Nguyễn tuyết mai Bộ môn Triết học Khoa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Trường Đại học GTVT Tóm tắt: Bμi báo nμy nêu lên một số nguyên tắc vμ nội dung giáo dục của Khổng Tử, từ đó thấ
Trang 1Tìm hiểu tư tưởng giáo dục của khổng tử
ThS Nguyễn tuyết mai
Bộ môn Triết học Khoa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Trường Đại học GTVT
Tóm tắt: Bμi báo nμy nêu lên một số nguyên tắc vμ nội dung giáo dục của Khổng Tử, từ
đó thấy được ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục vμ đμo tạo con người của Nho Giáo đối với lịch
sử vμ xã hội hiện tại
Summary: This article presents some principles and contents of Confucianism ideas of
education, through which their influences on history and the current society can be recognized
i đặt vấn đề
Khổng Tử là người sáng lập đạo Nho
Quan điểm về đào tạo, giáo dục con người
của ông đã đặt cơ sở cho sự nghiệp giáo dục
của xã hội phong kiến phương Đông sau này
Nghiên cứu quan điểm của Khổng Tử về giáo
dục không những giúp chúng ta hiểu biết
những tư tưởng làm nên sự nghiệp giáo dục
dưới thời kỳ phong kiến mà còn hiểu được ý
nghĩa của chúng đối với sự nghiệp giáo dục
trong giai đoạn hiện tại
KT-ML
ii nội dung
1 Về nguyên tắc giáo dục
Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử có hai nguyên tắc lớn:
Một là, hữu giáo vô loại Chế độ giáo dục
mà Khổng Tử mở ra khiến cho ai ai cũng có
cơ hội học tập “Luận Ngữ”, thiên Vệ Linh
Công viết: “Khổng Tử nói: “Về việc dạy dỗ
không phân biệt loại người” (Tử viết: Hữu giáo
vô loại) [3.588], tức là nói con người, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, khôn ngu, miễn là đến học, thì đều có cơ hội tiếp thu sự giáo dục Điều này đã phá vỡ quan niệm giáo dục chỉ được dành riêng cho giai cấp quý tộc Chủ trương giáo dục mang tính cách mạng này ra đời ở thời đó hẳn không đơn giản Dưới khẩu hiệu đó, ai ai cũng có quyền lợi được tiếp thu giáo dục, đều có tư cách đến học với Khổng Tử Khổng Tử nói: “Đối với những người đem lễ xin học từ một bó nem trở lên, ta chưa hề chối người nào, không dạy bảo” (Tự hành thúc tu dĩ thượng, ngô vị thường vô hối dã- Luận Ngữ Thuật nhi) [3.347] Miễn là có tâm cầu học, thì dù chỉ có một lễ đơn bạc như mười chiếc nem, người đó cũng trở thành học trò của Khổng Tử Như Nhan Hồi, Nguyên Hiến, là những người vô cùng nghèo khổ, nhưng qua sự dạy dỗ của Khổng Tử, đều trở thành những bậc danh hiền Quý tộc như Mạnh ý Tử, Tư Mã Ngưu cũng trở thành học trò nổi tiếng của Khổng Tử Hơn nữa, bất kể là thiên tư người xin học như thế nào, Khổng Tử cũng hết lòng dạy dỗ, như Tăng Sâm, Trọng Do, thường bị Khổng Tử chê trách vì thiên tư
có hạn, song qua sự dạy dỗ của Khổng Tử
Trang 2vẫn phát huy được khả năng của mình, và có
những thành tựu đáng kể Quan niệm và tinh
thần “hữu giáo vô loại” của Khổng Tử bên
cạnh việc phá tan chế độ giáo dục quý tộc
thời cổ đại, đã làm cho học thuật phát triển,
khiến cho những người bình dân ai ai cũng có
cơ hội tiếp thu giáo dục, ảnh hưởng đến cả cơ
cấu chính trị, cơ cấu quyền lực đương thời
Tuy nhiên, nguyên tắc “hữu giáo vô loại”
của Khổng Tử cũng còn có những hạn chế
Khổng Tử chủ trương “hữu giáo vô loại” nhưng
laịi phân chia con người thành quân tử và tiểu
nhân Đặc biệt ông căn cứ vào khí chất của
từng hạng người mà chia xã hội ra làm bốn
loại: Một là hạng người sinh ra đã biết đạo lý
Hai là hạng người học rồi mới biết đạo lý Ba
là hạng người gặp khốn khó mới chịu học đạo
lý Bốn là hạng người không chịu học đạo lý
nên không biết đạo lý Như vậy là, vẫn có hai
hạng người không phải là đối tượng giáo dục
của Nho học Đó là hạng người thứ nhất và
hạng người thứ tư
Hai là, giáo dục đạo đức và nhân cách
Nguyên tắc lớn thứ hai trong giáo dục của
Khổng Tử là thực thi giáo dục đạo đức và
nhân cách Ông cho rằng chỉ có đề xướng
giáo dục đạo đức và nhân cách thì mới có thể
cứu xã hội qua khỏi cơn phong ba loạn lạc, vì
vậy Khổng Tử lấy giáo dục đạo đức làm chủ
yếu Khổng Tử dạy các môn: văn chương, đức
hạnh, trung và tín thì trong đó, ngoài văn
chương ra, còn lại đều thuộc lĩnh vực đạo đức
Nhưng từ đó ta cũng thấy được văn chương và
đức hạnh có liên quan mật thiết với nhau, vì
văn chương cũng là văn chương của các
thánh hiền xưa để lại Các thánh hiền xưa là
Nghiêu, Thuấn, Văn Vương, Vũ vương, Chu
Công Khổng Tử thấy rằng, tu dưỡng phẩm
chất đạo đức là vô cùng quan trọng, nên ông
bắt các đệ tử của mình trước tiên phải tu
dưỡng đạo đức bản thân, sau đó mới được
học văn chương “Luận Ngữ” còn ghi lại: “Các
đệ tử khi vào phải hiếu với cha mẹ, khi ra phải
kính nhường người lớn tuổi, làm việc phải cẩn
thận và giữ chữ tín, thương yêu mọi người mà
thân với người dân Làm những việc đó có dư
sức mới dành cho việc học văn chương” (Đệ
tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cần nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân Hành hữu dư
lực tắc dĩ học văn – Luận ngữ Học nhi) [3.201] Hiếu, đễ, cẩn, tín, phiếm ái, thân nhân
đều thuộc phạm vi đạo đức, những người vào học, tất trước hết phải học cho được những cái
đó, rồi sau mới học đến văn chương Có thể thấy đạo đức là tiêu chuẩn cơ bản của giáo dục Khổng Tử Khổng Tử nói: “Nên để tâm chí vào đạo, nắm vững đức hạnh, noi theo điều nhân, vui thích với lục nghệ” (Chí ư đạo, cứ ư
đức, y ư nhân, du ư nghệ - Luận Ngữ Thuật nhi) [3.346] Các đệ tử của Khổng Tử đều hết sức chú trọng đến tu dưỡng đạo đức bản thân, trong số đó, những người nổi tiếng về đức hạnh có Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Trọng Cung, Nhan Uyên nói: “Phu tử cứ tuần tự
mà chỉ bảo cho người, rất khéo, người mở rộng (kiến thức) cho ta nhờ văn chương, ước thúc ta nhờ lễ” (Phu tử tuần tuần nhiên thiện
dụ nhân, bác ngã dĩ văn, ước ngã dĩ lễ - Luận Ngữ Tử hãn) [3.404] Dạy học trò rất quảng bác, song vẫn dùng lễ để ước thúc, đó chính
là cuối cùng thì Khổng Tử vẫn lấy đạo đức làm
Theo Khổng Tử, thì một nhân cách cần
có của kẻ sĩ quân tử là phải giữ cái danh của mình cho trong sáng Cái danh mà Khổng Tử thường nói đến chính là mang nghĩa nhân cách Ông nói: “Người quân tử chỉ hận rằng chết rồi mà chẳng để tiếng tăm” (Quân tử tật một thế nhi danh bất xưng yên - Luận Ngữ Vệ Linh Công) [3.577] Người có nhân cách cao thượng và có sự nghiệp vĩ đại, cần phải để lại danh tiếng cho đời sau, còn như lẳng lặng mà qua đời là cái mà người quân tử lo sợ nhất
Ông cũng nói: “Quân tử bỏ đạo nhân, ôi sao
mà nên danh” (Quân tử khử nhân, nhân ô hồ thành danh - Luận Ngữ Lý nhân) [3.269] Tức
là người quân tử mà xa rời nhân nghĩa, thì
không thể nào hoàn thành nhân cách quân tử
được Khổng Tử cho rằng, ý nghĩa của cuộc
đời nằm ở chỗ truy cầu nhân cách toàn thiện toàn mỹ, và giáo dục chính là để bồi dưỡng nhân cách hoàn thiện đó, vì vậy Khổng Tử
đặc biệt chú trọng đến giáo dục nhân cách
Trang 3Giáo dục bằng sự gương mẫu chứ không phải
bằng lý thuyết Ông nói: “Bản thân (nhà cầm
quyền) ngay thẳng, tuy không ra lệnh, mọi
việc vẫn trôi chảy; bản thân không ngay
thẳng, dẫu có ra lệnh dân cũng chẳng theo”
(Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành Kỳ thân bất
chính, tuy lệnh bất tùng- Luận Ngữ Tử
Lộ.[3.502] Có lấy bản thân làm phép tắc, làm
gương, cảm hoá nhân cách, thì việc dạy dỗ rất
dễ dàng Điều này cũng tương tự với nguyên
tắc chính sự Khổng Tử nói với Quý Khang Tử:
“Chính trị là ngay thẳng Nếu ngài lấy điều
ngay thẳng dẫn dắt mọi người, thì ai lại dám
không ngay thẳng?” (Chính giả chính dã
Quân suất dĩ chính, thục cảm bất chính? -
Luận Ngữ Nhan Uyên) [3.487] Làm chính sự
cũng như dạy học, nếu tự bản thân mình
không chính đính, ngay thẳng, thì không thể
làm người khác ngay thẳng được Khổng Tử
cho rằng, phải dùng nhân cách của chính
mình để cảm hoá học trò Điều đó cũng thể
hiện tinh thần học không biết chán, daỵ không
biết mỏi
2 Về nội dung giáo dục
Khổng Tử căn cứ vào nhu cầu xã hội
đương thời mà xác định nội dung giáo dục,
hay trọng tâm của giáo dục “Luận Ngữ” chép:
“Phu Tử lấy bốn điều để dạy người: văn
chương, đức hạnh, lòng trung thực và lòng
thành tín” (Tử dĩ tứ giáo: văn, hạnh, trung, tín –
Luận ngữ Thuật nhi) [3.361], có thể thấy
Khổng Tử lấy văn, hạnh, trung, tín làm mục
tiêu giáo dục Song, Khổng Tử lấy đức hạnh
làm nội dung cơ bản, làm trung tâm Trong khi
dạy học, Khổng Tử thường tùy vào năng khiếu
của mỗi người mà chia ra bốn loại phạm vi
học thuật để đạt được mục tiêu giảng dạy
Bốn loại đó là đức hạnh, ngôn ngữ, chính sự,
văn chương Đức hạnh nhằm phát triển cho
những người thực hành phẩm chất đạo đức
Ngôn ngữ chủ yếu dành cho những người cần
biện luận lý thuyết Chính sự dành cho những
người hoạt động chính trị, cai quản quốc gia
Văn học dành cho những người muốn đi sâu
nghiên cứu văn chương Dựa vào bốn loại đó,
Khổng Tử đã đào tạo thành công các học trò
của mình “Luận Ngữ” còn ghi: “Về đức hạnh có: Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung Về khoa ngôn ngữ có: Tể Ngã, Tử Cống Về chính sự có: Nhiễm Hữu, Quý Lộ Về văn học có: Tử Du, Tử Hạ” (Đức hạnh: Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung Ngôn ngữ: Tể Ngã, Tử Cống Chính sự: Nhiễm Hữu, Quý Lộ Văn học: Tử Du, Tử Hạ - Luận Ngữ Tiên Tiến) [3.442] Đây chính là Khổng Tử dựa vào sở trường của từng người mà bồi dưỡng thành nhân tài Từ đó chúng ta cũng có thể thấy sự phân loại trong giáo dục của ông
Tài liệu giáo dục của Khổng Tử là lục kinh: Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu Kinh điển được ông coi trọng hơn cả là Kinh Thi, vì vậy nó đứng đầu lục kinh, sau đó là Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Xuân Thu Kinh Lễ và Kinh Nhạc là để bồi đắp thêm cho Kinh Thi Khổng Tử đã từng nói:
“Hưng khởi (tâm hồn) nhờ kinh Thi, gây dựng nhờ kinh Lễ, thành tựu nhờ kinh Nhạc” (Hứng
ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc - Luận Ngữ Thái Bá) [3.383], ba cái đó cùng kết hợp, bồi
đắp với nhau “Thi” tức là thơ, thơ có khả năng làm rung động lòng người một cách sâu sắc nhất, có thể cổ vũ ý chí con người, vì vậy mà nói là “hứng ư Thi” “Lễ” tức là lễ giáo và khuôn phép ứng xử Nhà nho cho rằng “thị” (nhìn), “thính” (nghe), “ngôn” (lời nói), “động” (hành động) của con người đều nằm trong phạm vi của lễ Một người mà mọi cảm giác, lời nói, hành động không thất lễ mới có thể có chỗ đứng trong xã hội Vì vậy mà nói “lập ư lễ” “Nhạc” tức là âm nhạc, âm nhạc là để hàm dưỡng tính tình con người, khiến con người trở
về sự chính đáng, có hành vi cao thượng, trở thành một con người hoàn mỹ Vì vậy mà nói
“thành ư nhạc” Khổng Tử lấy Thi, Lễ, Nhạc để dạy những điều đó Nguyên lý giáo dục Thi,
Lễ, Nhạc của Khổng Tử chính là nhằm làm cho con người “thấu suốt về điều nghĩa, thuần thục về điều nhân” (nghĩa tinh nhân thục) Thi
là để kích thích ý thức hướng thượng của con người, Lễ có thể chỉ ra quy tắc hoạt động cho con người, Nhạc có thể đào luyện tính tình của con người Ba môn học đó là không thể thiếu
KT-ML
Trang 4được trong bất cứ một nền giáo dục nào
Khổng Tử rất coi trọng ba môn Thi, Lễ,
Nhạc Ông nói với đệ tử của mình như sau:
“Sao các con chẳng chịu học kinh Thi? Kinh
Thi khiến cho ta hưng khởi tâm hồn, dạy cho
ta xem xét, dạy ta biết hợp quần, dạy cho ta
biết oán giận chính đáng Gần thì biết thờ cha,
xa thì biết thờ vua Lại ghi nhớ tên gọi của
nhiều loại chim, loài thú và cây cỏ” (Tiểu tử hà
mạc học phù Thi? Thi khả dĩ hưng, khả dĩ
quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán Nhĩ chi sự phụ,
viễn chi sự quân Đa chí ư điều, thú, thảo mộc
chi danh - Luận Ngữ Dương Hoá) [3.623]
Khổng Tử cũng dặn dò con trai của mình là
Bá Ngư: “Con đã học Chu Nam, Thiệu Nam
chưa? Người nào chẳng học Chu Nam, Thiệu
Nam thì cũng giống như đứng quay mặt vào
bức tường chứ gì?” (Nhữ vi Chu Nam, Thiệu
Nam hĩ hồ? Nhân bất vi Chu Nam, Thiệu Nam
kỳ do chính tường diện nhi lập dã dư? - Luận
Ngữ Dương Hoá) [3.624] Những công dụng
của Kinh Thi nhiều như vậy, nên có thể coi
đây là một môn học tu thân tề gia, muốn làm
người không thể không học Đối với Khổng Tử,
học Thi, học Lễ, học Nhạc là nhất quán,
không thể bỏ đi, không thể coi nhẹ cái nào
“Luận Ngữ” còn chép lại một đoạn trò chuyện
giữa đệ tử của Khổng Tử và con trai của
Khổng Tử như sau: “Trần Cang hỏi Bá Ngư:
“Anh có thường được nghe Thày dạy bảo điều
gì khác lạ chưa?” Đáp rằng: “Chưa hề Cha
thường đứng chơi một mình, Lý này vội rảo
bước qua sân Có lần cha hỏi: “Con đã học
Kinh Thi chưa?” Thưa rằng chưa hề, cha nói:
“Chẳng học kinh Thi, không lấy gì để nói năng
cho gãy gọn” Lý này bèn lui ra tìm học Kinh
Thi Hôm khác, cha lại đứng một mình, Lý này
rao bước qua sân, cha hỏi: “Con đã học Kinh
Lễ chưa?” Thưa rằng chưa hề, cha nói:
“Chẳng học Kinh Lễ, không lấy gì để lập
thân” Lý này bèn lui ra, tìm học Kinh Lễ”
(Trần Cang vấn ư Bá Ngư viết: “Tử diệc hữu dị
văn hồ?” Đối viết: “Vị dã Thương độc lập, Lý
xu nhi quá đình Viết: “Học Thi hồ?” Đối viết:
“Vị dã “Bất học Thi, vô dĩ ngôn” Lý thoái chi
nhi học Thi Tha nhật, hựu độc lập, Lý xu quá
đình Viết: “Học Lễ hồ?” Đối viết: “Vị dã” “Bất
học Lễ, vô dĩ lập” Lý thoái nhi học lễ - Luận Ngữ Quý Thị) [3.239] Như vậy có thể biết Thi
và Lễ quan trọng như thế nào Khổng Tử nói:
Như vậy có thể biết Thi và Lễ quan trọng như
thế nào Khổng Tử nói: “Nhắc đi nhắc lại về lễ,
có phải nói tới ngọc quý, lụa tốt chăng? nhắc
đi nhắc lại về nhạc, có phải nói tới chuông, trống chăng?” (Lễ vân, lễ vân, ngọc, bạch vân
hồ tai? Nhạc vân, nhạc vân, chung cổ vân hồ tai? - Luận Ngữ Dương Hoá) [3.625] Ông cũng từng nói: “Người mà không có lòng nhân, dùng lễ sao được? Người mà không có lòng nhân, dùng nhạc sao được?” (Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như
nhạc hà? - Luận Ngữ Bát dật) [3.239] Từ đó
có thể thấy, cái lễ và nhạc và Khổng Tử coi trọng không phải là hình thức, cái khí cụ bề ngoài, mà là nội dung của nhân ái Khổng Tử dạy lễ, dạy nhạc, chính là dạy điều nhân
Khổng Tử nói với quan phụ trách nhạc của nước Lỗ: “Hiểu về nhạc cũng dễ thôi! Lúc mới tấu lên, tiếng nhạc phải dồn dập Lúc vào bài, tiếng nhạc phải êm dịu, phải rõ ràng, phải ăn
ý nhau Như vậy mới thành bản nhạc hay”
(Nhạc kỳ khả tri dã Thủy tác, hấp như dã
Túng chi, thuần như dã, cảo như dã, dịch như
dã, dĩ thành - Luận Ngữ Bát dật) [3.261] Âm nhạc lúc mới bắt đầu, các loại nhạc cụ hoà hợp với nhau, rồi âm thanh từ đấy mà nổi lên, vô cùng hoà hợp với nhau, các âm tiết phân minh rõ ràng, âm nọ nối tiếp âm kia mà nổi lên Câu nói đó không chỉ thể hiện khả năng thẩm âm của Khổng Tử, mà còn thể hiện nên
sự nhất quán của Khổng Tử trong tư tưởng, tiến trình âm nhạc cũng chính là tiến trình giáo dục, tiến trình đạt đến “nhân”
KT-ML
Ngoài ba môn Thi, Lễ, Nhạc ra thì Thư, Dịch, Xuân Thu cũng là nội dung giáo dục của Khổng Tử Kinh Thư là cuốn lịch sử Trung Quốc cổ đại, Kinh Dịch là cuốn sách triết lý về
sự vận hành của vũ trụ vạn vật, Kinh Xuân Thu có thể gọi là một cuốn sách lý luận chính trị Khổng Tử thường lấy những kinh điển đó
để dạy đệ tử của mình Có thể thấy rằng Khổng Tử lúc bình sinh rất chú trọng giáo dục các kinh điển cho đệ tử, đồng thời sáu kinh
điển đó cũng là tài liệu giáo dục về mọi mặt
Trang 5trong cuộc sống đương thời
Tóm lại, Khổng Tử coi Lục kinh là tài liệu giảng dạy chủ yếu cho học trò Khi giảng Lục
kinh, ông tập trung vào bốn mặt: văn, hạnh,
trung, tín và lấy những diễn biến xã hội trước
mắt để chứng minh cho đạo lý Ông chú trọng
dạy đạo làm người trước dạy văn Ông còn kết
hợp dạy lục nghệ cho học trò Nhưng trọng
tâm giáo dục học trò của ông vẫn là hành vi
đạo đức và ý thức trách nhiệm đối với xã hội,
đối với vua, đối với cha mẹ và anh em bè bạn
Ông đã nêu ra cả một hệ thống các chuẩn
mực đạo đức cần có của một người học đạo
giúp đời Điểm hạn chế trong nội dung giáo
dục của Khổng Tử là ở chỗ, ông không đưa
những tri thức về tự nhiên, về sản xuất và kinh
doanh vào chương trình giảng dạy Ông cũng
không quan tâm đến việc ứng dụng những tri
thức học được vào lĩnh vực sản xuất và các
hoạt động kinh tế
III kết luận
Quan điểm về giáo dục và đào tạo con người chính là sản phẩm lịch sử của xã hội
loài người Nó đã không ngừng tác động trở lại
xã hội và làm cho xã hội được củng cố và phát
triển Quan điểm về giáo dục và đào tạo con
người của Nho giáo là sản phẩm của chế độ
phong kiến tông pháp Nó đã đạt tới một trình
độ lý luận rõ ràng, một đường lối chính trị
nhân nghĩa, một giá trị nhân sinh rõ rệt Xã hội
phong kiến Trung Quốc có một lịch sử lâu dài,
nó tạo ra nhiều học thuyết về giáo dục và đào
tạo con người Song, không có học thuyết nào
để lại dấu ấn rõ rệt và sâu sắc như Nho giáo
Quan điểm về giáo dục và đào tạo con người
của Nho giáo đã có ảnh hưởng rất lớn tới văn
hoá, tư tưởng và nếp sống của các nước Đông
á Việt Nam tiếp thu Nho giáo và đặc biệt là
tiếp thu quan điểm về con người và đào tạo
con người của Nho giáo Điều đó có ảnh
hưởng nhiều mặt đối với đời sống xã hội, nhất
là đối với sự nghiệp giáo dục và hệ thống
chuẩn mực đánh giá con người của các nhà tư
tưởng Việt Nam Xã hội Việt Nam ngày nay là
xã hội có nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, với mục tiêu phấn đấu là làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Xã hội này đã khác xa với xã hội thời phong kiến, song quan điểm về giáo dục và đào tạo con người của Nho giáo vẫn còn có ý nghĩa Vì vậy, phải có một phương pháp kế thừa thích hợp để khai thác
được tối đa những yếu tố tích cực của Nho giáo, cũng như nhanh chóng gạt bỏ được những yếu tố tiêu cực mà Nho giáo để lại
Tài liệu tham khảo
[1] Phan Văn Các (1995) Nho học trong sự nghiệp
đổi mới đất nước, Tạp chí Cộng sản (9)
[2] Doãn Chính (chủ biên - 2002) Đại cương triết
học Trung Quốc NXB Thanh niên
[3] Chu Hi (1998) Tứ thư tập chú Nguyễn Đức
Lân dịch vμ chú giải NXB Văn hóa- Thông tin
[4] Phan Đại Doãn (chủ biên - 1998) Một số vấn đề
Nho giáo Việt Nam NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
[5] Quang Đạm (1994) Nho giáo xưa và nay NXB
Văn hoá, Hà Nội
[6] Phạm Minh Hạc (1996) Phát triển giáo dục,
phát triển con người phục vụ phát triển xã hội – kinh tế NXB Văn hoá xã hội, Hà Nội
KT-ML
[7] Phạm Minh Hạc (1999) Giáo dục Việt nam
trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
[8] Vũ Khiêu (1997) Nho giáo và phát triển ở Việt
Nam NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
[9] Nguyễn Hiến Lê (1996) Khổng Tử NXB Văn
hoá, Hà Nội
[10] Nguyễn Thế Long (1995) Nho học ở Việt
Nam – Giáo dục và thi cử NXB Giáo dục, Hà Nội
[11] Hμ Thúc Minh (1996) Phải chăng Nho giáo là
động lực phát triển kinh tế, Tạp chí Triết học (6)
[12] Quan Phong, Lâm Duật Thời (1963) Bàn về
Khổng Tử NXB Sự thật, Hà Nội
[13] Lê Văn Quán (1997) Đại cương lịch sử tư
tưởng Trung Quốc NXB Giáo dục, Hà Nội
[14] Nguyễn Tμi Thư (1994) Xã hội là cơ sở của
những đòi hỏi về giáo dục con người, Tạp chí Nghiên cứu lý luận (6)
[15] Nguyễn Khắc Viện (1993) Bàn về đạo Nho,
NXB Thế giới, Hà Nội♦