Trong phạm vi bμi báo nμy đề cập đến các vấn đề về khái niệm, đối tượng vμ các cấp độ thực hiện đánh giá tác động môi trường của một dự án.. - Theo International Association for Impact A
Trang 1Một số vấn đề cơ bản về Đánh giá
tác động môi trường dự án
kS nguyễn hoàng tùng
Bộ môn Dự án vμ quản lý dự án Trường Đại học Giao thông Vận tải
Tóm tắt: Công tác đánh giá tác động môi trường có vai trò quan trọng hμng đầu đối với
đối với các dự án đầu tư Chất lượng thực hiện đánh giá tác động môi trường ảnh hưởng không nhỏ đến sự thμnh công của dự án Trong phạm vi bμi báo nμy đề cập đến các vấn đề về khái niệm, đối tượng vμ các cấp độ thực hiện đánh giá tác động môi trường của một dự án
Summary: Environmental Impact Assessment takes the most important role of
investment projects Implementation quality of the work significantly affects success of the projects The article presents some basic issues related to various aspects: Concepts, Objects and Levels of the Implementation
I đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, theo xu
hướng chung của thế giới, sự phát triển của
một quốc gia phải được xây dựng trên cơ sở
bền vững, theo đó, các dự án đầu tư đều phải
hướng tới các mục tiêu kinh tế bền vững hay
nói cách khác là hướng tới các chỉ tiêu hiệu
quả kinh tế xã hội có tính ổn định cao được
xem xét trên giác độ lợi ích của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân Chính bởi vậy, có thể nói vai
trò của công tác đánh giá tác động môi trường
ngày càng được coi trọng và trở nên không
thể thiếu trong các dự án
ii Nội dung
Thông thường, trước khi tiến hành xem
xét một vấn đề chúng ta phải hình thành cho
mình một khái niệm về vấn đề đó, đó là cơ sở
để tiến hành các nghiên cứu sâu hơn sau này
Đã có rất nhiều khái niệm về Đánh giá tác
động môi trường dự án, đó là:
- Theo Luật bảo vệ môi trường của Việt
Nam ban hành ngày 27/12/1993: Đánh giá tác
động môi trường là quá trình phân tích đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và các công trình khác, đề xuất giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường
- Theo thông tư số 10/2000/TT - BXD hướng dẫn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các đồ án, quy hoạch xây dựng,
đánh giá tác động môi trường được diễn giải như sau: Đánh giá tác động môi trường là quá trình nghiên cứu, nhận dạng, dự báo và phân tích những tác động môi trường quan trọng của một dự án nhằm cung cấp những thông tin cần thiết để nâng cao chất lượng của việc
ra quyết định
- Theo tác giả Larry W Canter (trường
Đại học OKlahoma Nhật Bản) thì đánh giá tác
động môi trường có thể được hiểu như sau:
Đánh giá tác động môi trường là việc xác định
và đánh giá một cách có hệ thống các tác
động tiềm tàng đến các dự án, kế hoạch, chương trình hoặc các hoạt động mang tính
Trang 2pháp lý về các vấn đề vật lý - hoá học, sinh
học, văn hoá, kinh tế xã hội cấu thành trong
một môi trường tổng thể
- Theo International Association for
Impact Assessment (Tổ chức Đánh giá tác
động quốc tế): Đánh giá tác động môi trường
được hiểu là một quá trình xác định, dự báo,
đánh giá và hạn chế các tác động tự nhiên, xã
hội hoặc các tác động khác có thể có trong
việc triển khai các dự định nhằm hướng tới
thực hiện các quyết định và các thoả thuận
quan trọng
Như vậy có thể thấy rằng có nhiều các
khái niệm khác nhau về đánh giá tác động
môi trường Tựu trung lại, đánh giá tác động
môi trường có thể được hiểu như sau:
Đánh giá tác động môi trường dự án
(EIAOP) được hiểu là một quá trình thực hiện
việc xác định, dự báo, định lượng để hạn chế
các yếu tố tiêu cực, phát huy các yếu tố tích
cực của các tác động qua lại có thể có giữa dự
án và môi trường dự án về các mặt tự nhiên
(địa lý, vật lý, hoá học, sinh học), chính trị, văn
hoá, kinh tế xã hội một cách có hệ thống và
khoa học
Khái niệm trên đây cho thấy Đánh giá tác
động môi trường không phải là một công việc
đơn lẻ mà là một quá trình gồm nhiều các giai
đoạn công việc khác nhau Môi trường dự án
là một môi trường tổng quát, nó không đơn
thuần chỉ là môi trường tự nhiên mà còn bao
gồm cả môi trường chính trị, văn hoá, kinh tế
xã hội Các tác động giữa dự án và môi trường
dự án mang tính chất biện chứng có nghĩa là
chúng có tính chất qua lại lẫn nhau Môi
trường dự án tác động dẫn đến việc hình
thành dự án, trong khi đó, dự án khi hình
thành sẽ có những tác động nhất định ngược
lại đến môi trường dự án Các tác động có thể
bao gồm tác động dự kiến mang tính chủ
quan của người thực hiện và tác động trên
thực tế thực hiện dự án Quan hệ tác động
qua lại này được biểu diễn qua hình 1.1
Dự án
Môi trường
Hình 1.1 Tác động qua lại giữa dự án
vμ môi trường dự án
Trước khi tìm hiểu kỹ hơn hai mối quan
hệ tác động kể trên, để thuận tiện, chúng ta quy ước Tác động từ môi trường dự án đến dự
án là tác động thuận (Direct Impacts-D.I), Tác
động từ dự án đến môi trường là tác động nghịch (Inverse Impacts-I.I) Hai loại tác động này tham gia vào toàn bộ quá trình dự án từ lúc bắt đầu hình thành cho đến khi triển khai thực hiện dự án, tuy nhiên, mức độ và tính chất của chúng không giữ nguyên mà có sự thay đổi theo từng giai đoạn Quá trình hình thành dự án được miêu tả theo góc độ các tác
động được biểu diễn như hình 1.2 dưới đây
Hình 1.2 Quá trình nghiên cứu các tác động
Theo hình 1.2 ta thấy xuất hiện ba đường biểu diễn là: Đường D.I.P (Direct Impact Process); Đường I.I.P (Expected Process) và
Đường E.P (Inverse Impact Process)
Dự án Môi trường
QT tác động thuận (D.I.P)
α QT thực
hiện dự án mong đợi (E.P)
β
QT tác động nghịch (I.I.P)
Trang 3Đường D.I.P là đường biểu diễn quá trình
ảnh hưởng của các tác động thuận (D.I) tới
việc hình thành dự án
Đường I.I.P là đường biểu diễn quá trình
ảnh hưởng của các tác động nghịch (I.I) từ dự
án đến môi trường
Đường E.P là đường biểu diễn quá trình
thực hiện dự án mong đợi của đội ngũ tham
gia dự án
Sự xuất hiện của khái niệm đường E.P
kéo theo sự xuất hiện của hai khái niệm khác,
đó là khái niệm về Góc lệch cầu (α) và Góc
lệch cung (β)
Quá trình này được mô tả như sau:
Tại thời điểm dự án chưa hình thành, tác
động nghịch (I.I) chưa xuất hiện mà chỉ xuất
hiện các tác động thuận (D.I) Các tác động
thuận (D.I) dẫn đến việc hình thành dự án Nói
cách khác, khi dự án chưa được định hình thì
các yếu tố môi trường của dự án quyết định
đến tính chất, quy mô và địa điểm dự án Ví
dụ, định hướng phát triển chiến lược của chính
phủ và nhu cầu đòi hỏi nền kinh tế đặt ra yêu
cầu về một dự án đường giao thông thông
suốt với các tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt là
các cửa khẩu thương mại vì thế dần hình
thành nên dự án xây dựng đường giao thông
nối liền Hà Nội -Lạng Sơn Rõ ràng là các yếu
tố môi trường (chiến lược, yêu cầu của nền
kinh tế,…) đã tác động và làm hình thành dự
án xây dựng đường giao thông kể trên Các
tác động thuận này được xác định, dự báo và
định lượng bởi đội ngũ cán bộ chức năng,
chính vì vậy nó sẽ có độ sai lệch nhất định so
với thực tế diễn ra Sự sai lệch trong xác định,
dự báo và định lượng mức độ tác động này
được biểu diễn qua Góc lệch cầu (α) Góc
lệch cầu càng nhỏ thì độ chính xác trong công
việc của đội ngũ chức năng càng cao
Tại thời điểm dự án bắt đầu được hình
thành, lúc này đã có thể xác định, dự báo và
định lượng các tác động của dự án đến môi
trường (tác động nghịch) và chúng còn được kiểm chứng qua các tác động trên thực tiễn thực hiện dự án Có thể nói lúc này tác động nghịch đã xuất hiện Các tác động nghịch trên
lý thuyết và thực tế sẽ có sự sai lệch nhất định
và sự sai lệch này được biểu diễn qua Góc lệch cung (β) Góc lệch cung càng lớn thì sai khác càng lớn, nếu sự sai khác này theo hướng tích cực thì dự án thành công ngoài sự mong đợi, tuy nhiên, trên thực tế thì sự sai khác này chủ yếu theo hướng tiêu cực, nghĩa
là dự án có thể thất bại
Về mặt lý thuyết có thể tồn tại Hàm quan
hệ giữa Góc lệch cung và Góc lệch cầu:
β = f(α) Ví dụ, với một giá trị đánh giá chính xác cho việc hình thành dự án ở mức độ α, sẽ dẫn đến một sự lựa chọn loại hình dự án có
địa điểm và quy mô xác định, tính đúng đắn của loại hình dự án, địa điểm và quy mô này
sẽ quyết định mức độ chính xác của dự án khi triển khai thực hiện trong thực tế là β Tuy vậy, hàm này có quá nhiều biến và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố do vậy việc xác định hàm này gặp rất nhiều khó khăn
Trình tự nghiên cứu và mức độ của hai loại tác động kể trên nếu được biểu diễn theo trục thời gian được trình bày theo hình 1.3 dưới
đây:
Tác động nghịch I.I Tác động
thuận D.I
Hình 1.3 Mức độ ảnh hưởng của hai loại
tác động theo thời gian
Thông qua hình vẽ kể trên chúng ta có thể thấy rằng trong các giai đoạn đầu khi dự
án chưa hình thành, các tác động thuận (từ môi trường đến dự án) xuất hiện là chủ yếu Các tác động này làm hình thành lên dự án
Dự án được hình thành cấp độ nào thì sẽ
Trang 4tương ứng xuất hiện các tác động nghịch (dự
án đến môi trường) ở cấp độ đó Và như vậy,
cho đến thời điểm dự án hoàn thành và đi vào
triển khai hoạt động thì tác động mà chúng ta
quan tâm chủ yếu là tác động nghịch, nghĩa là
đánh giá mức độ ảnh hưởng của dự án đến
môi trường dự án Điều này không có nghĩa là
tại thời điểm đưa dự án vào khai thác hoạt
động thì các tác động thuận không còn được
quan tâm nữa Trên thực tế, ngay cả khi đã đi
vào hoạt động thì dự án vẫn có thể được điều
chỉnh để phù hợp với yêu cầu thực tế do có sự
thay đổi liên tục của các yếu tố gây nên các
tác động thuận
EIAOP
Các tác động qua lại có thể loại trừ
Các tác động qua lại không thể loại trừ
Cấp độ 1
Cấp độ 2 Các tác động
qua lại không cần thiết
Các tác động qua lại cần thiết
Các kết luận đánh giá
sau cùng
Cấp độ 3
Mức độ chi tiết tăng dần
Như vậy, sự xuất hiện của các tác động
phụ thuộc vào trình tự các giai đoạn thực hiện
và cấp độ hình thành dự án Điều đó có nghĩa
là, công việc Đánh giá tác động môi trường sẽ
phụ thuộc vào các giai đoạn thực hiện dự án
Dự án càng được triển khai tương ứng sẽ kéo
theo cấp độ thực hiện Đánh giá tác động môi
trường dự án càng cao Về cơ bản các cấp độ
thực hiện được phân chia như sau:
Cấp độ 1: Thực hiện đánh giá trên cơ sở
thành lập danh mục các tác động môi trường
mang tính chất định tính là chủ yếu, trong đó
thể hiện các phân tích ở mức chung nhất phân
biệt những tác động qua lại có thể loại trừ và
không thể loại trừ
Cấp độ 2: Thực hiện đánh giá trong đó
thể hiện:
Sự phân biệt các tác động qua lại có thể
loại trừ và không thể loại trừ
Đối với các tác động không thể loại trừ thì
phải tiến hành đánh giá một cách cụ thể nhằm
đưa ra được danh mục các tác động qua lại
không cần thiết (ảnh hưởng không đáng kể) và
các tác động cần thiết (ảnh hưởng đáng kể)
Cấp độ 3: Các nội dung đánh giá tương
tự như cấp độ 2 nhưng đối với các tác động
cần thiết phải thực hiện các nghiên cứu đánh
giá tác động sâu hơn và phải đưa ra được các
kết luận EIAOP sau cùng phục vụ cho việc ra
các quyết định có liên quan
Hình 1.4 Sơ đồ biểu diễn các cấp độ
thực hiện EIAOP
Qua hình 1.4 chúng ta thấy rằng các yêu cầu trong đánh giá gia tăng theo các cấp độ EIAOP Nói một cách cụ thể, khi thực hiện
được các cấp đánh giá cao hơn thì các cấp độ
đánh giá thấp hơn trước đó đã phải được thực hiện Ví dụ như, nếu muốn thực hiện EIAOP cấp độ 2 thì EIAOP cấp độ 1 đã phải được thực hiện, muốn thực hiện EIAOP cấp độ 3 thì EIAOP cấp độ 1 và 2 đã phải được thực hiện Trên thực tế, mối quan hệ ràng buộc kể trên góp phần giảm thiểu chi phí dành cho thực hiện EIAOP khi các đánh giá cấp độ cao hơn có thể sử dụng các kết quả có được từ các đánh giá cấp độ thấp hơn, tuy nhiên, nó làm gia tăng tính rủi ro trong kết quả đánh giá vì mức độ phụ thuộc vào EIAOP cấp độ 1 là rất lớn Kết quả thực hiện EIAOP cấp độ 1 quyết định đến tính chính xác, mức độ phức tạp của các EIAOP cấp độ 2 và 3 Điều này
có thể dễ dàng nhận ra khi mà trong một dự
án nào đó EIAOP cấp độ 1 cho kết quả không chính xác, ví dụ như, đánh giá sai nhu cầu
đầu tư xây dựng đường giao thông thì khi kịp nhận ra sai sót này trong các đánh giá tiếp sau chúng ta cũng đã mất một khoản chi phí trước đó Nếu dự án này vẫn tiếp tục thì chúng
ta buộc phải thực hiện lại các đánh giá từ đầu Khi đó tổn thất sẽ là không nhỏ
Dự án càng được triển khai (mức độ tác
động nghịch xuất hiện cao) thì song song với
Trang 5đó là mức độ EIAOP càng được nâng cao, nói
cách khác chúng ta quan tâm đến việc hạn
chế các yêu tố tiêu cực, phát huy các yếu tố
tích cực do tác động của dự án tới môi trường
nhiều hơn Điều này có thể dễ lý giải bởi vì
trong thực tế thì đôi khi việc hạn chế các tác
động tiêu cực của môi trường đến dự án là
một công việc rất khó khăn Trong trường hợp
đó, thông thường, người ta sẽ hướng tới việc
dùng ảnh hưởng của các tác động tích cực
của dự án để hạn chế các tác động tiêu cực
của môi trường Ví dụ, yếu tố độc quyền tồn
tại lâu năm trong ngành bưu chính viễn thông
sẽ là một bất lợi đối với các dự án truyền
thông của tư nhân Người ta hầu như không
thể hạn chế bất lợi kể trên trước khi dự án hình
thành mà chỉ có thể dùng sự xuất hiện của dự
án mới như một giải pháp phá vỡ thế độc
quyền trước đó
iii kết luận
Tóm lại, có thể nói rằng đánh giá tác
động môi trường dự án thực chất là việc triển
khai liên tục nhóm các công việc cơ bản (xác
định, dự báo, định lượng các tác động qua lại
giữa dự án và môi trường dự án, từ đó đưa ra
phương án xử lý tối ưu) ở các cấp độ khác
nhau Tuỳ theo yêu cầu đòi hỏi của từng giai
đoạn thực hiện dự án mà nội dung thực hiện
EIAOP được quy định khác nhau nhằm hướng
tới sự thành công chung của toàn dự án
Tài liệu tham khảo
[1] Environmental Impact Assessment, Regulation
Regarding (Gov’t No.51,1993, Indonesia)
[2] UN- ECE Convention on Evironmental Impact
Assessment in a Transboudary Context (Espoo,
Finland, 25 May1991) and UN-ECE Protocol on
Strategic Environmental Assessment (Kiev,
Ukraine, 21 May 2003)
[3] Environmental Impact Assessment- Second Edition
– Larry W.Canter, University of Oklahoma, Japan
[4] Construction Management and Economics,
W.P.Hughes, 1989, UK
[5] Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam ban hành
ngày 27/12/1993
[6] Thông tư số 10/2000/TT-BXD hướng dẫn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các đồ án, quy hoạch xây dựng, đánh giá tác động môi trườngĂ