đỗ thị ngọc điệp Bộ môn Kinh tế vận tải Khoa Vận tải – Kinh tế - Trường Đại học GTVT Tóm tắt: Bμi viết giới thiệu kết quả phân tích tỷ giá hối đoái trong thời gian qua, gồm ba vấn đề
Trang 1Thực trạng của vấn đề tỷ giá hối đoái
trong thời gian qua
TS đỗ thị ngọc điệp
Bộ môn Kinh tế vận tải Khoa Vận tải – Kinh tế - Trường Đại học GTVT
Tóm tắt: Bμi viết giới thiệu kết quả phân tích tỷ giá hối đoái trong thời gian qua, gồm ba
vấn đề cơ bản:
1.Tình hình chung của các nước trong khu vực vμ trên thế giới
2 Chính sách đồng đô la” yếu” vμ nền kinh tế Mỹ
3 Tỷ giá hối đoái vμ sự ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế Việt Nam
Summary: This article presents the results of the exchange rate analysis Including three
basic parts:
1 The common situation of the countries in the region and in the world
2 The policy of “USD” and US economy
3 The exchange rate and its effects on Vietnamese economy
KT-ML
i tình hình chung của các nước
trong khu vực vμ trên thế giới
Chính sách tỷ giá hối đoái gắn kết chặt
chẽ với mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội
trong nền kinh tế mở Bởi vậy thông qua chính
sách tỷ giá, chính phủ các nước có thể điều
tiết, quản lý nền kinh tế
Hiện nay trong số 186 nước là thành viên
của tổ chức tiền tệ thế giới có:
103 nước áp dụng chính sách tỷ giá cố
định
40 nước chính sách tỷ giá thả nổi hoàn
toàn
43 nước còn lại áp dụng chính sách thả
nổi có quản lý
Những nghiên cứu lý thuyết về tỷ giá hối
đoái hiện đại đều nhấn mạnh đến việc đánh
đổi giữa độ tin cậy và tính linh hoạt giữa các chính sách tỷ giá hối đoái khác nhau
Chế độ tỷ giá hối đoái cố định là một chế
độ tỷ giá hối đoái được Nhà nước tuyên bố sẽ duy trì không thay đổi tỷ giá giữa đồng nội tệ với một đồng ngoại tệ nào đó hoặc với một rổ các đồng ngoại tệ nào đó Tỷ giá hối đoái cố
định sẽ là tối ưu nếu các chính phủ có thể thực hiện được việc điều chỉnh ở mức giá đã
lựa chọn Nếu được như vậy lợi ích do tỷ giá
cố định đem lại được coi là nhiều hơn cái giá
phải trả nhưng nhà nước phải duy trì một mức nhất định về dự trữ ngoại hối Như vậy chi phí
về quản lí tài sản sẽ lớn, phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của quốc qia khác Đó là điều đôi khi gây bất lợi do việc gắn đồng bản tệ vào một hay một số đồng ngoại tệ
Trang 2Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi là một chế
độ mà trong đó tỷ giá hối đoái được xác định
và vận động một cách tự do theo quy luật thị
trường, trực tiếp là theo quy luật cung cầu
ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ Nhà nước
không phải có trách nhiệm cũng như không
cần thiết phải can thiệp vào thị trường ngoại
hối mà chỉ chủ yếu thực hiện theo yêu cầu
của khách hàng Nhìn chung, tình hình thị
trường trong nước sẽ không bị ảnh hưởng bởi
các luồng vốn từ bên ngoài, nhưng tính rủi ro
và bất ổn luôn tồn tại nên hiệu quả đem lại
không bao giờ đạt như mong đợi
Chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt là một chế độ tỷ giá hối đoái có sự kết hợp giữa hai
chế độ tỷ giá hối đoái ở trên Trong đó, tỷ giá
hối đoái sẽ được xác định trên thị trường theo
quy luật cung cầu về tiền tệ, chính phủ chỉ can
thiệp vào thị trường khi tỷ giá có những biến
động mạnh Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có
sự quản lý của nhà nước được coi là chế độ tỷ
giá thích hợp với cơ chế thị trường hiện nay Vì
chế độ tỷ giá này cho phép tổ chức điều hành
thực hiện một chính sách tiền tệ độc lập và nó
vừa tuân theo quy luật cung cầu trên thị
trường, vừa phát huy vai trò quản lý điều tiết
linh hoạt của nhà nước để đạt mục tiêu, yêu
cầu phát triển kinh tế
KT-ML
Chế độ tỷ giá rất đa dạng với nhiều hình thức khác nhau Việc điều hành chính sách tỷ
giá vừa để đạt các mục tiêu vĩ mô, vừa giúp
bảo vệ nền kinh tế trong những tình huống
ngắn hạn nhất định Xu hướng hiện nay các
nước đang dần chuyển sang áp dụng chế độ
tỷ giá linh hoạt bởi tính ưu việt của nó trong
giai đoạn các nền kinh tế phát triển nhanh và
năng động
Trên thế giới vẫn tồn tại rất nhiều quốc gia kiên quyết lựa chọn chế độ tỷ giá cố định cho
dù nó có mang lại những điều bất hợp lý Đơn
cử như Argentina đã áp dụng chế độ tỷ giá cố
định và đạt được những thành công đáng kể từ khi ra đời vào năm 1991 cho đến năm 1998 (tỷ giá của Argentina là 1 peso = 1USD) Tuy nhiên, từ năm 1998 một loạt các cú sốc, cả trong nước lẫn từ bên ngoài, đã đẩy nền kinh
tế Argentina vào một thời kỳ suy thoái kéo dài, tất yếu dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2002 - 2003 Kết quả là nước này phải phá giá đồng nội tệ ở một mức quá lớn gây nên tình trạng lạm phát nghiêm trọng và gần như nước này không có khả năng trả nợ nước ngoài Nhưng quan điểm hiện nay Argentina vẫn áp dụng chế độ tỷ giá gắn với đồng tiền khác, một rổ tiền tệ, vì họ cho rằng, các lợi ích
nó đem lại vẫn nhiều hơn những thiệt hại gây
ra
Bài học từ các nước Châu á trong giai
đoạn hậu khủng hoảng tài chính tiền tệ năm
1997 (trừ Malayxia) đã có vai trò quan trọng trong việc tạo ra một nhận thức mới về chế độ
tỷ giá tại các nước đang phát triển Cuộc khủng hoảng đã buộc các nền kinh tế Châu á chịu ảnh hưởng của khủng hoảng phải từ bỏ các mức theo tỷ giá hối đoái của mình như trường hợp của Thái Lan, Indonesia, Philippine đã cố định tỷ giá một thời gian quá dài dẫn đến nền kinh tế không phản ứng kịp với những biến động của thị trường quốc tế Kết quả là buộc các nước này phải phá giá
đồng nội tệ Hiện nay gần như các nước Đông Nam á đều áp dụng chính sách tỷ giá thả nổi không hoàn toàn
ii chính sách đồng đô la yếu vμ nền kinh tế mỹ
1 Những điều kiện để đưa đến phá giá
đồng đô la
Nền kinh tế Mỹ tăng trưởng ổn định cho tới cuối năm 2001, những nguy cơ bất ổn bắt
đầu xuất hiện Đến năm 2003 thâm hụt ngân
Trang 3sách của Chính phủ Mỹ đã trở nên rất lớn do
nguồn thu ngân sách nhà nước không đủ đáp
ứng nhu cầu chi Chính phủ Mỹ phải vay tiền
để bù đắp số thâm hụt đó
Nợ các tổ chức, các cá nhân của Chính
phủ Mỹ ngày càng tăng, bên cạnh đó nền kinh
tế lại tăng trưởng thấp, kéo theo tỷ lệ thất
nghiệp cao Hàng hoá Mỹ sản xuất ra tiêu thụ
chậm ngay cả ở thị trường trong nước Người
dân Mỹ có xu hướng thích sử dụng hàng hoá
nước ngoài do giá cả có tính cạnh tranh hơn
Môi trường đầu tư tại Mỹ không còn hấp
dẫn đối với các nhà đầu tư, một nguyên nhân
có thể nói đến là do chi phí tiền lương nhân
công quá cao Điều này đưa đến giảm nhu
cầu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Mỹ, nhu
cầu việc làm bị cắt giảm và cuối cùng là thất
nghiệp tăng lên
Với các nhà tư bản Mỹ, khi đầu tư trong
nước kém hiệu quả thì họ có xu hướng mang
vốn đầu tư ra nước ngoài để thu được hiệu
quả cao hơn Sự chuyển vốn ra nước ngoài tại
Mỹ ngày càng tăng cao làm cho khó khăn
kinh tế lại thêm chồng chất
KT-ML
Lượng USD trong dự trữ và trong thanh
toán của Mỹ ngày càng thấp, do chính phủ và
các cá nhân nước ngoài đều có xu hướng dự
trữ đô la cho nền kinh tế nước mình, do đặc
tính giá trị cao và thông dụng của đồng đô la
Điều này gây khó khăn lớn cho nền kinh tế
Mỹ
Từ những nguyên nhân trên Chính phủ
Mỹ đưa đến quyết định phá giá đồng USD một
cách từ từ để đạt được những mục tiêu sau
2 Mục tiêu của chính sách phá giá
đồng đô la
Khi áp dụng chính sách phá giá mong
muốn đạt tới những mục tiêu:
- Phá giá sẽ làm giảm lượng ngoại tệ phải vay để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước, giảm lượng nợ nước ngoài của chính phủ
- Đồng đô la Mỹ sẽ có tỷ giá thấp hơn với
đồng ngoại tệ so với trước đây làm cho đồng ngoại tệ ví dụ như Yên (Nhật) đầu tư vào trong nước hiệu quả hơn Nền kinh tế sẽ trở lại sôi
động, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế tăng lên, kết quả là tăng trưởng kinh tế cao hơn Khi đầu tư tăng lên, tạo ra nhiều cơ hội việc làm thu hút lao động và cuối cùng là giảm
được tỷ lệ thất nghiệp
- Tác động tích cực hơn cả là đồng đô la yếu làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước trên thị trường quốc
tế và qua đó tăng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và kích thích sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển mạnh các ngành nghề hướng ngoại
Những mục tiêu của chính phủ Mỹ rất có khả năng đạt được nhờ chính sách phá giá
nhưng sự phát triển kinh tế chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Bởi vậy chúng ta đi tới phân tích những thành công và hạn chế của nền kinh tế Mỹ khi áp dụng chính sách này
3 Kết quả mà nền kinh tế Mỹ đạt được
Chính phủ Mỹ bắt đầu áp dụng chính sách đồng đô la yếu vào năm 2003, thực tế
đến tháng 11 năm 2003, đồng đô la Mỹ mất giá kỷ lục so với hầu hết các loại ngoại tệ trên các thị trường tài chính quốc tế, kể cả các
đồng tiền trong khu vực như: đô la úc (1 AUD = 0,7229 USD ), đô la Singapore (1 USD = 1,7218 SGD), đô la Hồng Kông…
Riêng đối với EURO lại lên giá so với USD (1 EURO = 1,192 USD = 18,808 VNĐ )
Cuối năm 2004 các số liệu cho thấy đầu
Trang 4tư vào Mỹ đạt khoảng 210 tỷ USD tăng
khoảng 300% so với năm 2003, vốn trên thị
trường thế giới liên tục đầu tư vào Mỹ Nền
kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng từ 1%->2%/năm,
cùng với đó là tình trạng thất nghiệp được giảm
bớt Để tăng thêm hiệu quả, từ năm 2004 đến
đầu năm 2005 các ngân hàng của Mỹ đã 7
lần tăng lãi suất tiền gửi để huy động thêm
tiền mặt nhằm làm giảm bớt sự thiếu hụt tiền
trong thanh toán Sự kết hợp của nhiều biện
pháp đã nhanh chóng thúc đẩy sự đổi thay bộ
mặt nền kinh tế Mỹ
Nền kinh tế nhìn chung tăng trưởng như
vậy nhưng từng ngành lại có sự phát triển
khác nhau Đáng kể đến có ngành du lịch,
cuối năm 2004 lượng khách quốc tế đến du
lịch tại Mỹ tăng 20% so với cùng kì năm ngoái
đem lại doanh thu lớn cho ngành du lịch và
thương mại
Sau hơn một năm áp dụng chính sách
đồng đô la yếu nền kinh tế Mỹ bước đầu đạt
được những thành công trước mắt như vậy
Nền kinh tế Mỹ đóng vai trò quan trọng và có
ảnh hưởng tới nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt là
các nước có nền kinh tế mở Đồng đô la có giá
trị thấp và ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế
các nước khác Khi áp dụng chính sách trên,
tỷ giá đô la và các đồng tiền khác đã có nhiều
biến động
KT-ML
Ví dụ : Như trong năm 2003 - 2004 trung bình
tỷ giá
GBP/USD = 1,6 -> 1,7; EURO/USD = 0,8 -> 0,9
Đầu năm 2005 trung bình tỷ giá
GBP/USD =1,9 ; EURO/USD = 1,34
Dự tính vào quý II năm 2005 dự tính tỷ giá EURO/USD sẽ tăng đến 1,35
Chính sách đồng đô la yếu đã ảnh hưởng không tốt tới nền kinh tế của các nước khác trên thế giới đặc biệt là các nước Châu Âu, vì
vậy EU cũng đã có một số biện pháp nhằm làm hạn chế sự xuống giá của đồng đô la nhưng đến nay chính sách này cũng đã đem lại nhiều thành công cho nền kinh tế Mỹ Phá
giá đem lại nhiều thành công cho kinh tế Mỹ nhưng nó cũng đem lại những hậu quả hay những tác động bất lợi của phá giá
Mỹ là quốc qia có nền kinh tế phát triển, bởi vậy khi phá giá làm hạn chế hàng nhập khẩu thì không gây ảnh hưởng lớn tới sản xuất Tuy nhiên mặt bằng giá chung và chi phí sản xuất vẫn tăng lên, ảnh hưởng đến các chủ thể kinh tế khác nhau, gây tổn thương cho người tiêu dùng và nhập khẩu
Phá giá cùng với những biến động của thị trường năng lượng đã đẩy giá dầu thô tại Mỹ tăng cao kỉ lục Trong năm 2004, giá dầu giao tại thị trường Newyork có lúc lên tới
53 USD/thùng, trong quý I năm 2005 đã tăng
đến 56 USD/ thùng, trong quý II tăng đến trên
60 USD/thùng Đây cũng là trở ngại lớn cho việc phát triển nền kinh tế Mỹ bởi Mỹ là quốc gia sử dụng rất nhiều các sản phẩm từ dầu mỏ
và phần lớn dầu thô Mỹ đều được nhập khẩu
iii Tỷ giá hối đoái vμ sự ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế của Việt Nam
Thị trường ngoại hối nước ta chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ của thị trường ngoại hối quốc tế Trong nền kinh tế mở hiện nay những biến động dù lớn hay nhỏ của thị trường thế giới đều ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường ngoại hối của Việt Nam Vấn đề cập nhật thông tin về tỷ giá càng trở nên cần thiết
và quan trọng hơn nữa
Kể từ ngày 26 tháng 2 năm 1999, tỷ giá
Trang 5hối đoái chính thức được Ngân hàng Nhà nước
công bố hàng ngày, được xác định trên cơ sở
tỷ giá bình quân mua bán thực tế trên thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giao
dịch gần nhất trước đó Tỷ giá được hình
thành trên thị trường nên nó mềm dẻo linh
hoạt và phù hợp với thông lệ quốc tế, góp
phần tăng cường sự hoà nhập của nền kinh tế
nước ta vào cộng đồng kinh tế thế giới
Nếu tính từ đầu năm 1999 đến hết tháng
11 năm 2003, chúng ta áp dụng tỷ giá linh
hoạt có quản lý của nhà nước đã gần được
5 năm và đã thu được những kết quả khả
quan Trong 5 năm qua chúng ta đã áp dụng
chế độ biên độ dao động của tỷ giá hối đoái ở
mức thấp, trên dưới 0.1% và hiện nay biên độ
này có nới lỏng hơn Qua thực tế quan sát cho
thấy, đồng Việt Nam hàng năm mất giá
khoảng 2% và đến nay tốc độ mất giá có cao
hơn (khoảng 2.8% so với cuối năm 2002) Vì
thế, đối với đồng Việt Nam, đô la Mỹ lại lên
giá, tỷ giá trên thị trường tự do ngày
22/11/2003 là 15.730 VNĐ/USD Tuy nhiên,
trong tháng 11/2003 tỷ giá hối đoái VNĐ/USD
có lúc lên đến 16.000 VNĐ/USD trên thị
trường tự do, sau đó thì giảm xuống và đến
cuối tháng 11 năm 2003 là 15.760
KT-ML
Vào những tháng cuối năm 2004, đầu
năm 2005, đồng USD liên tục mất giá so với
đồng EURO, Yên Nhật (JPY) và một số đồng
ngoại tệ chủ đạo khác Bên cạnh đó giá vàng
tiếp tục tăng cao và diễn biến bất thường đã
tác động mạnh đến các luồng chu chuyển
tiền tệ, lãi suất, tỷ giá, tác động tới sự chu
chuyển giữa VNĐ với các ngoại tệ mạnh qua
kênh ngân hàng ở thị trường ngoại hối và thị
trường tiền tệ trong nước Tính từ đầu tháng
1/2004 đến giữa tháng 12/2004 VNĐ đã mất
giá gần 0.8% so với USD; 5.51% so với JPY;
10.96% so với GBP và 8.98% so với EURO
Như vậy, trong năm 2004 tỷ giá
VNĐ/USD là khá ổn định, dao động trong khoảng 15.700 -> 15.900 Có nhiều nguyên nhân có thể kể đến như :
- Đồng USD mất giá trên thị trường quốc
tế
- Nguồn cung USD trong nước dồi dào
Nguồn cung này từ các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ hoạt động du lịch, từ xuất khẩu dầu mỏ, từ kiều hối và thu nhập của người Việt Nam đi xuất khẩu lao động chuyển về… Một phần rất lớn lượng USD được kiều bào gửi về quê hương đóng góp không nhỏ cho lượng dự trữ ngoại hối của nước ta, năm
2004, ước tính được khoảng 3 tỷ USD Nhà nước rất khuyến khích hoạt động này và từng bước đơn giản hoá thủ tục gửi ngoại tệ về nước qua Ngân hàng Nhà nước để nhà nước
có thể dễ dàng quản lý nguồn ngoại tệ này
Sự linh hoạt của chính sách tỷ giá thả nổi
có sự điều tiết, quản lý vĩ mô của nhà nước
Đây là yếu tố quan trọng trong việc xác định,
điều hành tỷ giá, ngân hàng nhà nước hầu như chỉ can thiệp gián tiếp và tôn trọng tính thị trường
Sự ổn định của tỷ giá có lợi cho cả xuất khẩu và cả nhập khẩu nhất là vay nợ nước ngoài của Việt Nam, kiềm chế được lạm phát, cải thiện cán cân thanh toán Nếu chính sách
tỷ giá thay đổi nếu khuyến khích xuất khẩu sẽ làm hạn chế nhập khẩu và ngược lại, nó không thể làm thoả mãn cả hai vấn đề được
Trong điều kiện hiện nay của nền kinh tế nước
ta, sản xuất hàng hoá, đặc biệt là hàng dành cho xuất khẩu phần lớn dựa vào nguyên liệu nhập khẩu Thậm chí có ngành nghề chúng ta chỉ nhập khẩu nguyên liệu về gia công rồi lại xuất khẩu Vì vậy với tình hình này sự ổn định của tỷ giá là có lợi hơn cả
Trang 6Chúng ta cùng phân tích một ví dụ nhỏ
về sự thay đổi của tỷ giá đối với ngành năng
lượng nói riêng và nền kinh tế nói chung Dầu
mỏ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
nền kinh tế và mọi mặt của xã hội Nước ta là
quốc gia xuất khẩu dầu thô nhưng cũng là
nước nhập khẩu các sản phẩm từ dầu mỏ do
chúng ta chưa có khả năng chế biến dầu thô
Giả sử đồng tiền mà chúng ta sử dụng trong
thanh toán là USD và trên thị trường đồng tiền
này ổn định Khi tỷ giá VNĐ/USD tăng tức là
giá trị VNĐ giảm sẽ có lợi cho tổ chức hay cá
nhân hoạt động trong lĩnh vực này Tuy nhiên
khi đó giá nhập khẩu các sản phẩm từ dầu mỏ
tăng ảnh hưởng tới hầu hết các hoạt động của
đời sống xã hội Diễn biến ngược lại nếu như
ta xác định tỷ giá VNĐ/ USD giảm đi Như vậy
lợi ích ta thu được từ việc thay đổi tỷ giá là nhỏ
và có thể là không có
Nước ta là nước nhập siêu, bởi vậy nếu VNĐ mất giá nhanh sẽ có thế là gánh nặng
đối với nợ nước ngoài, sẽ dẫn đến nạn lạm
phát gây mất ổn định trong nước Bởi vậy khi
tỷ giá VNĐ/USD được giữ ở mức ổn định, tỷ
giá là đồng Việt Nam vẫn xuống giá một cách
tương đối so với các đồng tiền khác trên thế
giới là điều kiện thuận lợi cho tiến trình hội
nhập kinh tế thế giới của Việt Nam
Để có thể bình ổn được tỷ giá, một nguyên nhân có thể nhắc đến, đó là hệ thống
ngân hàng của nước ta hoạt động có hiệu quả
trong thời gian qua Năm 2004, giá vàng trên
thị trường thế giới tăng kỷ lục làm cho giá
vàng trong nước cũng tăng cao Tính chung
trong năm 2004 giá vàng trong nước tăng
khoảng 10,2%, mức tăng cao nhất trong nhiều
năm qua, bên cạnh đó chỉ số giá cả cũng tăng
cao đặc biệt là đối với hàng tiêu dùng Nhưng
tỷ lệ tăng trưởng kinh tế năm 2004 vẫn đạt
7.7% (năm 2003 tỷ lệ này là 7.8%) Một phần
thành công này nhờ hệ thống ngân hàng huy
động được số vốn ngoại tệ quan trọng để đầu tư cho phát triển kinh tế
Lãi suất ngoại tệ ở Việt Nam phù hợp với lãi suất trên thị trường quốc tế Tính từ đầu năm 2004 cho tới hết quý I năm 2005 lãi suất chủ đạo đồng đô la đã 7 lần tăng lên từ mức 1.0%/năm, lần lượt lên 1.25%… tới 2.25%/năm Theo đó, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng Singapore và thị trường liên ngân hàng London cũng biến động theo Tất yếu, lãi suất tiền gửi USD và lãi suất cho vay USD trong nước cũng tăng lên Các ngân hàng thương mại trong nước cũng đã lần lượt
điều chỉnh tăng lãi suất huy động vốn USD, kì hạn cao nhất cuối năm lên tới 2.5%/năm Lãi suất cho vay ngoại tệ cũng được điều chỉnh tăng lên, nhưng mức tăng chậm hơn lãi suất huy động vốn USD Lãi suất cho vay USD đã khá cao và tuỳ thuộc vào sự chấp nhận vay vốn USD của các doanh nghiệp
Tuy nhiên do lãi suất vay vốn USD vẫn chỉ bằng 1/3 ->1/2 lãi suất vay vốn VNĐ, trong
điều kiện tỷ giá biến động thấp, nên nhu cầu vay vốn USD tăng nhanh hơn nhu cầu vay vốn VNĐ, làm cho tỷ trọng dư nợ cho vay bằng USD trong tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng thương mại tăng lên cao, tập trung
là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Trong khi đó, do lo ngại chỉ số giá hàng tiêu dùng tăng cao, tâm lý lạm phát, nên đông đảo người dân vẫn gửi tiết kiệm USD vào ngân hàng, làm cho tỷ trọng USD trong tổng nguồn vốn huy động các ngân hàng thương mại mặc
dù có giảm nhẹ, nhưng vẫn ở mức khá
KT-ML
Lãi suất ngoại tệ trong nước theo sát diễn biến lãi suất ngoại tệ trên thị trường thế giới, trong khi vốn ngoại tệ có xu hướng dư thừa thì vốn nội tệ VNĐ lại có xu hướng khan hiếm, nên tạo sức ép lên lãi suất huy động vốn và cho vay VNĐ Các ngân hàng đều đã tăng lãi
Trang 7suất tiền gửi và kết hợp nhiều biện pháp
khuyến mại tặng quà hấp dẫn Mức lãi suất
huy động vốn VNĐ cao nhất của các ngân
hàng thương mại trong những ngày đầu quý II
năm 2005 đã ở mức 0.77% -> 0.79% tháng
Các biện pháp đều nhằm mục tiêu huy động
đủ vốn cho đầu tư phát triển và bình ổn thị
trường tỷ giá
Một công cụ truyền thống trong điều
hành chính sách tiền tệ một cách vĩ mô của
Ngân hàng Nhà nước chính là dự trữ bắt buộc,
nhằm tác động vào mức độ tăng tiền, kiềm
chế tốc độ tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu
điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kì
theo diễn biến của các chỉ số kinh tế vĩ mô
Mục đích điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc
lần gần đây nhất nhằm đạt được yêu cầu nói
trên, nhằm rút bớt khối lượng trong lưu thông
về Ngân hàng Nhà nước với mức độ thu về
gấp 2 lần so với mức trước đó Riêng đối với
tiền gửi ngoại tệ, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng cao
còn nhằm kiềm chế các ngân hàng thương
mại tăng lãi suất và không khuyến khích tăng
cường huy động vốn ngoại tệ, hạn chế tình
trạng đô la hoá tài sản nợ trong hệ thống ngân
hàng
KT-ML
Trong năm 2005, thị trường ngoại hối và
thị trường hàng hoá thế giới tiếp tục biến động
mạnh và diễn biến phức tạp, tác động lớn đến
nền kinh tế nước ta Vấn đề đặt ra là làm sao
bình ổn được tỷ giá trong điều kiện hiện nay
và trong tương lai
Giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ giá
hối đoái trong thời gian tới của Việt Nam:
Xác định tỷ giá phải tuân theo quy luật
của thị trường
Lựa chọn chế độ tỷ giá linh hoạt tuân
theo quy luật thị trường có sự điều tiết vĩ mô
của nhà nước
Củng cố, phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
Nâng cao dự trữ bắt buộc ngoại tệ của nhà nước
Khuyến khích các công ty xuất khẩu đa dạng hoá cơ cấu tiền tệ trong thanh toán, giao dịch
Dự báo:
Căn xứ vào tình hình hiện nay như kinh tế phát triển cao không có biến động lớn tỷ giá
VNĐ/USD năm 2010 có thể đạt tới
19000 ->19400 Tỷ giá VNĐ 1 năm không
được mất giá 3 -> 4% năm
Từ đó ta có các giải pháp đổi mới chính sách tỷ giá hối đoái
Nới rộng biên độ dao dộng của tỷ giá để tăng tính linh hoạt
Hoàn thiện hệ thống ngân hàng
Thu hẹp chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá tự do
Chính sách tỷ giá cần linh hoạt hơn
Tài liệu tham khảo [1] Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 324 tháng 5 năm
2005 Viện Kinh tế Việt Nam - Viện Khoa học xã
hội Việt nam
[2] Tạp chí tài chính số 1 (483) 2005 Viện Kinh tế tài chính
[3] Kinh tế học vĩ mô Giáo trình dùng trong các trường đại học, cao đẳng khối kinh tế Nhà xuất bản Giáo dục 2004
[4] N.GREGORY MANKIW, Giáo sư kinh tế học-
Trường đại học tổng hợp HARVARD Những nguyên lý của kinh tế học (tập 2 Kinh tế học vĩ mô)♦