đặt vấn đề Việc giảng dạy ngoại ngữ đã có một quá trình phát triển rất lâu dài vì vậy mà phương pháp giảng dạy, mục tiên đào tạo và các quan điểm như vị thế người thầy, thái độ đối với
Trang 1Quá trình phát triển của các phương pháp
vμ các quan điểm dạy tiếng
ThS Bạch thị thanh
Bộ môn Anh văn Khoa Khoa học cơ bản Trường Đại học GTVT
Tóm tắt: Đã từ lâu ngoại ngữ được coi lμ một công cụ quan trọng giúp ta tiếp cận vμ lĩnh
hội những tri thức mới, vì vậy việc dạy ngoại ngữ đã có một quá trình phát triển lâu dμi vμ thay
đổi theo từng thời kỳ Trong bμi báo nμy tác giả muốn đề cập đến các phương pháp vμ các quan điểm khác nhau đã từng xuất hiện vμ tồn tại trong lĩnh vực giảng dạy nμy
Summary: Foreign languages have been considered as a key to help us to get more
knowledge and information, so foreign language teaching has had a long history of development and has changed a lot through time This article will mention different methods and different points of view in this field
CBA
i đặt vấn đề
Việc giảng dạy ngoại ngữ đã có một quá
trình phát triển rất lâu dài vì vậy mà phương
pháp giảng dạy, mục tiên đào tạo và các quan
điểm như vị thế người thầy, thái độ đối với lỗi
của người học… thay đổi nhiều qua các giai
đoạn lịch sử
Diane Larsen Freeman đã đưa ra 10 câu hỏi cơ bản và cách trả lời những câu hỏi đó sẽ
phản ánh xu hướng về giáo học pháp
1 Mục tiêu của giáo viên khi sử dụng một phương pháp giảng dạy nào đó là gì?
2 Vai trò của thầy và trò trong quá trình dạy và học ra sao?
3 Một số đặc điểm của quá trình dạy và học?
4 Bản chất của sự tương tác giữa người học và người dạy, giữa người học với người học là gì?
5 Những suy nghĩ và cảm nhận của người học được tiếp nhận như thế nào?
6 Ngôn ngữ và văn hoá được xem xét như thế nào?
7 Những lĩnh vực và kỹ năng nào của ngôn ngữ được chú trọng trong quá trình dạy
và học?
8 Vai trò của tiếng mẹ đẻ ra sao?
9 Việc kiểm tra đánh giá được tiến hành như thế nào?
10 Giáo viên xử lý thế nào đối với lỗi của người học?
Trong quá trình phát triển của các phương pháp giảng dạy ngoại ngữ đã xuất
Trang 2hiện các câu trả lời khác nhau phản ánh
những quan điểm khác nhau trong việc dạy
tiếng
Trong khuôn khổ bài báo này, tôi muốn
đề cập đến những phương pháp và những
quan điểm khác nhau đó phần nào giúp các
giáo viên ngoại ngữ có thể nắm bắt được quá
trình phát triền cũng như sự thay đổi trong
quan điểm dạy tiếng, để từ đó có thể thay đổi
cách dạy của mình cho phù hợp hơn
ii quá trình phát triển của các
phương pháp dạy tiếng
- Trong giai đoạn từ những năm 1800 đến
những năm 1940 phương pháp phổ biến trong
giảng dạy ngoại ngữ là phương pháp ngữ
pháp dịch (Grammar - Translation Method)
Mục tiêu học ngoại ngữ của người học lúc này
là để đọc các tác phẩm văn học Người học
trước tiên phải nắm được các qui tắc ngữ pháp
rồi áp dụng các qui tắc này vào dịch thuật, kỹ
năng đọc và viết cũng như độ chính xác được
chú trọng, câu được lấy làm đơn vị giảng dạy
và luyện tập chính, tiếng mẹ đẻ được sử dụng
để tiến hành bài giảng trên lớp
- Cuối thế kỷ 19 xuất hiện trường phái
đánh giá cao tầm quan trọng của lời nói và
ngữ âm học trở thành phương tiện chủ yếu để
nghiên cứu các ngôn ngữ Chính vào thời kỳ
này người ta đã sáng tạo ra hệ thống ký hiệu
phiên âm quốc tế Các giáo viên giảng dạy
ngoại ngữ thời kỳ này đã rất quan tâm đến
ngữ âm, lấy thủ pháp luyện ngữ âm làm công
cụ giảng dạy chính Khi chuyển sang thế kỷ
20, trường phái cấu trúc Mỹ ra đời, đại diện là
Bloomfield, một trường phái tác động mãnh
liệt đến quy trình dạy tiếng Chính trong giai
đoạn này đã xuất hiện những phương pháp
giảng dạy mang nặng dấu ấn cấu trúc như
phương pháp trực tiếp (Direct Method), một
phương pháp khác hẳn với phương pháp ngữ
pháp dịch Phương pháp này coi mục tiêu giảng dạy là ngôn ngữ nói nên kỹ năng nghe nói rất được chú trọng, lượng từ vựng giảng dạy là những từ thông dụng trong cuộc sống hàng ngày và được giải thích qua tranh ảnh minh hoạ chứ tuyệt đối không dịch, toàn bộ bài giảng trên lớp đều sử dụng ngôn ngữ mục tiêu
- Vào năm 1939 một phương pháp dạy tiếng mới xuất hiện do Charles Fries khởi xướng, đó là phương pháp nghe nói (Audio Lingual Method) Phương pháp này cũng coi
kỹ năng nói là mục tiêu chính chứ không phải
kỹ năng viết hay sự hiểu biết văn học Dựa trên quan niệm ngôn ngữ là một chuỗi các thói quen (A language is a set of habits) và dạy ngoại ngữ là dạy ngôn ngữ chứ không phải dạy về ngôn ngữ (Teach the language, not about the language) nên trong quá trình giảng dạy giáo viên thường cung cấp ví dụ và luyện tập chứ không giải thích ngữ pháp; nghĩa của
từ được cung cấp qua ngữ cảnh và tình huống;
việc giảng dạy có kèm sự hỗ trợ của các thiết
bị nghe nhìn, băng ghi âm, phòng học tiếng,…
CBA
- Nhưng rồi đến năm 1965, lý thuyết về ngữ pháp tạo sinh cải biên (transformational generative grammar) mà nhân vật trung tâm
là Noam Chomsky đã tạo ra bước ngoặt trong quá trình phát triển ngôn ngữ học và kéo theo cả sự thay đổi cơ bản của ngành phương pháp giảng dạy Xu hướng tạo sinh và cải biên khiến cho những người dạy tiếng chuyển sang quan tâm tới cú pháp, những bài luyện tiếng xuất hiện dạng thức cải biên, ví dụ chuyển từ câu chủ động sang bị động, từ câu trực tiếp sang gián tiếp, từ dạng khẳng định sang phủ
định… Sự phát triển này dần dần dẫn tới trường phái giao tiếp trong phương pháp dạy tiếng như một ngoại ngữ Lúc này tư duy của
Trang 3người thầy có những thay đổi lớn: tập trung
hơn vào khía cạnh học (focus on learning),
khuyến khích người học tham gia tích cực
(Involve the learner), xác định rõ ràng mục
tiêu khoá học (Make goals explicit), sử dụng
cách giao nhiệm vụ (Use tasks as building
blocks), vừa giảng dạy vừa học hỏi thêm
(Enjoy teaching Enjoy learning) (David
Nunan)
III quá trình phát triển trong quan
điểm về vai trò của người thμy vμ
người trò trong dạy vμ học ngoại
ngữ
Cùng với sự phát triển trong phương pháp giảng dạy quan niệm về vai trò người thầy,
người trò trong dạy và học ngoại ngữ cũng
thay đổi rất nhiều
Vào thời kỳ đầu, với mục tiêu là dạy cho học trò hiểu được văn chương Anh, dịch các
tác phẩm văn học Anh nên đòi hỏi người học
phải rất chính xác và người thầy luôn trừng
phạt học sinh khi họ mắc lỗi Người thầy có
vai trò tối cao trên lớp: đúng hay sai, cho phép
học trò hoạt động hay không, trừng phạt hay
tha bổng… Nói tóm lại người thầy là hoạt
động chính và có quyền lực duy nhất trên lớp
còn trò thì tiếp thu kiến thức một cách thụ
động từ người thầy và độ sâu tri thức hoàn
toàn phụ thuộc vào sự dạy dỗ của người thầy
Micheal West đã mô tả hình ảnh người thầy lý
tưởng là sau mỗi tiết học phải rút khăn mùi
xoa lau mồ hôi nhễ nhại Các nhà giáo học
pháp sau này tuy vẫn trân trọng hình ảnh cần
mẫn và nhiệt tình ấy của người thầy nhưng họ
đã đặt ra câu hỏi: vậy trong một giờ học như
vậy thầy đã luyện cho trò của mình hay luyện
cho chính mình Sau này khi giảng dạy ngoại
ngữ theo đường hướng giao tiếp phát triển,
người thầy đã hoà đồng hơn với học trò và coi
học trò là người cộng sự để cùng nhau kiến
tạo và thực hiện những hoạt động trên lớp
Người học phải tham gia vào một loạt các hoạt động thông qua những loại hình bài tập phát âm (pronunciation practice), thay thế (substitutions), đọc to (reading aloud), hỏi và trả lời (questions and answers), chép chính tả… Lúc này thì cả thầy và trò đều lau mồ hôi sau giờ học Với tư tưởng của giáo học pháp hiện đại, hình ảnh người thầy và vai trò người học được xây dựng hoàn thiện hơn Chỗ đứng của người thầy trên lớp giảm dần vai trò điều khiển khống chế hoạt động và tăng dần vai trò tham gia giao tiếp, khích lệ sự hợp tác, hỗ trợ vượt khó, tạo lòng tin và tư vấn cho hoạt động của học trò và lúc này lỗi sử dụng ngôn ngữ của học trò phải được coi là sự phát triển tự nhiên và không thể bị trừng phạt Với sự hỗ trợ của người thầy với tư cách là người tạo điều kiện (facilitator) và người khởi xướng (initiator), người học chính là người tiến hành các hoạt
động rèn luyện kỹ năng trên lớp, điều này hoàn toàn phù hợp với quy trình đào tạo lấy trò làm trung tâm (learner - centred) và xu hướng chuyển đổi từ một lớp TTT (thầy nói : teacher talking time) sang một lớp STT (trò nói: student talking time) Đến đây nếu trở lại câu nói của Micheal West thì người trò sẽ là người lau mồ hôi
CBA
Rõ ràng quan điểm về vai trò người thầy
đã có những khác biệt lớn trong quá trình phát triền của việc giảng dạy ngoại ngữ
iv vai trò vμ ảnh hưởng của phương tiện kỹ thuật đối với việc giảng dạy ngoại ngữ
Vai trò của người thầy là không thể phủ nhận và không gì có thể thay thế được Tuy nhiên trong thời đại ngày nay khi lĩnh vực công nghệ thông tin và các phương tiện hiện đại ngày càng phát triển thì người thầy có thể nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ các phương tiện này và vì vậy phương pháp giảng dạy cũng thay đổi Các phương tiện kỹ thuật cũng có
Trang 4một số vai trò nhất định thể hiện qua một số
yếu tố chính sau:
- Giới thiệu ngữ liệu (presetation of
material): Ví dụ một đoạn phim video được
thiết kế dưới dạng phục vụ cho giảng dạy
thường bao hàm một số chức năng giao tiếp,
các mục ngữ pháp, từ vựng,… Chẳng hạn
trong bài 3 của giáo trình video Lifetime người
học được làm quen với các cách gợi ý
(suggesting), cách chấp nhận và từ chối lời
gợi ý đó (accepting and refusing), cách dùng
thì hiện tại đơn, câu hỏi có từ để hỏi, trạng từ
tần suất, cách dùng some và any… Với những
ngữ liệu như vậy người thầy sẽ sử dụng những
kỹ thuật giảng dạy để khai thác và rèn luyện
kỹ năng nghe, nói, đọc viết cho học trò Hiệu
quả của bài học video như thế nào phụ thuộc
rất lớn vào khả năng khai thác của người thầy
- Tạo nguồn thông tin (information
source): Cơ sở dữ liệu của máy tính có thể
cung cấp những dữ liệu về ngữ pháp, từ vựng
cho những mục đích khác nhau của các loại
bài tập khác nhau Sự ra đời của CD, VCD,
DVD đã tăng cường cơ hội học tập có sử dụng
medium Không những thế, mạng Internet đã
trở thành một thư viện lớn và đa dạng hỗ trợ
cho người học ngoại ngữ từ nhiều bình diện
CBA
- Đưa thực tế cuộc sống vào lớp học
thông qua băng ghi âm, video, máy tính,
chương trình vệ tinh… Ví dụ chương trình phát
thanh “Say the word” (BBC English), những
chương trình dạy tiếng Anh như Starting
Business English (BBC English), Family
Album - USA (Prentice - Hall) đã giúp người
học tăng cơ hội tiếp xúc với giọng bản ngữ và
làm quen với cuộc sống hàng ngày của người
Anh - Mỹ
- Thực hiện đánh giá quy trình học và hồi
âm: Các kỹ thuật CALL (computer - assisted
language learning: quy trình học có sự hỗ trợ
của máy tính) có thể cung cấp cho người học
những thông tin chi tiết và phức tạp về quá
trình tiến bộ của mình trong học tập
v Kết luận
Trên đây là một số phương pháp và các quan điểm khác nhau trong giảng dạy ngoại ngữ Mỗi giáo viên có thể chọn cho mình một phương pháp thích hợp và một cách nghĩ riêng tuỳ vào đối tượng người học Tại trường Đại học Giao thông Vận tải hầu hết các em sinh viên khi lên đại học có trình độ ngoại ngữ rất kém lại không đồng đều, số sinh viên mỗi lớp rất đông, số tiết học dành cho môn học này lại vô cùng hạn hẹp (tổng số chỉ có 225 tiết cho cả học phần cơ bản và chuyên ngành), thêm vào đó là sự nhận thức chưa đầy đủ của sinh viên về tầm quan trọng của môn học, tất cả
những yếu tố trên đã gây không ít khó khăn cho người dạy Tuy nhiên, bên cạnh những bất lợi đó nhà trường cũng đã tạo một số điều kiện thuận lợi cho môn ngoại ngữ như đầu tư
đài, băng đĩa, phòng học tiếng, cung cấp giáo viên tình nguyện người bản ngữ Từ những
điều kiện trên mỗi giáo viên bộ môn ngoại ngữ
cần phải tìm tòi cho mình một cách dạy và có một quan điểm phù hợp đồng thời tận dụng tối
đa các phương tiện kỹ thuật cũng như giáo viên người bản ngữ để quá trình dạy và học
đạt được hiệu quả cao
Tài liệu tham khảo
[1] Nunan, David (1991) Language Teaching
Methodology: a text book for teachers
[2] Harmer, Jeremy (1991) The Practice of
English Language Teaching (New edition)
Longman handbook for language teachers
[3] G.Teleman (1997) Advanved methodology [4] Quoc Hung, Nguyen Kỹ thuật dạy tiếng Anh
(Classroom techniques in teaching English in Vietnam)♦