Kỹ thuật thu tín hiệu DVB-T trong môi trường di động và một số ứng dụng trong điều khiển NCS Nguyễn Quang tuấn Trường Đại học Giao thông Tây Nam Trung Quốc Tóm tắt: Bμi báo giới thiệu
Trang 1Kỹ thuật thu tín hiệu DVB-T trong môi trường
di động và một số ứng dụng trong điều khiển
NCS Nguyễn Quang tuấn
Trường Đại học Giao thông Tây Nam Trung Quốc
Tóm tắt: Bμi báo giới thiệu cấu trúc tín hiệu DVB-T, đưa ra phương án tối ưu nhằm thu vμ
phân tích tín hiệu DVB-T trong môi trường di động mμ không yêu cầu thay đổi cấu trúc của hệ thống Thu tín hiệu DVB trong môi trường di động lμ việc cần quan tâm tới do sự phát triển rất nhanh của khoa học kỹ thuật vμ nhu cầu xã hội Nhưng về bản chất việc thu di động tín hiệu DVB lμ việc không được các nhμ thiết kế hệ thống đặt ra như một tiêu chuẩn chính thức Thông qua khả năng thu, xử lí tín hiệu DVB trong môi trường di động đã mở ra khả năng ứng dụng tín hiệu nμy trong một số lĩnh vực khác ngoμi mục tiêu chinh của hệ thống, như ứng dụng trong việc định vị đối tượng, điều khiển các thiết bị tự động, robot hoạt động độc lập
Summary: The article introduces DVB-T signal structure and proposes an optimal method
for receiving and analysing DVB-T signals in mobile environment without changing the structure
of the digital television system
It's essential to pay attention to DVB signal reception in mobile environment because of the rapid development in engineering and society's needs Basically, mobile DVB signal reception is not put forward as an official standard by system designers However, DVB signal reception and analysis in mobile environment has opened up a possibility of applying this signal
in other fields rather than the main purpose of DVB system, such as object navigation, automatic appliance controller, independently operating robots, etc
CT 2
1 Giới thiệu chung
Trong những năm gần đây, các hệ thống truyền hình số chất lượng cao cho phép thu các chương trình truyền hình và các dịch vụ số liệu tốc độ cao đã và đang được nghiên cứu ngày càng hoàn thiện, số lượng các quốc gia đưa tiêu chuẩn DTV vào kế hoạch phát triển hệ thống truyền hình ngày một nhiều, đặc biệt là các nước công nghiệp tiên tiến Hệ thống DTV được ứng dụng phổ biến nhất hiện nay là hai hệ thống, ATSC (Advanced Television Systems committee)
được dùng chủ yếu tai Bắc Mỹ, Canada Chỉ riêng trong lục địa Bắc Mỹ tới đầu năm 2006 đã có khoảng 1600 đài phát truyền hình số Hệ thống phổ biến thứ hai là hệ thống DVB-T (Digital Video Broadcasting – Terrestrial) được dùng chủ yếu tại châu Âu, các nước thuộc châu á, Phi
và Nam Mỹ Tới đầu năm 2006 chỉ tính riêng nước Anh đã có hơn 5 triệu máy thu DVB-T được dùng (Set-top box), tại Đức số lượng máy thu khoảng 3 triệu chiếc, tại VN cũng đã chuẩn bi kết thúc quá trình thử nghiệm và đưa vào khai thác chính thức Nói chung cả hai hệ thống chỉ khác nhau trên phương diện điều chế tín hiệu do đó có các ưu khuyết điểm khác nhau, nhưng nguyên
lý hệ thống và hiệu quả ứng dụng về cơ bản không khác nhau nhiều
Với cấu trúc mã hoá dựa trên các gói MPEG-2, thông qua các bước xử lý chèn mã sửa lỗi
và điều chế theo phương pháp mã hoá đa tần trực giao COFDM (Code Orthogonal Frequency
Trang 2Division Multiplexing), tín hiệu DVB-T có nhiều ưu điểm nổi trội so với tín hiệu truyền hình tương
tự Đó là khả năng chống nhiễu, tự sửa lỗi phát sinh trên đường truyền cao; có khả năng loại trừ
hiệu ứng đa đường và chống được hiện tượng thu tín hiệu thứ cấp; cung cấp hình ảnh, âm thanh
chất lượng cao, đáp ứng tiêu chuẩn HDTV đồng thời còn có thể cung cấp các luồng thông tin tốc
độ cao cho các mục đích khác Vấn đề cần quan tâm đối với các nước ứng dụng các hệ thống
DTV hiện nay chỉ là chọn các bộ tiêu chuẩn DTV như thế nào để phù hợp với đặc thù địa lí, kinh
tế cũng như dân tộc của từng nước
Xuất phát từ tính chọn lọc cao khi thu, giải mã tín hiệu DVB-T, do quan điểm khi thiết kế hệ
thống của các nhà thiết kế đã không đặt yêu cầu thu di động thành tiêu chuẩn chính của hệ
thống dẫn tới việc thu trong môi trường di động hoặc máy xách tay trở nên khó khăn Do nhu
cầu sử dụng phát triển nên đã có nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm dựa trên cấu trúc của
tín hiệu DTV với các phương pháp và các đề xuất kỹ thuật khác nhau, nhưng nói chung các đề
xuất vẫn còn có các hạn chế nhất định
Bài báo đi vào hướng xây dựng phương án sử dụng antena đa hợp (diversity antena) kết
hợp bộ chọn cổng logic nhằm lựa chọn mẫu tín hiệu DTV thích hợp nhất tại vi trí thu cùng một
số kết quả thử nghiệm tai Đức, Singapore Các thử nghiệm đã chứng minh khả năng thu tốt tín
hiệu DTV trong cả trường hợp bị che khuất, cường độ trường yếu, giảm thiểu hiệu ứng Doppler,
loại trừ tín hiệu phản xạ do các bức tường hoặc do các kết cấu bê tông cốt thép vốn rất nhiều
trong các thành phố
Thực hiện tốt việc thu di động tín hiệu DTV, cụ thể là tín hiệu DVB-T đã mở ra khả năng
ứng dụng tín hiệu DVB-T trong một số lĩnh vực như điều hành, định vị hệ thống xe Bus, taxi, các
thiết bị cá nhân, thực hiện điều khiển các thiết bị tự động, Robot làm việc trong môi trường độc
lập Tại phần cuối bài báo cũng giới thiệu một mô hình hệ thống định vị và truyền số liệu dùng
tín hiệu DVB-T, độc giả quan tâm có thể tìm đọc kỹ hơn trong bài “Cấu trúc tín hiệu DVB-T và
khả năng ứng dụng trong kĩ thuật định vị“ Tạp chí Khoa học Giao thông Vận tải, số 14 tháng
5/2006 - Trường Đại học Giao thông vận tải
CT 2
2 tín hiệu DVB-T
Chúng ta đã biết tín hiệu truyền hình số DVB-T được hình thành trên cơ sở gia công, điều
chế các luồng tín hiệu gồm các gói dữ liệu MPEG-2 gọi là các TS (Transport Streams) Các
luồng TS bao gồm các gói TS cơ sở liên tục, mỗi gói cơ sở có độ dài 188 Bytes, trong đó có 4
Bytes đầu tiên gọi là các mào đầu được dùng để đồng bộ, nhận dạng gói, đây là đặc tính quan
trọng để lợi dụng tín hiệu DVB-T cho các mục đích khác với mục đích chính của hệ thống truyền
hình số Để hệ thống hoá vấn đề, chúng ta nhắc lại sơ bộ mô hình gia công tín hiệu DVB-T trên
quan điểm nêu bật những đặc trưng của loại tín hiệu này
Các luồng TS được gia công và điều chế trong DVB-T theo lược đồ như hình 1
Quan sát sơ đồ khối có thể thấy quá trình điều chế được chia làm hai phần chính, phần đầu
gồm các khối riêng lẻ có mặt trong tất cả các hệ thống DVB, phần thứ hai từ khối chèn nội bộ
trở đi chỉ có ở hệ thống DVB-T
Về cơ bản quá trình gia công có 3 nhiệm vụ chính: Rời rạc năng lượng và đồng bộ, điều
chế và chống lỗi, mã hoá chia đa tần trực giao
Trang 3CT 2
2.1 Quá trình rời rạc năng lượng và đồng bộ
Hình 1 Sơ đồ khối quá trình gia công, điều chế tín hiệu DVB-T
Tại đây các dữ liệu của giao diện băng cơ sở (các TS của tín hiệu MFEG-2) sẽ phối hợp với một luồng bit được tạo ra từ bộ phát nhiễu giả ngẫu nhiên thông qua thanh ghi dịch hồi quy (Feedback Shift Register) Mục đích của thuật toán nhằm đạt được mật độ phổ công suất tương
đối bằng phẳng, chỉ các byte đồng bộ của các gói TS được giữ nguyên dạng nhằm mục đích
đồng bộ Bộ phát xung giả ngẫu nhiên được tái tạo nhờ một mẫu bit xác định trước với mỗi 8 gói
TS Bộ giải mã biết thời điểm bắt đầu của dãy do phương pháp đảo xung đồng bộ
2.2 Bảo vệ lỗi và điều chế:
Việc bảo vệ lỗi đầu ra được tực hiện thông qua thao tác mã hoá ra (Outer Encoder), tại đây gói TS được kết hợp với một mã kiểu hướng byte tạo ra một khối byte có khả năng chống lỗi ngay tại goi TS Mã khối sửa lỗi dùng trong DVB-T là mã Reed- Solomon có độ dài đầy đủ (255 239) có nghĩa cứ 239 byte thông tin thì có thể sửa lỗi cho 16 byte Nhưng gói TS chỉ có độ dài
188 byte nên trong mã khối RS sẽ có 51 byte đầu tiên nhận giá trị “0” và không truyền đi, lúc này mã RS ngắn (204 188) được tạo nên Phương pháp sửa lỗi này cho phép sửa số lượng bit lỗi lớn hơn nhiều các phương pháp thông thường Tiếp theo là thao tác chèn khối đầu ra (Outer Interleaver) việc chèn không nhằm mục đích tăng khả năng sửa lỗi mà chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho thao tác sửa lỗi, phân biệt rõ ràng các khối mà thôi Khối chèn được đọc vào bộ nhớ ma trận tuyến tính theo hàng và lấy ra theo cột, vậy chèn khối sẽ tốn dung lượng bộ nhớ, nhưng thuận lợi trong việc tăng độ nhậy, dễ đồng bộ và chống lại các nhiễu loạn có chu kỳ Trong hệ DVB-T dùng cách chèn xoắn với độ sâu chèn I = 12 và trễ cơ sở M = 17 Bộ chèn xoắn bao gồm (I-1) thanh ghi dịch với độ dài M, 2M, , (I-1)M tách biệt theo thứ tự Kể từ thời điểm này các byte kế cận bị tách ra tối thiểu 204 byte và tổng trễ là M(I-1)I cho tất cả các biểu tượng Trong hệ DVB-T dùng bộ mã hoá xoắn với tỉ lệ 1/2, có nghĩa cứ một bit riêng lẻ ở đầu vào thì
đầu ra xuất hiện 2 bit, các luồng dữ liệu được đưa qua một bộ ghi dịch theo kiểu “ bit by bit” và
đầu ra có hai luồng thu được do cách kết hợp khác nhau trong thanh ghi Một phần lớn phần thừa do tỷ lệ mã hoá 1/2 tạo nên sẽ bị loại trừ do thủ thuật đánh thủng Nếu cứ bit thứ 3 là bị gạt
bỏ thì ta goi tỉ lệ mã là 3/4 thay cho 1/2 Trong DVB có các tỉ lệ mã hoá như sau: 1/2; 2/3; 3/4; 5/6; 7/8
Trang 4Bước tiếp theo trong xử lý điều chế DVB-T là chèn nội bộ (Inner Interleaver) nhằm chống
những lỗi nội bộ có thể phát sinh trên đường truyền do hiệu ứng dội của kênh theo tần số, thực
chất của chèn nội bộ là là bộ chèn bit với 126 bit được đưa vào kết hợp với khối dữ liệu đã được
mã hoá phía trước Tiếp theo là khối quan trọng đặc trưng cho DVB-T dó là khối điều chế đa tần
trực giao OFDM, mở đầu là khối chèn biểu tượng Sau bộ chèn biểu tượng là một bộ chèn các
dãy giả ngẫu nhiên làm thay đổi tính chất của các dãy biểu tượng này Kết quả mỗi biểu tượng
sẽ được mang một tần số khác nhau Thông qua xử lý chèn biểu tượng sẽ mặt nạ hoá các biểu
tượng Mỗi sóng mang riêng của tín hiệu OFDM sẽ được điều chế tách biệt, có thể chọn một
trong ba phương pháp: QPSK, 16-QAM, 64-QAM Việc chỉ định dùng 2; 4 hay 6 dãy bit liên tục
theo một sóng mang thực hiện thông qua mã Gray
Một đặc điểm nữa của hệ DVB là có thể điều chế theo kiểu tuần tự, có nghĩa hai luồng tín
hiệu hoàn toàn độc lập có thể được phát cùng lúc trên một kênh tín hiệu, nhưng có phương pháp
điều chế khác nhau, ví dụ QPSK cho luồng có độ ưu tiên caovà 16-QAM cho luồng có độ ưu
tiên thấp Do đó khả năng chống lỗi phát khác nhau một chút, luồng ưu tiên cao dùng cho luồng
dữ liệu tốc độ thấp, tỉ lệ C/N cung thấp hơn, luồng ưu tiên thấp dùng cho luồng dữ liệu tốc độ
cao và có tỉ số C/N cao hơn, để ứng dụng tín hiệu DVB-T cho mục đích điều khiển thì đây là
điều kiện thuận lợi để gửi các bản tin điều khiển trong kênh tín hiệu truyền hình
2.3 M∙ hoá đa tần trực giao (COFDM)
Việc truyền phát tín hiệu mặt đất thường hay bị suy yếu tín hiệu do yếu tố địa hình và các
cấu trúc xây dựng làm phát sinh ra một loạt các hiệu ứng phụ đặc biệt là hiệu ứng đa đường Khi
xây dựng hệ thống DVB-T tuy việc thu di động không được đặt ra nhưng hệ thống cũng có thể
hoạt động khi đối tượng thu thay đổi trong phạm vi nhất định Việc chọn phương thức điều chế
COFDM là thích hợp nhất trong môi trường có nhiễu giao thoa đồng kênh và hiệu ứng đa đường
Ngoài ra phương pháp điều chế COFDM còn đáp ứng cao hiệu quả sử dụng tần số khi thức hiện
mang đơn tần SFN (Single Frequence Network)
CT 2
Điểm đặc biệt trong DVB-T là các biểu tượng OFDM bao gồm 1705 sóng mang với chế độ
phát 2K và 6817 sóng mang với chế độ 8K Bắt đầu mỗi biểu tượng COFDM là một giãn cách
bảo vệ với mục đích chống chồng lẫn biểu tượng và phản xạ Giãn cách bảo vệ có thể nhận một
trong 4 giá trị tính theo dộ dài của chu kỳ liên tục của biểu tượng thực tế: 1/4; 1/8; 1/16; 1/32
Trong DVB-T, các biểu tượng OFDM được nhóm thành các trang phát, mỗi trang gồm 68
biểu tượng liên tiếp, 4 trang liên tiếp họp thành một siêu trang Hình 2 minh hoạ cấu trúc trang
với 68 biểu tượng
Đây là hai tín hiệu tham chiếu cho kênh phát, được phát vơi tí lệ 1/0.75 so với biên độ các
sóng mang nhằm chống lỗi đường truyền
TPS pilot (Transmission Parameter Signalling) là chủ sóng báo hiệu tham số phát, nhằm
báo cho máy thu biết các tham số giải mã hiện tại TPS điều chế theo kiểu dịch khoá pha nhị
phân (DBPSK), mỗi trang có một khối TPS 68 bit bao gồm 1 bit giá trị mở đầu, 16 bit đồng bộ,
37 bit thông tin và 14 bit dự trữ có thể dùng vào mục đích chống lỗi Khối TPS được phát trên 17
sóng mang ở chế độ 2K và 68 sóng mang ở chế độ 8K
Trang 5Hình 2 Cấu trúc một trang OFDM
Scattered pilot: Chủ sóng phân tán; Continual pilot: Chủ sóng liên tục
3 Các yêu cầu khi triển khai thu phát DVB-T
Các tiêu chuẩn dùng đánh giá tính hiệu quả của DVB-T là: tốc độ dữ liệu cho phép; tỉ lệ C/N yêu cầu và cường độ trường tối thiểu cho các chế độ thu khác nhau Thực tế có 4 kiểu thu tín hiệu là: thu cố định, thu cầm tay ngoài trời, thu cầm tay trong nhà và thu di động Trong phạm vi bài viết chúng ta chỉ quan tâm tới việc thu di động và thu cầm tay trong nhà
CT 2
Điểm khác nhau chính của các kiểu thu là độ cao anten (10 m và 1.5 m) làm thiệt mất 12
dB - 18 dB độ lợi an ten, suy giảm độ lợi do kiểu anten khoảng 7 - 12 dB, suy hao do các kết cấu xây dựng cỡ 8 dB Căn cứ theo đặc trưng của từng kiểu thu, hội nghị thông tin vô tuyến vùng do ITU tổ chức tháng 5/2006 đã thống nhất trong nghi nhớ CCR ’06 đó là cường độ trường cho việc thu cố đinh là 50 - 54 dB μV/m; thu cầm tay ngoài trời, di động là 73 - 79 dB μV/m và cầm tay trong nhà 85 - 91 dB μV/m trong băng UHF; trong băng VHF lần lượt là 46 dB μV/m; 65
dB μV/m; 75 dB μV/m
4 Thực hiên thu di động
4.1 Giới thiệu mạng
Trong vài năm gần đây việc nghiên cứu thu di động tín hiệu DVB-T đẫ được đề cập ở một
số quốc gia như Anh, Đức, Trung quốc, Singapore vào năm 2001 đã có kết quả đầu tiên cho thấy có thể thực hiện thu bằng máy cầm tay trong nhà, năm 2003 đã có kết quả thực nghiệm thu hoàn hảo tín hiệu DVB-T cho máy di động đặt trên xe, các nghiên cứu đều đưa ra một kết luận chung là việc thu cầm tay và di động thực hiên hoàn hảo với một mạng DVB-T đơn tần số SFN (Single Frequence Networrk) Chúng làm cho cường độ trường được phân bổ đều hơn giữa
Trang 6các đài phát, tất nhiên cũng có trường hợp trong vùng phủ sóng của một SFN này lại thu được
tín hiệu của đài phát khác do hiệu ứng màn chắn, nhưng điều này cũng không làm ảnh hưởng
nhiều tới chất lượng dịch vụ
4.2 Kỹ thuật anten đa hợp cho máy thu di động
Xuất phát từ yêu cầu tối ưu hoá việc thu di động tín hiệu DVB-T đã có nhiều nghiên cứu
được tiến hành trong đó đáng lưu ý là phương án giao thoa liên sóng mang qua sơ đồ mã hoá
khử đa thức (ICI self-cancellation) nhưng phương án này cần can thiệp vào cấu trúc hệ thống xử
lý tín hiệu phát Phương án thứ hai không cần can thiệp vào cấu trúc hệ thống nhưng cũng cho
hiệu quả cao, chống hiệu ứng Phading tốt đó là dùng anten đa hợp (Diversity antenna)
ý tưởng của phương án là nếu có hai hay nhiều hơn anten thu tín hiệu đồng thời tạm gọi là
các nhánh đa hợp được đặt thích đáng thì tín hiệu giả do hiệu ứng Phading tại hai nhánh sẽ
không tương quan với nhau Vậy máy thu chỉ cho phép những tín hiệu hoàn toàn tương quan
thông qua Dưới đây chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về hoạt động của kỹ thuật anten đa hợp thông
qua hai phương án cụ thể
1) Phương pháp lựa chọn phù hợp SC (Selection Combining)
Trong mạch SC, tín
hiệu đã so sánh từ
nhánh anten L nào đó
của anten được đưa vào
mạch logic đa hợp
Nhánh nào có tỉ lệ C/N
cao hơn sẽ được lựa
chọn và đưa vào bộ giải
mã Nguyên lý lựa chọn
phù hợp được minh hoạ
ở hình 3
CT 2
Thành phần quan
trọng nhất là mạch logic
đa hợp, có thể thực hiện
theo nhiều cách, trên cơ sở tín hiệu DVB-T luôn mang theo các sóng mang phụ OFDM băng
hẹp, có biên độ lớn hơn các sóng mang biểu tượng, sóng mang nào có tỉ số C/N lớn nhất từ một
trong 3 nhánh anten sẽ được mạch logic lựa chọn Có thể dùng mức tạp âm trong nhánh để
nhận dạng công suất tín hiệu(thông qua quá trình xử lý chọn lọc) Lựa chọn phù hợp cũng có thể
thực hiện theo kiểu chọn luồng bit của các biểu tượng không bị chèn thông qua công suất tín
hiệu để chọn tín hiệu của một nhánh Luồng TPS có công suất lớn nhất sẽ cho tỉ số C/N lớn
nhất Phương pháp này dễ dàng áp dụng với công nghệ chip-set hiên nay mà không cần các biện
pháp mở rộng đối với máy thu Các TS được điều khiển bởi một mạch logic đa hợp, các gói
MFEG-2 không đúng được thay bằng các gói đúng, cung cấp bởi một trong các nhánh anten khác
Hình 3 Nguyên lý hoạt động mạch lựa chọn phù hợp
2) Phương pháp kết hợp tỉ lệ lớn nhất MRC (Maximum Ratio Combining):
Với phương pháp này, tín hiệu của L nhánh đa hợp trước tiên được đồng bộ về pha, xác
định trọng số bản thân theo tỉ lệ C/N tức thời trong các nhánh riêng
Trang 7Bước thứ hai là cộng các tín hiệu đồng pha và trọng số với nhau, do cách làm này về lý thuyết mà nói đã làm giảm hiệu ứng phading hơn bất kỳ kỹ thuật đa hợp tuyến tính nào khác Nhưng thực hiện đồng bộ pha và xác định trọng số phức tạp hơn phương án lựa chọn phù hợp, với khả năng tích hợp chipset hiện nay thi việc này cũng không khó khăn thực hiện Có nhiều phương án để giải quyết nhưng hiệu quả nhất là dựa trên mức sóng mang phụ, thực hiện đồng
bộ pha và xác định trong số bằng cách nhân tín hiệu này với toán tử liên hợp phức của nó Trên hình 4 minh hoạ nguyên lý hoạt động của phương pháp này
Tác dụng của anten đa hợp
đã được nghiên cứu tỉ mỉ thông qua
phương pháp mô phỏng và thử
nghiệm thực tế Thống kê các thử
nghiêm cho thấy bộ rtham số thích
hợp nhất cho viêc thu di động sử
dụng kỹ thuật anten đa hợp là: Chế
độ điều chế 8K, phương pháp điều
chế 16-QAM, tỷ lệ mã 2/3 và giãn
này do người Đức xác định và đề
nghị, có thể gọi là bộ tham số
“Đức”
Δ
Luồng tín hiệu sau khi được xác định và cộng sẽ đưa vào mach
xử lý tín hiệu như các máy thu cố định, lúc này tỉ số C/N đã tăng đáng kể, loại trừ hiệu ứng phading, ngoài ra còn hạn chế đáng kể hiệu ứng Doppler phát sinh bởi sự dịch tần số tín hiệu do máy thu liên tục chuyển động với tốc độ cao Cụ thể hơn chúng ta có thể quan sát trên hình 5
Hình 4 Sơ đồ nguyên lý phương án MRC
CT 2
Hình 5 Quan hệ giữa tần số dịch chuyển Doppler, tỉ số C/N yêu cầu vμ các dạng thu
Đường 1 biểu thị quan hệ ngưỡng thu với anten đơn vμ dùng máy thu cố định
Đường 2 tương ứng với máy thu dùng anten đa hợp với thế hệ chipset đầu tiên
Đường 3 tương ứng với máy thu dùng anten đa hợp với thế hệ chipset thứ hai
Trang 8Trên hình 5, trục hoành đại diện cho tần số dịch chuyển Doppler lớn nhất(Hz), trục tung đại
diện cho tỉ số C/N yêu cầu (dB)
Việc xác định tần số Doppler lớn nhất cho phép fD, đo với tốc độ xe v, tỉ lệ với tốc độ ánh
sáng c, do đó tần số Doppler lớn nhất là hàm của tần số sóng mang f0 thể hiện qua công thức:
fD = f0
c
v
(Hz)
Vậy với tần số Doppler 80 Hz tương ứng với tốc độ xe 101 km/h ở kênh 69 và 182 km/h ở
kênh 21
Cũng theo hình 5 chúng ta thấy khi thu cố định với một anten cần tỉ số C/N 22 dB để có
hình ảnh tốt, nhưng khi dùng anten đa hợp theo phương pháp MRC chỉ yêu cầu C/N 15 dB đã
thu được tốt Quan trọng hơn là có thể mở rộng giới hạn tốc độ hơn nữa, cũng trên hình 5 cho
thấy với tần số dịch chuyển Doppler lên 130 Hz mà khi dùng anten đa hợp cũng chỉ yêu cầu
C/N 20 dB (đường 3), do đó tại kênh 69 có thể thu tốt khi tốc độ xe lên tới 164 km/h
Việc thử nghiêm thu trong nhà với anten đa hợp cũng đã được các nhà khoa học của
trường đại học Nanyang (Singapore) tiến hành vào cuối năm 2004 tại tầng 2 và tầng 6 của toà
nhà Techno Plaza cũng cho kết quả tương tự, xem bảng 1
Bảng 1 Kết quả thử nghiệm tai trường đại học kỹ thuật Nanyang
CT 2
3) Các yêu cầu với máy thu di động
Việc dò kênh trong máy thu cố định khá đơn giản, chỉ cần một bộ quét tần số đơn là có thể
thực hiện quét tất cả các kênh Nếu mức cường độ từ trường dủ lớn, máy thu sẽ thực hiện đồng
bộ tín hiệu thu và đọc dãy TPS, nội dung của dãy TPS đựơc dùng trong việc giải mã và giải điều
chế
Với máy thu di động, quá trình dò kênh phức tạp hơn nhiều Máy thu phải thực hiện thay đổi
tần số tự động khi cường độ trường giảm tới ngưỡng ở mép vùng phủ sóng, do vậy dễ xảy ra
hiện tượng gián đoạn dịch vụ trong quá trình chuyển giao vùng phủ sóng Để tránh hiện tượng
này có thể thực hiện bằng cách chia nhỏ vùng phủ sóng thành các ô nhỏ, mỗi ô phụ trách một
khu vực cụ thể theo cấu trúc địa lý và được phân bổ một tần số phát Mỗi ô được nhận dạng
bằng một giá trị gán trong TPS gọi là cell_id có độ dài 16 bit Khi giải mã dữ liệu TPS, các máy
Trang 9thu sẽ đọc được giá trị cell_id và phân biệt ô có tín hiệu thu được Trước khi sự chuyển giao diễn
ra máy thu cần biết rõ vị trí của ô đang nhận tín hiệu và chuẩn bị sẵn danh sách các tần số lựa chọn cho dịch vụ thấp nhất Lý tưởng nhất là thông tin vị trí được cấp từ hệ GPS, trong trường hợp tín hiệu GPS không đủ tin cậy thì thông qua cell_id máy thu cũng có thể biết sơ bộ vị trí của mình Danh sách các tần số lựa chọn sẽ được biên dịch theo kiểu hướng dịch vụ vì dịch vụ đang
sử dụng có thể không hiện diện trong TPS đang thu mà trong các TPS khác Như vậy máy thu
sẽ sử dụng kí hiệu miêu tả danh sách dịch vụ để nhận dạng dịch vụ và khoá lại không chỉ trong TPS đang thu mà trong tất cả các TPS khác Tập hợp các tần số lựa chọn nhờ thế sẽ giảm dần
đến khi xác định được tần số của ô sẽ chuyển giao Nếu dữ liệu GPS đủ tin cậy thì chỉ một hoặc hai tần số lưu trong danh sách tần số lựa chọn là đủ Nếu chỉ biết cell_id thì tần số của 6 ô lân cận sẽ được lưu trong danh sách Bằng cách này hiện tượng ngắt dịch vụ sẽ bị loại trừ Ngoài ra thủ tục chuyển giao có thể thực hiện hoàn hảo hơn bằng cách bố trí thêm khối chọn kênh trong máy thu, như vậy một khối làm nhiệm vụ duy trì dịch vụ đang thu và một khối thực hiện chuyển giao, nhờ đó loại trừ hoàn toàn việc dò sai và ngắt dịch vụ trong quá trình chuyển giao
5 ứng dụng thu di động tín hiệu DVB-T trong các hệ thống điều khiển
Như đã đề cập ở phần đầu, do tính chất đặc trưng của tín hiệu DVB-T
là chuỗi các byte đồng bộ mang thông
tin, được điều chế theo phương pháp
COFDM và tổ chức thành các trang và
siêu trang có các chủ sóng mang
thông tin đi kèm, tiêu biểu là dãy bit
TPS và các xung đồng bộ của từng
TS Các dãy xung đồng bộ là xác đinh
theo thời gian và chu kỳ Theo xu
hướng phát triển tất yếu càng ngày sẽ
có càng nhiều đài phát truyền hình số
hoạt động, do đó việc tổ chức các
mạng đơn tần SFN để tăng khả năng
tận dụng tần số là việc phải thực hiện của các hệ thống truyền hình số Vậy tận dụng vai trò của các dãy xung đồng bộ và thông tin của các TPS trong tín hiệu DVB-T để thực hiện định vị cho các thiết bị tự động, các đối tượng điều khiển như taxi, hệ thống xe bus kết hợp với hệ thống giải trí trên xe sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt trong trường hợp các đối tượng hoạt động trong môi trường tín hiệu GPS không đủ độ tin cậy, ví dụ như các robot, thiết bị tự động hoạt
động độc lâp ở môi trường đô thị, trong nhà
Đμi phát TH số Đμi phát TH số
Đμi phát TH số
Máy thu
Trạm hiệu chuẩn
Hình 6 Mô hình hệ thống định vị sử dụng tín hiệu DVB-T
CT 2
Vấn đề cần giải quyết còn lại là xác định thời gian thực của các chuỗi xung đồng bộ và tổ chức hệ thống cung cấp khả năng tự đinh vị cho đối tượng Dựa trên mô hình hệ thống theo hình
6 có thể minh hoạ hoạt động cơ bản của hệ thống này
Mấu chốt của hệ thống là trạm hiệu chuẩn có nhiệm vụ thu tín hiệu của các đài phát số, phân tích sai số thời gian của các đài (trạm hiệu chuẩn yêu cầu trang bị đồng hồ dao động chuẩn Cesium) sau đó gửi thông điệp chuẩn thời gian tới các đối tượng Các máy thu sẽ đồng thời nhận tín hiệu của ít nhất 3 đài phát và trạm hiệu chuẩn, như vậy hoàn toàn đủ điều kiện để
Trang 10giai hệ phương trình định vị với các thông số theo không gian ba chiều và tham số hiệu chỉnh
thời gian Hệ phương trình định vị có dạng:
1 2
1 2
1 2
1
2
2 2
2 2
2 2
3 2
3 2
3 2
3
trong đó: R1, R2, R3 - khoảng cách từ máy thu tới đài phát trong đó bao gồm cả sai số do không
đồng bộ đồng hồ, được xác định bằng khoảng thời gian truyền tín hiệu từ đài phát tới máy thu
bằng phép đo giả cự ly; x, y, z - toạ độ của máy thu; k, v, c - kinh độ, vĩ độ, độ cao của đài phát
(đã biết trước); Δt - độ lệch thời gian của các đài phát với đồng hồ chuẩn của trạm hiệu chỉnh
Thông tin định vị cùng với các thông điệp được cài trong dãy TPS được đọc, cac máy thu
sẽ thực hiện thao tác cần thiết trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đồng thời trung tâm kiểm soát
được toàn bộ hành trình của thiết bị
6 Kết luận
Thông qua phân tích đặc điểm của tín hiệu DVB-T và sử dụng anten đa hợp trong việc thu
di động tín hiệu này, chúng ta thấy việc thu di động và trong nhà là hoàn toàn có thể thực hiện,
loại bỏ hiệu ứng đa đường, hiệu ứng Doppler cũng như hiện tượng thu sóng thứ cấp do phản xạ
tín hiệu Qua đó mở rộng khả năng khai thác thế mạnh của tín hiệu DVB-T, không chỉ thu các
chương trình truyền hình chất lượng cao thông thường mà còn có thể mở rộng trong lĩnh vực
điều khiển, định vị Tuy nhiên với mỗi hệ thống mở rộng yêu cầu các phương án xử lý tìn hiệu
cũng như thiết bị có các yêu cầu kỹ thuật không giống nhau Nhưng với điểm đặc trưng có thể
thực hiện định vị trong điều kiện đối tượng bi che khuất nên ứng dụng khả năng này của tín hiệu
DVB-T kết hợp với hệ định vị GPS sẽ cho một hệ định vị hoàn hảo hơn, cho các thông tin định vị
chính xác ngay cả trong môi trường đô thị và trong nhà, nơi mà hệ GPS không phải lúc nào
cũng cho thông định vị tin cậy
CT 2
Tài liệu tham khảo
[1] N Q Tuấn, “Cấu trúc tín hiệu DVB-T và khả năng ứng dụng trong kỹ thuật định vị” Tạp chí khoa học Giao thông vận
tải, số 14 - 05/2006
[2] "Digital Video Broadcasting (DVB), Framing Structure, Channel Coding and Modulation for Digital Terrestrial
Television" European Broadcasting Union, ETSI EN 300 744 v1.3.1, Jan.2001
[3] J G Proakis, "Digital Communications", 3rd Ed, McGraw-Hill, 1995
[4] A J van Dierendonk,"GPS Receivers" Global Positioning System: Theory and Applications, 1995
[5] T G Manickam, R.J Vaccaro, and D.W Tufts,” A least-squares algorithm for multipath time-delay estimation", IEEE
Trans.Signal Processing, vol 42, Nov.1994
[6] L Q Yu, "GPS weixing daohang dingwei yuanli yu fangfa" kexue chu ban she.2003
[7] G Yan, " Jiaotong kongzhi gongcheng gaiyao" xinan jiaotong daxue.2003
[8] Uwe ladebusch and Claudia A.Liss, ” A Broadcast Technology for stationary Portable and Mobile Use” Proceeding of
IEEE, Vol 94, No 1, 01/2006
[9] R Herlekar, Khaled Z Matarneh, Hsiao-Chun Wu, “Performance Evaluation of an ICI Self-cancellation Coded
Tranceiver for Mobile DVB-T Application” IEEE Transactions on Consumer Electronics, Vol 51, No 4, 11/2005
[10] J T Ong, S V B Rao, G Shanmugam, “ Indoor DVB-T Reception Using Antenna Diversity Technicque”
0-7803-8671-X/04/$20.00, 2004 IEEE
[11] D G Brennan, “Linear diversity combining technicques” Proc IRE vol 47, No 6, 1075-1102, 06/1959 Ă