Chương 3: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tỉnh Khánh Hòa Trong quá trình viết đề tài này, mặc dù đã cố gắng hoàn thiện nhưng do trình độ c
Trang 1Lời mở đầu
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước là một trong những yêu cầu bức thiết của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hàng chục năm qua cho thấy mặc dù doanh nghiệp nhà nước được giao phĩ vai trị chủ đạo song hoạt động của chúng cĩ nhiều điểm bất cập Đa số các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, gây thất thốt tài sản của Nhà nước một cách nghiêm trọng Chính vì vậy cho tới nay, vấn đề sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước để loại hình doanh nghiệp này trở thành động lực chủ yếu của nền kinh tế luơn luơn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Một trong những giải pháp đổi mới doanh nghiệp nhà nước được thực hiện cĩ hiệu quả
và mang lại nhiều thay đổi triệt để trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước là cổ phần hĩa
Cổ phần hĩa là một biện pháp quan trọng trong việc sắp xếp đổi mới phát triển
và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước tương đối triệt để và phù hợp với chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta Trong Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ
rõ Đẩy mạnh và mở rộng diện cổ phần hĩa doanh nghiệp nhà nước, kể cả các tổng cơng ty, nhằm tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, để vốn nhà nước được sử dụng cĩ hiệu quả và ngày càng tăng lên đồng thời thu hút mạnh các nguồn lực trong, ngồi nước cho phát triển Thực hiện nguyên tắc thị trường trong việc cổ phần hĩa doanh nghiệp nhà nước
Khánh Hịa là một trong những Tỉnh cĩ tiềm năng to lớn về du lịch, là vùng đất được mệnh danh “thiên thời, địa lợi, nhân hịa” Nhận thức được thế mạnh đĩ, Khánh Hịa đã cĩ những chính sách phát triển kinh tế xã hội tạo động lực cho các thành phần kinh tế trên địa bàn phát triển gĩp phần tạo nên những thành tựu to lớn cho nền kinh tế đất nước Thơng qua cơng cuộc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước nĩi chung và cơng tác cổ phần hĩa doanh nghiệp nhà nước nĩi riêng, tỉnh Khánh Hịa đã và đang thực hiện mạnh mẽ cơng tác cổ phần doanh nghiệp và bước
Trang 2đầu đã đem lại hiệu quả đáng kích lệ Để hiểu rõ thực trạng công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Khánh Hòa trong thời gian qua, em quyết định chọn
đề tài cho đồ án tốt nghiệp của mình là “ Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tỉnh Khánh Hòa”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu thực trạng công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tỉnh Khánh Hòa trên cơ sở những mặt đạt được và những mặt tồn tại để đề xuất một số biện pháp hoàn thiện nhằm đẩy nhanh công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tỉnh Khánh Hòa
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đề tài nghiên cứu công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tỉnh Khánh Hòa
và phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện nội dung đề tài, đã sử dụng các phương pháp sau: phương pháp thống kê, tổng hợp, liên hệ, phỏng vấn, quan sát thực tế
- Đưa ra một số biện pháp góp phần đẩy nhanh công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tỉnh Khánh Hòa
6 NỘI DUNG VÀ KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo đề tài gồm những phần sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Chương 2: Thực trạng công tác cổ phần hóa DNNN tỉnh Khánh Hòa
Trang 3Chương 3: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tỉnh Khánh Hòa
Trong quá trình viết đề tài này, mặc dù đã cố gắng hoàn thiện nhưng do trình độ còn hạn chế cũng như thiếu kinh nghiệm thực tế, cũng như thời gian nghiên cứu của
em không nhiều nên không thể tránh những thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý kiến cũng như nhận xét của các thầy cô giáo trong khoa, các cô chú trong Sở để tự hoàn thiện cũng như đúc rút kinh nghiệm cho bản thân được tốt hơn hơn
Với lòng biết ơn chân thành, em xin cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa kinh tế, trường đại học Nha Trang, và các cô chú phòng tài chính doanh nghiệp tại
Sở tài chính Đặc biệt là thầy Hoàng Văn Huy và Cô Lê Ngọc Tường Loan đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo cho em trong thời gian qua, để em hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình
Nha trang, tháng 11 năm 2006
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hà Vi
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Trang 41.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC:
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước:
Điều 1, Luật doanh nghiệp nhà nước quy định về doanh nghiệp nhà nước như sau: “ Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”
1.1.2 Vài trò của doanh nghiệp nhà nước:
- Doanh nghiệp nhà nước có vị trí rất quan trọng, góp phần để khu vực kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là động lực thúc đẩy sự phân bố lại dân cư theo hướng công nghiệp hóa, hình thành các trung tâm kinh tế, văn hóa, đô thị mới, trang bị lại kỹ thuật, đổi mới công nghệ cho toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, đào tạo bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề và tạo thêm điều kiện hạ tầng cho quá trình phát triển
Việc liên tục đổi mới hệ thống chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước nói riêng và kinh tế nhà nước nói chung bước đầu đã giúp hình thành đòn bẩy thu hút
và khuyến khích các thành phần kinh tế khác liên doanh với doanh nghiệp nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế
- Doanh nghiệp nhà nước là công cụ vật chất để Nhà nước điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Doanh nghiệp nhà nước đã và đang chiếm vị trí quan trọng trong nhiều ngành kinh tế chủ chốt, bảo đảm các điều kiện cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội ngày một tốt hơn; cung ứng hàng hóa, vật tư, năng lượng chủ yếu cho sản xuất và đời sống Doanh nghiệp nhà nước
Trang 5giữ vai trò quyết định trong việc cung cấp những sản phẩm trọng yếu cho nền kinh
tế quốc dân, như điện, sắt thép, xi măng, phân bón, xăng dầu, giấy viết, đồng thời
là một trong các lực lượng chủ lực thực hiện các chính sách xã hội thông qua các doanh nghiệp công ích (Nhờ có doanh nghiệp nhà nước và lực lượng vũ trang, chúng ta có khả năng ứng phó đặc biệt có kết quả trong việc khắc phục hậu quả thiên tai)
Sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước trong các ngành hạ tầng như giao thông, năng lượng, bưu chính viễn thông, dịch vụ, đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển
Mặc dù đã giảm mạnh về số lượng doanh nghiệp và phần tài trợ của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước vẫn đạt được nhiều tiến bộ trong việc bảo đảm hầu hết yêu cầu sản phẩm và dịch vụ công ích, các điều kiện giao thông, điện, nước, thông tin, vật tư, hàng hóa cho xuất khẩu và thị trường trong nước, đóng góp cho ngân sách nhà nước
- Doanh nghiệp nhà nước đang đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách xã hội và ổn định chính trị - xã hội, định hướng công bằng, văn minh, góp phần cùng với khu vực kinh tế khác giải quyết các vấn đề việc làm, thu nhập cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, phát triển văn hóa giáo dục, y tế làm
cơ sở và nền tảng cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng khá cao về xuất nhập khẩu Tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân hàng năm đạt 20% Doanh nghiệp nhà nước là đầu mối xuất khẩu hầu hết các mặt hàng quan trọng như dầu thô, than, gạo, hàng may mặc Đồng thời, doanh nghiệp nhà nước cũng chiếm trên 98% tổng số dự
án liên doanh với nước ngoài, đã góp phần tạo ra nguồn thu đáng kể từ khu vực này
- Khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm vị trí quan trọng trong các nguồn thu của ngân sách nhà nước Mặt khác, các khoản tài trợ trực tiếp và gián tiếp từ ngân sách cho các doanh nghiệp nhà nước đã giảm làm cho phần đóng góp thực của doanh nghiệp nhà nước vào ngân sách tăng lên
- Tổng công ty nhà nước đã thể hiện vai trò nòng cốt, chủ lực trong nền kinh
tế, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, duy trì tỷ lệ tăng trưởng tương đối cao, hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách, ổn định việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên và tích cực tham gia vào các chính sách xã hội Đồng thời huy động nguồn lực nội bộ trong toàn bộ tổng công ty kết hợp với các
Trang 6nguồn vốn khác để điều hòa thực hiện các chương trình đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh, khai thác thị trường trong
nước và mở rộng thị trường nước ngoài
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.2.1 Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ chỗ chỉ có một sở hữu thành Công ty cổ phần, tức là có nhiều chủ sở hữu Cổ phần hóa có thể diễn ra tại các doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty liên doanh và tại doanh nghiệp nhà nước Cổ phần hóa là quá trình đa dạng hóa sở hữu tại doanh nghiệp
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, trong đó Nhà nước có thể giữ tư cách là một cổ đông, tức là Nhà nước vẫn có thể là chủ sở hữu một bộ phận tài sản của doanh nghiệp Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không chỉ là quá trình chuyển sở hữu nhà nước sang sở hữu của các cổ đông, mà còn có cả hình thức doanh nghiệp nhà nước thu hút thêm vốn thông qua hình thức phát hành thêm cổ phiếu để trở thành Công ty cổ phần
1.2.2 Mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần:
Cổ phần hóa nhằm đạt mục tiêu sau đây: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nhằm đa dạng hóa sở hữu doanh nghiệp nhà nước, huy động nguồn vốn của người lao động, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đáp ứng nhu cầu tăng vốn dài hạn cho nền kinh tế, năng lực kinh doanh, hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước,
tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Theo Nghị định 187/2004/NĐ-CP “ Về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần” thay thế Nghị Định 64/2002/NĐ-CP thì mục tiêu và yêu cầu của việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công cổ phần hiện nay là:
- Chuyển đổi những công ty nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
- Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp
Trang 7- Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán
Với ba mục tiêu trên, có thể thấy rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp nhà nước cần được giải quyết một cách cơ bản Cổ phần hóa là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết cơ bản vấn đề này, đồng thời tạo ra một mô hình doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đáp ứng nhu cầu của kinh doanh hiện đại
1.2.3 Đối tượng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước:
Căn cứ vào Điều 2 Nghị định 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ thì đối tượng
cổ phần hóa hiện nay là:
- Công ty nhà nước không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thực hiện cổ phần hóa, bao gồm: các tổng công ty nhà nước (kể cả ngân hàng thương mại nhà nước và các tổ chức tài chính nhà nước); công ty nhà nước độc lập; công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu
tư và thành lập; đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty nhà nước (dưới đây gọi tắt
là doanh nghiệp cổ phần hóa)
Danh mục công ty nhà nước thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều
lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định trong từng thời kỳ
- Các công ty nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này được tiến hành cổ phần hóa khi còn vốn nhà nước (chưa bao gồm giá trị quyền sử dụng đất) sau khi giảm trừ giá trị tài sản không cần dùng, tài sản chờ thanh lý; các khoản tổn thất do
lỗ, giảm giá tài sản, công nợ không có khả năng thu hồi và chi phí cổ phần hóa
- Việc cổ phần hóa đơn vị hạch toán phụ thuộc của các công ty nhà nước
thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này chỉ được tiến hành khi:
+ Đơn vị hạch toán phụ thuộc của doanh nghiệp có đủ điều kiện hạch toán độc lập
+ Không gây khó khăn hoặc ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hoặc các bộ phận còn lại của doanh nghiệp
1.2.4 Hình thức cổ phần hóa:
Trang 8Căn cứ vào Điều 3 Nghị định 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ thì cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hiện nay bao gồm ba hình thức sau đây:
- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn áp dụng đối với những doanh nghiệp cổ phần hóa có nhu cầu tăng thêm vốn điều lệ Mức vốn huy động thêm tuỳ thuộc vào quy mô và nhu cầu vốn của công ty cổ phần Cơ cấu vốn điều lệ của công ty cổ phần được phản ảnh trong phương án cổ phần hóa
- Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn
- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn
1.2.5 Đối tượng và điều kiện mua cổ phiếu
Theo Điều 4 Nghị Định 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ đối tượng và điều kiện mua cổ phiếu hiện nay như sau:
- Các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội hoạt động theo luật pháp Việt Nam và
cá nhân người Việt Nam định cư ở trong nước (sau đây gọi tắt là nhà đầu tư trong nước) được quyền mua cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa với số lượng không hạn chế
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (sau đây gọi tắt là nhà đầu tư nước ngoài) được mua cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam
- Nhà đầu tư nước ngoài có nhu cầu mua cổ phần ở các doanh nghiệp cổ phần hóa phải mở tài khoản tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam và tuân thủ pháp luật Việt Nam Mọi hoạt động mua, bán cổ phần; nhận, sử dụng cổ tức và các khoản thu khác từ đầu tư mua cổ phần đều phải thông qua tài khoản này
1.2.6 Tác động của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước:
Cổ phần hóa có vai trò to lớn trong việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước, nhất
là ở những nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tác dụng của cổ phần hóa thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
Trang 9- Cổ phần hóa có tác dụng làm cho sở hữu trong doanh nghiệp trở nên đa dạng hơn Chính vì vậy, nó giải quyết được khá triệt để vấn đề sở hữu một chủ trong doanh nghiệp nhà nước vốn gây ra nhiều vướng mắc về hiệu quả và sự kém năng động trong sản xuất kinh doanh
- Cổ phần hóa có tác dụng trong việc xã hội hóa tư liệu sản xuất trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu một chủ Như vậy, các thực thể kinh tế vi mô cũng trở nên đa sở hữu như bản thân nền kinh tế vĩ mô Điều này tạo ra sự tương thích nhất định của các giải pháp quản lý vĩ mô và vi mô
- Cổ phần hóa tạo ra cho người lao động cơ hội thực sự làm chủ doanh nghiệp nếu như họ mong muốn Bằng việc sở hữu cổ phần (hay phần vốn góp) trong doanh nghiệp, người lao đông có thể tham gia vào việc giải quyết các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thông qua cái gọi là “nền dân chủ cổ phần” Họ góp phần hình thành nên các cơ quan quản lý doanh nghiệp, quyết định các vấn đề trọng đại của
nó Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tính chủ động, tích cực của người lao động không chỉ đối với các vấn đề của doanh nghiệp mà cả đối với các vấn đề kinh tế - chính trị xã hội của đất nước
Những tác động to lớn mang tính phổ biến trên của cổ phần hóa đương nhiên đúng với giải pháp cổ phần hóa doanh nghiêp nhà nước mà Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành
1.3 TẠI SAO PHẢI CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Doanh nghiệp nhà nước bên cạnh tác động tích cực không thể phủ nhận, thì đây là khu vực hoạt động kém hiệu quả nhất gây ra những tổn thất to lớn về nguồn lực phát triển đất nước, đòi hỏi phải được đổi mới một cách cấp thiết, nguyên nhân
là do:
Một là, Các doanh nghiệp nhà nước được sinh ra và trưởng thành trong cơ
chế tập trung quan liêu, bao cấp kéo dài hàng chục năm với chính sách cấp phát, giao nộp Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong điều kiện vốn được Nhà nước bao cấp, vật tư nhận theo chỉ tiêu kế hoạch, sản phẩm làm ra giao nộp theo địa chỉ qui định Các điều kiện vật chất được Nhà nước cân đối theo chỉ tiêu, định mức, trong thực tế doanh nghiệp đơn thuần chỉ là một đơn vị gia công hàng hóa cho Nhà nước, chính vì vậy doanh nghiệp không là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ và khi chuyển sang nền kinh tế thị trường nó bộc lộ rõ yếu kém của mình về hiệu quả sản xuất kinh doanh, cơ cấu chắp vá, không đồng bộ và xơ cứng không thích hợp với cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường Các mục tiêu mà nhà nước áp đặt cho
Trang 10doanh nghiệp, nhiều khi làm cho doanh nghiệp hoạt động không đạt hiệu quả cao về mặt kinh tế_kỹ thuật, chẳng hạn vì lý do bảo đảm phát triển đồng đều giữa các vùng
và các doanh nghiệp nhà nước buộc phải đặt ra các vị trí không thuận lợi cho sản xuất kinh doanh
Hai là, các doanh nghiệp nhà nước đã từ lâu không được đặt trong môi
trường cạnh tranh, không gắn với thị trường, không chú trọng đổi mới thiết bị, công nghệ và điều tất yếu là vốn liếng không được bảo toàn phát triển, thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc hậu hàng chục năm so với mức trung bình của thế giới Nói chung sức cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp nhà nước còn yếu, một bộ phận không nhỏ sản phẩm làm ra không tiêu thụ được vì giá thành cao, chất lượng thấp, và không phù hợp được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng Nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo nguyên tắc “cào bằng” không phụ thuộc vào lợi nhuận mà nó mang lại, dẫn đến làm mất tác dụng của cơ chế cạnh tranh, kích thích tính hiệu quả của doanh nghiệp
Ba là, quan niệm không rõ ràng về chế độ sở hữu trong doanh nghiệp nhà
nước đã làm cho bộ máy quản lý của chúng trở nên cồng kềnh, chồng chéo, xơ cứng, không thích nghi được với biến động của nền kinh tế thị trường Tình trạng làm chủ chung chung mà thực chất là “vô chủ” tồn tại phổ biến hầu hết ở các doanh nghiệp nhà nước Mặc dù với số lượng nhân viên gián tiếp nhiều hơn hẳn các doanh nghiệp tư nhân nhưng việc quản lý diều hành ở các doanh nghiệp nhà nước vừa yếu vừa kém hiệu quả Chính kết hợp quản lý yếu kém với công nghệ lạc hậu của các doanh nghiệp nhà nước, đã làm cho năng suất lao lao động và hiệu quả sản xuất chỉ đạt ở mức thấp
Bốn là, phân phối không dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động mà
chủ yếu nhằm vào chính sách xã hội, mang nặng tính bình quân chủ nghĩa, không
có tác dụng kích thích cán bộ quản lý, người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước nâng cao hiệu quảt lao động Thêm vào đó, một bộ phận cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước không thạo kinh doanh, không có đủ kiến thức và kinh nghiệm cần thiết về quản lý nền kinh tế thị trường, thiếu năng động và không dám mạo hiểm trong kinh tế để dành thắng lợi nhanh chóng cũng làm cho các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả
1.4 PHÂN BIỆT CỔ PHẦN HÓA VÀ TƯ NHÂN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Trong quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các
Trang 11doanh nghiệp nhà nước, thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác, từ đó đẩy mạnh tái sản xuất xã hội Tuy nhiên, có hai loại quan điểm về cổ phần hóa như
sau:
Quan điểm thứ nhất: cổ phần hóa là một hình thức của tư nhân hóa
Quan điểm này dựa trên hình thức sự chuyển đổi quyền sở hữu nhà nước sang
sở hữu tư nhân Theo nghĩa rộng, tư nhân hóa là quá trình biến đổi tương quan giữa nhà nước và thị trường theo hướng ưu tiên thị trường Quá trình này cũng đồng thời giảm bớt quyền sở hữu của Nhà nước, sự kiểm soát của Chính phủ đối với doanh nghiệp Tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước chỉ là một trong những nội dung của tư nhân hóa nói chung Trong quá trình tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước xảy ra sự chuyển đổi về mặt pháp lý quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền quản lý tài sản của doanh nghiệp từ Nhà nước sang tư nhân Bên cạnh nội dung tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước, tư nhân hóa còn bao hàm cả quá trình hình thành các doanh nghiệp tư nhân mới và quá trình các doanh nghiệp nhà nước phải thích nghi với điều kiện hoạt động theo cơ chế thị trường
Trong quá trình tư nhân hóa, các quốc gia thường sử dụng các hình thức đa dạng được chia thành nhiều công đoạn khác nhau như bán cho tư nhân hoặc người lao động trong doanh nghiệp, chia cho người dân hoặc cho thuê…Các hình thức này
có thể được chia thành hai loại chủ yếu sau:
- Một là, chuyển quyền sở hữu nhà nước cho tư nhân thông qua bán hoặc cho
không Hình thức này được gọi là tư nhân hóa sở hữu Tuy nhiên, Nhà nước có thể
tư nhân hóa sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nhà nước Trong trường hợp tư nhân hóa sở hữu toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước sau khi được tư nhân hóa sở hữu sẽ hoạt động theo cơ chế như doanh nghiệp khác không thuộc sở hữu nhà nước Trong trường hợp tư nhân hóa sở hữu một phần tài sản của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp sau tư nhân hóa sở hữu sẽ thuộc loại hình đa sở hữu
- Hai là, Nhà nước vẫn giữ nguyên sở hữu nhưng chuyển quyền điều hành
hoạt động của doanh nghiệp cho tư nhân Hình thức này gọi là tư nhân hóa hoạt động Theo hình thức tư nhân hóa hoạt động, Nhà nước chỉ thu lợi từ hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (đã được tư nhân hóa hoạt động) theo những điều khoản đã được ghi trong hợp đồng quản lý, thầu khoán
Như vậy, theo quan điểm nay, cổ phần hóa thực chất là phương thức để tư nhân hóa một phần tài sản của doanh nghiệp nha nước Nhà nước không hoàn toàn
Trang 12mất quyền sở hữu doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa, vẫn là một trong các cổ đông của công ty cổ phần mới được hình thành Tùy theo tầm quan trọng của doanh nghiệp trong những lĩnh vực hoạt động cụ thể, Nhà nước quyết định có nắm giữ cổ phần chi phối hay không nắm giữ cổ phần chi phối Do dó, khái niệm cổ phần hóa hẹp hơn khái niệm tư nhân hóa nói chung và tư nhân hóa sở hữu nói riêng Cổ phần hóa chỉ là một trong những hình thức để thực hiện tư nhân hóa sở hữu Nói cách khác, cổ phần hóa là hình thức tư nhân hó sở hữu chua triệt để
Quan điểm thứ hai: cổ phần hóa và tư nhân hóa là khác nhau
Quan điểm này dựa trên sự khác nhau về bản chất và mục đích giữa cổ phần
hóa và tư nhân hóa:
- Tư nhân hóa chỉ nhằm thay đổi cơ cấu sở hữu doanh nghiệp nhà nước, trong
đó quyền sở hữu, quản lý, điều hành được chuyển từ nhà nước sang những cá nhân hoặc nhóm người có tiềm lực tài chính mạnh Tư nhân hóa làm tăng quá trình tích
tụ vốn và tài sản vào một số ít những cá nhân hoặc nhóm người Những người lao động làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phần hóa thực sự trở thành những người làm thuê (nếu tiếp tục làm việc cho doanh nghiệp) hoặc bị sa thải; những quyền lợi, phúc lợi trước đây họ được hưởng khi làm việc trong doanh nghiệp nhà nước sẽ không còn nữa Do đó, tư nhân hóa, đặt biệt với những doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nó
sẽ dẫn đến nguy cơ tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hôi, tăng tỷ lệ thất nghiệp, giảm phúc lợi xã hội, thâm chí gây bất ổn cho toàn nền kinh tế
- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta được thực hiện theo hướng không chỉ quan tâm đến khía cạnh kinh tế của riêng Nhà nước hay của một số cá nhân hoặc nhóm người, mà quan tâm toàn diện đến hoạt động và lợi ích của toàn doanh nghiệp, việc làm và lợi ích của người lao động được hưởng những thành quả mà họ đã đóng góp cho doanh nghiệp trước
đó, được tạo điều kiện làm việc và có thu nhập, được tham gia quyết định những vấn đề quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp nếu họ trở thành cổ đông của doanh nghiệp Cổ phần hóa thu hút được các nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân; Nhà nước thu hồi vốn đã đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước để tập trung đầu tư cho các lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế
Như vậy, hai cách hiểu trên về cổ phần hóa là khác nhau Quan điểm thứ nhất phù hợp với xã hội tư bản chủ nghĩa với cơ chế thị trường chi phối hầu hết hoạt
Trang 13động của xã hội Quan điểm thứ hai mang tính xã hội chủ nghĩa và phù hợp với thực
tế của quá trình phát triển nền kinh tế của Việt Nam hiện nay
1.5 CỔ PHẦN HÓA - MỘT CHỦ TRƯƠNG LỚN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG QUÁ TRÌNH SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP
Do nhiều năm thực thi một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tuyệt đối hóa nền kinh tế nhà nước, coi kinh tế nhà nước đồng nhất với doanh nghiệp nhà nước nên trong thời gian dài đã phát triển một hệ thống doanh nghiệp với số lượng lớn (năm 1990 lên đến 12.300 doanh nghiệp), tràn lan
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp đã bộc lộ những yếu kém, bất cập đưa đất nước đến cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội Chính vì vậy, đổi mới, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước là một đòi hỏi tất yếu để đưa kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đủ khả năng dẫn dắt, điều tiết và định hướng các thành phần kinh tế khác
Xung quanh vấn đề này, Đảng và nhà nước đã có rất nhiều nỗ lực và đã đạt được những thành tựu đáng tự hào Ngày từ đầu thập niên 90, Đảng đã có chủ trương chuyển một bộ phận doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần cụ thể :
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương khoá VII (tháng 11/1991) nêu “Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành Công ty cổ phần”
- Nghị quyết số 10 ngày 17/03/1995 của Bộ chính trị đã bổ sung thêm về phương châm tiến hành cổ phần hóa, tỷ lệ bán cổ phần cho người trong và ngoài doanh nghiệp
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương Đảng khoá VIII (tháng 12/1997) xác định “Đối với doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm 100% vốn cần lập kế hoạch cổ phần hóa để tạo động lực phát triển, thúc đẩy làm ăn có hiệu quả”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương Đảng khóa IX (ngày 24/09/2001) đã chỉ ra những nguyên nhân yếu kém của doanh nghiệp nhà nước: chưa có sự thống nhất trong nhận thức và vai trò của, vị trí của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, về yêu cầu và giải pháp sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước còn yếu kém, vướng mắc, cơ chế chính sách còn nhiều bất cập chưa đồng bộ, còn nhiều điểm chưa phù hợp với kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, chưa tạo được động lực mạnh mẽ thúc đẩy sức sáng tạo của người lao động Nghị quyết xác định: đẩy mạnh hơn nữa việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động ,
Trang 14tăng khả năng cạnh tranh, bảo đảm các nhu cầu sản phẩm và dịch vụ thiết yếu, nhu cầu cần thiết của an ninh, quốc phòng, phát huy vai trò nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của doanh nghiệp nhà nước
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khoá IX vừa qua thì quan điểm về CPH đặc biệt thông thoáng: Kiên quyết đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa và mở rộng các DNNN cần cổ phần hóa, kể cả những doanh nghiệp lớn và một
số tổng công ty kinh doanh có hiệu quả Dưới sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đổi mới, sắp xếp, tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước:
Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 về đổi mới, tổ chức, sắp xếp, lại các DNNN theo hướng DNNN là chủ thể sản xuất kinh doanh hàng hóa độc lập, tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh, lời ăn, lỗ chịu
Các quyết định số 90/Ttg và 91/Ttg ngày 07/03/1994 tổ chức, sắp xếp thành hệ thống các tổng công ty nhà nước của một số ngành, lĩnh vực then chốt
Chỉ thị số 20/1998/CT/Ttg ngày 21/04/1998 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước Đối với chủ trương cổ phần hóa, đây là chủ trương lớn của đảng và nhà nước liên quan đến nhiều đối tượng , nhiều thành phần nên trong thực hiện ban đầu chỉ làm thí điểm ở một số doanh nghiệp và sau đó triển khai đại trà trên cả nước
Trong từng thời kỳ, Chính phủ đã có Nghị định số 28/CP ngày 07/05/1996, Nghị định 25/CP ngày 26/03/1997, Nghị định 44/1998/NĐ/CP ngày 29/06/1998, Nghị định 64/2002/NĐ –CP ngày 19/06/2002 và Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 1/12/2004 “ Về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần”, Nghị định 103/1999/NĐ/CP ngày 10/09/1999 “Về giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước” làm cơ sở thực hiện chuyển đổi hình thức sở hữu sắp xếp DNNN Qua thực tiễn cho thấy, cổ phần hóa là một biện pháp có tính khả thi, đem lại lợi ích cho Nhà nước, người lao động, người góp vốn Nó góp phần khắc phục việc buông lỏng quản lý tài sản của Nhà nước, xoá bỏ tình trạng “vô chủ” của DNNN
Cổ phần hóa nhằm đạt được các mục tiêu: Huy động vốn của toàn xã hội bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để đầu
tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu của DNNN Tạo điều kiện để người lao động có cổ phần và những người đã góp vốn được làm chủ thật sự, thay đổi phương thức quản lý tạo
Trang 15động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, tăng tài sản nhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước
Như vậy việc cổ phần hóa đáp ứng được yêu cầu cấp bách, cần thiết của công tác cải cách doanh nghiệp nhà nuớc Bằng việc huy động vốn từ nguồn lực trong xã hội sẽ giúp nhà nước rút bớt vốn từ các doanh nghiệp nhà nuớc được cổ phần hóa để đầu tư vào các công trình trọng điểm của nền kinh tế quốc dân hoặc hỗ trợ thêm vốn cho những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả để “bồi dưỡng” nguồn thu Bên cạnh
đó, cổ phần hóa giúp cho người lao động trong doanh nghiệp phát huy quyền làm chủ thực sự của mình và hình thành cơ chế kiểm soát có hiệu quả hơn của cổ đông đối với doanh nghiệp, từ đó tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng , thu nhập người lao động tăng Dưới hình thức công ty cổ phần, doanh nghiệp hoạt động với cam kết của các cổ đông đầu tư vốn "lời ăn lỗ chịu", do đó không thể trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước và buộc doanh nghiệp phải tự thân vận động theo hướng năng động hơn để tồn tại và ngày càng phát triển
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không phải là tư nhân hóa vì: cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là chuyển một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp (có một chủ sở hữu là Nhà nước) sang Công ty cổ phần (có nhiều chủ sở hữu) trong đó người lao động làm trong doanh nghiệp được mua cổ phần tham gia quản lý, kiểm soát đồng vốn mình bỏ ra Do đó, doanh nghiệp sau cổ phần hóa vẫn thuộc về đa số người lao động và có thể còn một phần vốn nhà nước Trong doanh nghiệp cổ phần hóa, có cổ phần của nhà nước (cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt hoặc cổ phần ở mức thấp) đồng thời có cổ phần của tư nhân và cổ phần của kinh tế tập thể Theo Luật doanh nghiệp trong các trường hợp chuyển nhượng cổ phiếu thì Công ty cổ phần vẫn phải còn tối thiểu là 3 cổ đông, không thể tập trung vào tay của một cá nhân nào Các tổ chức Đảng, đoàn thể trong Công ty cổ phần đều được tôn trọng , tạo điều kiện cho các tổ chức này hoạt động theo đúng Hiến pháp, pháp luật và điều
Trang 161.6 CÁC GIAI ĐOẠN CỦA QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP
Ở VIỆT NAM 1.6.1 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn thí điểm
Thực hiện chủ trương của Đảng và Quốc Hội, Chính phủ Việt Nam đã cụ thể hóa các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội thành các văn bản pháp quy về vấn đề cổ phần hóa Trong giai đoạn thí điệm cổ phần hóa, văn bản pháp quy đầu tiên, Quyết định số 143/HĐBT ngày 10 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng Bộ Trưởng (Về tổng kết thực hiện Quyết định số 217/HĐBT ngày 14 tháng 7 năm 1987, các Nghị định
số 50/HĐBT ngày 22 tháng 3 năm 1988, số 98/HĐBT ngày 02 tháng 6 năm 1988 và làm thử việc tiếp tục đổi mới quản lý xí nghiệp Quốc doanh) đã cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Quốc hội, xác định mục đích của cổ phần hóa xí nghiệp quốc doanh và quy trình tự chuyển đổi xí nghiệp quốc doanh thành công ty cổ phần Việc
cổ phần hóa trong giai đoạn này chỉ dừng lại ở mức độ “ tiến hành làm thử việc tổ chức lại bộ máy quản lý xí nghiệp; chuyển xí nghiệpquốc doanh thành công ty cổ phần… trước mắt chỉ giới hạn một số ít các xí nghiệp có đủ điều kiện và tiêu biểu” Trong giai đoạn này đã có một loạt quyết định, chỉ thị nhằm xúc tiến việc thực hiện thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và các vấn đề liên quan đến việc tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước như: Quyết định số 143/HĐBT ngày 10/5/1990, Quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Quyết định 203/HĐBT ngày 8/6/1992, chỉ thị số 84/CT/TTg…
1.6.2 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn chính thức
Giai đoạn cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chính thức bắt đầu sau khi Thủ tướng Chính Phủ thành lập Ban chỉ đạo Trung ương đổi mới doanh nghiệp trực thuộc Thủ tướng Chính Phủ và Luật doanh nghiệp nhà nước dược Quốc hội thông qua ngày 20/4/1995 Đây là những cở sở để tiến đến xây dựng các quy định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước một cách chi tiết và đẩy mạnh tiến trình này Ngày 7/5/1996, Chính phủ đã ra Nghị định số 28/NĐ/CP về chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Đây là văn bản pháp quy đầu tiên quy định tương đối đồng bộ và chi tiết về vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Trong quá trình thực hiện, một số điểm của Nghị định này đã được sửa đổi theo Nghị định số 25/NĐ/CP ngày 26/3/1997
Để tiếp tục tiến hành việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, ngày 29/6/1998, chính phủ đã ra Nghị định số 44/1998 NĐ/CP về chuyển doanh nghiệp
Trang 17nhà nước thành công ty cổ phần Nghị định này ra đời thay thế Nghị định số 28/CP ngày 7/5/1996 và Nghị định 25/CP/Cp ngày 26/3/1997 của Chính phủ Đây là văn bản quy định cụ thể hơn về vấn đề cổ phần hóa trong tình hình mới Theo Nghị định này mục tiêu cổ phần hóa được xác định rõ hơn Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ/CP ngày 19/6/2002 về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Và để hoàn thiện hơn các quy định về thủ tục tiến hành cổ phần hóa, Nghị định 187/2004/NĐ/CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về chuyển công ty nhà nườc thành công ty cổ phần Nghị định này ra đời thể hiện sự quyết tâm của Chính phủ trong việc thúc đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước nói chung và cổ phần hóa doanh nghiệp nói riêng Ngoài ra còn có một loạt các Nghị định, Quyết định, Thông tư của Nhà nước và các Bộ, Ngành đã dược ban hành nhằm quy định, hướng dẫn những vấn đề có liên quan đến việc tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Như vậy, trong hơn 14 năm thực hiện cổ phần hóa, Chính phủ đã liên tục hoàn thiện hoàn thiện cơ sở pháp lý cho cổ phần hóa để điều chỉnh có hiệu quả hơn các vấn đề nảy sinh So sánh văn bản pháp quy chủ yếu về cổ phần hóa sẽ cho thấy rõ điều này
- Huy động vốn từ các nguồn khác nhau;
- Tạo điều kiện cho người lao động làm chủ doanh nghiệp;
- Tăng động lực thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước kinh doanh có hiệu quả
Trang 18- Huy động vốn của cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội trong nước và ngoài nước để đầu tư đổi mới cộng nghệ, phát triển doanh nghiệp
- Phát huy vai trò làm chủ của người lao động, sự giám sát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp, bảo đảm hài hòa lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động
Trang 19- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.Thực hiện các hình thức hai hoặc ba kết hợp với phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn
Diện cố phần hóa Quyết định số 143/HĐBT
Doanh nghiệp nhà nướccổ phần hóa phải đủ các điều kiện sau:
- Kinh doanh có lãi và có hướng phát triển;
- Tập thể đoàn kết
- Công nhân viên chức có đủ khả năng mua cổ phần
- Công nhân viên chức có khả năng mua cổ phần
Nghị định số 28/CP
Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa phải đủ các điều kiện sau:
- Có quy mô vừa và nhỏ;
- Không thuộc diện nhà nước nắm giữ 100% vốn;
- Có phương án kinh doanh có hiệu quả
Quyết định số 143/HĐBT
- Mỗi cổ đông nắm giữ không quá 2% cổ phần của doanh
Trang 20nghiệp nhà nước được cổ phần hóa
- Hạn chế ở mức 20% (đối với pháp nhân) và 10% (đối với cá nhân) trong các công ty mà nhà nước có cổ phần
Nghị định số 64/2002/NĐ-CP
- Chỉ hạn chế mức mua tối thiểu 20% cổ phần phát hành đối với cổ đông sáng lập và tỷ lệ tối đa 30% đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 21phần hóa; được hạch toán chi phí cổ phần hóa vào giá trị doanh nghiệp
- Được miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển sở hữu
từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần;
- Được tiệp tục vay vốn, xuất nhập khẩu hàng hóa như lúc đang là doanh nghiệp nhà nước
- Được duy trì và phát triển các quỹ phúc lợi
Nghị định số 44/CP
- Tương tự các ưu đãi quy định trong Nghị định số 28/CP Ngoài ra, Nghị định số 44/CP quy định thêm quyền được hưởng các ưu đãi theo luật khuyến khích đầu tư nước ngoài
Nghị định số 64/2002/NĐ-CP
Tương tự các ưu đãi trong Nghị định 44/CP Ngoài ra, Nghị định 64/2002/NĐ-CP còn quy định thêm các ưu đãi sau:
- Được hưởng các quyền sử dụng đất trong trường hợp giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa bao gồm cả giá trị quyền sử sử dụng đất
- Được tiếp tục kinh doanh những ngành nghề đã đăng
ký và miễn lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi chuyển từ doanh nghiệp nhà nước thành công
ty cổ phần
- Được trừ vào tiến bán cổ phần thuộc vốn nhà nước các khoản chi phí thực tế, hợp lý, và cần thiết cho quá trình chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần
Ưu đãi người lao động
Quyết định số 143/HĐBT
- Được cho nhà nước vay để mua 01 cổ phần
Nghị định số 28/CP
- Được cấp cổ phiếu để hưởng cổ tức theo thâm niên song
không quá 6 tháng lương theo chức vụ Nghị định số 44/CP và /CP
- Mỗi năm được mua tối đa 10 cổ phiếu với mức giảm giá 30% so với các đối tượng khác
Nghị định số 187/CP
- Mỗi năm được mua 10 cổ phiếu với giá giảm 40% so với giá đấu giá bình quân
Xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa
Quyết định số 143/HĐBT
Chưa quy định cụ thể
Nghị định số 28/CP
Trang 22- Giá trị doanh nghiệp là giá trị thực tế do người bán người mua chấp nhận;
- Giá trị thực tế xác định theo số liệu trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp được cơ quan kiểm toán xác nhận;
- Giá trị quyền sử dụng đất được tính vào giá trị doanh nghiệp
- Lợi thế doanh nghiệp
Nghị định số 44/CP
Có quy định tương tự như Nghị định 28/CP Ngoài ra, có quy định việc trừ nợ của doanh nghiệp để xác định giá trị thực tế Lợi thế doanh nghiệp chỉ tính tối đa 30% vào giá trị thực tế của doanh nghiệp
Nghị định số 64/CP và 187/CP
- Quy định phải thuê tổ chức có chức năng định giá
Số lượng doanh nghiệp đã được cổ phần hóa
Quyết định số 143/HĐBT
Trong thời gian cổ phần hóa theo quyết định số 143/NĐBT,
số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa được cố phần hóa là 6
Trang 23CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TỈNH KHÁNH HÒA TRONG THỜI GIAN QUA
Trang 242.1 SƠ LƯỢC VỀ TỈNH KHÁNH HÒA
Khánh Hòa là tỉnh ven biển cực Đông của Việt Nam, có diện tích tự nhiên 5.258 km, chiếm 1,6% diện tích của cả nước; có 200 km bờ biển ở phía đông, liền
kề với Tây Nguyên ở phía Tây, phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, Phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận Thành phố Nha Trang là của Khánh Hòa cách Đà Nẵng 500 km về phía Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 450 km về phía Bắc Có trục quốc lộ 1A
và đường sắt xuyên suốt chiều dài tỉnh, Khánh Hòa được nối liền thuận lợi với các tỉnh trong khu vực miền Trung Quốc lộ 26 nối Khánh Hòa với tỉnh Đắc Lắc và Tây Nguyên Tỉnh có các cảng biển như Cam Ranh, Nha Trang, Văn Phong; các sân bay Nha Trang, Cam Ranh thuận lợi cho việc giao lưu giữa Khánh Hòa với cả nước và quốc tế Phần lãnh hải có huyện đảo Trường Sa một vị trí rất quan trọng về kinh tế
và quốc phòng của cả nước
Khánh Hòa vừa có núi, vừa có biển và hệ thống gồm hơn 200 đảo lớn nhỏ ven bờ, tạo điều kiện cho tỉnh phát triển một nền kinh tế đa dạng, đặc biệt là du lịch, công nghiệp đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy sản xuất khẩu Khánh Hòa là 1 trong 10 trung tâm du lịch lớn của cả nước, có Hòn Gốm - Vịnh Văn Phong, khu du lịch sinh thái Đầm Nha Phu – Hòn Hèo, Bãi Dài Cam Ranh, khu du lịch Hòn Bà ở trên độ cao 1500 m so với mặt nước biển, đặc biệt là thành phố du lịch nổi tiếng Nha Trang
Là một tỉnh ven biển Miền Trung , với khí hậu nhiệt đới gió mùa, so với các tỉnh khác thì khí hậu ở Khánh Hòa tương đối ôn hòa do địa hình núi và biển tạo nên,
do đó thường chỉ có hai mùa là chủ yếu, mùa khô kéo dài khoảng từ 8 đến 9 tháng, mùa mưa kéo dài khoảng từ 3-4 tháng Mùa mưa chỉ tập trung chủ yếu trong hai tháng là tháng 10 và tháng 11 Tuy vậy với địa hình dốc đồi núi nên khi có mưa lớn
Trang 25gây ra tình trạng lũ lụt ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất và đời sống của địa phương
Dân số trung bình năm 2002 vào khoản 1.094.000 người Dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 25% dân số
Với những điều kiện như trên tạo thuận lợi cho Khánh Hòa phát triển sản
xuất hàng hóa, mở rộng giao lưu kinh tế với các nước và quốc tế 2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH NĂM 2005 CỦA KHỐI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐỊA PHƯƠNG KHÁNH HÒA
Số liệu cụ thể được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA KHỐI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐỊA PHƯƠNG
2004-2005
Đơn vị tính: triệu đồng
Chênh lệch CHỈ TIÊU Năm 2004 Năm 2005
Trang 26Qua bảng trên cho thấy doanh số thực hiện năm 2005 là 6.972 tỷ đồng, đạt 111% kế hoạch năm và tăng 17% so với cùng kỳ năm trước Tổng lợi nhuận năm
2005 đạt 281 tỷ đồng Một số doanh nghiệp có lợi nhuận đạt khá như: Tổng công ty Khánh Việt 167 tỷ đồng, Công ty TNHH 1 thành viên Khai thác chế biến XK khoáng sản 44,8 tỷ đồng, Công ty xổ số kiến thiết 21 tỷ đồng, Công ty Quản lý KD
và phát triển nhà 17,9 tỷ đồng, Công ty Cấp thoát nước 11,2 tỷ đồng, Công ty Thương mại đầu tư Khánh Hòa 8,7 tỷ đồng, Công ty Du lịch Khánh Hòa 5,43 tỷ đồng
Số nộp ngân sách của khối DNNN địa phương quản lý tiếp tục chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nội địa Cụ thể, số phát sinh phải nộp ngân sách: 1.660 tỷ đồng, tăng 9,7% so với năm 2004 Thực nộp 1.670 tỷ đồng; trong đó: thuế TTĐB 1.046 tỷ đồng, thuế giá trị gia tăng 216 tỷ đồng, thuế thu nhập doanh nghiệp 72,6 tỷ đồng Các chỉ tiêu pháp lệnh về nộp ngân sách của khối DNNN địa phương đạt 109,42% kế hoạch năm
2.2.1.2 Tình hình về thu nhập của người lao động
Số lao động bình quân năm 2005 tại các doanh nghiệp nhà nước địa phương Khánh Hòa là 11.470 người (tổng hợp của 34 DNNN), tổng quỹ lương thực hiện 327.450 triệu đồng Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 đạt mức 2.435 ngàn đồng/người/tháng, tăng 17% so với năm 2004
Ngoài các doanh nghiệp không có lãi được hưởng theo mức lương cơ bản, thu nhập bình quân tháng so sánh giữa các doanh nghiệp còn khá chênh lệch: thấp nhất 1 triệu đồng và cao nhất là 8,8 triệu đồng/người/tháng; Những doanh nghiệp có mức thu nhập bình quân của CBCNV đạt trên 3 triệu đồng/tháng tiêu biểu như: Công ty Quản lý kinh doanh và phát triển nhà, Tổng công ty Khánh Việt, Công ty Khai thác chế biến khoáng sản xuất khẩu
2.2.1.3 Tình hình bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp nhà nước:
Nguồn vốn chủ sở hữu tính đến thời điểm 31/12/2005 là 2.208 tỷ đồng, tăng 37% so với năm 2004 Trong đó, nguồn vốn kinh doanh 1.854 tỷ đồng, tăng 20% so
Trang 27với năm 2004 Vốn chủ sở hữu tăng chủ yếu là nguồn tích lũy từ lợi nhuận và một phần được hỗ trợ từ ngân sách; Đặc biệt là việc xử lý tài chính và kết quả cổ phần hóa tại công ty Đường Khánh Hòa đã ảnh hưởng lớn đến nguồn vốn chủ sở hữu, trong đó xóa nợ vay làm giảm lỗ 194 tỷ đồng, đánh giá lại tài sản cổ phần hóa tăng
60 tỷ đồng Năm 2005, ngân sách đã cấp bổ sung vốn kinh doanh 85,5 tỷ đồng, trong đó: cấp cho Tổng công ty Khánh Việt 40 tỷ đồng, Công ty Thương mại và đầu
tư 13,3 tỷ đồng, Công ty Du lịch Khánh Hòa 12 tỷ đồng, Công ty Yến sào 8 tỷ đồng Những doanh nghiệp bảo toàn và phát triển được vốn nhờ kinh doanh hiệu quả, có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đạt khá (trên 20%) có điều kiện để bổ sung nguồn vốn kinh doanh, tiêu biểu như: Công ty Xổ số kiến thiết Khánh Hòa, Tổng công ty Khánh Việt, Công ty TNHH Khai thác chế biến khoáng sản xuất khẩu, Công ty Kinh doanh và phát triển nhà Khánh Hòa Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân của khối DNNN Khánh Hòa đạt 12,7%
2.2.1.4 Tình hình công nợ:
Tổng nợ phải thu đến cuối năm 2005 là 740 tỷ đồng, giảm 8% so với cùng thời điểm năm 2004, lập dự phòng nợ phải thu khó đòi 11,78 tỷ đồng Khoản nợ khó đòi tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp như: Công ty Cung ứng tàu biển thương mại
du lịch Nha Trang 2,1 tỷ đồng; Công ty QL khai thác công trình thủy lợi bắc 2,3 tỷ đồng, Công ty Đường Khánh Hòa 2,3 tỷ đồng
Tổng dư nợ phải trả đến cuối năm 2005 là 2.580 tỷ đồng, giảm 5% so với năm
2004 Trong đó, nợ ngắn hạn 1.572 tỷ đồng, giảm 13%; nợ dài hạn 1.008 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2004 Tỷ trọng nợ phải trả trên tổng tài sản năm 2005 là 53,9% và tỷ suất tự tài trợ 46,1% So với năm 2004, áp lực nợ phải trả đã cải thiện hơn (năm 2004 các chỉ số trên lần lượt là 62,9% và 37,1%); Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp nhà nước phải luôn chịu áp lực của nguồn vốn vay, đó là các doanh nghiệp
có hệ số nợ trên tổng tài sản khá cao (trên 75%) điển hình như: Công ty Thương mại dịch vụ miền núi, Cty Đường Khánh Hòa; Cty Yến Sào Khánh Hòa; Công ty
Du lịch Long Phú
Tỷ suất tự tài trợ tăng cùng với các chính sách về tài chính (như giảm lãi suất vay đối với ngành đường) đã kéo theo chi phí lãi vay của khối DNNN giảm đáng
Trang 28kể Khoản lãi vay đã hạch toán vào chi phí trong năm 2005 của khối doanh nghiệp nhà nước địa phương là 58,9 tỷ đồng, giảm 40% so với năm 2004, những doanh nghiệp có số lãi vay phải trả trong năm khá cao như: Cty Đường Khánh Hòa 41,28
tỷ đồng, Cty Thương mại đầu tư Khánh Hòa 5,3 tỷ đồng, Tổng công ty Khánh Việt 4,7 tỷ đồng, Cty nước khoáng Khánh Hòa 2,6 tỷ đồng
2.2.1.5 Tình hình quản lý sử dụng tài sản cố định:
Tổng nguyên giá tài sản cố định đến 31/12/2005 là 3.423 tỷ đồng, tăng 6,8%
so với năm 2004 Giá trị còn lại của TSCĐ là 2.203 tỷ đồng, chất lượng còn lại của tài sản cố định theo sổ sách kế toán là 64,3%
Số dư chi phí xây dựng cơ bản dở dang đến 31/12/2005 là: 126,7 tỷ đồng, tập trung tại: Công ty Địa chính Khánh Hòa 55,8 tỷ đồng; Công ty Thương mại và đầu tư Khánh Hòa 26,7 tỷ đồng; Tổng công ty Khánh Việt 18,2 tỷ đồng; Công ty Đường Khánh Hòa 11,1 tỷ đồng
2.2.2 Tình hình cụ thể ở một số doanh nghiệp: (bảng 3) 2.2.2.1 Các doanh nghiệp trực thuộc Uỷ ban nhân dân Tỉnh Khánh Hòa
- Tổng công ty Khánh Việt:
Các sản phẩm của Tổng công ty tiêu thụ ổn định Doanh thu 5.402 tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ, chủ yếu từ sản phẩm thuốc lá Lợi nhuận thực hiện 167 tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ năm trước
Trong năm 2005, Tổng công ty đã đầu tư nâng cấp máy móc thiết bị nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm truyền thống (thuốc lá, sản phẩm in, bao bì…) giữ vững thế cạnh tranh hiện tại, bên cạnh đó cũng chú trọng đầu tư cho chuyển đổi ngành, sản phẩm mới (Du lịch sinh thái, chăn nuôi Cá sấu, Đà điểu…) Nhà máy Dệt Tân Tiến thuộc Tổng công ty đã trả hết nợ mua máy móc thiết bị đầu tư ban đầu, giảm được khoản lãi vay và phí bảo lãnh phải trả cho ngân hàng, giảm chi phí sản xuất, đầu tư thêm thiết bị dệt vải thun thay vải sợi tổng hợp
Trang 29Về nộp ngân sách: Tổng phát sinh phải nộp năm 2005 của Tổng công ty 1.222 tỷ đồng, đạt 106% kế hoạch năm Thực nộp ngân sách 1.231 tỷ đồng, đạt 107% kế hoạch năm, trong đó: thuế tiêu thụ đặc biệt 1.025 tỷ đồng đạt 102% kế hoạch năm, thuế giá trị gia tăng 158 tỷ đồng đạt 137% kế hoạch năm, thuế thu nhập doanh nghiệp đạt 43 tỷ đồng đạt 145%
- Công ty Đường Khánh Hòa:
Năm 2005, do tình hình nắng hạn, sản lượng mía không đạt năng suất chất lượng như năm trước nên ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất của Công ty, sản lượng đường sản xuất và tiêu thụ trong năm là 65.147 tấn, trong đó của Nhà máy Đường Cam Ranh là 48.643 tấn Doanh số thực hiện năm 2005 là 343 tỷ đồng, đạt 84% kế hoạch năm và bằng 92% so cùng kỳ năm trước Đường tiêu thụ hết nhưng vẫn không bù đắp chi phí, do đó trong năm 2005, Công ty lỗ 8,75 tỷ đồng Tình hình kinh doanh của công ty tiếp tục gặp khó khăn do thiếu nguyên liệu Nhiều năm liên tục hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty chưa bù đắp được chi phí lãi vay ngân hàng và khấu hao tài sản, cũng trong năm 2005, Công ty được nhà nước xóa
nợ thuế giá trị gia tăng 7,14 tỷ đồng, xóa nợ lãi vay 194 tỷ đồng và điều chỉnh lãi suất vay xuống còn 5,4% (tính từ 01/01/2004), số lỗ lũy kế đến cuối năm 2005 là
123 tỷ đồng
- Công ty Thương mại và đầu tư Khánh Hòa:
Doanh thu thực hiện năm 2005 là 222 tỷ đồng đạt 130% kế hoạch năm Lợi nhuận thực hiện 8,73 tỷ đồng, tăng 76% so với năm 2004 Số phải nộp ngân sách 11
tỷ đồng, trong đó thuế giá trị gia tăng 9,5 tỷ đồng Đã nộp 11,69 tỷ đồng, trong đó nộp thuế GTGT 9,08 tỷ đồng; Tổng thực nộp ngân sách (trừ tồn đọng năm trước) 9,4 tỷ đồng đạt 104% kế hoạch năm
Hoạt động kinh doanh các khu nghỉ mát cao cấp của công ty thương mại và đầu tư Khánh Hòa (bao gồm các khu nghĩ mát Sunrise, khu nghĩ mát Ana Mandara, khu nghĩ mát Evason Hideway at Ana Mandara) được du khách nước ngoài đánh giá cao về chất lượng, doanh số năm 2005 đạt 158 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 4,2 tỷ đồng
Trang 30Hoạt động quản lý khai thác Khu công nghiệp Suối Dầu của Công ty Thương mại đầu tư Khánh Hòa đang dần ổn định Tính đến cuối năm 2005, nguồn vốn ngân sách đã đầu tư vào Khu CN: 26,69 tỷ đồng, công tác XDCB giai đoạn 2 đang dần hoàn chỉnh các hạng mục xây dựng hàng rào, hệ thống cấp thoát nước Hiện có 26 doanh nghiệp đang hoạt động trong Khu công nghiệp, giải quyết việc làm cho khoảng 9.200 lao động Từ năm 2005, Khu công nghiệp Suối Dầu đã bắt đầu kinh doanh có lãi
2.2.2.2 Các doanh nghiệp thuộc sở ngành quản lý:
- Công ty Xổ số kiến thiết:
Là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc quản lý của Sở Tài Chính, là doanh nghiệp nhiều năm liền hoàn thành kế hoạch nhà nước giao, có tốc độ tăng trưởng khá Tuy nhiên, năm 2005, việc tham gia thị trường chung của công ty làm phát sinh nhiều khoản chi phí cho việc mở các văn phòng đại diện tại một số tỉnh, chi công tác phí tăng, Vì vậy, về tốc độ, mặc dù chỉ tiêu doanh thu có tăng nhưng lợi nhuận lại giảm so với cùng kỳ năm trước Cụ thể như doanh thu thực hiện năm 2005
là 142 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước; lợi nhuận thực hiện 21 tỷ đồng, xấp xỉ năm trước Số phát sinh nộp ngân sách 47,9 tỷ đồng, đạt 133% kế hoạch năm, thực nộp ngân sách (trừ tồn đọng) 37,14 tỷ đồng, đạt 104% kế hoạch năm
- Các doanh nghiệp thuộc sở Công nghiệp:
Năm 2005, Doanh thu thực hiện 165,9 tỷ đồng, đạt 109% kế hoạch năm và tăng 10% so cùng kỳ Lợi nhuận thực hiện 45,7 tỷ đồng, tăng 16% so cùng kỳ Công ty TNHH một thành viên khai thác chế biến xuất khẩu khoáng sản Khánh Hòa thực hiện vượt mức kế họach năm về các chỉ tiêu sản lượng, doanh thu, nộp ngân sách, hoạt động SXKD ổn định có hiệu quả cao, xuất khẩu được 601.154 tấn đạt 105% kế hoạch năm Công ty nước khoáng Khánh Hòa tiêu thụ 28 triệu lít nước khoáng các loại, đạt 100% KH năm và bằng 112% cùng kỳ năm trước Doanh thu thực hiện trong năm là 56 tỷ đồng bằng 116% năm trước, tuy nhiên lợi nhuận giảm
Trang 3148% so với năm trước, điều này cho thấy công ty chưa có các biện pháp tiết kiệm chi phí
- Các doanh nghiệp thuộc sở Giao thông vận tải:
Do các chỉ tiêu thực hiện của Công ty Quản lý và sửa chữa đường bộ giảm sút nên đã ảnh hưởng đến kết quả chung của các doanh nghiêp cụ thể như: Doanh số thực hiện năm 2005 đạt 56,1 tỷ đồng, giảm 26% so cùng kỳ; Lợi nhuận thực hiện 2,5 tỷ đồng, giảm 28% so năm trước
Về nộp ngân sách: Số phải nộp ngân sách 3,1 tỷ đồng, đạt 120% kế hoạch năm Thực nộp ngân sách 3,5 tỷ đồng, đạt 134% kế hoạch năm, trong đó thuế giá trị gia tăng là 2,3 tỷ đồng và thuế thu nhập doanh nghiệp là 1 tỷ đồng, đạt 138% kế hoạch năm
Hoạt động xe Buýt năm 2005 đạt doanh số 11,5 tỷ đồng, tăng 47,4% so với năm 2004, góp phần giải quyết tích cực tình trạng ùn tắc giao thông đặc biệt là trong giờ cao điểm Do giá xăng dầu tăng và chính sách tiền lương có thay đổi nên khoản trợ giá xe buýt năm 2005 phát sinh 6,46 tỷ đồng, tăng 2,5 lần so với năm
2004
- Các doanh nghiệp thuộc sở Xây dựng:
Năm 2005, các đơn vị xây dựng thực hiện đạt được doanh số là 144 tỷ đồng, tăng 33% so cùng kỳ Lợi nhuận 29 tỷ đồng, tăng 53% so cùng kỳ năm trước Trong đó: Công ty Cấp thoát nước lãi 11 tỷ đồng, Công ty Quản lý kinh doanh và phát triển nhà lãi 18 tỷ đồng
Số phát sinh phải nộp ngân sách là 19 tỷ đồng, đạt 229% kế hoạch năm, số
đã nộp18,86 tỷ đồng, đạt 227% kế hoạch năm Riêng các khoản thuế theo chỉ tiêu
kế hoạch là 11,67 tỷ đồng, đạt 140% kế hoạch năm, trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp 6,66 tỷ đồng
- Các doanh nghiệp sở Nông nghiệp và PT nông thôn
Nhờ tiêu thụ hết lượng gỗ khai thác trong kỳ nên các đơn vị lâm nghiệp hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2005 Cụ thể như doanh thu thực hiện 74 tỷ đồng, tăng 2,29% năm 2004 Lợi nhuận thực hiện 3,6 tỷ đồng, giảm 35% so với năm
Trang 32trước Nguyên nhân là do tình hình nắng hạn gay gắt, nguồn nước ưu tiên cho nhu cầu sinh hoạt, nhiều vùng nông nghiệp không đủ nước tưới nên các Công ty thủy lợi không thể hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch giao Năm 2005, Ngân sách đã cấp
bù lỗ cho các doanh nghiệp quản lý thủy nông 2,15 tỷ đồng, trong đó: Công ty Quản
lý khai thác công trình thủy lợi nam 1,45 tỷ đồng, Công ty Quản lý khai thác công trình thủy lợi bắc 0,7 tỷ đồng
Hoạt động chế biến lâm sản được các doanh nghiệp quan tâm: Xưởng chế biến gỗ của Công ty Lâm sản đã đi vào hoạt động ổn định, mặt hàng chủ yếu là bàn ghế ngoài trời, hiện đang thu hút 180 công nhân đang làm việc; Doanh thu năm 2005 đạt
5 tỷ đồng và tăng qua từng quý Đây là hướng sản xuất kinh doanh tính cực, mang lại hiệu quả, tạo thêm việc làm
Số nộp ngân sách phát sinh 16,1 tỷ đồng; Thực nộp 16,72 tỷ đồng, đạt 147%
kế hoạch năm, trong đó thuế tài nguyên 7,47 tỷ đồng, đạt 145% kế hoạch năm; thuế giá trị gia tăng 4,81 tỷ đồng
- Các doanh nghiệp sở Thương mại và du lịch:
Doanh thu thực hiện 164 tỷ đồng, tăng 4% so cùng kỳ Lợi nhuận đạt 5 tỷ đồng, chủ yếu từ Công ty Du lịch Khánh Hòa Riêng Công ty Du lịch Khánh Hòa thực hiện doanh số đạt 78 tỷ đồng, tăng 9% so cùng kỳ; lợi nhuận thực hiện 5,4 tỷ đồng, tăng 31% so cùng kỳ năm trước
Về nộp ngân sách: số phải nộp ngân sách phát sinh 8,7 tỷ đồng, thực nộp 8,8
tỷ đồng, đạt 102% kế hoạch, trong đó thuế giá trị gia tăng 6,7 tỷ đồng, thuế thu nhập doanh nghiệp 1,6 tỷ đồng
2.2.3 Những khó khăn và thuận lợi ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của khối doanh nghiệp nhà nước:
2.2.3.1 Khó khăn
- Năm 2005 thời tiết nắng hạn kéo dài bất thường, nhiều nơi trên địa bàn tỉnh xảy ra hạn hán, dịch cúm gia cầm diễn ra phức tạp trong cả nước, giá cả một số nguyên vật liệu quan trọng như sắt thép, xi măng, phân bón, xăng dầu đều tăng đã
Trang 33tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN trong tỉnh
- Tình hình cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh luôn diễn ra quyết liệt, đòi hỏi sự nổ lực của các doanh nghiệp trong việc giữ vững thị trường hiện có và tìm kiếm khách hàng tiềm năng
2.2.3.2 Thuận lợi:
* Về phía UBND tỉnh, các ngành:
- Tăng cường nguồn vốn cho kinh doanh: Bên cạnh nguồn vốn đầu tư từ
ngân sách; bằng nguồn thu từ hoạt động sắp xếp và chuyển đổi sở hữu DNNN đã chi bổ sung vốn kinh doanh cho khối DNNN, năm 2005 đã cấp 65,58 tỷ đồng, từng bước củng cố khả năng tài chính, tạo điều kiện đầu tư đổi mới công nghệ cho các DNNN nhà nước còn nắm giữ
- Công tác đầu tư xây dựng cơ bản các công trình hạ tầng như điện, nước,
đường xá đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Hoạt động giao thông công cộng, nhất là dịch vụ xe buýt; hoạt động đầu tư xây dựng công ích cũng được quan tâm, làm cho bộ mặt đô thị của tỉnh nhà ngày càng khang trang hiện đại
- Tăng cường các hoạt động quảng bá du lịch thông qua các ngày lễ hội, qua
đó đã mở rộng được thị trường, giới thiệu tiềm năng về du lịch dịch vụ của tỉnh đến với các du khách trong và ngoài nước, tạo điều kiện thu hút các nguồn lực đầu tư vào hoạt động dịch vụ du lịch trên địa bàn
* Về phía doanh nghiệp:
- Tăng cường mở rộng hoạt động đầu tư, đổi mới công nghệ Đây là yếu tố
vô cùng quan trọng đối với hoạt động SXKD, nhiều doanh nghiệp đã quan tâm đầu
tư nâng cấp máy móc, tăng năng lực sản xuất để giữ vững và nâng cao thế cạnh tranh hiện tại, vừa chú trọng đầu tư cho chuyển đổi ngành, sản phẩm mới
- Không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm theo các tiêu chuẩn
quốc gia và quốc tế, giữ vững uy tín sản phẩm trên thị trường, chú trọng đến thế mạnh về các sản phẩm truyền thống, nổ lực phấn đấu bằng nhiều biện pháp đẩy
Trang 34mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
2.3 TÌNH HÌNH CÔNG TÁC CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TỈNH KHÁNH HÒA
2.3.1.Tình hình thực hiện công tác đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 1990-2005
Từ năm 1990 đến nay, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, tỉnh Khánh Hòa đã thực hiện 3 đợt sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước
Đợt thứ nhất (1990 – 1993): Tập trung vào việc chấn chỉnh và tổ chức lại
sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp quốc doanh theo Quyết định 315/ HĐBT và tiến hành thành lập, đăng ký lại, giải thể doanh nghiệp quốc doanh theo Nghị định
số 388/HĐBT Mục tiêu của đặt này là rà soát lại số lượng doanh nghiệp nhà nước
đã thành lập trước đó, đăng ký lại ngành nghề kinh doanh Kết quả đã thành lập lại được 140 doanh nghiệp nhà nước
Đợt thứ hai (1994 – 1997): Thực hiện chỉ thị 500/TTg của Thủ tướng Chính
phủ về tiếp tục sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước với mục tiêu đưa các doanh nghiệp nhà nước đi vào hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước; phân định tương đối rõ chức năng của cơ quan quản lý nhà nước; xác định quyền chủ động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp nhà nước; bổ sung đủ 30% vốn lưu động cho những doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả
Đợt thức ba (1998 đến nay): Đẩy mạnh việc sắp xếp và đổi mới doanh
nghiệp nhà nước theo Chỉ thị 20/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước và các Nghị định 44/1998/NĐ-CP; Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002; Nghị định
số 187/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước tỉnh Khánh Hòa đã được đẩy mạnh và thực hiện một cách triệt để
Từ năm 1998, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành một số Nghị quyết, Chỉ thị về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước; thành lập Ban Đổi mới Quản lý doanh nghiệp tỉnh, từ hình thức hoàn toàn kiêm nhiệm đến năm 2003 đổi tên thành
Trang 35Ban đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tỉnh với 09 thành viên trong đó có một phó trưởng ban thường trực chuyên trách và Tổ chuyên viên kiêm nhiệm với 6 thành viên
Từ năm 1998 đến nay, tỉnh Khánh Hòa đã 3 lần xây dựng, trình và được Chính phủ phê duyệt Đề án, Phương án và Phương án điều chỉnh về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh Mỗi lần xây dựng Phương án, tỉnh đều vận dụng những tư tưởng đổi mới của Đảng và Nhà nước về chủ trương, chính sách sắp xếp doanh nghiệp nhà nước Cụ thể tại Đề án trình duyệt năm 2000 tỉnh vẫn giữ đến
51 doanh nghiệp nhà nước; sang Phương án năm 2002 số doanh nghiệp nhà nước
dự kiến giữ lại là 24 và đến Phương án năm 2004, thực hiện Nghị quyết 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX số doanh nghiệp nhà nước tỉnh Khánh Hòa sẽ chỉ còn 14 Như vậy, sau khi thực hiện xong phương án điều chỉnh được duyệt, số lượng doanh nghiệp nhà nước của tỉnh sẽ giảm gần 6 lần, từ 80 doanh nghiệp năm
1999 xuống còn 14 doanh nghiệp sau năm 2005
Nhìn chung, việc triển khai chủ trương và các văn bản pháp luật về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước tại Khánh Hòa đã được thực hiện một cách tích cực, triệt để, có vận dụng vào thực tế của địa phương, nhưng không trái với các quy định của pháp luật
2.3.2 Kết quả sắp xếp doanh nghiệp nhà nước
Từ năm 1998 đến hết năm 2005, công tác sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu
quả doanh nghiệp nhà nước tại Khánh Hòa đạt kết quả như sau :
a Cổ phần hoá xong 41 doanh nghiệp độc lập và bộ phận doanh nghiệp
Trong đó: - 36 doanh nghiệp độc lập
- 05 bộ phận doanh nghiệp
b Giao, bán 05 doanh nghiệp
Trong đó: - Giao 01doanh nghiệp
- Bán 04 doanh nghiệp
c Hợp nhất 12 doanh nghiệp
d Chuyển 04 doanh nghiệp về Trung ương quản lý
đ Giải thể 15 doanh nghiệp
e Thành lập mới 03 doanh nghiệp
Trang 36g Chuyển thành đơn vị sự nghiệp 4 doanh nghiệp
h Chuyển thành Công ty TNHH một thành viên 2 doanh nghiệp Doanh nghiệp nhà nước sản xuất kinh doanh cơ bản đã chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hạch toán kinh doanh; được giao vốn, tự chủ sử dụng vốn và các quỹ để phục vụ kịp thời nhu cầu kinh doanh, theo nguyên tắc bảo toàn và phát triển; được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức để đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ, bước đầu đa dạng các nguồn vốn để phát triển sản xuất kinh doanh; được quyền chủ động tổ chức bộ máy quản lý, tuyển chọn, đào tạo và sử dụng lao động theo quy định của pháp luật Nhiều doanh nghiệp nhà nước thích ứng được và hoạt động có hiệu quả trong cơ chế mới, làm ăn có lãi; trình độ công nghệ và quản lý có nhiều tiến bộ; vốn được bảo toàn và tăng thêm Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt trong tăng trưởng kinh tế của địa phương, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế tỉnh
Các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ đã tiến hành giải thể, nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách, tạo điều kiện để người lao động tìm việc làm mới trong các doanh nghiệp khác Các Doanh nghiệp nhà nước còn lại sau khi sắp xếp, đã được đầu tư thêm vốn
để tăng vốn kinh doanh, đầu tư chiều sâu, cải tiến công nghệ Vai trò, vị thế của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế của tỉnh ngày càng được củng cố Nhiều sản phẩm của doanh nghiệp nhà nước đã và đang chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước
2.3.3 Kết quả cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 1998 - 2005
BẢNG 5: Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa theo quy mô
Tổng số doanh nghiệp
Trang 37Các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp đã tạo ra động lực mới trong sản xuất kinh doanh và hình thành cơ chế kiểm soát có hiệu quả hơn của cổ đông và người lao động đối với doanh nghiệp; tiết kiệm được chi phí quản lý; năng suất lao động tăng; hạ giá thành sản phẩm; hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng, thu nhập của người lao động được đảm bảo và có xu hướng ngày càng tăng; lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước được bảo đảm Một số doanh nghiệp đã đầu tư thêm máy móc thiết bị; đổi mới công nghệ; mở rộng ngành nghề; tăng cường liên doanh liên kết; nên năng lực, hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng đáng kể, tiêu biểu là các công ty cổ phần: Chế biến Lâm Thuỷ sản, Chế biến Thuỷ sản xuất khẩu F.17, Phụ liệu may Nha Trang, Thuỷ sản Cam Ranh, Vật tư Thiết bị giao thông, Muối Khánh Hòa
Năm 2005, chỉ tính riêng 36 doanh nghiệp đã chuyển đổi trên 1 năm, bình quân doanh thu tăng 1,38 lần; nộp ngân sách tăng 1,42 lần; lợi nhuận sau thuế tăng 2,33 lần so với trước khi chuyển đổi; cổ tức đạt bình quân 16,84%/năm, cá biệt có doanh nghiệp cổ tức đạt 100%/năm Việc làm của người lao động tiếp tục được đảm bảo, thu nhập bình quân đạt xấp xỉ 1.530 ngàn đồng/người/ tháng, tăng 31% so với trước khi chuyển đổi
2.4 QUY TRÌNH CHUYỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG
TY CỔ PHẦN
Công tác tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trên tỉnh Khánh Hòa bao gồm các bước sau:
2.4.1 Bước thứ nhất: Chuẩn bị cổ phần hoá
- Sau khi nhận được thông báo chuyển đổi hình thức sở hữu, doanh nghiệp nhà nước mà cụ thể là Ban giám đốc phối hợp cùng cấp uỷ Đảng, Công đoàn lập tờ trình xin thành lập Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh và các ngành có liên quan Nhận được tờ trình, Sở Nội vụ tỉnh dự thảo quyết định thành lập Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp để Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp gồm: Giám đốc làm trưởng ban và các thành viên là đại diện cấp uỷ, công đoàn, người lao dộng, kế toán trưởng, trưởng phòng tổ chức - hành chính
Trang 38- Sau khi có quyết định thành lập, Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp tiến hành song song những công việc sau đây:
+ Phổ biến, tuyên truyền cho người lao động trong doanh nghiệp về chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về cổ phần hoá Đây là một việc làm hết sức quan trọng Vì qua tuyên truyền, phổ biến, người lao động sẽ hiểu rõ mục đích, lợi ích của công tác cổ phần hoá, thấy được quyền lợi của mình khi tham gia mua cổ phần, giúp cho việc đăng ký mua cổ phần nhanh chóng, thuận lợi
+ Tổ chức việc kiểm kê tài sản của doanh nghiệp Mục đích của việc kiểm kê
là nhằm đánh giá đúng số lượng tài sản cố định, tài sản lưu động hiện có tại doanh nghiệp, làm căn cứ cho việc xác định giá trị doanh nghiệp cũng như giá trị phần vốn nhà nước có tại doanh nghiệp ở thời điểm cổ phần hoá
+ Lập danh sách người lao động của doanh nghiệp có mặt tại thời điểm cổ phần hoá để làm căn cứ xác định số lượng cổ phần được mua với giá ưu đãi của từng người Danh sách này phải được Sở Lao động Thương binh và Xã hội xác nhận
+ Trên cở sở số liệu đã tiến hành kiểm kê, tiến hành việc xác định giá trị doanh nghiệp cũng như giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp Giá trị của doanh nghiệp là giá cả của doanh nghiệp khi bán cho chủ sở hữu khác, vì vậy nó cũng chịu sự chi phối của thị trường, quan hệ cung cầu tại thời điểm cổ phần hóa và những điều kiện kèm theo
do bên bán hoặc bên mua đưa ra
Việc xác định giá trị của doanh nghiệp được tiến hành theo những bước, nguyên tắc và nội dung sau đây:
Ø Nguyên tắc và căn cứ xác định giá trị doanh nghiệp:
* Nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phần hóa, cần phải tiến hành xác định giá
trị theo các nguyên tắc:
- Giá trị thực tế của doanh nghiệp nhà nước là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa mà người mua và người bán đều chấp nhận được Giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là giá trị thực tế của doanh nghiệp ấy khi đã trừ đi các khoản nợ phải trả
Trang 39Các yếu tố xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp: số liệu trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa, giá trị thực tế của tài sản doanh nghiệp xác định trên cơ sở hiện trạng về phẩm chất, tính năng kỹ thuật, nhu cầu sử dụng của người mua tài sản và giá thị trường tại thời điểm cổ phần hóa
- Lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp về địa lí, uy tín mặt hàng (nếu có) Lợi thế này thể hiện ở tỉ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn bình quân ba năm liền kề trước thời điểm cổ phần hóa Giá trị lợi thế nói trên chỉ tính tối đa 30% vào giá trị thực tế của doanh nghiệp
* Căn cứ xác định giá trị doanh nghiệp
- Trên sổ sách:
+ Số liệu giao vốn gần nhất
+ Biên bản xét duyệt quyết toán ba năm liền kề trước khi cổ phần hóa
+ Toàn bộ chứng từ, sổ sách liên quan
- Số liệu kiểm tra thực tế:
+ Tài liệu kiểm tra về tài sản vốn, vật tư hàng hóa;
+ Biên bản đối chiếu công nợ các bên đã xác nhận;
+ Hợp đồng, giấy phép liên doanh, liên kết (nếu có);
+ Các số liệu khác về đầu tư tài chính
- Hiện trạng và giá trị hiện hành của từng loại tài sản, vật tư, hàng hóa
Ø Kiểm kê tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp:
Tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp phải kiểm kê bao gồm: Tài sản lưu động
và đầu tư ngắn hạn, tài sản cố định và đầu tư dài hạn được phản ánh trong bảng cân đối kế toán theo chế độ kế toán hiện hành Tài sản thuê ngoài, vật tư hàng hóa nhận giữ hộ, nhận ký giữ được kiểm kê riêng
* Yêu cầu đối với kiểm kê tài sản:
- Xác định số lượng tài sản thực tế hiện có đến thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp
- Phân loại tài sản hiện có thuộc sở hữu của doanh nghiệp:
Trang 40+ Tài sản mà doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng thì căn cứ vào thông số kỹ thuật và thực trạng tài sản để xác định chất lượng còn lại của từng tài sản hoặc nhóm tài sản Chất lượng còn lại thể hiện bằng tỉ lệ % so với chất lượng tài sản mua sắm và đầu tư xây dựng mới
+ Tài sản không có nhu cầu sử dụng bao gồm tài sản không cần dùng, tài sản không có khả năng phục hồi được kê khai riêng để có biện pháp xử lí
+ Tài sản hình thành từ quỹ khen thưởng, phúc lợi (nếu có) cần kiểm tra để bàn giao riêng cho công ty cổ phần quản lí, sử dụng
- Xác định tài sản thiếu hụt so với sổ sách (nếu có)
- Đối chiếu và phân loại các khoản nợ
Nợ phải thu khó đòi phải có chứng cứ hợp lệ, cụ thể:
+ Khoản nợ mà con nợ không xác nhận;
+ Con nợ là pháp nhân đã bị giải thể, phá sản
+ Con nợ là cá nhân đã chết, bỏ trốn, không có thừa kế hợp pháp;
+ Các khoản nợ khó đòi do các nguyên nhân khác
* Tổ chức kiểm kê tài sản:
Giám đốc doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa phải thành lập Hội đồng để kiểm kê tài sản theo các yêu cầu trên Thành viên Hội đồng kiểm kê gồm:
- Giám đốc doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa là Chủ tịch hội đồng;
- Kế toán trưởng là thành viên hội đồng;
- Trưởng phòng Kỹ thuật là thành viên hội đồng
Ngoài ra tuỳ theo tình hình cụ thể, giám đốc doanh nghiệp mời các chuyên
am hiểu kỹ thuật, tính năng tác dụng và chất lượng của tài sản để tham gia vào Hội đồng kiểm kê tài sản
Ø Xác định tài sản và các khoản nợ trước khi cổ phần hóa:
* Các tài sản không tính vào tài sản doanh nghiệp để cổ phần hóa: