Như vậy, các Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm dịch vụ đa dạng, trình độ quản trị cao và các NHTM quốc doanh được cổ phần hóa với một sức mạnh mới sẽ t
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp bách của đề tài
Ngày 11/01/2007, Việt Nam trở thành thành viên 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Điều này đã đem đến cho các doanh nghiệp trong nước thời cơ
và thách thức mới, đặc biệt là đối với các tổ chức Tài chính - Tín dụng, vốn từ lâu
đã được Nhà nước bảo hộ Với những cam kết cụ thể, bên cạnh những ngành có thêm những điều kiện thuận lợi, một số ngành sẽ phải gặp thách thức lớn hơn Tài chính Ngân hàng là ngành thuộc nhóm thứ hai Bắt đầu từ ngày 01/04/2007, Ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thành lập tại Việt Nam Trong vòng 05 năm
kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam có thể hạn chế một số quyền của Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, nhưng đến ngày 01/01/2011 các Ngân hàng 100% vốn nước ngoài đã được đối xử bình đẳng hoàn toàn như các Ngân hàng trong nước Đồng thời, các NHTM quốc doanh cũng đang từng bước triển khai cổ phần hóa Như vậy, các Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm dịch
vụ đa dạng, trình độ quản trị cao và các NHTM quốc doanh được cổ phần hóa với một sức mạnh mới sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh khổng lồ của các Ngân hàng cỡ trung như SCB
Tính đến cuối năm 2011, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, có 33 TCTD, 3 Quỹ tín dụng nhân dân, 136 điểm giao dịch của các Ngân hàng, chủ yếu tập trung ở Thành Phố Nha Trang, với sự có mặt của 07 ngân hàng có sở hữu của nhà nước và
26 Ngân hàng TMCP ngoài quốc doanh Vì vậy, sự cạnh tranh khốc liệt để chiếm lĩnh thị phần luôn diễn ra không ngừng
Để có thể trụ vững và tiếp tục phát huy vị thế của mình trong bối cảnh như vậy, trước tiên, các Ngân hàng cần thường xuyên đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ở tất cả mọi mặt để từ đó định ra những bước đi phù hợp, phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động, tính cạnh tranh của Ngân hàng Trên
cơ sở đó, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – CHI NHÁNH KHÁNH HOÀ VỚI
CÁC NGÂN HÀNG KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HOÀ ”
Trang 22 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TNCP Sài Gòn - Chi Nhánh Khánh Hòa (SCB Khánh Hòa) nhằm tìm ra giải pháp để nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của Ngân hàng trong thời gian tới
Từ đó, đề ra giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của SCB Khánh Hoà
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Khánh Hòa
Phạm vi nghiên cứu: 3 năm 2009, 2010 và 2011
Nghiên cứu thực hiện tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Chi nhánh Khánh Hòa tại 78 Lý Thánh Tôn, Nha Trang
*** Giới hạn của đề tài: Đề tài chủ yếu dựa trên các báo cáo của Ngân hàng
để phân tích, đánh giá Việc so sánh cụ thể với các Ngân hàng khác trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà chỉ ở mức độ số liệu tổng hợp của NHNN, mang tính chất tương đối (do giới hạn về khả năng nghiên cứu, thời gian nghiên cứu cũng như hạn chế về khả năng thu thập thông tin của tác giả (lý do khách quan))
Trang 34 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu được SCB Khánh Hòa cung cấp bao gồm các báo cáo phân tích, kế hoạch hoạt động kinh doanh 3 năm 2009, 2010, 2011 và những thông tin, văn bản khác liên quan
Thông tin về lĩnh vực Ngân hàng được thu thập từ mạng Internet, báo chí, tạp chí và thống kê của Ngân hàng Nhà nước tỉnh Khánh Hòa
4.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê, so sánh: đây là phương pháp phổ biến trong việc phân tích vấn đề Nội dung của phương pháp này là nhìn nhận từng chỉ tiêu cả về tuyệt đối và tương đối, theo diễn biến về thời gian (kỳ này so với kỳ trước) hay về không gian (ngân hàng này so với ngân hàng khác)
Đánh giá năng lực cạnh tranh theo ma trận SWOT
5 Kết cấu luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục… Luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1 : Cơ sở lý luận
Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Khánh Hoà với các NHTM khác trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện năng lực cạnh tranh của SCB – Chi nhánh Khánh Hoà
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm và chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Mặc dù NHTM ra đời từ rất lâu nhưng các nhà kinh tế học, các nhà kinh tế vẫn chưa nhất trí với nhau về định nghĩa ngân hàng bởi do sự khác biệt về luật pháp, số lượng các nghiệp vụ, bối cảnh kinh tế, xã hội của các vùng khác nhau
Theo đạo luật ngân hàng Pháp (1941): Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp là thường xuyên nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính
Tại Việt Nam, theo đạo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, khoản 3
điều 4 thì NHTM được định nghĩa như sau: Ngân hàng thương mại là loại hình
ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận
Trong đó, Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên
một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:
a) Nhận tiền gửi;
b) Cấp tín dụng;
c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
Có thể nói rằng NHTM là một loại định chế tài chính trung gian cực kỳ quan
trọng trong nền kinh tế thị trường Nhờ vào hệ thống định chế này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại với số lượng
đủ lớn để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội
Trang 5Như vậy, dù có những khái niệm khác nhau về NHTM nhưng nhìn chung NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh về lĩnh vực tiền tệ tín dụng, với chức năng chủ yếu là làm trung gian tín dụng, trung gian thanh toán giữa các doanh nghiệp, các cá nhân trong nền kinh tế
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
Tầm quan trọng của NHTM được thể hiện qua các chức năng của nó Các chức năng của NHTM có thể được nêu ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng nhìn chung có các chức năng sau:
1.1.2.1 Chức năng tạo tiền
Để phục vụ cho lưu thông giúp cho nền kinh tế phát triển, NHNN đưa một lượng tiền nhất định vào trong lưu thông Lượng tiền đó phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, nhưng lượng tiền cung ứng vượt quá nhu cầu của nền kinh tế sẽ gây ra lạm phát có hại cho nền kinh tế Với một lượng tiền cung ứng ban đầu, thông qua hoạt động nhận tiền gửi và cho vay của hệ thống NHTM đã làm tăng lượng tiền cung ứng so với ban đầu Đây là chức năng chủ yếu của NHTM mà NHNN với những công cụ của mình như dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu,… có thể thực hiện các chính sách tiền tệ quốc gia nhằm đưa ra một khối lượng tiền phù hợp ổn định được giá trị đồng tiền
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Các NHTM
Doanh nghiệp, tổ chức kinh
tế, hộ gia đình, cá nhân
Huy động vốn
Cấp tín dụng
Trang 6cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền mặt, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế
Như vậy NHTM đã tạo điều kiện cho việc thanh toán giữa các tổ chức, cá nhân …, được thuận tiện và đặc biệt là tiết kiệm được chi phí cho xã hội Bởi vì việc thanh toán qua ngân hàng được thực hiện tập trung, chuyên nghiệp và có công nghệ cao Và cũng qua hoạt động thanh toán NHTM thu được những lợi ích nhất định Ngày nay, hoạt động thanh toán càng ngày phát triển tại NHTM Việc thanh toán không dùng tiền mặt được các ngân hàng khuyến khích
1.1.2.3 Chức năng trung gian tín dụng
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay
1.2 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.2.1 Cạnh tranh
Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao; thường xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều
Trang 7góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh”, cụ thể như sau:
Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác
Trong kinh tế chinh trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa các chủ thể trong nền sản xuất hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ
Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh
mẽ thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển Nó buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học công nghệ, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển
Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải là tiêu diệt đối thủ mà chính doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình
mà không đến với đối thủ cạnh tranh
Trang 81.2.2 Lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh là giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng, giá trị đó vượt quá chi phí dùng để tạo ra nó Giá trị mà khách hàng sẵn sang để trả và ngăn trở việc đề nghị những mức giá thấp hơn của đối thủ cho những lợi ích tương đương hay cung cấp những lợi ích độc nhất hơn là phát sinh một giá cao hơn
Khi một doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp đó sẽ có cái
mà các đối thủ khác không có, nghĩa là doanh nghiệp hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm được những việc mà các đối thủ khác không thể làm được Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp Do vậy mà các doanh nghiệp đều muốn cố gắng phát triển lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên điều này rất dễ bị xói mòn bởi những hoạt động bắt chước của đối thủ Về cơ bàn, lợi thế cạnh tranh phát sinh từ các giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho người mua, giá trị này phải lớn hơn các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra
1.2.3 Năng lực cạnh tranh
Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất Dưới đây là một số cách tiếp cận cụ thể về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp
- Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước
sự tấn công của doanh nghiệp khác Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực của
Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch
vụ trên thị trường thế giới Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế” Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, hkó có thể định lượng
Trang 9- Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Theo M Porter (1990), năng suất lao động là thức đo duy nhất về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu
và nhiệm vụ của doanh nghiệp
- Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm cho rằng: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu cũng có ý kiến tương tự: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất
và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững
Từ những điều trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững
1.2.4 Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế
Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển
Trang 10Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn
về mặt xã hội Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội,
sự can thiệp của nhà nước
Cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại, ) hoặc những hành vi cạnh tranh làm phân hóa giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái
Trong xã hội, mỗi con người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích hơn cho mọi người và cho cộng đồng, xã hội
1.3 Đặc thù cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
Cạnh tranh là một hiện tượng mang tính tất yếu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Giống như các loại hình doanh nghiệp khác, các ngân hàng phải luôn đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng khác cũng như các tổ chức tín dụng nhằm giành giật khách hàng, tăng thị phần tín dụng, mở rộng cung ứng các sản phẩm tài chính cho nền kinh tế… Tuy nhiên, sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng lại có những đặc thù nhất định so với các ngành nghề khác trong nền kinh tế
Thứ nhất, ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm, chịu tác động bởi rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm
lý, truyển thống văn hoá… mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng đều tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung
Trang 11Chẳng hạn, một tin đồn thất thiệt về ngân hàng nào đó lan rộng có thể dẫn đến làn sóng rút tiền ồ ạt khỏi ngân hàng và hậu quả là tính thanh khoản mất, ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng phá sản
Thứ hai, hoạt động của ngân hàng mang tính dây chuyền và hệ thống, các NHTM đều mở tài khoản cho nhau để phục vụ khách hàng Chính vì vậy, nếu như một NHTM bị khó khăn trong kinh doanh, có nguy cơ đổ vỡ, thì tất yếu sẽ tác động dây chuyền đến gần như tất cả các NHTM khác Do đó, các NHTM trong hoạt động kinh doanh của mình tuy có sự cạnh tranh lẫn nhau nhưung không dẫn đến sự triệt
hạ đối thủ mà phải có sự hợp tác để cùng phát triển
Thứ ba, hoạt động kinh doanh của các NHTM có liên quan đến tất cả các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, đến từng cá nhân thong qua các hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình dịch vụ tài chính khác Do đó, các NHTM chịu sự giám sát chặt chẽ và sự chi phối bởi các chính sách, quy định … của NHNN
Thứ tư, hoạt động NHTM không chỉ chịu sự tác động của các yếu tố trong nước mà còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố quốc tế như : thông lệ quốc tế, tập quán kinh doanh của các nước… Ngoài ra, nó còn chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có tính chất quyết định đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
1.4 Tác động của yếu tố đến năng lực cạnh tranh
1.4.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
1.4.1.1 Yếu tố chính trị, pháp luật
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị, pháp luật có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp và theo các hướng khác nhau Bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối, chính sách của chính phủ, hệ thống luật pháp hiện hành, các xu hướng ngoại giao của chính phủ, những diễn biến chính trị trong nước, khu vực và trên toàn thế giới Chúng có thể tạo ra cơ hội, trở ngại, thậm chí là rủi ro
Trang 12thật sự cho doanh nghiệp Doanh nghiệp phải tuân theo các quy định về thuế, thuê nhân công, cho vay của ngân hàng, quảng cáo…
Sự ổn định về chính trị tạo ra môi trường thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh Trong một xã hội ổn định về chính trị, thống nhất về đường lối, các nhà kinh doanh được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu và các tài sản khác của họ, như vậy sẽ khuyến khích họ đầu tư số vốn nhiều hơn vào các dự án dài hạn
1.4.1.2 Yếu tố kinh tế
Môi trường kinh tế của doanh nghiệp được xác định thông qua tiềm lực của nền kinh tế quốc gia Các nhân tố quan trọng để đánh giá môi trường kinh tế bao gồm: Tốc độ tăng trưởng kinh tế; lạm phát; tỷ giá hối đoái; hệ thống thuế và mức thuế; thu nhập bình quân/người/năm; thất nghiệp…
Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đối với những cơ hội và nguy cơ mà doanh nghiệp phải đối mặt
Lạm phát là sự mất giá đồng tiền, nó làm thay đổi hành vi tiêu dùng và tiết kiệm của dân cư và doanh nghiệp
Tỷ giá hối đoái có tác động đến doanh nghiệp trên cả hai giác độ là môi trường tài chính và chính hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.1.3 Yếu tố văn hoá - xã hội
Văn hoá là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần có mối quan hệ gắn bó với nhau, do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Xã hội là kết quả các quá trình hoạt động của con người trong cộng đồng các dân tộc, có mối quan hệ chặt chẽ với yếu tố văn hoá Yếu tố văn hoá – xã hội được nghiên cứu bao gồm: quan điểm
về mức sống; phong cách sống; tỷ lệ tăng dân số; thu nhập bình quân/người/hộ gia đình; vấn đề di chuyển lao động; trình độ dân trí…
Trang 131.4.2 Các yếu tố thuộc môi trường vi mô
Môi trường vi mô gồm 5 yếu tố chính tác động đến doanh nghiệp, được thể hiện qua sơ đồ sau :
1.4.2.1 Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Đối thủ cạnh tranh hiện tại là một trong năm lực lượng cạnh tranh trong ngành Vì vậy, việc phân tích đối thủ cạnh tranh hiện tại cần chú trọng vào các nội dung chủ yếu sau:
- Một là, doanh nghiệp phải nhận biết được đối thủ cạnh tranh trực tiếp để từ
đó phân tích tín hiệu từ thị trường và phân loại đối thủ cạnh tranh
- Hai là, phân tích điểm mạnh, điểm yếu và khả năng cạnh tranh của đối thủ thông qua so sánh các yếu tố ( sản phẩm, chất lượng, hiệu quả quảng cáo, năng suất lao động, mạng lưới phân phối, thị phần, …)
- Ba là, phân tích chiến lược hiện tại của đối thủ cạnh tranh từ đó so sánh tương quan thế lực của doanh nghiệp so với đối thủ
Tính chất và cường độ cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện tại trong ngành phụ thuộc vào các yếu tố: Số lượng và quy mô của các đối thủ cạnh tranh trong ngành, tốc độ tăng trưởng ngành, chi phí cố định, khác biệt hoá sản phẩm và dịch
vụ, các rào cản rút lui, mối quan hệ giữa rào cản gia nhập và rào cản rút lui
Trang 141.4.2.3 Sự xâm nhập – Đối thủ tiềm ẩn
Các đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng ngành sản xuất, kinh doanh nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ quyết định gia nhập ngành
Về mọi phương diện các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn chưa bằng các đối thủ trong ngành Tuy nhiên, họ có hai điểm mà các doanh nghiệp hiện tại cần phải lưu ý là: có thể biết được điểm yếu của đối thủ hiện tại; và có tiềm lực tài chính, công nghệ mới để sản xuất, kinh doanh các sản phẩm mới Trong nhiều trường hợp sản phẩm mới có thể đe doạ đến sự tồn tại của các sản phẩm hiện có
1.4.2.4 Khách hàng
Khách hàng là một phần của doanh nghiệp, khách hàng bao gồm: người tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân phối (bán buôn, bán lẻ), các nhà mua công nghiệp và người mua hàng cho các tổ chức nhà nước hoặc tổ chức xã hội Chính sự trung thành của khách hàng là một lợi thế lớn của doanh nghiệp, sự trung thành đó xuất phát từ sự thoả mãn những nhu cầu của họ bởi doanh nghiệp, các doanh nghiệp muốn có hiệu quả trong sản xuất kinh doanh phải hướng tới những nỗ lực của hoạt động marketing và khách hàng, thu hút sự chú ý, kích thích sự quan tâm, thúc đẩy khách hàng đến với sản phẩm và dịch vụ của mình Trong trường hợp này, khách
Trang 15hàng mang lại cơ hội cho doanh nghiệp Ngược lại, khách hàng có thể tạo ra đe doạ khi họ buộc doanh nghiệp giảm giá hoặc có nhu cầu chất lượng cao và dịch vụ tốt hơn Áp lực từ khách hàng xuất phát từ các điều kiện sau:
Khi số lượng người mua nhỏ
Khi người mua mua một lượng lớn sản phẩm và tập trung
Khi người mua chiếm một tỷ trọng lớn trong sản lượng của người bán
Các sản phẩm không có tính khác biệt và là các sản phẩm cơ bản
Khách hàng đe doạ hội nhập về phía sau
Sản phẩm ngành là không quan trọng đối với chất lượng sản phẩm của người mua
Khách hàng có đầy đủ thông tin
1.4.2.5 Nhà cung ứng
Các nhà cung ứng có thể khẳng định quyền lực của họ bằng cách đe doạ tăng giá hay giảm chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung ứng Do đó, nhà cung ứng có thể chèn ép lợi nhuận của doanh nghiệp Áp lực từ nhà cung ứng sẽ tăng lên nếu:
Chỉ có một số ít các nhà cung ứng
Khi sản phẩm thay thế không có sẵn
Khi sản phẩm của nhà cung ứng là yếu tố đầu vào quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp
Khi sản phẩm của nhà cung ứng có tính khác biệt và được đánh giá cao bởi các đối thủ
Khi người mua phải gánh chịu một chi phí cao do thay đổi nhà cung ứng
Khi người mua phải gánh chịu một chi phí cao do thay đổi nhà cung ứng
Trang 161.4.3 Các nhân tố bên trong của ngân hàng
Trên thực tế, nhóm các nhân tố thuộc về nội tại của hệ thống NHTM cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng này Chúng bao gồm:
Năng lực điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng;
Quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM;
Công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng;
Chất lượng nhân viên NH;
Cấu trúc tổ chức;
Danh tiếng và uy tín của NHTM
1.5 Phân tích SWOT
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và
ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh nào Viết tắt của 4 chữ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội)
và Threats (nguy cơ), SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược giúp các nhà quản trị tổng kết các kết quả nghiên cứu môi trường (bên trong lẫn bên ngoài)
và đề ra các chiến lược một cách khoa học
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự lôgic dễ hiểu, dễ trình bày, dễ thảo luận
và dễ đưa ra quyết định, có thể được sử dụng trong mọi quá trình ra quyết định Các mẫu SWOT cho phép kích thích suy nghĩ hơn là dựa trên các phản ứng theo thói quen hoặc theo bản năng Mẫu phân tích SWOT được trình bày dưới dạng một ma trận 2 hàng 2 cột, chia làm 4 phần: Strengths, Weaknesses, Opportunities and Threats
Trang 17SWOT
O (Liệt kê các cơ hội)
Mô hình SWOT thường đưa ra 4 chiến lược cơ bản:
1) SO (Strengths - Opportunities): các chiến lược dựa trên ưu thế của công ty để tận dụng các cơ hội thị trường
2) WO (Weaks - Opportunities): các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua các yếu điểm của công ty để tận dụng cơ hội thị trường
3) ST (Strengths - Threats): các chiến lược dựa trên ưu thế của của công
ty để tránh các nguy cơ của thị trường
4) WT (Weaks - Threats): các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc hạn chế tối đa các yếu điểm của công ty để tránh các nguy cơ của thị trường
Trang 18 Các yếu tố bên trong cần phân tích có thể là:
-Văn hóa, hình ảnh công ty
- Cơ cấu tổ chức
- Nhân lực chủ chốt, khả năng sử dụng các nguồn lực
- Kinh nghiệm, năng lực hoạt động
- Hiệu quả hoạt động, thị phần
- Danh tiếng thương hiệu
- Nguồn tài chính
- Hợp đồng chính yếu
- Bản quyền và bí mật thương mại
Các yếu tố bên ngoài cần phân tích có thể là:
- Môi truờng kinh tế, xã hội
- Môi trường chính trị và pháp luật
Cần chú ý chất lượng phân tích của mô hình SWOT phụ thuộc vào chất lượng thông tin thu thập được Cần tránh cái nhìn chủ quan từ một phía, nên tìm kiếm thông tin từ mọi phía: Ban giám đốc, khách hàng, đối tác, nhà cung cấp, đối tác chiến lược, tư vấn SWOT cũng có phần hạn chế khi sắp xếp các thông tin với xu hướng giản lược Điều này làm cho nhiều thông tin có thể bị gò ép vào vị trí không phù hợp với bản chất vấn đề Nhiều đề mục có thể bị trung hòa hoặc nhầm lẫn giữa hai thái cực S -W và O -T do quan điểm của nhà phân tích
Trang 19CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – CHI NHÁNH KHÁNH HOÀ VỚI CÁC
NHTM KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HOÀ
2.1 Giới thiệu về ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB)
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của SCB
Bảng 01 : Thông tin chung về Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Tên giao dịch quốc tế Sai Gon Commercial Bank
Logo
Trụ sở chính 927 Trần Hưng Đạo, Quận 5, Tp HCM
Vốn điều lệ Kể từ ngày 01/01/2012, vốn điều lệ của Ngân hàng
thương mại cổ phần Sài Gòn (hợp nhất) là
10.584.000.000.000 Đồng (Mười ngàn năm trăm tám
mươi bốn tỷ đồng)
Lịch sử hình thành
Tiền thân là Ngân hàng TMCP Quế Đô được thành lập năm 1992 theo Giấy phép hoạt động số 00018/NH-GP ngày 06/06/1992 của Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam và giấy phép thành lập số 308/GP-UB ngày 26/06/1992 của Ủy ban
Trang 20Nhân dân TP.HCM cấp, đến ngày 08/04/2003, chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) Đến nay, SCB là một trong những Ngân hàng TMCP hoạt
động có hiệu quả trong hệ thống tài chính Việt Nam
Với các chính sách linh hoạt và các sản phẩm dịch vụ toàn diện, đáp ứng được yêu cầu đa dạng của khách hàng là cơ sở vững chắc để SCB đạt được kết quả
và hiệu quả kinh doanh ngày càng cao và luôn là người bạn đồng hành đáng tin cậy của các khách hàng, theo đúng phương châm “Hoàn thiện vì khách hàng”
Ngày 26/12/2011, Thống đốc NHNN chính thức cấp Giấy phép số NHNN về việc thành lập và hoạt động Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) trên cơ sở hợp nhất tự nguyện 3 ngân hàng: Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Ngân hàng TMCP Đệ Nhất (Ficombank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank) Ngân hàng TMCP Sài Gòn (Ngân hàng hợp nhất) chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2012
238/GP-Đây là bước ngoặt trong lịch sử phát triển của cả ba ngân hàng, đánh dấu sự thay đổi về quy mô tổng tài sản lớn hơn, phát triển vượt bậc về công nghệ, mạng lưới chi nhánh phát triển rộng khắp cả nước và trình độ chuyên môn vượt bậc của tập thể cán bộ công nhân viên
Trên cơ sở thừa kế những thế mạnh vốn có của 3 ngân hàng, Ngân hàng hợp nhất đã có ngay lợi thế mạnh trong lĩnh vực ngân hàng và nằm trong nhóm 5 ngân hàng cổ phần lớn nhất tại Việt Nam Cụ thể: Vốn điều lệ đạt 10.584 tỷ đồng, Tổng tài sản ngân hàng đã đạt khoảng 154.000 tỷ đồng, Nguồn vốn huy động từ tổ chức tín dụng, kinh tế và dân cư của ngân hàng đạt hơn 110.000 tỷ đồng Lợi nhuận trước thuế lũy kế đạt trên 1.300 tỷ đồng Hiện hệ thống của ngân hàng tính trên tổng số lượng trụ sở chính, sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, và điểm giao dịch ước khoảng 230 đơn vị trên cả nước sẽ giúp khách hàng giao dịch một cách thuận lợi và tiết kiệm nhất
Từ những thế mạnh sẵn có cùng sự quyết tâm của Hội đồng Quản trị, Ban điều hành và toàn thể CBNV, sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển (BIDV), đặc biệt là sự tin tưởng và ủng hộ của Khách hàng, Cổ
Trang 21đông, Ngân hàng TMCP Sài Gòn (Ngân hàng hợp nhất) chắc chắn sẽ phát huy được thế mạnh về năng lực tài chính, quy mô hoạt động và khả năng quản lý điều hành để nhanh chóng trở thành một trong những tập đoàn tài chính ngân hàng hàng đầu Việt Nam và mang tầm vóc quốc tế, đủ sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường trong và ngoài nước Qua đó, cung cấp giải pháp tài chính linh hoạt, chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng Khách hàng cũng như nâng cao giá trị và quyền lợi cho Cổ đông
Mạng lưới : Tính đến 31/12/2011, mạng lưới của SCB bao gồm : Hội sở chính,
Sở Giao dịch, hơn 115 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc
Năm 2007, là năm bắt đầu SCB thực hiện kiểm toán quốc tế
Năm 2008, SCB là một trong top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam về lợi nhuận, tổng tài sản và số lao động
Năm 2009, SCB xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2008 và được công nhận đạt tiêu chuẩn trong lĩnh vực thanh toán quốc tế Ngoài ra SCB còn trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thẻ quốc tế Mastercard
Năm 2010: SCB đạt danh hiệu “Sản phẩm dịch vụ tốt nhất năm 2010” cho nhóm sản phẩm Tiết kiệm do người tiêu dùng bình chọn
Ngày 01/01/2012, Ngân hàng TMCP Sài Gòn ( SCB ), Ngân hàng TMCP
Đệ Nhất ( Ficombank ), Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa ( TinNghiaBank ) đã hợp nhất theo Giấy phép số 238/GP-NHNN
Trang 22 Định hướng phát triển:
Định hướng mục tiêu chung của SCB là:
Phát triển phải đảm bảo ổn định, bền vững
Hiệu quả hoạt động kinh doanh cần đặt trên cơ sở giữ vững các thiết kế
an toàn hoạt động
Đề cao vai trò kiểm tra giám sát trong tất cả các nghiệp vụ kinh doanh
Mọi hoạt động kinh doanh tác nghiệp đều gắn với giải pháp phòng chống các loại rủi ro có thể phát sinh
Thường xuyên duy trì tính thanh khoản cao mọi lúc mọi nơi
Tuyệt đối giữ vững chữ tín của Ngân hàng trong lòng khách hàng
Từng bước đưa SCB trở thành một trong các NHTM hàng đầu Việt Nam
2.1.2 Sự hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của SCB Khánh Hòa 2.1.2.1 Sự hình thành và phát triển:
Tên Chi nhánh : Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Khánh Hòa
Địa chỉ : Số 78 Lý Thánh Tôn, phường Phương Sài, Tp Nha Trang,
Số lượng nhân sự : 38; số người tại chi nhánh là 32 người
Ban lãnh đạo chi nhánh:
- Trưởng phòng Kinh doanh : Ông Trương Quang Thịnh
- Trưởng phòng Kế toán : Bà Nguyễn Thị Thanh Hà
- Trưởng phòng Tổ chức- Hành chính : Ông Đào Sơn Trung
Trang 232.1.2.2 Cơ cấu tổ chức
Ban giám đốc: gồm Giám đốc và một Phó giám đốc; Ban giám đốc là người trực
tiếp điều hành mọi hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Phòng kinh doanh:
- Tham mưu, đề xuất chính sách, kế hoạch phát triển quan hệ khách hàng
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình Marketing tổng thể cho từng nhóm sản phẩm: tìm kiếm khách hàng, tìm hiểu nhu cầu và ý kiến phản hồi của khách hàng, đo lường mức độ hài lòng của khách hàng đối với các sản phẩm và tiện ích Ngân hàng
- Trực tiếp đề xuất hạn mức, giới hạn tín dụng và đề xuất tín dụng; soạn thảo hợp đồng tín dụng và các hợp đồng có liên quan
- Tham gia ý kiến đối với các vấn đề chung của Chi nhánh theo chức năng, nhiệm vụ được giao (chính sách tín dụng, dịch vụ, quy chế, quy trình tín dụng, chính sách khách hàng, Marketing )
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu Giám đốc Chi nhánh
Phòng kế toán: gồm 5 bộ phận:
- Bộ phận Giao dịch: trực tiếp giao dịch với khách hàng và hạch toán các giao dịch Thực hiện nghiệp vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng
BP KT nội bộ
BP TCHC BP IT
Trang 24- Bộ phận Ngân quỹ: trực tiếp thực hiện nghiệp vụ thu-chi tiền mặt, vàng bạc… tại quầy và quản lý toàn bộ kho tiền và quỹ nghiệp vụ (hồ sơ tài sản thế chấp, chứng từ có giá, vàng bạc đá quí…) của Ngân hàng và của khách hàng Chịu trách nhiệm đề xuất, tham mưu với Giám đốc Chi nhánh về các biện pháp, điều kiện đảm bảo an toàn kho quỹ và an ninh tiền tệ; phát triển các dịch vụ về kho quỹ; thực hiện đúng quy chế, qui trình quản lý kho quỹ Chịu trách nhiệm hoàn toàn về đảm bảo an toàn kho quỹ
- Bộ phận Kế toán nội bộ: thực hiện các nghiệp vụ và các công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêu nội bộ tại Chi nhánh và các báo cáo tổng hợp
- Bộ phận Tổ chức hành chính: chịu trách nhiệm về công tác tổ chức-nhân sự
và phát triển nguồn nhân lực tại Chi nhánh Thực hiện công tác bảo vệ an ninh, an toàn cho Chi nhánh
- Bộ phận IT: thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống điện toán tại Chi nhánh Bảo trì, bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thống máy tính tại Chi nhánh
2.1.3 Các hoạt động kinh doanh của SCB Khánh Hòa
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng huy động vốn dưới các hình thức sau:
Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc ngân hàng Nhà nước chấp nhận
Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của ngân hàng nhà nước
Việc huy động vốn có thể bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ mạnh (USD,EUR) và các hình thức huy động khác
Trang 25+ Cho vay trung, dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh,mở rộng sản xuất
2.1.3.3 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Ngân hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ sau:
Cung cấp các phương tiện thanh toán
Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng
Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ
Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định
Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế theo quy định của pháp luật
Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
SCB tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước
2.1.3.4 Các hoạt động khác
Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Ủy thác, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý
Trang 262.1.4 Kế hoạch kinh doanh SCB Khánh Hòa giai đoạn 2012-2015
Thống nhất phát triển theo định hướng mục tiêu chiến lược trở thành “Ngân hàng bán lẻ đa năng”
Đến năm 2015, SCB Khánh Hòa phấn đấu trở thành Ngân hàng đứng đầu trong công tác huy động vốn và Top 10 trong phát triển dịch vụ bán lẻ tại thị trường Khánh Hòa (chỉ tính trong khối Ngân hàng TMCP ngoài quốc doanh)
Là Ngân hàng có mức độ tín nhiệm cao trong hệ thống Ngân hàng của tỉnh (thể hiện qua số dư huy động vốn, cho vay, số lượng khách hàng)
Đảm bảo an toàn về quản trị rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và nâng cao chất lượng tài sản có
Đảm bảo 100% khách hàng hài lòng khi đến giao dịch với SCB
2.2 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của SCB Khánh Hòa trong ba năm 2009,2010 và 2011
2.2.1 Về cơ cấu nguồn thu
Bảng 02: Cơ cấu tổng thu của ngân hàng SCB Khánh Hòa năm 2009 đến 2011
1 Thu nhập lãi tiền gửi 57.45 96.09% 78.47 95.75% 117.06 99.04%
2 Thu nhập từ lãi cho vay khách hàng 1.22 2.04% 3.26 3.98% 0.62 0.52%
1 Thu từ dịch vụ thanh toán 0.93 1.56% 0.08 0.10% 0.31 0.26%
2 Thu từ dịch vụ ngân quỹ 0.01 0.02% 0 0.00% 0.003 0.0025%
3 Thu từ nghiệp vụ ủy thác và đại lý - -
4 Thu nghiệp vụ bão lãnh 0.002 0.003% 0 0.00% 0.0006 0.0005%
Trang 27Số liệu Bảng 02 cho ta thấy cơ cấu tổng thu của ngân hàng SCB Khánh Hòa bao gồm thu từ lãi và thu ngoài lãi Trong đó, thu ngoài lãi bao gồm : thu từ dịch vụ thanh toán, thu từ dịch vụ ngân quỹ, thu từ ủy thác, thu từ nghiệp vụ bảo lãnh, và thu nhập khác
Thu từ lãi:
Trong cơ cấu nguồn thu của SCB Khánh Hòa, thu từ lãi luôn chiếm tỷ trọng cao nhất Cụ thể, tỷ trọng nguồn thu từ lãi của SCB Khánh Hòa duy trì tỷ trọng trên 98% Trong đó, thu nhập lãi tiền gửi chiếm tỷ trong cao nhất trong cơ cấu nguồn thu
từ lãi (Năm 2009: 96.09%, Năm 2010: 95.69%, Năm 2011: 99.04% ), thu từ cho vay khách hàng chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ ( Năm 2009: 2.43%, năm 2010: 3.98%, Năm 2011: 0.52% ) Nguyên nhân chủ yếu là do nguồn vốn SCB chủ yếu dùng để gửi vốn nội bộ (cho hội sở vay lại), hoạt động cho vay dù có nỗ lực nhưng mức độ phát triển vẫn còn nhiều hạn chế Sở dĩ hoạt động cho vay hạn chế vì trong 3 năm qua (2009-2011), SCB thực hiện chính sách tập trung tín dụng về Hội sở nên các sản phẩm và dịch vụ tín dụng chưa phát triển mạnh như các sản phẩm huy động vốn
Thu ngoài lãi
Thu ngoài lãi của SCB Khánh Hoà chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng cơ cấu thu và hầu như không phát triển qua các năm Tỷ trọng thu ngoài lãi lần lượt qua các năm là: Năm 2009: 1.58%; Năm 2010: 0.27%; Năm 2011: 0.43% Trong đó, nguồn thu này chủ yếu đến từ nguồn thu từ dịch vụ thanh toán (Năm 2009: 1.56%; Năm 2010: 0.1%, Năm 2011: 0.26%) Năm 2010 thu từ thanh toán giảm so với năm
2009 là do phí và giá mua bán ngoại tệ không cạnh tranh so với các ngân hàng khác trên địa bàn Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng chưa được phát triển nên khiến cho việc bán chéo sản phẩm của ngân hàng gặp không ít khó khăn Điều này đã dẫn đến việc các khách hàng trước đây chuyển sang thực hiện các dịch vụ này tại ngân hàng khác Bên cạnh đó, chất lượng sản phẩm dịch vụ thanh toán không cao bằng các ngân hàng khác trên địa bàn Đây thực sự là 1 thách thức đối với quá trình mở rộng hoạt động dịch vụ của chi nhánh nói riêng và của SCB nói chung Điều này rất quan
Trang 28trọng khi mà tình hình kinh tế hiện nay luôn biến động, ngân hàng nên gia tăng nguồn thu từ dịch vụ để tránh rủi ro và gia tăng lợi nhuận
Ngoài ra, nguồn thu từ dịch vụ khác cũng dần đem lại nguồn thu ngày càng tăng cho ngân hàng nhưng cũng không đáng kể (Năm 2009 là 3 triệu đồng, năm
2010 là 140 triệu đồng và đến 2011 con số này là 190 triệu đồng) Trong thời gian qua, ngân hàng đã không ngừng tiếp thị mở rộng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử Tính đến tháng 8/2010, ngân hàng đã phát hành thêm 899 thẻ các loại đạt 112,4% kế hoạch cả năm 2010 Bên cạnh đó, công tác tiếp thị sản phẩm, mở rộng mạng lưới các điểm chấp nhận thẻ của ngân hàng SCB không ngừng tăng từ đó gia tăng thị phần hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên, cũng từ việc hạn chế tín dụng đã khiến cho ngân hàng khó có thể tiếp cận được các đối tượng khách hàng tiềm năng, đặc biệt là các doanh nghiệp trên địa bàn
2.2.2 Về cơ cấu tổng chi
Bảng 03: Cơ cấu tổng chi của ngân hàng SCB Khánh Hòa năm 2009 đến 2011
Đơn vị tính : tỷ đồng
CHỈ TIÊU
1 Chi phí trả lãi tiền gửi 40.02 80.67% 60.92 81.04% 78.24 71.16%
2 Chi phí trả lãi GTCG 1.54 3.10% 2.81 3.74% 10.58 9.62%
3 Chi phí hoạt động tín dụng khác 0.69 1.39% 3.46 4.60% 11.01 10.01%
1 Chi dịch vụ thanh toán 0.09 0.18% 0.11 0.15% 0.3 0.27%
2 Chi dịch vụ ngân quỹ 0.11 0.22% 0.1 0.13% 0.09 0.08%
3 Chi nghiệp vụ ủy thác và đại lý
4 Chi từ kinh doanh ngoại hối
Trang 29 Chi phí trả lãi và các khoản tương tự
Nguồn chi của ngân hàng cũng bao gồm nguồn chi trả lãi và nguồn chi ngoài lãi Chi trả lãi luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấu chi của ngân hàng SCB Khánh Hòa (Năm 2009: 85.16%; Năm 2010: 89.38%; Năm 2011: 90.80% ) Tỷ trọng này có xu hướng ngày càng tăng lên vì hoạt động của SCB chủ yếu là hoạt động huy động vốn và lãi suất huy động vốn có xu hướng tăng lên vào năm 2010,
2011 Các khoản chi còn lại như chi cho hoạt động tín dụng thì không đáng kể vì hầu như hoạt động tín dụng không phát sinh nên các chi phí phục vụ cho hoạt động tín dụng cũng rất ít
Chi phí ngoài lãi
Chi phí ngoài lãi của SCB Khánh Hòa bao gồm các khoản chi phí phục vụ cho các hoạt động như: chi tiền lương cho cán bộ nhân viên, khấu hao tài sản, chi phí công cụ dụng cụ, vật liệu phục vụ công tác, chi phí marketing, quảng cáo, Số liệu trên cho thấy, các khoản chi phí này có xu hướng tăng dần qua các năm và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng các khoản chi ngoài lãi Nguyên nhân là do sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng những năm gần đây, đặc biệt là các ngân hàng có vốn nước ngoài với công nghệ hiện đại ngày càng thu hút nhiều khách hàng, buộc ngân hàng SCB nói chung và SCB Khánh Hòa nói riêng phải tăng cường trang thiết bị công nghệ hiện đại, cũng như những tiện nghi, chương trình marketing để gia tăng chất lượng dịch vụ giúp ngày càng làm hài lòng khách hàng Tuy nhiên, yếu tố con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại của ngân hàng, nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này, hàng năm ngân hàng đều có chính sách tập trung đầu tư cho việc đào tạo nhân sự, cũng như các chính sách nhân sự tốt (tăng lương, tuyển thêm nhân sự) giúp cho nhân viên yên tâm công tác cống hiến cho thành công chung của ngân hàng Do vậy, chi phí cho nhân viên luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi phí hoạt động (Năm 2009 : 48.12%; Năm 2010 : 57.80%; Năm 2011: 62.03% )
Trang 302.2.3 Về kết quả hoạt động kinh doanh
Bảng 04: Kết quả hoạt động kinh doanh của SCB Khánh Hòa
3 Lợi nhuận 10.18 6.78 8.24 -3.4 -33.40% 1.46 21.57%
( Nguồn Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2009-2011) Qua số liệu Bảng 04 ta thấy, mặc dù năm 2009 SCB Khánh Hòa chỉ mới bước vào hoạt động từ tháng 5/2008 nhưng đến cuối năm 2009 đã có lãi 10.18 tỷ đồng Sau đó lãi giảm nhanh vào năm 2010 nhưng lại tăng vào năm 2011 Điều đó cho thấy hoạt động của SCB nhanh chóng khẳng định được tính hiệu quả nhưng tính ổn định chưa cao (giảm nhanh vào năm 2010 nhưng cũng tăng nhanh vào năm 2011) Nguyên nhân do nguồn thu phụ thuộc quá nhiều vào gửi vốn nội bộ nên khi SCB Hội sở điều chỉnh lãi suất gửi vốn nội bộ theo hướng giảm thì lập tức hoạt động của Chi Nhánh SCB Khánh Hoà cũng bị ảnh hưởng khiến cho cho lợi nhuận của Chi nhánh giảm theo Như vậy, muốn có lợi nhuận một cách ổn định thì hoạt động tín dụng của SCB phải được mở rộng để có nguồn thu ổn định, không phụ thuộc vào việc điều chỉnh lãi suất vay - gửi vốn nội bộ của SCB Hội sở
Tóm lại, qua phân tích thu nhập-chi phí-lợi nhuận của SCB Khánh Hòa cho thấy hoạt động của ngân hàng SCB Khánh Hòa có hiệu quả, thể hiện ở việc mở rộng kinh doanh (mở thêm phòng giao dịch Vĩnh Phước), thu nhập có xu hướng tăng dần qua các năm Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy rằng có hai vấn đề còn tồn tại: Thứ nhất, đó là sự mất cân đối trong cơ cấu nguồn thu của ngân hàng (tỷ trọng thu phí dịch vụ quá thấp); Thứ hai, đó là sự mất cân đối trong huy động và cho vay (huy động cao nhưng chủ yếu là để gửi vốn nội bộ về Hội sở) Từ đó, đã dẫn đến sự
Trang 31không ổn định trong nguồn thu nên dẫn đến hiệu quả hoạt động của chi nhánh kém
ổn định và phụ thuộc vào chính sách vay – gửi vốn nội bộ của Hội sở
2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của SCB Khánh Hòa
Tổng quan về thị trường ngân hàng Việt Nam
Theo lộ trình cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đầu năm 2009, Việt Nam đã mở cửa thị trường bán lẻ Ngân hàng bán lẻ là một hoạt động mới mẻ tại Việt Nam Nếu như năm 2007, chỉ có 5% khách hàng có tài khoản ngân hàng thì chỉ trong 2 năm sau, số khách hàng có tài khoản tăng lên rất nhanh Ở khu vực đô thị có từ 30% tới 40% lượng khách hàng có tài khoản ngân hàng Số người dùng thẻ ngân hàng trong giao dịch tại Việt Nam cũng tăng tới 200%/năm Trước năm 2000, Việt Nam chỉ có khoảng 2.000 thẻ tín dụng được phát hành thì bây giờ đã có khoảng từ 50 - 60 triệu thẻ
2010 là năm nhiều thử thách với với ngành ngân hàng do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn chưa hoàn toàn khắc phục Ngân hàng đã phải đối mặt với các áp lực về huy động vốn và tăng vốn điều lệ, lãi suất và tỷ giá biến động… Đây
là hệ lụy của sự biến động giá vàng và lạm phát trên thị trường trong nước và quốc
tế Bên cạnh đó, các chính sách thắt chặt tiền tệ để kiểm soát lạm phát và nâng cao chuẩn an toàn hoạt động cũng gây áp lực không nhỏ lên giá và nhu cầu vốn của các ngân hàng
Tuy nhiên các yếu tố cạnh tranh cũng sẽ ngày càng khốc liệt khi thị trường không chỉ dành riêng cho các tổ chức trong nước mà sẽ có sự góp mặt của các định chế tài chính lớn mạnh nước ngoài
Khó khăn của ngân hàng trong năm 2010 là:
Thứ nhất, mặc dù nền kinh tế đã tăng trưởng trở lại tuy nhiên suy thoái kinh
tế vẫn có tác động không nhỏ Một số diễn biến bất ổn của kinh tế thế giới (khủng hoảng nợ ở một số nền kinh tế châu Âu, những mâu thuẫn về chính sách tỷ giá của một số nền kinh tế lớn) cũng đã gián tiếp ảnh hưởng bất lợi đến Việt Nam Thị trường bất động sản, chứng khoán chưa thực sự hồi phục cùng với biến động bất
Trang 32thường của giá vàng, giá USD trong nước tại một số thời điểm đã gây khó khăn nhất định đối với hoạt động của các ngân hàng
Thứ hai, trong năm 2010 các tổ chức tín dụng đã tập trung tăng nhanh quy
mô mạng lưới, phát triển các kênh bán hàng để chiếm lĩnh thị trường Bên cạnh đó,
sự tham gia ngày càng sâu rộng của các ngân hàng nước ngoài kể cả trong các lĩnh vực vốn là truyền thống của ngân hàng trong nước như lĩnh vực bán lẻ đã tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các tổ chức tín dụng
Thứ ba, các tiêu chuẩn về năng lực tài chính và một số chỉ tiêu an toàn trong hoạt động ngân hàng đã được áp dụng theo hướng đảm bảo an toàn hơn, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế Để đáp ứng các tiêu chuẩn mới này, các ngân hàng cũng phải điều chỉnh cơ cấu tài sản, nâng cao năng lực tài chính, cơ chế quản trị rủi ro, chính sách kinh doanh… Đây là thách thức không nhỏ trong bối cảnh nền kinh tế, thị trường tài chính tiền tệ còn nhiều khó khăn, nhưng việc đáp ứng các tiêu chuẩn mới đó là yếu tố quan trọng tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững trong năm 2011
Năm 2011, thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, ngành Ngân hàng đã chủ động trong điều hành chính sách tiền tệ một cách chặt chẽ, linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tế, khẳng định vị trí huyết mạch của nền kinh tế
Ngành Ngân hàng đã triển khai nhiệm vụ trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm và tiếp tục có những biến động phức tạp, khó lường, tác động nhiều mặt đến nước ta Kinh tế trong nước tăng trưởng chậm, lạm phát tăng cao, kinh tế vĩ
mô tiềm ẩn rủi ro; các ngân hàng đối mặt với khó khăn về thanh khoản và nợ xấu Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo sát sao của Đảng, Chính phủ, cùng với sự phối hợp của các cấp, các ngành, sự cố gắng, nỗ lực của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong ngành từ Trung ương đến địa phương, ngành đã hoàn thành xuất sắc những mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra trong năm qua
Hệ thống ngân hàng đã thực sự là huyết mạch và đáp ứng trên 80% nhu cầu vốn cho nền kinh tế Tín dụng ngân hàng đã được đầu tư hiệu quả và điều chỉnh mạnh mẽ theo hướng tập trung cho các lĩnh vực, ngành kinh tế trọng điểm, góp phần tăng hiệu quả đầu tư toàn xã hội, mang lại kết quả ấn tượng trên các lĩnh vực
Trang 33sản xuất nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu Đặc biệt, trong năm 2011, ngành đã chủ động điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tế, cùng với các giải pháp đồng bộ khác, góp phần quan trọng vào kết quả kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, tăng trưởng kinh tế hợp lý và đảm bảo an sinh xã hội
NHNN và toàn ngành ngân hàng đã triển khai thực hiện các giải pháp, chính sách tiền tệ chặt chẽ và thận trọng, kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng ở mức thấp hơn đáng kể so với chỉ tiêu của Chính phủ đề ra trong Nghị quyết số 11/NQ-CP, góp phần tích cực kiềm chế lạm phát và từng bước giảm dần tốc độ tăng giá
NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng kiểm soát tăng trưởng tín dụng; giám sát việc bảo đảm các tỷ lệ an toàn trong hoạt động cũng như tình hình thanh khoản của các tổ chức tín dụng; xử lý nghiêm các vi phạm phát sinh; tăng cường công tác thông tin truyền thông; tổ chức các cuộc đối thoại giữa NHNN với các ngân hàng thương mại có thị phần lớn để nắm bắt diễn biến thị trường tiền tệ, tìm ra các giải pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc; đưa ra khỏi danh mục tín dụng phi sản xuất đối với một số loại hình cho vay; Nghiệp vụ thị trường mở được điều hành linh hoạt với khối lượng và lãi suất hợp lý nhằm kiểm soát và ổn định thị trường tiền tệ, hạn chế tối đa sử dụng các biện pháp hành chính
Lãi suất huy động tăng cao ở những tháng đầu năm, nhưng từ tháng 9/2011, hầu hết các NHTM thực hiện nghiêm túc quy định của NHNN về trần lãi suất huy động bằng VND ở mức không quá 14%/năm Bên cạnh đó, cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo chiều hướng tích cực, phù hợp với chỉ đạo của Chính phủ; thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát triển
(Nguồn : Tổng hợp từ rat-tre/126/2960677.epi và http://vneconomy.vn/20110104014443264P0C6/hoat-dong-ngan-hang-2011-tien-chu-khong-lui.htm)
Bước sang đầu năm 2012, nền kinh tế Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính tại khối đồng tiền chung Châu Âu và biến động chính trị tại Trung Đông và Châu Phi NHNN vẫn tiếp tục áp dụng chính sách tiền
Trang 34tệ thắt chặt từ năm 2011, việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng và phương tiện thanh toán tiếp tục được thực hiện
Các ngân hàng đang có xu hướng hợp nhất, mua bán và sáp nhập, mở đầu là
sự tiến hành hợp nhất của Ngân hàng TMCP Đệ Nhất, Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa và Ngân hàng TMCP Sài Gòn Nhiều dự báo cho rằng năm 2012 là năm các ngân hàng thi nhau tiến hành hợp nhất, mua bán và sáp nhập; đây là cơ hội để các ngân hàng cùng nhau phát triển bền vững hơn nhưng nếu việc sáp nhập bắt nguồn từ sự thiếu khả năng thanh khoản thì việc sáp nhập để phục vụ cho mục đích sống còn của các ngân hàng
Kết thúc quý I của năm 2012, nhiều ngân hàng đang phải đối mặt với rủi ro nợ xấu Ngoài những món nợ xấu của các cá nhân và các doanh nghiệp, tình trạng nợ xấu đang lan tỏa sang khu vực thị trường liên ngân hàng.Có hiện tượng nhiều ngân hàng phá thông lệ cho nhau vay tín chấp và chuyển sang cho vay tài sản thế chấp
Ngoài ra, có nghịch lý đáng quan tâm là: trong khi dư nợ cho vay sụt giảm nhưng nợ xấu của nhiều ngân hàng lại tăng nhanh Điều này không chỉ xảy ra ở các ngân hàng nhỏ, mà ở ngay cả những ngân hàng lớn, đặc biệt là các ngân hàng thương mại quốc doanh, chẳng hạn như Vietinbank (theo báo cáo tài chính quý I/2012), tỷ lệ nợ xấu đã tăng 139%, tức tăng hơn gấp đôi, từ 2.165 tỷ đồng cuối năm
2011 lên 5.176,7 tỷ đồng chỉ sau ba tháng đầu năm 2012
Phân tích, đánh giá tình hình kinh tế xã hội tại Khánh Hòa
Tỉnh Khánh Hòa có diện tích 5217,6 km², dân số khoảng 1.157.000 người, mật độ trung bình 222 người/km², bờ biển dài hơn 200 km Khánh Hòa bao gồm 02 thành phố trực thuộc tỉnh, 1 thị xã và 6 huyện Hệ thống cơ sở hạ tầng của Khánh Hòa khá hoàn chỉnh, có QL 1A và đường sắt Bắc Nam nối liền với các tỉnh (cách thủ đô Hà Nội 1.280 km về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 448 km về phía Bắc) và QL 26 nối với Đăk Lăk và các tỉnh Tây Nguyên Khánh Hoà có 6 cảng biển, trong đó có 3 cảng biển cho tàu có trọng tải 10.000 - 30.000 tấn cập bến, có ga đường sắt chính, có sân bay Cam Ranh có thể nâng cấp thành sân bay quốc tế, thuận lợi cho việc giao lưu trong nước và quốc tế; Bán đảo Đầm Môn là điểm cực đông
Trang 35của cả nước, vịnh Vân Phong kín gió, luồng lạch rộng, là khu vực tránh bão tốt nhất của tàu thuyền Đây là vị trí gần đường hàng hải quốc tế nhất, cách đều các cảng trung chuyển quốc tế trong khu vực: Singapore, Manila, HongKong Thế mạnh của địa phương là dịch vụ du lịch (khách sạn, dịch vụ lữ hành ), đánh bắt & chế biến thủy hải sản, đóng tàu
Mục tiêu chiến lược là phát triển kinh tế và xây dựng tỉnh Khánh Hòa trở thành Trung tâm kinh tế chính trị xã hội của khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Những năm qua, mặc dù chịu tác động khủng hoảng chung của tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam nhưng Khánh Hòa vẫn là tỉnh duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định hơn mức bình quân của cả nước
- Về kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng (GDP) của tỉnh luôn tăng cao và ổn định (bình quân tăng trên 10%) Giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh cũng tăng trưởng và đạt giá trị cao (nằm trong nhóm các tỉnh có giá trị sản xuất công nghiệp cao của cả nước) Năm
2011, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 1.710 USD, thu ngân sách nhà nước tỉnh Khánh Hòa ước đạt 8,215 tỷ đồng
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: công nghiệp, xây dựng – dịch vụ, du lịch – nông, lâm, thủy sản Môi trường đầu tư của tỉnh ngày càng được cải thiện, công tác cải cách hành chính ngày càng khắc phục được những tồn tại đã tạo điều kiện thuận lợi thu hút nhiều dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh
Theo thống kê năm 2009, trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà có 3.660 doanh nghiệp (1.699 công ty TNHH, 288 công ty CP, 1.673 DNTN) và hơn 40.000 hộ KD
cá thể đăng ký kinh doanh và đang hoạt động
- Về văn hóa, xã hội:
Đa số tỷ lệ cơ cấu là dân số trẻ, số người trong độ tuổi lao động ngày càng tăng (chiếm 42% dân số) Tỷ lệ tăng dân số thời kỳ 2006 - 2010 là 1,6 - 1,7%, thời
kỳ 2011 - 2020 dự kiến khoảng 1,4 - 1,5% Phấn đấu đến hết năm 2020, tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 68,5 - 70%, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khoảng 70%; mức sống
Trang 36bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đạt tiêu
chuẩn của đô thị loại I
Tỉnh đang cố gắng đẩy mạnh các chương trình quốc gia về văn hóa, y tế,
nâng cao chất lượng giáo dục, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở Xã hội hóa giáo
dục, tăng cường đầu tư trường lớp, đa dạng hóa các loại hình đào tạo Nâng cao chất
lượng nguồn lao động, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2020 đạt khoảng
60 - 70% Hiện toàn tỉnh có 03 trường đại học, 1 trường dự bị đại học, 05 trường
cao đẳng, 03 trường trung học chuyên nghiệp, 03 viện nghiên cứu quốc gia, 01
trường quốc tế và hệ thống các loại hình đào tạo dạy nghề và liên kết khác Mặt
bằng dân trí và hệ thống các trường đào tạo này là cơ sở đảm bảo nguồn nhân lực
cho phát triển trong tương lai
Tóm lại, chính sự phát triển nhanh, ổn định và biết dựa trên tiềm năng thế
mạnh của mình trong nhiều năm liền không chỉ giúp cho Khánh Hòa thu hút vốn
đầu tư cả trực tiếp lẫn gián tiếp mà còn góp phần cải thiện đáng kể đời sống của
người dân Sự phát triển kinh tế sẽ làm thay đổi thói quen tập quán, tiêu dùng của
người dân với chất lượng cuộc sống ngày càng cao hơn từ đó sẽ góp phần vào việc
phát triển đáng kể các dịch vụ bán lẻ của các doanh nghiệp trong tỉnh nói chung và
ngành Ngân hàng nói riêng
2.3.1 Dựa vào tác động của các yếu tố để đánh giá năng lực cạnh tranh
2.3.1.1 Yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
Yếu tố chính trị, pháp luật
Ngành ngân hàng là lĩnh vực hoạt động mang tính nhạy cảm đối với các yếu
tố chính trị Sự ổn định về mặt chính trị giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể
phát triển ổn định với khả năng huy động ngày càng nhiều nguồn vốn tích luỹ trong
dân để đầu tư và phát triển
Việc hoạt động kinh doanh của các ngân hàng hiện nay chịu sự quản lý, giám
sát chặt chẽ từ NHNN, phải tuân theo sự thay đổi trong chính sách tiền tệ, quản lý
ngoại hối, tài trợ xuất khẩu, các cam kết đa phương, các quy định về cho vay… Lấy
ví dụ việc Chính phủ thực hiện đóng cửa sàn vàng năm 2009 hay thông tư 22 về
Trang 37hoạt động vàng của NHNN đã ảnh hưởng khá lớn đến các ngân hàng đầu tư sàn vàng và các hoạt động về vàng; hay là bắt đầu từ ngày 13/03/2012, NHNN đưa ra quyết định trần lãi suất huy động 13%, từ ngày 11/04/2012 lãi suất lại tiếp tục giảm xuống còn 12% và đến ngày 28/05/2012 trần lãi suất huy động chỉ còn 11%, điều này tác động khá lớn đến tình hình huy động vốn của các NHTM
Yếu tố kinh tế
Yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng lớn và trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Các yếu tố vĩ mô như tỷ lệ lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái… luôn luôn là các yếu tố tác động mạnh mẽ đến hoạt động của các ngân hàng
Năm 2011 vừa qua là một năm tiếp tục khó khăn với nền kinh tế thế giới khi phải đối mặt với nguy cơ lạm phát cao, khủng hoảng nợ công ở châu Âu, giảm giá đồng USD… Trong bối cảnh đó, với nhiều cố gắng trong việc thực thi chính sách của Chính phủ, tỷ lệ lạm phát năm 2011 là 18.58% , Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đạt được vào khoảng 122 tỷ USD, đạt mức tăng trưởng là 5.89% Trong lĩnh vực ngân hàng, vấn đề lãi suất, tỷ giá, giá vàng cũng đã ảnh hưởng lớn đến nguồn vốn huy động… đã gây sức ép lớn lên hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam
Ảnh hưởng của lạm phát đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng:
- Thứ nhất, khả năng thanh khoản bị suy giảm Hệ thống Ngân hàng là huyết mạch của cả nền kinh tế nên tính thanh khoản của hệ thống Ngân hàng phản ánh tính thanh khoản của nền kinh tế, khi hệ thống Ngân hàng mất khả năng thanh khoản thì cũng là lúc nền kinh tế rơi vào khủng hoảng Việc NHNN thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu bắt buộc đã ảnh hưởng trực tiếp và là một nhân tố làm giảm khả năng thanh khoản của
hệ thống NHTM
- Thứ hai, hoạt động huy động vốn gặp khó khăn, nguyên nhân: Do tâm lý lo
sợ trước tình hình lạm phát tăng cao, đồng tiền mất giá nên người dân có xu hướng tìm đến các kênh đầu tư an toàn hơn như mua vàng và ngoại tệ, thay vì gửi tiền nhàn rỗi vào Ngân hàng như trước đây, từ đó làm giảm khả năng huy động vốn của
Trang 38các Ngân hàng Ngoài ra, giá cả các mặt hàng thiết yếu trong sản xuất và tiêu dùng tăng cao làm cho người dân và các doanh nghiệp sẽ phải chi tiêu nhiều hơn, dẫn đến nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư và doanh nghiệp giảm đi, trong điều kiện đó, các Ngân hàng khó có thể gia tăng được nguồn tiền huy động
- Thứ ba, hoạt động tín dụng bị kiềm chế và tiềm ẩn nhiều rủi ro Lạm phát làm cho cả lãi suất huy động và cho vay của các Ngân hàng tăng cao, ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của chính các Ngân hàng và của cả nền kinh tế Lạm phát cao làm cho nguy cơ nợ xấu gia tăng, chất lượng tín dụng bị suy giảm (vì: Khi xảy ra lạm phát, giá cả vật tư, hàng hoá và các chi phí đầu vào của doanh nghiệp bị đẩy lên, kèm theo đó là lãi suất tiền vay Ngân hàng cao đã làm giảm hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp vay vốn, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ tiền vay của doanh nghiệp đối với các Ngân hàng; Khi các Ngân hàng xiết chặt việc cho vay sẽ dẫn đến tình trạng nền kinh tế thiếu tính thanh khoản, hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ, các doanh nghiệp chiếm dụng vốn lẫn nhau, mất khả năng thanh toán; nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đứng trước nguy cơ phá sản, đẩy gánh nặng nợ xấu về phía các Ngân hàng)
- Thứ tư, lợi nhuận bị giảm sút, dưới tác động của lạm phát và các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt của NHNN, lợi nhuận của các NHTM không thể tránh khỏi xu hướng sụt giảm bởi các nguyên nhân: Quy mô hoạt động tín dụng
bị kiềm chế, lãi suất huy động tăng cao trong khi lãi suất và các khoản phí dịch vụ trong hoạt động cho vay bị khống chế làm cho hoạt động tín dụng không có hiệu quả; NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu bắt buộc để giảm lượng tiền cung ứng sẽ làm cho chi phí vốn của các NHTM tăng lên; chất lượng tín dụng suy giảm làm tăng chi phí trích lập dự phòng rủi ro và làm giảm lợi nhuận
Ảnh hưởng của lãi suất đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng:
Kể từ khi Thông tư 30/2011/TT-NHNN được ban hành, quy định lãi suất tối
đa với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là 6%/năm, lãi suất huy động nhìn chung đi vào khuôn khổ ở mức 14%/năm; hầu hết các ngân hàng đã thực hiện nghiêm túc theo thông tư này
Trang 39Trong thời gian qua, trần lãi suất tuy còn một số vấn đề chưa được như mong muốn của người làm chính sách nhưng về cơ bản đã phát huy hiệu quả tích cực, lập lại trật tự trên thị trường tiền tệ Các ngân hàng thương mại lớn tiếp tục khẳng định sức mạnh; các ngân hàng nhỏ gặp khó khăn hơn về huy động vốn, có thể dẫn tới căng thẳng về thanh khoản Vừa qua, việc BIDV cam kết hỗ trợ thanh khoản 8.000
tỷ đồng cho BacAbank và GPBank là một dấu hiệu của điều này
Lãi suất liên ngân hàng: Trong tháng 11/2011, lãi suất VND qua đêm phổ biến từ 13-15%; 1 tuần 15%-17%; 2 tuần 16%-18%; 1 tháng 18%-19% đã giảm đáng kể so với tháng 10 Cao hơn nhiều so với huy động từ dân cư (14%), nhiều người lo ngại rằng lãi suất liên ngân hàng tăng cao là dấu hiệu của sự thiếu thanh khoản của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ rất dễ dẫn đến sự đổ
vỡ Các chuyên gia kinh tế cho biết lãi suất liên ngân hàng tăng cũng không quá đáng ngại Vì lãi suất liên ngân hàng chỉ phản ánh trong chu kỳ ngắn hạn, nếu mức tăng cứ diễn ra đều đều và liên tục theo tháng mới đáng bàn, hiện tại mới diễn ra theo tuần là chủ yếu
Yếu tố xã hội
Yếu tố xã hội cũng là một yếu tố có sự ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng Quy mô dân số, biến động dân số, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ nhận thức, những khuôn mẫu hành vi xã hội, chất lượng cuộc sống, lối sống, tín ngưỡng, tôn giáo, thói quen sử dụng các dịch vụ của các tầng lớp dân cư… đều có sự tác động tạo ra cơ hội hay thử thách đối với các ngân hàng khi cung cấp sản phẩm Việt Nam hiện nay với dân số gần 88 triệu người và đa phần trong độ tuổi lao động thực sự là một thị trường tiềm năng cho các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng
2.3.1.2 Yếu tố thuộc môi trường vi mô
Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Do tính chất quan trọng của mình trong nền kinh tế, hoạt động ngân hàng là hoạt động có mức độ cạnh tranh khá cao Tính đến cuối năm 2011, ở Việt Nam có 2 ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước (ngân hàng phát triển Việt Nam, ngân hàng chính sách xã
Trang 40hội), 40 ngân hàng thương mại, 06 ngân hàng liên doanh, 14 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động, cạnh tranh nhau trên nhiều mặt Riêng ở tỉnh Khánh Hòa có 33 TCTD, 3 quỹ tín dụng nhân dân, và 07 ngân hàng có
sở hữu của Nhà nước và 25 ngân hàng TMCP ngoài quốc doanh
Đối với các ngân hàng trong nước, hiện đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa khối NHTM Nhà nước với khối Ngân hàng TMCP trên lĩnh vực truyền thống của ngân hàng như huy động vốn và cho vay và hiện đang có sự chuyển dịch thị phần từ khối NHTM Nhà nước sang khối ngân hàng TMCP năng động và có chính sách cạnh tranh hợp lý Hiện nay hoạt động cho vay vẫn là mảng hoạt động chính tại các NHTM Việt Nam với mức bình quân chiếm hơn 50% tổng tài sản
Ngoài ra, sự cạnh tranh còn diễn ra giữa các ngân hàng trong nước với các ngân hàng nước ngoài Trong khi các NHTM trong nước cạnh tranh khốc liệt để phát triển tín dụng, chạy đua lãi suất, thì các ngân hàng nước ngoài lại đi sâu phát triển các lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, kinh doanh vốn và thị trường ngoại hối, nghiệp vụ ngân hàng toàn cầu, thanh toán quốc tế và tài trợ chuỗi cung ứng, dịch vụ lưu ký chứng khoán
Số lượng nhiều, áp lực cạnh tranh mạnh mẽ là nhân tố thúc đẩy các ngân hàng cải tiến quy trình, công nghệ, kỹ thuật… nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của bản thân để tồn tại và phát triển trong môi trường tài chính khắc nghiệt Điều này đặc biệt ý nghĩa đối với các ngân hàng có quy mô vừa và nhỏ vốn phải chịu không
ít áp lực cạnh tranh như Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Khánh Hoà
Sản phẩm thay thế
Dưới sự thay đổi không ngừng của nhu cầu xã hội, sự thay đổi môi trường kinh doanh và bùng nổ về công nghệ… dẫn tới sự xuất hiện của một số sản phẩm, dịch vụ của các tổ chức tín dụng có khả năng cạnh tranh, thay thế các sản phẩm ngân hàng Chẳng hạn như các công ty bảo hiểm với các sản phẩm mang hơi hướng của những sản phẩm truyền thống của ngân hàng như sản phẩm tiết kiệm với thời gian dài; các công ty tài chính với các sản phẩm tín dụng tiêu dùng… Các trung gian này cung cấp cho khách hàng những sản phẩm mang tính khác biệt và tạo cho