Phạm văn vạng Bộ môn Kinh tế xây dựng Khoa Vận tải – Kinh tế - Trường Đại học GTVT Tóm tắt: Hμng năm chúng ta đầu tư hμng ngμn tỷ đồng cho giao thông địa phương GTĐP nói chung vμ giao t
Trang 1xây dựng mô hình tổ chức quản lý vμ bảo trì, sửa chữa
công trình giao thông địa phương ở nước ta
PGS TS Phạm văn vạng
Bộ môn Kinh tế xây dựng Khoa Vận tải – Kinh tế - Trường Đại học GTVT
Tóm tắt: Hμng năm chúng ta đầu tư hμng ngμn tỷ đồng cho giao thông địa phương
(GTĐP) nói chung vμ giao thông nông thôn (GTNT) nói riêng, song những công trình nμy sau
khi được xây dựng hầu như không được quản lý vμ bảo trì, sửa chữa nên xuống cấp nhanh
chóng Sau khi phân tích hiện trạng công tác bảo trì sửa chữa GTĐP ở nước ta, bμi báo đề cập
việc thống nhất quy trình quản lý sửa chữa, kiến nghị một số mô hình tổ chức sửa chữa vμ huy
động nguồn vốn cho bảo trì sửa chữa Các giải pháp mμ tác giả đề xuất lμm căn cứ cho việc
thống nhất công tác tổ chức, quản lý đường địa phương nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sử
dụng vμ tính bền vững của các công trình giao thông ở các địa phương nước ta
Summary: Annually, we invest thousands of billions of Dongs in local and rural traffic
works but these works are almost not managed, maintained and repaired so they deteriorate
quickly By analysing current of management, maintenance and repair of local traffic works, the
author proposes uniform processess, organizational models and sources of capital for
management, maintenance and repair These solutions are the bases to unify ways of
managing local roads to improve efficiency and sustainbility of existing local traffic works in our
country
KT-ML
i hiện trạng tổ chức quản lý vμ
bảo trì, sửa chữa các công trình
giao thông địa phương ở nước ta
1.1 Hiện trạng phân cấp quản lý và
bảo trì, sửa chữa các công trình giao thông
địa phương
Hiện nay việc phân cấp quản lý và sửa
chữa các công trình giao thông của các tỉnh
được phân cấp như sau:
Tổ chức quản lý vμ sửa chữa cấp Tỉnh:
Công tác kiểm tra, duy tu, sửa chữa
thường xuyên, sửa chữa vừa, sửa chữa lớn
các tuyến tỉnh lộ do tỉnh đảm nhiệm (trừ các
tuyến phân cấp cho Huyện) Mỗi tỉnh thường
có một Công ty đảm nhiệm công tác quản lý
và sửa chữa các công trình giao thông Đây là
đơn vị hoạt động công ích, trực thuộc Sở Giao thông vận tải của Tỉnh Nhiệm vụ của Công ty này là:
- Quản lý và bảo dưỡng, sửa chữa các công trình giao thông các tuyến Tỉnh lộ theo phân cấp;
- Xây dựng mới các công trình giao thông theo qui chế hiện hành (các công trình trúng thầu hoặc các công trình được giao thầu)
Ngoài ra Tỉnh còn có thể sử dụng các công ty XDGT của ngành, và các doanh nghiệp tư nhân, đóng trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận tham gia vào hoạt động sửa chữa hoặc xây dựng mới các công trình giao thông của tỉnh trên cơ sở hợp đồng kinh tế
Trang 2Tổ chức quản lý, bảo dưỡng, sửa chữa cấp Huyện
Hiện nay, hầu như các Huyện không tổ chức đơn vị bảo dưỡng và sửa chữa riêng như
trước đây, các Huyện chỉ có bộ phận chịu
trách nhiệm về quản lý các tuyến huyện lộ và
một số tuyến tỉnh lộ được phân cấp Bộ phận
này được bố trí trong phòng Công nghiệp -
Xây dựng của Huyện Có nơi thành lập Ban
Điều hành giao thông (như các tỉnh phía
Nam), Ban Điều hành giao thông là đơn vị
chức năng của Huyện thực hiện công tác
quản lý, bảo dưỡng và sửa chữa các công
trình giao thông thuộc Huyện quản lý
Ban Điều hành giao thông Huyện cử cán
bộ làm công tác quản lý và theo dõi tình trạng
các tuyến đường huyện Khi có nhu cầu sửa
chữa nhỏ, yêu cầu kỹ thuật giản đơn thì Ban
Điều hành giao thông của huyện tiến hành lập
kế hoạch trình Chủ tịch UBND Huyện và thuê
nhân công sửa chữa
Khi nhu cầu sửa chữa có yêu cầu kỹ thuật phức tạp, cần sử dụng máy móc thiết bị
thì Ban Điều hành giao thông Huyện làm các
thủ tục cần thiết theo qui chế quản lý đầu tư
và xây dựng rồi ký hợp đồng sửa chữa với các
doanh nghiệp tư nhân hoặc các đơn vị XDGT
của ngành đóng trên địa bàn hoặc trên địa
bàn lân cận để tiến hành sửa chữa
KT-ML
Tổ chức lực lượng bảo dưỡng cấp Xã
Theo quy định thì Huyện phải phân cấp cho UBND xã đảm nhiệm công tác bảo dưỡng
và sửa chữa các tuyến đường Xã trên địa bàn
theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng
làm Dân làm chủ trong việc duy tu sửa chữa
công trình trên địa phương của mình
Nhưng thực tế hiện nay trên địa bàn các tỉnh chưa tổ chức lực lượng quản lý và sửa
chữa các công trình giao thông cấp xã Vì vậy
công tác quản lý, bảo dưỡng chưa được tiến
hành trên các tuyến đường xã Khi có nhu cầu
sửa chữa, Xã tiến hành vận động nhân dân
đóng góp ngày công để tiến hành sửa chữa Tình trạng trên dẫn đến các tuyến đường Huyện, đường Xã sau khi xây dựng xong không lâu đã xuống cấp trầm trọng, gây ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác và tuổi thọ công trình
1.2 Tình trạng công nghệ trong quản
lý duy tu bảo dưỡng
Hiện nay ở các tỉnh, công nghệ bảo dưỡng, sửa chữa được thực hiện bằng cơ giới kết hợp với thủ công Công ty sửa chữa công trình giao thông của tỉnh được trang bị nghèo nàn, lạc hậu với một số máy móc đơn giản như: máy xúc, máy lu, chất lượng kém
Trên địa bàn các Huyện có một số doanh nghiệp tư nhân với quy mô doanh nghiệp nhỏ,
có trang bị máy móc giản đơn như: máy lu loại nhỏ, có chức năng sửa chữa và xây dựng các công trình giao thông loại nhỏ
Trang thiết bị cho công tác đánh giá chất lượng duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa hầu như không có Cán bộ quản lý chỉ dựa vào kinh nghiệm để đánh giá chất lượng công tác duy
tu, sửa chữa Dụng cụ để kiểm tra, đánh giá chủ yếu là thủ công như bằng mắt, bằng thước
và bằng kinh nghiệm của người kiểm tra
1.3 Tình trạng tài chính cho công tác quản lý, bảo dưỡng, sửa chữa
Nguồn tài chính cho công tác duy tu sửa chữa cấp Tỉnh, cấp Huyện chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước (ngân sách địa phương) theo định mức hiện hành Định mức này đã lạc hậu so với sự biến động của thị trường nên kinh phí không đáp ứng nhu cầu Nguồn kinh phí hàng năm dành cho hoạt động quản lý và bảo dưỡng, sửa chữa các tuyến tỉnh lộ, Huyện lộ chỉ đáp ứng dưới 50% so với nhu cầu, dẫn đến hiện tượng các đơn vị quản
lý bỏ qua những công việc bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ đáng ra phải thực hiện, chỉ khi nào những hư hỏng không thể khắc phục được thì các địa phương mới tiến hành công tác sửa
Trang 3chữa thay cho công tác bảo dưỡng
Đối với cấp Xã: nguồn tài chính cho lĩnh
vực này càng khó khăn hơn Khi có nhu cầu
sửa chữa, UBND xã phải huy động từ đóng
góp của nhân dân
ii xây dựng quy trình quản lý vμ
bảo dưỡng, sửa chữa đường giao
thông địa phương
Để cho công tác bảo dưỡng, sửa chữa
các công trình Giao thông địa phương (GTĐP)
đáp ứng theo yêu cầu mục tiêu đề ra, kiến
nghị quy trình quản lý và tổ chức sửa chữa
theo trình tự như hình 1 dưới đây:
Bước 1: Lập hồ sơ thống kê tình trạng
đường, công trình trên đường:
Dựa vào vào hồ sơ thiết kế, hồ sơ hoàn
công, hồ sơ bàn giao đường, công trình đơn vị
quản lý tiến hành lập hồ sơ tình trạng tuyến
đường, công trình trên đường
KT-ML
1
Hồ sơ tình trạng đường phải thể hiện loại
đường, cấp đường, tiêu chuẩn kỹ thuật theo
thiết kế, về chiều dài, kích thước nền, mặt
đường, loại mặt đường
Hồ sơ công trình trên đường: Loại công
trình trên đường, vị trí, kích thước, kết cấu, tình
trạng kỹ thuật theo thiết kế Hồ sơ hiện trạng
đường và công trình trên đường có thể kèm
theo sơ đồ để mô tả vị trí các tuyến đường và
công trình trên đường
Bước 2: Kiểm tra, đánh giá tình trạng kỹ
thuật của đường, công trình:
Kiểm tra đánh giá tình trạng kỹ thuật của
đường, công trình do đơn vị quản lý tiến hành
thường xuyên hàng ngày
Kết quả kiểm tra được ghi chép đầy đủ
theo biểu mẫu phù hợp, bao gồm những nội
dung chủ yếu sau:
Tình trạng đường: Tên đường, chiều dài
tuyến đường, tình trạng nền, mặt, mức độ hư
hỏng, biện pháp khắc phục, dự kiến khối lượng công tác sửa chữa
Công trình trên đường: Tình trạng rãnh
thoát nước; Tình trạng cầu; Tình trạng cống
Biện pháp khắc phục và dự kiến khối lượng thực hiện
Tình trạng đảm bảo an toμn giao thông:
Tình trạng tầm nhìn bị vi phạm; Tình trạng hành lang bảo vệ; Tình trạng cọc tiêu biển báo; Biện pháp khắc phục và dự kiến khối lượng thực hiện
Dựa vào kích thước phạm vi hư hỏng
được xác định khi kiểm tra, đánh giá tình trạng
đường, công trình để xác định khối lượng cần sửa chữa Đối với hư hỏng nhỏ khó xác định
được khối lượng thì xác định bằng số công cần thực hiện
Lập hồ sơ thống kê tình trạng
đường, công trình trên đường
Kiểm tra, đánh giá tình trạng
kỹ thuật của tuyến đường,
công trình
Hình 1 Mô hình quản lý sửa chữa GTĐP
Lập kế hoạch sửa chữa
Triển khai kế hoạch và giám sát kỹ thuật
Nghiệm thu đánh giá kết quả và quyết toán chi phí
sửa chữa
2
3
4
5
6 Xác định khối lượng và dự toán chi phí sửa chữa
Trang 4Bước 3: Xác định khối lượng vμ lập dự
toán chi phí sửa chữa:
Xác định khối lượng công tác sửa chữa
và dự trù kinh phí do bộ phận quản lý GT lập
trên cơ sở khối lượng công tác và định mức,
đơn giá của địa phương
Dự toán có thể lập theo trình tự sau:
a Xác định khối lượng công tác sửa chữa: Dựa vào kết quả xác định khối lượng
công tác sửa chữa của tổ kiểm tra và kết quả
tính toán khối lượng trên cơ sở kích thước hình
học của các điểm hư hỏng của tổ kiểm tra, ta
xác định khối lượng công tác cần sửa chữa
b Xác định nhu cầu nguồn lực cho công tác sửa chữa: Dựa vào khối lượng công tác
sửa chữa; Dựa vào định mức hao phí vật tư,
định mức hao phí xe máy, nhân công của Nhà
nước ban hành tại thời điểm lập dự toán hoặc
theo định mức của địa phương, ta xác định
nhu cầu vật tư, nhu cầu xe máy, nhu cầu nhân
công cho công tác sửa chữa
KT-ML
c Lập dự toán kinh phí cho từng hạng mục: Dựa vào đơn giá vật liệu tại địa phương,
đơn giá ca máy và đơn giá nhân công tại địa
phương, dựa vào nhu cầu vật tư, xe máy,
nhân công cho công tác sửa chữa và những
qui định của Nhà nước có liên quan đến công
tác lập dự toán, bộ phận quản lý của Huyện
xác định nhu cầu kinh phí cho từng loại công
tác sửa chữa
d Lập tổng dự toán cho công tác sửa chữa công trình, tuyến đường:
Dựa vào dự toán kinh phí cho từng hạng mục, những qui định của nhà nước để tính
toán các khoản chi phí khác, tiến hành lập
tổng dự toán cho công tác sửa chữa công
trình, tuyến đường
Bước 4: Lập kế hoạch sửa chữa:
Kế hoạch sửa chữa do bộ phận kế hoạch thuộc đơn vị quản lý Nhà nước thuộc các cấp lập Kế hoạch sửa chữa nhỏ được lập hàng tháng; kế hoạch sửa chữa vừa lập theo quý, năm Kế hoạch sửa chữa lớn lập theo năm Kế hoạch sửa chữa cần thể hiện nội dung cơ bản sau:
Tên công trình và hạng mục công trình; Khối lượng công tác cần thực hiện, kinh phí thực hiện theo công trình;
Thời gian bắt đầu và thời hạn kết thúc, thời điểm nghiệm thu;
Đơn vị thực hiện, hình thức thực hiện, đơn
vị quản lý;
Nguồn kinh phí thực hiện;
Thể thức thanh toán và thời hạn thanh toán
Bước 5: Triển khai thực hiện kế hoạch,
giám sát kỹ thuật bảo dưỡng vμ sửa chữa:
Triển khai thực hiện kế hoạch công tác sửa chữa trên cơ sở hợp đồng kinh tế với các
tổ chức xây dựng, sửa chữa trên địa bàn Việc lựa chọn đơn vị sửa chữa có thể thông qua hình thức giao thầu hoặc đấu thầu theo qui chế hiện hành Đơn vị quản lý công trình sửa chữa thực hiện giám sát chủ đầu tư
Bước 6: Nghiệm thu đánh giá kết quả vμ
quyết toán chi phí sửa chữa:
Sau khi hoàn thành công tác sửa chữa cần tiến hành nghiệm thu và bàn giao giữa
đơn vị sửa chữa, chủ đầu tư và đơn vị quản lý Công tác nghiệm thu bao gồm những tài liệu sau: Hồ sơ hoàn công; Biên bản nghiệm thu; Biên bản bàn giao và bàn giao hồ sơ tình
Trang 5trạng kỹ thuật công trình cho đơn vị quản lý;
Biên bản cam kết bảo hành chất lượng công
tác sửa chữa của đơn vị sửa chữa công trình
Thực hiện quyết toán chi phí sửa chữa và
công khai quyết toán chi phí sửa chữa đối với
cấp quản lý và công khai trước công chúng
III xây dựng mô hình tổ chức bảo
dưỡng sửa chữa GTĐP
Theo cơ chế thị trường hiện nay, hoạt
động xây dựng và bảo trì GTĐP tùy thuộc vào
quy mô xây dựng, khối lượng công tác bảo trì
và sửa chữa các địa phương có thể sử dụng
một trong các hình thức dưới đây:
3.1 Mô hình Nhà thầu lớn
Nhà thầu được thành lập theo Nghị định
90/2001/NĐ - CP của Chính phủ có qui mô
vừa Có đăng ký kinh doanh, có sở hữu máy
móc thiết bị thi công và sửa chữa công trình
có thể thực hiện xây dựng và sửa chữa nhỏ,
sửa chữa vừa và sửa chữa lớn
KT-ML
ưu điểm: Có tư cách pháp nhân; Có tính
chuyên môn cao, đủ năng lực và kinh nghiệm
thi công và sửa chữa công trình; Có khả năng
thi công và sửa chữa nhanh, chất lượng tốt
Nhược điểm: Chi phí gián tiếp cao; Không
phù hợp cho công tác sửa chữa nhỏ và thi
công công trình có khối lượng nhỏ; Không tận
dụng được nguồn lực sẵn có của địa phương,
thiếu sự gắn bó với cộng đồng
Phạm vi áp dụng: Chỉ nên áp dụng để thi
công và sửa chữa công trình có quy vừa và
lớn, có thể sử dụng để xây dựng và sửa chữa
đường tỉnh, không phù hợp với cấp Huyện
3.2 Mô hình Nhà thầu nhỏ
Nhà thầu được thành lập theo Nghị định
90/2001/NĐ- CP của Chính phủ với qui mô
nhỏ
Có đăng ký kinh doanh, có sở hữu máy móc thiết bị thi công và sửa chữa công trình,
có thể thực hiện xây dựng và sửa chữa nhỏ, sửa chữa vừa và sửa chữa lớn, tính chất hoạt
động như mô hình nhà thầu lớn
ưu điểm: Có đủ ưu điểm như mô hình
nhà thầu lớn Chi phí gián tiếp thấp hơn; Có tính năng động và phù hợp hơn so với mô hình nhà thầu lớn
Nhược điểm: Còn chứa đựng nhược điểm
của mô hình nhà thầu lớn
Phạm vi áp dụng: Mô hình này sử dụng
thích hợp để sửa chữa và xây dựng các công trình cấp Huyện, cũng có thể sử dụng đối với các công trình cấp Xã quản lý
3.3 Doanh nghiệp công ích
Doanh nghiệp công ích tại địa phương
được thành lập theo qui định của doanh nghiệp công ích Có tư cách pháp nhân, có tài sản riêng và được trang bị chức năng quản lý, sửa chữa và xây dựng công trình giao thông qui mô nhỏ dưới 3 tỷ đồng
ưu điểm:
- Có chức năng quản lý và sửa chữa
đường do Huyện quản lý
- Đáp ứng nhu cầu bảo dưỡng và sửa chữa của địa phương
- Có sự quản lý và hỗ trợ của Nhà nước nên chất lượng quản lý và sửa chữa tốt
- Sử dụng lao động tuyển dụng tại địa phương
Nhược điểm: Chứa đựng hình thức bao
cấp; Kém năng động so với hình thức Nhà
Trang 6thầu nhỏ;
Phạm vi áp dụng: Không thích hợp khi
nhu cầu sửa chữa hàng năm không nhiều
3.4 Hợp tác x∙ công ích
Mỗi Xã có thể thành lập một Hợp tác xã
công ích
Cơ cấu tổ chức: Một Chủ nhiệm, 1 Phó
Chủ nhiệm về tài chính
Lực lượng lao động khoảng từ 10 -15 người tuỳ vào khối lượng công việc mà họ
đảm nhận
Chức năng, nhiệm vụ của HTX công ích:
Quản lý, bảo dưỡng, sửa chữa và xây dựng các công trình giao thông đường xã trên
địa bàn, kể cả các tuyến đường Huyện được
phân cấp cho Xã Thực hiện nhiệm vụ quản
lý, bảo dưỡng và sửa chữa các công trình thuỷ
lợi, các công trình công cộng như trường học,
bệnh xá v.v
KT-ML
Nguồn vốn ban đầu: Các thành viên tự
đóng góp hoặc UBND Xã hỗ trợ bằng cách
cho vay ưu đãi từ quỹ xây dựng cơ sở hạ tầng
nông thôn
Nguyên tắc hoạt động:
Có tư cách pháp nhân, nhưng hoạt động không chuyên nghiệp, phương thức hoạt động
tương tự như doanh nghiệp tư nhân với qui mô
nhỏ, có sự hỗ trợ ban đầu của UBND Xã
Chủ tịch UBND xã là người quản lý trực tiếp, cán bộ giao thông Xã là người tham mưu
cho Chủ tịch UBND về chuyên môn
Tự chủ về mặt tài chính, được miễn thuế thu nhập,
Thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo dưỡng
và sửa chữa các công trình giao thông, thuỷ lợi, các công trình công cộng như trường học, bệnh xá v.v do địa phương quản lý Được phép ký kết hợp đồng sửa chữa và xây dựng với các địa phương lân cận kể cả công trình Huyện quản lý
ưu điểm: Tận dụng được lao động địa
phương; Có tính năng động cao, có thể phát triển dần thành doanh nghiệp xây dựng tại địa phương Có sự quản lý của địa phương, có trách nhiệm về chất lượng công việc của họ
đảm nhận
Nhược điểm: Thiếu tính chuyên nghiệp
nên chất lượng thấp
Phạm vi áp dụng: Phù hợp để xây dựng
và sửa chữa các công trình cấp Xã quản lý;
Có thể sử dụng để xây dựng và sửa chữa các công trình cấp Huyện quản lý với quy mô nhỏ, yêu cầu kỹ thuật giản đơn
3.5 Khoán tập thể tại địa phương
Đặc điểm hoạt động: Huyện giao cho các Xã quản lý và sửa chữa những đoạn đường Huyện đi qua địa bàn trên cơ sở hợp đồng kinh tế
Chính quyền Xã hợp đồng với một nhóm cộng đồng hoặc cá nhân quản lý bảo dưỡng các đoạn đường Huyện giao cho Xã và các tuyến đường trên địa bàn Xã
Trưởng Thôn ký hợp đồng với tập thể hoặc cá nhân quản lý, bảo dưỡng đường trong thôn
ưu điểm: Chi phí thấp, có tinh thần trách
nhiệm của người được giao Có sự quản lý chặt chẽ của các cấp chính quyền, tận dụng
được lao động địa phương
Nhược điểm: Khó khăn cho công tác
giám sát, chất lượng quản lý và sửa chữa thấp
Trang 7Phạm vi áp dụng:
- Có thể áp dụng để quản lý, sửa chữa
các công trình cấp Xã quản lý;
- Có thể sử dụng để quản lý và sửa chữa
các công trình cấp Huyện qua địa bàn Xã với
yêu cầu kỹ thuật không phức tạp
3.6 Lao động công ích tại địa phương
Khi có nhu cầu xây dựng hoặc sửa chữa,
UBND Xã huy động lao động công ích để thực
hiện
ưu điểm: Tận dụng được lao động địa
phương, tiết kiệm chi phí xây dựng Thực hiện
xây dựng, sửa chữa trên cơ sở pháp lệnh lao
động công ích của địa phương nên giảm đóng
góp vật chất cho những hộ nông dân nghèo
Phạm vi áp dụng:
Hình thức này chỉ phù hợp để bảo dưỡng,
sửa chữa đường địa phương (đường thôn,
đường xã) không phù hợp để sửa chữa đường
Huyện phân cấp cho Xã
KT-ML
iv các nguồn vốn cho xây dựng,
bảo trì, sửa chữa các công trình
GTĐP
Vốn cho bảo trì vμ sửa chữa các tuyến
đường tỉnh: lấy từ ngân sách hàng năm của
Tỉnh Ngân quỹ này độc lập với kế hoạch đầu
tư XDCB của tỉnh
Vốn cho bảo trì vμ sửa chữa đường
Huyện:
Hàng năm, Huyện lập kế hoạch chi tiêu
hàng năm cho GTNT bao gồm một loạt hoạt
động: Bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa,
khôi phục, nâng cấp các công trình
Các nguồn vốn cho các hoạt động này
bao gồm:
Ngân sách Huyện
Ngân sách Tỉnh hỗ trợ
Đóng góp của các Xã
Các nguồn huy động khác của Huyện từ các dự án, từ các nguồn tài trợ khác
Vốn cho bảo trì đường Xã:
Hàng năm, Xã lập kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp các công trình GTĐP
Nguồn vốn cho công tác bảo trì lấy từ ngân quỹ của Xã Ngân quỹ này trích từ các quỹ xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn
Hàng năm, xã có kế hoạch huy động vốn
từ các nguồn:
- Quỹ thu từ công điền, công thổ (ở Sóc Trăng thu 70.000 đồng/công mẫu/năm)
Khoản thu này Xã được để lại một phần
để làm quỹ xây dựng cơ sở hạ tầng của xã, phần còn lại (80%) nộp cho Huyện
- Ngân sách xã
- Lao động công ích
- Các nguồn thu khác
Phân bổ nguồn vốn của cấp Huyện vμ cấp Xã:
- Cho bảo trì sửa chữa: 10-20%
- Cho khôi phục, nâng cấp: 20-30%
- Cho đầu tư nâng cấp, xây dựng mới:
50 - 60%
v Kết luận
Giao thông địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của cả nước Vì vậy, chúng ta cần quan tâm hơn nữa và có các giải pháp toàn diện cho công tác bảo trì và sửa chữa cơ sở hạ tầng quý giá này để hệ thống giao thông địa phương phát huy hiệu quả, trong công cuộc phát triển kinh tế địa phương và kinh tế xã hội của cả nước