN)
- Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, nó không phải là yếu tố chi phí mà chỉ đơn thuần là khoản cộng thêm vào giá bán cho người cung cấp hàng hóa dịch vụ
- Thuế GTGT có phạm vi điều chỉnh rộng, áp dụng cho hầu hết các hàng hóa dịch vụ sử dụng trong sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong tất cả các ngành nghề
ở tất cả các giai đoạn
- Thuế GTGT được ban hành nhằm thay thế cho thuế doanh thu trước đây và
đã khắc phục được các nhược điểm của thuế doanh thu Thuế GTGT có ít mức thuế
Trang 10suất giúp cho việc áp dụng trở nên đơn giản hơn so với thuế doanh thu Việc thu thuế từ số ít người sản xuất, kinh doanh cũng dễ dàng và thuận tiện hơn là thu trực tiếp từ số đông người tiêu dùng
- Thuế GTGT có tính lãnh thổ, thể hiện đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hóa dịch vụ trong lãnh thổ một quốc gia
- Thuế GTGT có khả năng đem lại số thu ổn định cho Ngân sách nhà nước (NSNN) Thuế GTGT phụ thuộc vào mức tiêu dùng xã hội và xu thế xã hội càng phát triển thì nguồn thu từ thuế GTGT càng nhiều hơn
1.1.1.2 Vai trò của thuế GTGT
- Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của NSNN: Thuế GTGT được tính vào từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh nên làm tăng nguồn thu và đảm bảo huy động kịp thời cho NSNN Việc khấu trừ thuế GTGT được thực hiện căn cứ trên hóa đơn mua hàng đã thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán xuất hóa đơn, ghi đúng doanh thu với giá trị thực của hoạt động mua bán, góp phần hạn chế sự thông
đồng giữa người mua và người bán để trốn lậu thuế, do đó giảm thất thu cho NSNN
- Thuế GTGT là công cụ điều tiết vĩ mô và vi mô nền kinh tế: Luật quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hay thấp vào các mặt hàng cụ thể, thông qua đó mà tác động và làm thay đổi mối quan hệ giữa cung cầu trên thị trường, tác động tới việc lựa chọn những hàng hóa, dịch vụ để sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, nhằm góp phần thực hiện điều tiết vĩ mô và vi mô nền kinh tế
- Thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, góp phần bảo hộ sản xuất trong nước Hàng hóa xuất khẩu được áp dụng thuế suất là 0%, số thuế GTGT đầu vào mà DN đã nộp thì sẽ được nhà nước cho khấu trừ hoặc hoàn lại, đó
là động lực khuyến khích sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, tăng cường sự hợp tác thương mại giữa Việt Nam với các nước trên thế giới Thuế GTGT tạo điều kiện cho hàng hóa xuất khẩu có thể cạnh tranh dễ dàng hơn trên thị trường quốc tế, mở
rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, giải quyết nhu cầu lao động trong xã hội
- Thuế GTGT góp phần điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong
Trang 11phân phối Thuế GTGT áp dụng mức thuế suất cao đối với các loại hàng hóa, dịch
vụ cao cấp mà chỉ người thu nhập cao mới sử dụng hoặc sử dụng nhiều hơn, còn đối với các hàng hóa thông thường hoặc có tính chất thiết yếu thì thuế GTGT quy định mức thuế suất thấp hơn, qua đó điều tiết một phần thu nhập của họ
- Thuế GTGT khuyến khích tăng hiệu quả sản xuất Việc nhà nước đánh thuế
sẽ làm giảm doanh thu thuần của doanh nghiệp nếu DN không cố găng nâng cao hiệu quả sản xuất để giảm bớt chi phí, điều đó đã thúc đẩy các DN phải luôn cải tiến
kỹ thuật, nâng cao năng suất, thúc đẩy nền sản xuất phát triển
- Thuế GTGT thúc đẩy các DN thực hiện chế độ hạch toán, kế toán, phát triển quan hệ thanh toán Việc DN được phép khấu trừ thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào cùng với việc thực hiện hoàn thuế GTGT của nhà nước đã khuyến khích các DN tự giác ghi chép, quản lý, sử dụng hóa đơn chứng từ, hoàn thiện công tác hạch toán kế toán tại đơn vị, bên cạnh đó còn thúc đẩy việc mua bán hàng hóa sử dụng đầy đủ hóa đơn chứng từ hợp lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh Đồng thời thuế GTGT là công cụ kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh, để thu được thuế và đảm bảo thực hiện đúng luật thuế, cơ quan thuế (CQT) và các cơ quan hữu quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô và tình hình hoạt động của các cơ sở sản xuất, kinh doanh Từ đó mà CQT sẽ phát hiện ra những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật của các cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh, cũng như phát hiện ra những khó khăn mà các cơ sở gặp phải để giúp đỡ họ tìm cách tháo gỡ Như vậy thông qua công tác quản lý thuế có thể kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước
1.1.2 Nội dung cơ bản của luật thuế GTGT
Nội dung cơ bản của luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 được quy định một cách chi tiết trong Nghị định 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008, Nghị định 121/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 và Thông tư 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ tài chính
Trang 121.1.2.1 Đối tượng chịu thuế
Theo điều 3 của luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 : ”Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này.”
Hiện nay ở nước ta, theo quy định có 26 nhóm hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục không chịu thuế GTGT, đó là các hàng hoá và dịch vụ thuộc các nghành nghề đang còn khó khăn cần khuyến khích phát triển, các hàng hoá và dịch vụ thuộc các hoạt động không mang tính chất kinh doanh vì lợi nhuận hoặc thuộc các hoạt động được ưu đãi vì các mục tiêu xã hội và nhân đạo, một số hàng hoá và dịch vụ thiết yếu không đặt vấn đề điều tiết tiêu dùng Các nhóm hàng hóa dịch vụ này được nêu
cụ thể tại Điều 4 Thông tư 06/2012 TT- BTC
1.1.2.2 Đối tượng nộp thuế
Theo điều 4 của luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 và thông tư 06/2012 BTC: ”Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia
TT-tăng (cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia
tăng (người nhập khẩu).” là đối tượng nộp thuế (ĐTNT), bao gồm:
- Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp) và Luật Hợp tác xã
- Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác
- Các DN có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật đầu tư), các tổ chức,
cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam
- Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác
có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu
- Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả
Trang 13trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam
1.1.2.3 Căn cứ tính thuế GTGT
Tại điều 6 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 quy định : ”Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất ”
□ Giá tính thuế Giá trị gia tăng
Luật quy định giá tính thuế GTGT cho 18 loại hàng hoá dịch vụ khác nhau:
- Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT Đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức giảm giá bán, chiết khấu thương mại dành cho khách hàng thì giá tính thuế GTGT là giá đã giảm, đã chiết khấu thương mại dành cho khách hàng
- Đối với hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế GTGT, đối với hàng hoá vừa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, vừa chịu thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế GTGT
- Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), cộng với thuế bảo vệ môi trường (nếu có) Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu
- Trường hợp hàng hoá nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế GTGT là giá nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu xác định theo mức phải nộp sau khi đã được miễn giảm
Các quy định cụ thể khác được nêu rõ trong Điều 7 Thông tư 06/ 2012/ TT- BTC của Bộ tài chính ban hành ngày 11/01/2012
□ Thuế suất thuế giá trị gia tăng
Thuế suất đối với hàng hoá được áp dụng như sau :
Trang 14- Thuế suất 0% : Được áp dụng đối với hàng hóa dịch vụ xuất khẩu, hoạt động
xây dựng, lắp đặt công trình của DN chế xuất, hàng bán cho cửa hàng bán hàng miễn thuế, vận tải quốc tế, hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu
Điều kiện để hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0%:
+ Có hợp đồng bán, gia công hàng hóa xuất khẩu, hợp đồng ủy thác xuất khẩu hoặc ủy thác gia công hàng hóa xuất khẩu, hợp đồng cung ứng dịch vụ vụ với
tổ chức, cá nhân ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan
+ Có chứng từ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng và các chứng từ khác theo quy định của pháp luật
+ Có tờ khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu
Quy định về hàng hóa dịch vụ được hưởng thuế suất 0% được hướng dẫn cụ thể trong thông tư số 06/2012/TT-BTC của Bộ tài chính
- Thuế suất 5% : Được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng trực tiếp
hay gián tiếp phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong đời sống kinh tế - xã hội Các mặt
hàng này được nêu rõ trong Thông tư số 06/2012/TT-BTC của Bộ tài chính
- Thuế suất 10% : Được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ còn lại theo Thông
tư 06/2012/TT- BTC của Bộ tài chính
Các mức thuế suất GTGT nêu trên được áp dụng thống nhất cho từng loại hàng hoá, dịch vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công hay kinh doanh thương mại
1.1.2.4 Phương pháp tính thuế GTGT
Tại điều 9 luật thuế GTGT số 13/2008/TT-BTC quy định: thuế GTGT cơ sở kinh doanh phải nộp được tính theo một trong hai phương pháp: phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Đối tượng áp dụng và việc xác định thuế phải nộp theo từng phương pháp như sau :
□ Phương pháp khấu trừ thuế : Đối tượng áp dụng là các cơ sở kinh doanh
thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo qui định của pháp luật về
kế toán, hóa đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ
Trang 15Trong đó:
+ Thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra
ghi trên hóa đơn GTGT : Thuế GTGT đầu ra = Giá tính thuế x Thuế suất
+ Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ mua vào trong nước hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài
□ Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng : Đối tượng áp dụng
gồm:
+ Cá nhân, hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế
độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật
+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không theo Luật đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật trừ các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hoá, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu khí
+ Hoạt động kinh doanh, mua bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ
Cách xác định số thuế phải nộp:
Số thuế GTGT
phải nộp =
GTGT của hàng hoá, dịch
vụ chịu thuế
x
Thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó
Trang 16Trong đó :
GTGT của hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế
=
Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra
-
Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng
- Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra là giá thực tế bán ghi trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả thuế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa
- Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra tương ứng
1.1.2.5 Khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Thuế GTGT mang bản chất liên hoàn vì vậy thuế GTGT đã được nộp ở giai đoạn trước sẽ được khấu trừ ở giai đoạn sau thông qua cơ chế giá cả khi thực hiện hành vi mua bán trao đổi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ Việc khấu trừ thuế đã nộp ở giai đoạn trước gọi là khấu trừ thuế GTGT đầu vào.Theo quy định của pháp luật hiện hành thì khấu trừ thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định được nêu rõ trong thông tư 06/2012/TT- BTC, tóm tắt như sau:
- Chỉ khấu trừ thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ, trường hợp không hạch toán riêng thì số thuế đầu vào được khấu trừ theo phương pháp phân bổ dựa trên tỷ lệ doanh số chịu thuế so với tổng doanh số bán ra tại DN
- Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ, trừ một số trường hợp theo quy định
- Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hành hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT thì không được khấu trừ, trừ một
số trường hợp theo quy định
Trang 17- Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong tháng nào thì được kê khai khấu trừ trong tháng đó không phân biệt đã được xuất dùng hay chưa.
- Cơ sở mua vật tư hàng hoá không có hoá đơn chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không ghi riêng số thuế GTGT ngoài giá bán thì không được khấu trừ, trừ một số trường hợp có quy định riêng
Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào được quy định như sau:
- Có hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu
- Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng
- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán theo phương thức trả chậm, trả góp có giá trị mua trên 20 triệu đồng, cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế, đến thời hạn thanh toán nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ tương ứng với giá trị hàng hóa không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng Sau khi cơ sở kinh doanh đã điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ tương ứng với giá trị hàng hóa không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì cơ sở kinh doanh mới có được chứng từ chứng minh việc thanh toán qua ngân hàng thì cơ sở kinh doanh mới có quyền khai bổ sung nhưng phải trước khi CQT công bố quyết định thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
- Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế GTGT đầu vào khi kê khai khấu trừ còn sót hóa đơn hoặc chứng từ nộp thuế chưa kê khai khấu trừ thì được kê khai khấu trừ bổ sung với thời gian tối đa là 6 tháng kể từ tháng phát sinh hóa đơn, chứng từ bỏ sót
- Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng theo quy định tại Điều 15, 16, 17 Thông tư 06/2012/TT- BTC
Trang 181.1.2.6 Hoàn thuế
Hoàn thuế GTGT là việc NSNN trả lại cho cơ sở kinh doanh số tiền thuế GTGT đầu vào đã trả khi mua hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh còn chưa được khấu trừ trong kỳ tính thuế; tức là trong kỳ tính thuế, cơ sở kinh doanh có số thuế GTGT được khấu trừ lớn hơn số thuế GTGT đầu ra của hàng hoá, dịch vụ bán
ra Việc hoàn thuế GTGT diễn ra trên phạm vi rộng, bao hàm nhiều mối quan hệ phức tạp và có sự liên hoàn giữa các ĐTNT
Các đối tượng và trường hợp được xét hoàn thuế tóm tắt như sau:
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được hoàn thuế GTGT nếu trong 3 tháng liên tục trở lên có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế
- Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hóa xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế GTGT theo tháng
- Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư tài sản có đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ nhưng chưa phát sinh doanh thu bán hàng để tính thuế GTGT đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ 1 năm trở lên thì được xét hoàn thuế theo từng năm Nếu số thuế GTGT đầu vào của tài sản đầu tư được hoàn có giá trị lớn từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế
- Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản có thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết hoặc có số thuế GTGT nộp thừa
- Các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA, viện trợ nhân đạo
- Đối tượng được miễn ưu đãi miễn trừ ngoại giao
- Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo qui định của pháp luật
1.1.2.7 Miễn giảm thuế
Luật thuế GTGT hiện nay không quy định các điều khoản miễn giảm thuế, tuy
Trang 19nhiên tuỳ theo tình hình kinh tế tại từng thời điểm mà nhà nuớc vẫn có những chủ trương chính sách để điều chỉnh luật cho phù hợp với yêu cầu thực tế
Điển hình như trong năm 2009, nhằm thực hiện chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dung, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tháo gỡ khó khăn đối với doanh nghiệp, Thủ tuớng Chính Phủ đã ra quyết định 16/2009/QĐ-TTg ngày 21/01/2009, kèm theo là Thông tư số 18/TT-BTC ngày 30/1/2009 và Thông tư số 91/2009/TT-BTC ngày 12/5/2009, ban hành các giả pháp giảm 50% thuế suất đối với các loại loại hàng hoá dịch vụ sau:
- Than đá
- Hoá chất cơ bản; sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất; ô tô các loại tàu, thuyền; khuôn đúc các loại; vật liệu nổ, đá mài; ván ép nhân tạo; lốp và bộ săm lốp
cỡ từ 900-20 trở lên; ống thuỷ tinh trung tính; các linh kiện ô tô và một số sản phẩm
bê tông công nghiệp theo quy định
- Sản phẩm luyện, cán, kéo kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý, trừ vàng nhập khẩu
- Máy xử lý dữ liệu tự động và các bộ phận, phụ tùng của máy
- Bốc xếp; nạo vét luồng, lạch, cảng sông, cảng biển; hoạt động trục vớt, cứu hộ; vận tải bao gồm: vận tải hàng hóa, hành lý, hành khách, vận tải du lịch bằng đường hàng không, đường bộ, đường sắt và đường thủy, trừ vận tải quốc tế
- Kinh doanh khách sạn; dịch vụ du lịch theo hình thức lữ hành trọn gói
pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN và cá nhân, theo đó giảm 50% mức thuế khoán thuế giá trị gia tăng từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2011 đối với :
Trang 20- Cá nhân, hộ kinh doanh nhà trọ, phòng trọ cho thuê đối với công nhân, người lao động, sinh viên, học sinh;
- Hộ, cá nhân chăm sóc trông giữ trẻ; hộ, cá nhân, tổ chức cung ứng suất ăn ca cho công nhân
Điều kiện để đuợc giảm thuế:
- Hộ, cá nhân, tổ chức này giữ ổn định mức giá cho thuê phòng trọ, nhà trọ, giá trông giữ trẻ và giá cung ứng suất ăn ca như cuối năm 2010
- Niêm yết công khai giá cho thuê nhà trọ, phòng trọ và giá cung ứng suất ăn
ca tại trụ sở kinh doanh và có văn bản gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp, đồng thời gửi Uỷ ban nhân dân phường, xã nơi kinh doanh
1.1.2.8 Thời điểm xác định thuế GTGT
- Đối với bán hàng hoá là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hoá cho người mua, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền
- Đối với cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hoá đơn cung ứng dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền
- Đối với hoạt động cung cấp điện, nước sạch là ngày ghi chỉ số điện, nước tiêu thụ trên đồng hồ để ghi trên hoá đơn tính tiền
- Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, chuyển nhượng hoặc cho thuê là thời điểm thu tiền theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng Căn cứ số tiền thu được,
DN thực hiện khai thuế GTGT đầu ra phát sinh trong kỳ
- Đối với xây dựng, lắp đặt là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền
- Đối với hàng hoá nhập khẩu là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan
Trang 211.1.2.9 Hóa đơn chứng từ mua bán hàng hóa, dịch vụ
Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế:
- Khi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ phải sử dụng hoá đơn GTGT
- Khi lập hoá đơn, cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định trên hoá đơn
- Đối với hoá đơn GTGT phải ghi rõ giá bán chưa có thuế GTGT, phụ thu và phí tính ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã có thuế, nếu không ghi tách riêng giá bán chưa có thuế và thuế GTGT, chỉ ghi chung giá thanh toán thì thuế GTGT đầu ra phải tính trên giá thanh toán, trừ trường hợp sử dụng chứng từ đặc thù
Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT: khi
bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ phải sử dụng hoá đơn bán hàng
Các quy định về việc sử dụng và ghi hóa đơn, chứng từ trong một số trường hợp được thực hiện cụ thể tại mục IV Thông tư 129/2008/TT-BTC
1.1.2.10 Nơi nộp thuế
Người nộp thuế (NNT) kê khai, nộp thuế theo phương pháp khấu trừ có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc (bao gồm cả cơ sở gia công, lắp ráp) đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính thì phải nộp thuế GTGT tại địa phương nơi có cơ sở sản xuất và địa phương nơi đóng trụ sở chính
Cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc có hạch toán kế toán thì phải đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ tại địa phương nơi sản xuất, khi xuất bán thành phẩm hoặc thành phẩm, kể cả xuất cho trụ sở chính phải sử dụng hoá đơn GTGT làm căn cứ kê khai, nộp thuế tại địa phương nơi sản xuất
Trường hợp cơ sở sản xuất phụ thuộc không thực hiện hạch toán kế toán thì NNT tại trụ sở chính phải nộp thuế GTGT theo tỷ lệ 2% (đối với hàng hoá chịu thuế suất thuế GTGT 10%) hoặc theo tỷ lệ 1% (đối với hàng hoá chịu thuế suất thuế GTGT 5%) trên doanh thu theo giá chưa có thuế GTGT của sản phẩm sản xuất ra hoặc sản phẩm cùng loại tại địa phương nơi có cơ sở sản xuất Số thuế GTGT NNT
Trang 22đã nộp cho cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc được trừ vào số thuế GTGT phải nộp của NNT tại địa phương nơi đóng trụ sở chính
Thủ tục luân chuyển chứng từ giữa Kho bạc và cơ quan thuế:
NNT nộp thuế GTGT phát sinh ở nơi đóng trụ sở chính cho Kho bạc nhà nước (KBNN) đồng cấp với Cơ quan thuế (CQT) nơi NNT đăng ký kê khai thuế, đồng thời nộp thuế GTGT theo tỷ lệ (%) cho các cơ sở sản xuất phụ thuộc đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính Các chứng từ nộp thuế được lập riêng cho từng KBNN, trên chứng từ nộp thuế phải ghi rõ tài khoản thu NSNN các địa phương nơi phát sinh khoản thu ngân sách
Trường hợp NNT nộp tiền mặt tại KBNN nơi đóng trụ sở chính thì KBNN chuyển tiền và chứng từ thu NSNN cho KBNN liên quan để hạch toán thu NSNN phần thuế của cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc
1.2 Thất thu thuế và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT đối với DN NQD
1.2.1 Thất thu thuế và các hệ quả của thất thu thuế
1.2.1.1 Khái niệm và nguyên nhân thất thu thuế
□ Khái niệm thất thu thuế:
Thất thu thuế được hiểu là hiện tượng trong đó những khoản tiền từ những tổ chức, cá nhân có tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, hay có những điều kiện cơ sở vật chất nhất định so với khả năng của họ cần phải được động viên vào NSNN, song vì những lý do xuất phát từ phía nhà nước, CQT hay ĐTNT mà những
khoản tiền đó không được nộp vào NSNN
□ Nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế:
₪ Nguyên nhân khách quan:
- Hiện nay hệ thống luật của nuớc ta vẫn chưa hoàn thiện và còn nhiều bất cập, luật thuế còn nhiều chỗ lấn cấn, tồn tại các khe hở, các chính sách, pháp lệnh thuế chưa bao quát hết được các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập, chưa phù hợp với tình hình thực tại cũng như yêu cầu độ phát triển kinh tế,
Trang 23đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế Các ĐTNT đã lợi dụng điều này
để giảm số thuế phải nộp hoặc không nộp thuế
- Thu thuế là để nhà nước có nguồn kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chi tiêu cho bộ máy hành chính nhằm thực hiện các mục tiêu của Đảng, Nhà nước
đề ra Tuy nhiên nhận thức của các cấp, các ngành và của nhân dân còn hạn chế, họ thường quan niệm việc thu thuế là công việc riêng của ngành thuế Vì vậy CQT còn chưa nhận được sự đồng tình ủng hộ nhiệt tình, sự phối hợp đầy đủ và đúng mức của các cơ quan hữu quan trong việc quản lý thu thuế để mang lại hiệu quả công việc cao nhất
₪ Nguyên nhân chủ quan:
- Các ĐTNT chưa thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy trình và biện pháp nghiệp vụ do ngành thuế đề ra, lợi dụng khe hở của luật để tìm mọi cách trốn thuế, lách thuế, kéo dài thời hạn nộp thuế, làm giảm số thuế phải nộp hoặc bòn rút NSNN
- Số lượng các cơ sở kinh doanh hiện nay rất đông song đội ngũ cán bộ kiểm tra, thanh tra thuế lại hạn chế về mặt số lượng, chưa kể một số cán bộ thuế trình độ nghiệp vụ chưa cao, do đó công tác quản lý thu thuế hiện nay còn gặp nhiều khó khăn
- Công tác tuyên truyền phổ biến các chế độ chính sách về thuế chưa thực sự sâu rộng, tiếp cận đến mọi ĐTNT, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự hiểu biết
và tính tự giác trong việc chấp hành các luật thuế của người dân
- Thu nhập của cán bộ thuế hiện nay còn thấp, vì đồng tiền mà một số cán bộ thiếu kiên định đã bị đối tượng kinh doanh dùng lợi ích vật chất mua chuộc, khi các cán bộ thuế bỏ qua các hành vi vi phạm của đối tượng kinh doanh đã dẫn đến hiện tượng thất thu thuế
1.2.1.2 Ảnh hưởng của thất thu thuế
NSNN chủ yếu là từ nguồn thu thuế, nguồn thu này Nhà nước dùng để chi tiêu cho kinh tế xã hội, giáo dục, quốc phòng an ninh… Một khi thất thu thuế sẽ làm nguồn thu vào NSNN giảm Điều này ảnh hưởng đến việc chi tiêu của nhà nước và
Trang 24ảnh hưởng đến các vấn đề của xã hội
□ Về mặt tài chính:
Thuế chiếm một tỷ lệ rất lớn trong NSNN, vì vậy thất thu thuế dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp làm giảm nguồn thu ngân sách, điều này sẽ ảnh hưởng tới kế hoạch chi tiêu của Chính phủ và ảnh hưởng đến vai trò quản lý, điều hành của nhà nước thông qua chi NSNN, từ đó nhà nuớc bắt buộc phải thực hiện một số biện pháp nhằm cân đối thu chi như: cắt giảm chi, in thêm tiền, vay muợn …các biện pháp này sẽ kéo theo một loạt hậu quả nghiêm trọng khác đối với đời sống kinh tế, xã hội như: gây ra lạm phát, giá cả biến động ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và tiêu dùng trong nước, nghiêm trọng hơn là việc vay muợn nước ngoài có thể dẫn đến sự
lệ thuộc cả về kinh tế lẫn chính trị, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, quốc phòng và sự tự chủ của đất nước
□ Về mặt kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế là cơ sở tồn tại và phát triển của thuế, và ngược lại, thuế được nhà nước sử dụng làm công cụ để kích thích nền kinh tế phát triển Thất thu thuế làm giảm số thu NSNN đã gây không ít khó khăn cho nhà nước trong việc thực hiện các nhu cầu đầu tư và phát triển kinh tế đồng thời làm giảm vai trò của thuế là công cụ kích thích phát triển, bảo hộ nền sản xuất nội địa Thất thu thuế còn gây hậu quả xấu trong việc tạo nên một môt trường cạnh tranh không lành mạnh giữa các
DN, giữa các thành phần kinh tế
□ Về mặt xã hội:
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của thuế là góp phần thực hiện công bằng xã hội trong động viên đóng góp Tình trạng thất thu thuế sẽ tạo điều kiện cho những hoạt động sản xuất kinh doanh trái pháp luật, ảnh hưởng không tốt đến việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những người kinh doanh chính đáng Thất thu thuế ảnh hưởng đến trật tự xã hội, vi phạm pháp luật ngày càng tăng, những người trốn thuế lậu thì xem thường luật pháp, làm giàu bất chính, còn những người chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế thì ngày càng mất lòng tin vào chính sách, chế độ, pháp luật về thuế và có thể gây ra phản
Trang 25ứng tiêu cực Không những vậy, thất thu thuế gây ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh
tế làm cho một số đối tượng trốn thuế thì giàu lên bất chính trong khi những người nghèo lại nghèo thêm do những hệ quả của các biện pháp cân đối thu chi của chính phủ, dẫn đến tình trạng chênh lệch giàu nghèo trong xã hội tăng cao, ảnh hưởng đến
mục tiêu công bằng xã hội của chính sách thuế
1.2.2 Vì sao cần nâng cao công tác quản lý thuế đối với DN NQD
- Thứ nhất, đối với hầu hết mọi tổ chức kinh doanh thì yếu tố lợi nhuận luôn đuợc đặt lên hàng đầu, do vậy họ luôn tìm mọi cách để có thể đạt được lợi nhuận cao nhất, kể cả làm sai các quy định của pháp luật trong đó có việc trốn lậu thuế, vì vậy việc thuờng xuyên tổ chức kiểm tra thanh tra các DN, đặc biệt là các DN ngoài quốc doanh (NQD) là hết sức cần thiết
- Thứ hai là đặc điểm về trình độ văn hoá, trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ So với các DN thuộc thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế đầu tư nước ngoài thì phần lớn những người chủ các DN NQD có trình độ văn hoá chưa cao, chưa được đào tạo chính quy về các nghiệp vụ quản lý, trình độ chuyên môn, do đó
họ còn gặp nhiều khó khăn trong việc ghi chép chứng từ sổ sách hoặc làm không đúng với quy định, dẫn đến quyết toán thuế sai, vì vậy cán bộ thuế cần thuờng xuyên kiểm tra để phát hiện những sai phạm để kịp thời xử lý
- Thứ ba, số lượng các DN NQD hiện nay rất nhiều, hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế Đặc biệt trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay các loại hình DN NQD phát triển vô cùng đa dạng cả vể mặt chiều rộng lẫn chiều sâu, xuất hiện những hình thức sản xuất kinh doanh mới mà luật thuế hiện nay chưa bao quát hết được, bởi vậy cán bộ thuế cần theo dõi sát sao tình hình sản xuất kinh doanh của các DN này nhằm kịp thời phát hiện các đối tượng chịu thuế mới để đề xuất ban hành chính sách quản lý thu thuế cho các đối tượng trên, tránh gây thất thoát cho NSNN
Từ những tác hại do thất thu thuế gây ra, ta thấy được sự cấp thiết của việc nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với mọi thành phần kinh tế nói chung và bộ phận DN NQD nói riêng, đây là một yêu cầu tất yếu khách quan, nhằm đảm bảo ổn
Trang 26định và tăng thu ngân sách, giúp nhà nước thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, bởi việc thực hiện các chính sách kinh tế, văn hóa, an sinh xã hội, quốc phòng
an ninh của quốc gia phụ thuộc rất lớn vào kết quả thu NSNN Đồng thời chống thất thu thuế hiệu quả sẽ giúp cho mỗi quốc gia trong việc tạo ra môi trường kinh tế, xã hội ổn định và công bằng, thúc đẩy sản xuất phát triển
1.3 Công tác quản lý thuế GTGT
1.3.1 Sự cần thiết của công tác quản lý thuế GTGT
Thuế GTGT là một loại thuế tiến bộ, có vai trò to lớn trong việc huy động NSNN, nó đảm bảo cho sự tồn tại và phát huy vai trò quản lý của bộ máy nhà nước
Do đó quản lý thuế GTGT là một công tác quan trọng cần phải được hoàn thiện để nâng cao hiệu quả, hạn chế thất thu cho ngân sách
Công tác quản lý thuế GTGT là hoạt động của CQT nhằm mục đích chủ yếu là đảm bảo nguồn thu thuế GTGT cho NSNN, góp phần phát huy tốt hơn vai trò của luật thuế GTGT
1.3.2 Nội dung công tác quản lý thuế GTGT đối với DN NQD
Hiện nay công tác quản lý thu thuế GTGT nói chung và quản lý thuế GTGT đối với DN NQD nói riêng được thực hiện chủ yếu ở hai cấp là Cục Thuế và Chi cục thuế với quy trình quản lý khá giống nhau Trong phạm vi đề tài này em xin trình bày về công tác quản lý thu thuế ở cấp Cục Thuế
Công tác quản lý thuế GTGT đối với DN NQD ở cấp Cục thuế bao gồm các nội dung sau: Đăng ký thuế và cấp mã số thuế, Quản lý hóa đơn chứng từ, Xử lý tờ khai, quyết toán thuế và kiểm tra tờ khai, quyết toán thuế, Hoàn thuế và kiểm tra trước - sau hoàn thuế, Kiểm tra, Thanh tra, Quản lý cưỡng chế nợ
Trang 27Sơ đồ 1.1: Quy trình quản lý thuế GTGT đối với DN NQD
Giải thích quy trình:
- Công tác quản lý thuế bắt đầu từ khi DN đăng ký thuế và CQT cấp mã số thuế
- Sau khi có mã số thuế DN đăng ký sử dụng hóa đơn tại CQT, công tác quản
lý hóa đơn không chỉ được thực hiện bởi bộ phận quản lý hóa đơn ấn chỉ mà còn được tiến hành bởi bộ phận thanh tra, kiểm tra
- Định kỳ DN nộp tờ khai thuế, quyết toán thuế cho CQT để CQT theo dõi, quản lý tình hình thu nộp thuế Bộ phận quản lý kê khai có trách nhiệm kiểm tra hồ
sơ khai thuế xem DN có khai trung thực hay không, tùy trường hợp phát hiện sai phạm mà hồ sơ khai thuế có thể sẽ được chuyển đến cho bộ phận kiểm tra giải quyết
- Ngoài ra bộ phận thanh tra – kiểm tra cũng độc lập tiến hành các cuộc thanh tra- kiểm tra DN Trên cơ sở phân tích dữ liệu về DN, cán bộ thuế sẽ tìm ra các DN
Có truy thu
Có truy thu
Thanh tra Kiểm tra
Đăng ký thuế, cấp mã số thuế
Quản lý hóa đơn chứng từ
Trang 28thuộc diện có nghi vấn về gian lận, trốn thuế để tiến hành kiểm tra – thanh tra, truy thu số thuế thất thoát và xử phạt các vi phạm
- Nếu DN thuộc diện được hoàn thuế sẽ gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế đến CQT, tại đây hồ sơ sẽ được kiểm tra trước hoặc sau khi hoàn thuế, nếu trong quá trình kiểm tra mà phát hiện sai phạm lớn thì cũng đưa vào kế hoạch thanh tra
- Nếu quá thời hạn nộp thuế vào NSNN hoặc quá hạn nộp các khoản thuế bị truy thu, các khoản phạt mà các DN vẫn không nộp thì các biện pháp đôn đốc thu
nơ, cưỡng chế nợ sẽ được tiến hành nhằm đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Ngoài việc đôn đốc các khoản thu và phạt mới phát sinh trong kỳ thì việc thu hồi nợ còn được tiến hành trên cơ sở thu nợ đọng của năm trước
- Ngoài ra trong công tác quản lý thuế GTGT còn có sự tham gia tích cực của công tác Tuyên truyền – hỗ trợ, đặc biệt là bộ phận Một cửa, đây là nơi tiếp nhận hồ
sơ của DN, là nơi giải đáp các thắc mắc của DN trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế Bộ phận tuyên truyền có nhiệm vụ truyền tải các thông tin mới về chính sách thuế đến DN, nâng cao ý thức trách nhiệm của DN về nghĩa vụ nộp thuế, giúp cho công tác quản lý thuế nói chung được thực hiện dễ dàng hơn
Như vậy qua tóm tắt sơ lược về quy trình quản lý thuế GTGT đối với DN NQD ta thấy được công tác quản lý thuế được thực hiện theo mô hình chức năng, các bộ phận tuy có sự liên kết với nhau nhưng không hẳn là phụ thuộc lẫn nhau, phải có bước này thì mới có bước kia mà tại một số các bộ phận vẫn có hoạt động độc lập, điều này đảm bảo cho công tác quản lý được hiệu quả hơn, từng bộ phận sẽ chủ động có kế hoạch hoạt động phù hợp với chức năng và thẩm quyền được phân công
Trang 29CHUƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CỤC THUẾ TỈNH KHÁNH HOÀ
2.1 Khái quát về Cục Thuế tỉnh Khánh Hoà
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trước năm 1990, bộ máy thu thuế tỉnh Khánh Hòa gồm các đơn vị: Chi cục Thuế Công thương nghiệp, Chi cục thu Quốc doanh và Ban thuế Nông nghiệp trực thuộc Sở Tài chính Vật giá tỉnh Khánh Hòa
Cùng với việc thành lập hệ thống thuế cả nước theo tinh thần Nghị định số 281/HĐBT ngày 07/08/1990 của Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ) về việc thành lập hệ thống thu thuế Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính và Quyết định số 314 TC/QĐ/TCCB ngày 21/08/1990 về việc thành lập Cục Thuế Nhà nước, Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa được thành lập và chính thức hoạt động từ 01/10/1990 trên cơ sở sự sáp nhập của các tổ chức: Chi Cục Thuế Công thương nghiệp, Chi cục thu Quốc doanh và Ban thuế Nông nghiệp thuộc Sở Tài chính
Khi mới thành lập, tổ chức bộ máy của Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa gồm có 7 Phòng chức năng thuộc Văn phòng Cục Thuế và 7 Chi Cục Thuế huyện, thành phố Đến năm 2004, Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành kiện toàn sắp xếp lại tổ chức bộ máy toàn ngành với 10 phòng chức năng và 07 Chi cục Thuế huyện, thị xã, thành phố trực thuộc
Đến tháng 06/2011, Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa một lần nữa tiến hành sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy và ổn định hoạt động cho đến nay với 14 phòng thuộc Văn phòng Cục Thuế và 08 Chi cục Thuế huyện, thị xã, thành phố
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ, cơ cấu:
Chức năng nhiệm vụ chủ yếu:
- Hướng dẫn tổ chức chỉ đạo, thực hiện chính sách, chế độ, thể lệ nguyên tắc
về quản lý thu thuế trên địa bàn tỉnh theo đúng luật, pháp lệnh và các văn bản qui
định khác của Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và UBND tỉnh
- Lập kế hoạch và tổ chức quản lý thu thuế và thu khác đối với các ĐTNT trên
Trang 30Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
- Trình độ Đại học, Cao đẳng : 370 người, chiếm tỷ lệ 54,33%
- Trình độ Trung cấp : 250 người, chiếm tỷ lệ 36,71%
- Trình độ Sơ cấp và chưa qua đào tạo : 61 người, chiếm tỷ lệ 8,96%
Cơ cấu tổ chức:
- Cục Thuế Khánh Hòa được tổ chức thành 14 phòng và 8 Chi cục thuế trực thuộc
- Các Chi cục trực thuộc:
+ Chi cục thuế thành phố Nha Trang
+ Chi cục thuế thành phố Cam Ranh
+ Chi cục thuế thị xã Ninh Hòa
+ Chi cục thuế huyện Vạn Ninh
+ Chi cục thuế huyện Diên Khánh
+ Chi cục thuế huyện Cam Lâm
+ Chi cục thuế huyện Khánh Vĩnh
+ Chi cục thuế huyện Khánh Sơn
Trang 31Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa:
P Tuyên truyền
và hỗ trợ NNT
P Thuế Thu nhập cá nhân
P Thanh tra thuế
P Kiểm tra thuế
số 1
P Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
Ấn chỉ
P Kiểm tra nội bộ
PHÓ CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG
Trang 322.1.3 Chức năng nhiệm vụ các phòng ban
□ Cục trưởng:
Là người lãnh đạo cao nhất của Cục Thuế, có nhiệm vụ lãnh đạo chung, tổ chức quản lý cán bộ thực hiện tốt các nhiệm vụ và phù hợp với tình hình thực tế của địa bàn tỉnh đồng thời là người chịu trách nhiệm trước Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thuế và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Cục Thuế
□ Cục phó:
Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa có 3 Phó Cục trưởng có nhiệm vụ giúp đỡ, hỗ trợ Cục trưởng phụ trách các phòng ban, đồng thời chịu trách nhiệm trước Cục trưởng
về hoạt động của các phòng ban được phân công phụ trách
□ PhòngTuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế:
- Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách, pháp luật thuế, hỗ trợ NNT
- Hướng dẫn, hỗ trợ, chỉ đạo, kiểm tra các Chi cục thuế trực thuộc trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ NNT, tuyên truyền chính sách, pháp luật về thuế
- Thực hiện mô hình "một cửa", tất cả các giao dịch trực tiếp về thủ tục hành chính về thuế của NNT với CQT đều thông qua bộ phận này: tiếp nhận yêu cầu và hướng dẫn giải quyết các thủ tục, giải quyết tại chỗ một số yêu cầu có thể, giải đáp các vướng mắc và hướng dẫn về chính sách thuế, thủ tục hành chính thuế, nhận hồ
sơ khai thuế và báo cáo thuế, bán hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành, đăng ký sử dụng hóa đơn tự in, xác nhận nghĩa vụ thuế, xử lý hồ sơ cấp mã số thuế, nhận và chuyển các bộ phận khác giải quyết để trả kết quả cho NNT
- Tổng hợp các vướng mắc của NNT về chính sách, thủ tục về thuế để đề xuất xem xét giải quyết
- Quản lý, biên tập nội dung trang thông tin điện tử nội bộ ngành thuế tại Cục Thuế
-Tổng hợp đề nghị khen thưởng cá nhân ,tổ chức thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế và các tổ chức, cá nhân ngoài ngành thuế có thành tích xuất sắc trong việc
Trang 33tham gia công tác quản lý thuế
-Biên soạn tài liệu và tham gia đào tạo cán bộ, công chức thuế thuộc lĩnh vực được giao
□ Phòng Tổng hợp - nghiệp vụ - dự toán:
Chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế, xây dựng và thực hiện dự toán thu NSNN, tổ chức thực hiện công tác pháp chế về thuế thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế quản lý.( Do cục thuế tỉnh Khánh Hoà không
tổ chức Phòng pháp chế nên công tác này do phòng tổng hợp - nghiệp vụ - dự toán đảm nhận)
□ Phòng Kê khai và kế toán thuế:
Tổ chức thực hiện công tác đăng ký thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý
□ Phòng Thuế Thu nhập cá nhân:
Tổ chức triển khai thực hiện thống nhất chính sách thuế thu nhập cá nhân, kiểm tra, giám sát kê khai thuế thu nhập cá nhân, tổ chức thực hiện dự toán thu thuế thu nhập cá nhân đối với NNT thuộc phạm vi quản lý của Cục thuế
□ Phòng Quản lý các khoản thu từ đất:
Phòng quản lý các khoản thu từ đất có nhiệm vụ tham mưu cho các Chi cục thực thi chính sách thu về đất đai trên địa bàn tỉnh, đặc biệt với các dự án lớn Bộ phận này cũng có nhiệm vụ kiểm tra tình hình thu về đất đai tại các Chi cục, giúp việc quản lý thống nhất, tránh thất thoát cho NSNN
□ Phòng Thanh tra thuế:
Triển khai thực hiện công tác thanh tra NNT trong việc chấp hành pháp luật thuế, giải quyết tố cáo về hành vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liên quan đến NNT thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý
□ Phòng Kiểm tra thuế:
Kiểm tra, giám sát kê khai thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu đối với NNT thuộc phạm vi quản lý trực tiếp của Cục Thuế
- Phòng kiểm tra thuế số 1: Kiểm tra các DN nhà nước, DN có vốn đầu tư
Trang 34nước ngoài
- Phòng kiểm tra thuế số 2: Kiểm tra các DN NQD do Cục thuế quản lý
- Phòng kiểm tra thuế số 3: Kiểm tra các DN lớn, bao gồm cả DN nhà nước,
DN có vốn đầu tư nước ngoài, DN NQD
□ Phòng Kiểm tra nội bộ:
Tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của CQT, công chức thuế, giải quyết khiếu nại (bao gồm cả khiếu nại các quyết định xử lý về thuế của CQT và khiếu nại liên quan trong nội bộ CQT, công chức thuế), tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính của CQT, công chức thuế trong phạm vi quản lý của Cục trưởng Cục Thuế
□ Phòng Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế:
Tổ chức thực hiện công tác quản lý nợ thuế, đôn đốc thu tiền thuế nợ và cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt trong phạm vi quản lý
□ Phòng Tin học:
Tổ chức quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học ngành thuế, triển khai các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế và hỗ trợ hướng dẫn, đào tạo cán bộ thuế trong việc sử dụng ứng dụng tin học trong công tác quản
lý
□ Phòng Tổ chức cán bộ:
Tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện về công tác tổ chức bộ máy, quản lý cán
bộ, biên chế, tiền lương, đào tạo cán bộ và thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong nội bộ Cục Thuế
□ Phòng Hành chính- Quản trị- Tài vụ- Ấn chỉ:
Tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện các công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý tài chính, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, quản trị, quản lý ấn chỉ thuế trong toàn Cục Thuế
Trang 352.1.4 Đánh giá khái quát tình hình quản lý thuế tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hoà Bảng 2.1: Kết quả thực hiện dự toán thu NSNN tại Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa
( Nguồn: Báo cáo Công tác Thuế Cục Thuế Khánh Hòa năm 2009, 2010, 2011)
Bảng 2.2: Tổng hợp số thu các loại thuế trong tổng thu NSNN
Đvt: triệu đồng
2010/2009
Chênh lệch 2011/2010
Trang 36sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo và cố gắng phấn đấu của tập thể công chức ngành nên tổng thu NSNN luôn vượt chỉ tiêu dự toán và mức thu tăng qua các năm Cụ thể, năm 2009 đạt 4.137.015 triệu đồng, trong khi chỉ tiêu dự toán thu do Bộ Tài chính giao là 3.674.060 triệu, như vậy Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đề ra là 12,60% và mức thu này cũng bằng 118,85% mức thu của năm 2008 Sang năm 2010, Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa được Bộ Tài chính giao chỉ tiêu thu 4.273.463 triệu đồng, kết quả tổng số thu là 5.389.692 triệu đồng, đạt
126,12% dự toán pháp lệnh và 130.28% so với năm 2009 Kết quả thu NSNN năm
2011 cũng vượt mức chỉ tiêu đề ra với số thực hiện là 5.712.022 triệu đồng, trong khi số thu của dự toán pháp lệnh là 5.104.000 triệu, như vậy số thực thu bằng 111,91% số dự toán và bằng 105,98% số thu của năm 2010
Qua tổng hợp số thu các loại thuế tại bảng 2.2 ta thấy số thuế thu đều tăng qua các năm, một số loại thuế có số tăng cao là thuế Tài nguyên, thuế Thu nhập cá nhân, thuế GTGT Đối với thuế tài nguyên và thuế Thu nhập cá nhân, do đây là các sắc thuế còn khá mới, nhà nước ban hành chính sách và quy chế thu thuế ngày càng cụ thể và hoàn thiện nên công tác thu thuế được thực hiện khá tốt qua từng năm Trong các loại thuế thì số thu từ thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế GTGT và thuế Tiêu thụ đặc biệt chiếm tỷ trọng lớn, đồng thời mức tăng của thuế GTGT và thuế Tiêu thụ đặc biệt cũng khá cao Đây là những loại thuế có vai trò đóng góp quan trọng trong ngân sách nên công tác quản lý thu luôn được chú trọng để đảm bảo hạn chế thất thu tối đa
Để có được kết quả thu khả quan như trên, Cục Thuế đã thực hiện tốt công tác phân tích tình trạng nợ thuế trong khối DN qua đó đôn đốc thu nộp đúng quy trình, chủ động phối hợp tốt với các cơ quan liên quan để thu nợ Đối với công tác thanh tra, kiểm tra thuế cũng thực hiện đúng quy trình kiểm tra hồ sơ khai thuế, quyết toán thuế tại trụ sở CQT và tại trụ sở NNT Cục Thuế tỉnh Khánh Hoà đã kết hợp với Đài phát thanh, Đài truyền hình đưa tin về các chính sách thuế và pháp luật thuế, đồng thời tuyên truyền qua website, pano, tổ chức các lớp tập huấn về thuế cho công chức trong ngành và các DN, thực hiện tốt công tác hỗ trợ, hướng dẫn, giải đáp cho
Trang 37NNT… Bên cạnh đó, Cục cũng đã phối hợp tốt với KBNN và các ngân hàng về việc phối hợp thu NSNN, góp phần tăng cường công tác thanh toán không dùng tiền mặt trong quá trình nộp thuế, cải cách hành chính minh bạch, rõ ràng, dễ thực hiện
Bảng 2.3: Tổng hợp số thu thuế GTGT của từng nhóm ngành
Đvt: triệu đồng
Chênh lệch 2010/2009
Chênh lệch 2011/2010 Tổng 994.176 1.189.441 1.456.087 119,64% 122,42%
và tổ chức NQD luôn chiếm tỷ trọng cao nhất so với số thu từ các nhóm còn lại với
số thu của năm 2009 chiếm 37,61% tổng thu về thuế GTGT, con số này của năm
2010 là 37,22% và năm 2011 là 36,92%, đồng thời số thu năm sau luôn cao hơn năm trước: năm 2010 thu bằng 118,4% năm 2009, năm 2011 thu bằng 121,44% năm 2010, nếu nhìn vào tình hình hiện nay các DN làm ăn khó khăn, nợ thuế nhiều thì tỷ lệ tăng như trên cho rằng thấy ngành thuế Khánh Hòa đã thực hiện tốt công tác đôn đốc thu nộp thuế GTGT
Trang 38Chênh lệch 2011/2010
Thuế GTGT 39.396 50.358 107.132 127,83% 212,74% Thuế thu nhập doanh nghiệp 20.238 22.714 19.469 112,23% 85,71% Thuế thu nhập cá nhân 1.549 1.953 2.534 126,08% 129,75% Thuế tiêu thụ đặc biệt 6.398 6.409 7.007 100,17% 109,33%
đó những loại thuế có số nợ nhiều nhất là thuế GTGT với 39.396 triệu đồng, thuế Thu nhập doanh nghiệp với 20.238 triệu đồng Sang năm 2010, nợ thuế tăng với tổng nợ là 130.722 triệu đồng, tức là bằng 126,44% năm 2009, nổi bật những khoản thuế bị nợ nhiều gồm có thuế GTGT, Thu nhập doanh nghiệp, các khoản tiền phạt
và các khoản thu khác Năm 2011, tình hình nợ thuế vẫn tiếp tục diễn tiến nghiêm trọng với mức nợ cao nhất trong 3 năm với số tiền là 204.804 triệu đồng, tức là bằng 156,67% nợ của năm trước đó, đóng góp vào nguyên nhân nợ năm 2011 tăng cao là do nợ thuế GTGT tăng đột biến với số tiền lên đến 107.132 triệu đồng, bằng 212,74% năm 2010, bên cạnh đó nợ của thuế nhà đất, các khoản tiền phạt tăng mạnh cũng góp phần làm cho số nợ năm này tăng cao Như vậy có thể thấy trong
Trang 39các loại thuế và các khoản thu mà ĐTNT còn nợ CQT thì nợ thuế GTGT luôn chiếm số lượng lớn, góp phần đáng kể trong sự gia tăng của nợ thuế GTGT là nợ từ các DN NQD Bảng tổng hợp 2.5 sau đây sẽ thể hiện rõ hơn vấn đề này
Bảng 2.5: Tình hình nợ thuế GTGT theo phân loại từng nhóm ngành
Chênh lệch 2010/2009
Chênh lệch 2011/2010 Tổng nợ thuế GTGT 39.396 50.358 107.132 127,83% 212,74%
là 29.282 triệu, chiếm 74,33% tổng nợ, năm 2010 nợ 36.781 triệu, bằng 125,61% số
nợ năm 2009 và chiếm tỷ lệ 73,04% so với tổng nợ, đặc biệt năm 2011 chứng kiến
sự gia tăng đột biến của nợ thuế GTGT khi mà số thuế các DN NQD nợ lên đến 92.194 triệu tức là bằng 250,66% so với năm trước đó, đồng thời chiếm tới 86,06% tổng nợ thuế GTGT toàn tỉnh
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ thuế nói chung cũng như nợ thuế GTGT
Trang 40nói riêng ngày càng tăng cao là do một số DN có số thuế truy thu và xử phạt lớn nhưng không có khả năng nộp do DN kinh doanh kém hiệu quả, nhiều DN tự nghỉ,
bỏ trốn dẫn đến số nợ thuế lớn, một số DN xây dựng bằng nguốn vốn NSNN, công trình đã nghiệm thu nhưng chưa được thanh toán hoặc DN kinh doanh vãng lai kê khai thuế tại địa phương nhưng khi xong công trình tự ý bỏ đi không thanh toán nợ, một lý do quan trọng nữa là do tiền phạt chậm nộp tiền thuế thấp hơn so với lãi vay ngân hàng, cho nên các DN đã chiếm dụng tiền thuế thay cho việc vay vốn kinh doanh Còn đối với đối tượng hộ kinh doanh cá thể, vì nhiều lý do dẫn đến nợ thuế nhiều tháng sau đó tự nghỉ kinh doanh không khai báo, không thanh toán nợ thuế, gây khó khăn cho công tác quản lý thuế Đồng thời việc cuỡng chế thu hồi nợ thuế vừa đạt kết quả không cao vừa khó khăn là do một số trường hợp NNT rút hết tiền trong tài khoản ngân hàng và hầu hết DN đều thế chấp tài sản để vay vốn, nên việc cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản tiền gửi của DN hoặc kê biên tài sản ít mang lại kết quả Những khó khăn trên đã và đang được Cục Thuế Khánh Hòa tìm cách khắc phục để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý và thu hồi
lý để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách