1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học: "Một số Vấn đề phát triển bền vững giao thông nông thôn và quy hoạch cụm dân c- ở khu vực đồng bằng sông cửu long" ppsx

4 448 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 121,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số Vấn đề phát triển bền vững giao thông nông thôn và quy hoạch cụm dân cư ở khu vực đồng bằng sông cửu long PGS.. Hồ Chí Minh Tóm tắt: Trong bμi nμy, tác giả đề xuất một số giải p

Trang 1

Một số Vấn đề phát triển bền vững giao thông nông thôn

và quy hoạch cụm dân cư ở khu vực

đồng bằng sông cửu long

PGS TS Phạm văn vạng

Khoa Kinh tế – Vận tải – Trường ĐH GTVT

ThS Trần văn trình

Trường Cao đẳng GTVT – TP Hồ Chí Minh Tóm tắt: Trong bμi nμy, tác giả đề xuất một số giải pháp phát triển giao thông nông thôn

kết hợp với quy hoạch các khu dân cư tập trung nhằm phát triển bền vững giao thông vμ ổn

định hoạt động xã hội ở khu vực Đồng bằng sông Cửu long

Summary: In this article, the authors have proposed some solutions to develop rural

transport in combination with residential area projects to create sustainable development in transport and settle social activities in Cuu Long river delta

i Nội dung

Khái quát chung về Đồng bằng Sông

Cửu Long: Đồng bằng sông Cửu long gồm 12

tỉnh, một thành phố trực thuộc Trung ương, với

diện tích tự nhiên toàn vùng là 39.747 km2; là

khu vực nông nghiệp và trồng lúa quan trọng

nhất của Việt Nam Tổng diện tích trồng lúa là

4,32 triệu ha, tương ứng với 57,5% tổng diện

tích trồng lúa của cả nước Hàng năm khu vực

này sản xuất hơn 56% sản lượng gạo của cả

nước và chiếm 92% khối lượng gạo xuất khẩu

Diện tích nuôi trồng thủy sản là 623.000 ha,

tương ứng với 78% tổng diện tích nuôi trồng

thủy sản của cả nước Dân số khoảng 17 triệu

người, trong đó, dân số nông thôn chiếm 84,5

%, mật độ dân số bình quân khoảng 381-400

21% GDP toàn quốc, trong đó GDP ngành

nông nghiệp chiếm 59% tổng GDP toàn vùng

Tiềm năng phát triển kinh tế: Trong

những năm gần đây kinh tế ĐBSCL có những

bước khởi sắc đáng kể, cơ cấu kinh tế chuyển

dịch theo hướng tích cực Đời sống người dân

ngày càng được nâng cao Tăng trưởng kinh

tế bình quân đạt 10%, thu nhập bình quân đều người ước đạt trên 350 USD Sản lượng lúa

đạt trên 17 triệu tấn, sản lượng cây ăn trái đạt gần 2,5 triệu tấn Tổng sản lượng thủy sản đạt trên 1.400 ngàn tấn, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 47 ngàn tỷ đồng Kim ngạch xuất khẩu toàn vùng đạt trên 1.665 triệu USD Tỷ

lệ hộ nghèo giảm còn 12,4% Đồng bằng Sông Cửu Long là khu vực rất có tiềm năng về nông nghiệp và thuỷ hải sản, đóng một vài trò quan trọng trong chiến lược quốc gia về an toàn lương thực

Dân số vμ lao động: Theo điều tra sơ bộ

đến năm 2004 dân số toàn vùng đạt trên 17 triệu người, trong đó: tỷ lệ nữ giới chiếm 51,2%, tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị

là 18,17% Dân số trong độ tuổi lao động có việc làm thường xuyên trên 8 triệu người Phần lớn người dân vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đều có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nông nghiệp

Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có mật

độ dân cư cao gần gấp hai lần mật độ dân cư bình quân của cả nước Có tới 80% dân số

Trang 2

Đồng bằng Sông Cửu Long sống trong vùng

nông thôn nên nguồn thu nhập chủ yếu vẫn là

sản phẩm nông nghiệp Sự dao động dân số

vùng sông Cửu Long chủ yếu do động cơ kinh

tế, một lượng nông dân đáng kể ở đây di chuyển

đến Thành Phố Hồ Chí Minh và các trung tâm

công nghiệp trên cả nước để tìm việc làm

Phân bố dân cư: Đồng bằng Sông Cửu

Long có mật độ dân số cao, phân bố rải rác

trên diện rộng Đặc trưng phân bố dân cư

vùng Đồng bằng Sông Cửu Long là hình

thành một cách tự phát dọc theo các bờ sông,

kênh rạch lớn và các trục đường giao thông

chính Đây là một trở ngại lớn cho việc hình

thành các mạng lưới công trình phúc lợi công

cộng làm phát sinh nhiều luồng vận tải không

cần thiết, gây lãng phí cho xây dựng và hoạt

động vận tải

Nhà ở là tiện nghi thiết yếu nhất, có tầm

quan trọng về an ninh, sức khỏe và phồn thịnh

của mọi gia đình Nhưng hiện nay Đồng bằng

Sông Cửu Long có chưa đến 70% các gia

đình nông thôn có nhà kiên cố và bán kiên cố,

còn lại là nhà ở tạm thời dễ bị tàn phá do bão

lụt và không đảm bảo về mặt sức khỏe

Tình hình xây dựng cơ sở vật chất vμ

không gian kiến trúc khu vực nông thôn: Tuy

cơ sở hạ tầng ở nông thôn dần dần được cải

thiện, song các công trình công cộng đang

xuống cấp, còn thiếu trường cấp 2, các công

trình phục vụ văn hoá hầu hết đều thiếu Hệ

thống y tế còn nghèo nàn, trang thiết bị thiếu,

chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho

nhân dân, cơ sở y tế tư nhân phát triển tự phát

phần nào đã hỗ trợ cho y tế Nhà nước nhưng

khó quản lý

Về giáo dục: Có hệ thống tương đối hoàn

chỉnh từ nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học đến trung

học, dạy nghề Số lượng giáo viên còn thiếu

so với định mức quy định của Nhà nước

Về quy hoạch không gian kiến trúc: Chưa

có quy hoạch không gian kiến trúc khu dân cư

vùng nông thôn Chợ, bến xe, được hình thành

tự phát, đường trong chợ nhỏ hẹp, cản trở giao thông, trụ sở UBND xã hẹp, trường sở diện tích nhỏ, xây dựng tự phát

Hiện trạng giao thông: Mạng lưới đường

bộ ở 13 tỉnh vùng đồng bằng Sông Cửu Long tương đối thưa thớt và bị chia cắt bởi nhiều sông, kênh rạch Tổng chiều dài mạng lưới

đường bộ của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long khoảng 28.000km, bao gồm Quốc lộ,

đường tỉnh, đường huyện và đường xã Nhìn chung, tình trạng đường xấu, trừ những tuyến Quốc lộ, những tuyến đường tỉnh, đường Huyện hầu hết là đường đá răm hoặc đường

đất Nhiều tuyến nằm trong vùng ảnh hưởng của lũ lụt, thường bị ngập vào mùa mưa gây

ảnh hưởng đến giao thông

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, khoảng 60% số làng trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long không có khả năng tiếp cận

đến các con đường Đặc biệt tỉnh Cà Mau (80%), Bạc Liêu (50%), Hậu Giang (57%), Sóc Trăng (58%), còn nhiều xã vùng sâu chưa có tuyến đường bộ nào, cư dân phải đi bằng đường thuỷ rất xa mới tới được đường

bộ

Việc xây dựng giao thông nông thôn hiện

những điểm yếu sau: Thứ nhất, có tới 2/3

đường giao thông nông thôn có chất lượng thấp, chưa đáp ứng nhu cầu đi lại và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nông thôn Thứ hai,

đang có sự không cân đối giữa nguồn vốn cho

đầu tư và vốn cho bảo trì bảo dưỡng đường Bên cạnh đó, việc sử dụng vốn trong các dự

án đầu tư còn chưa thực sự hiệu quả, còn hiện tượng tham nhũng và lãng phí Đặc biệt, năng lực lập kế hoạch, quản lý đầu tư và bảo trì ở cấp địa phương còn rất yếu

Mối quan hệ giữa phát triển giao thông nông thôn với quy hoạch các khu dân cư tập trung ở vùng nông thôn: Những năm qua bộ

mặt nông thôn ở khu vực Đồng bằng Sông

Trang 3

Cửu long đã có sự thay đổi to lớn nhưng so với

nhu cầu vẫn còn chậm Vì vậy, nhiệm vụ đặt

ra là đẩy nhanh quá trình đô thị hoá nông thôn

và thu hẹp sự chênh lệch về nhiều mặt giữa

thành thị với nông thôn; phải tiến hành quy

hoạch lại nông thôn, bao gồm cả quy hoạch

sản xuất và quy hoạch khu dân cư tập trung,

cũng như những công trình phúc lợi Vấn đề

này cần được đặc biệt coi trọng và làm kiên trì

trong nhiều năm Tuy nhiên, việc quy hoạch

các cụm cư nếu không tiếp cận hợp lý với các

khu chức năng, với mạng lưới công trình phúc

lợi công cộng sẽ là nguyên nhân phát sinh

những luồng vận tải không cần thiết Về lâu

dài, để đáp ứng được nhu cầu vận tải ngày

càng tăng bắt buộc phải xây dựng mới hoặc

cải tạo, nâng cấp, mở rộng các công trình giao

thông và như vậy sẽ gây lãng phí cho trong

hoạt động vận tải

Quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa

dẫn đến sự gia tăng các nhu cầu thiết yếu, đã

gây sức ép cho hệ thống cơ sở hạ tầng, mà

nhu cầu phát triển giao thông Những báo cáo

tổng kết các dự án xây dựng giao thông gần

đây cho thấy, chi phí đền bù giải toả chiếm

một tỷ trọng rất lớn trong tổng mức đầu tư Có

nhiều trường hợp người dân nhận tiền đền bù

nhưng do chưa quen với việc một lúc có một

khoản tiền lớn nên họ chi tiêu rất nhanh chóng

và trở nên nghèo khổ do hết tiền và không

còn đất canh tác

Sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị lớn

làm mức độ chênh lệch giữa nông thôn và thành

thị ngày càng lớn, làm cho luồng dân cư di

chuyển tự do lên các đô thị lớn ngày càng nhiều

sẽ làm mất ổn định hoạt động xã hội, và gây áp

lực lớn cho công tác quy hoạch phát triển giao

thông cả cho các đô thị lẫn nông thôn

Để tránh được những hạn chế trên, việc

gắn liền việc quy hoạch các khu dân cư tập

trung, khu chức năng với hệ thống giao thông

vận tải là một việc rất cần thiết nhằm sử dụng

hiệu quả quỹ đất và làm giảm chi phí đầu tư xây dựng, giảm chi phí xã hội cho vận tải, hạn chế luồng di chuyển tự do của người dân nhằm ổn

định hoạt động xã hội và phát triển kinh tế

ii Một số kiến nghị về giải pháp phát triển giao thông nông thôn vμ quy hoạch khu dân cư tập trung

1 Giải pháp quy hoạch phát triển giao thông nông thôn

Việc đi lại dễ dàng ở nông thôn là một yếu tố rất quan trọng trong đời sống xã hội và kinh tế của những người sống ở nông thôn Với điều kiện đặc thù của mình, Đồng bằng Sông Cửu Long cần quy hoạch phát triển một

hệ thống giao thông đồng bộ, liên hoàn, thông suốt, kết hợp giao thông thuỷ - bộ trên cơ sở thu thập, phân tích và khâu nối rất nhiều thông tin, từ quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến các quy hoạch chuyên ngành khác

- Quy hoạch phát triển giao thông nông thôn cần phải hoà nhập với hệ thống đường cao hơn (Quốc lộ, đường tỉnh)

- Đặc biệt cần quan tâm đến những tuyến

đã được nghiên cứu bởi các cơ quan tài trợ như dự án GTNT 2, GTNT 3, và dự án nâng cấp tỉnh lộ

- Cần phải lưu ý đến các phương thức vận tải hiện tại, tương lai nhằm cung cấp cho người dân nông thôn có khả năng tiếp cận tốt với hàng hoá, các cơ sở dịch vụ kinh tế - xã hội, bao gồm cả các dịch vụ như tín dụng, khoa học công nghệ, thông tin và truyền thông

- Việc cải thiện đường trong Xã cần được

ưu tiên cao để người dân có thể tiếp cận tốt với trường học, trạm xá và trung tâm xã và vận chuyển nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất nông nghiệp cũng như vận chuyển sản phẩm nông nghiệp về nhà hoặc đến điểm tập kết

- Quy hoạch phát triển giao thông nông

Trang 4

thôn phải kết hợp chặt chẽ với quy hoạch

những khu dân cư tập trung

2 Quy hoạch khu dân cư tập trung

- Quy hoạch khu dân cư tập trung và

mạng lưới giao thông phải là quy hoạch thống

nhất và có ảnh hưởng cụ thể, gần gũi nhất đối

với đời sống nhân dân Điều đó phụ thuộc rất

lớn vào ý chí, năng lực của lãnh đạo địa

phương, và sự đồng tâm hiệp lực của người

dân, vào ý chí của cộng đồng dân cư và rất

cần có một chương trình kiểm soát hiệu quả,

một chiến lược quy hoạch xây dựng phát triển

tối ưu, mạnh dạn với những dự án đầu tư xây

dựng có hiệu quả kinh tế và lợi ích xã hội cao

- Quy hoạch khu dân cư tập trung cần

phải hợp lý và nâng cao hiệu quả việc sử

dụng quỹ đất, nguồn nước và gắn với bảo vệ

môi trường

- Cần xác định quy mô tối ưu cho các địa

phương trước mắt và lâu dài nhằm xác lập hệ

thống dân cư hợp lý trong quy hoạch khu dân

cư tập trung

- Quy hoạch các khu dân cư gắn liền với

kế hoạch phát triển các thị trấn, thị tứ, các điểm

văn hoá ở làng xã; nâng cao đời sống vật chất,

văn hoá, tinh thần, xây dựng cuộc sống dân

chủ, công bằng, văn minh ở nông thôn

- Tuỳ theo tình hình của từng địa phương

để khu dân cư tập trung có thể kết hợp với

việc hình thành các khu vực sản xuất nông

nghiệp, các điểm công nghiệp tập trung ở

nông thôn, các làng nghề và gắn với thị trường

trong nước và xuất khẩu

- Có chính sách ưu đãi để thu hút các

nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế tham

gia đầu tư phát triển nông nghiệp, công

nghiệp và dịch vụ ở nông thôn

- Cần phải xây dựng chiến lược đầu tư đa

ngành trong quy hoạch chung và quy hoạch

chi tiết xây dựng, xác định hướng phát triển

đúng đắn của từng địa phương thông qua quy

hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là mạng lưới giao thông đường trục chính đối nội, đối ngoại, kết hợp với việc kiểm soát tình hình sử dụng đất đai xây dựng đúng hướng, đúng mục tiêu lâu dài và bền vững

Một yếu tố mang tính quyết định trong quy hoạch phát triển giao thông và quy hoạch khu dân cư tập trung là phải nâng cao chất lượng của đồ án quy hoạch và nghiêm túc thực hiện theo quy hoạch

Hệ thống quy hoạch hợp lý và có hiệu quả là phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của xã hội Hình thức và giải pháp thực hiện các mục tiêu đó là nhằm gạt bỏ trở ngại và phát huy các động lực phát triển vùng nông thôn Phải xác định rõ mục tiêu chung và mục tiêu

cụ thể cho từng loại hình quy hoạch, thì mới hạn chế và xoáy sâu vào nội dung phải nghiên cứu thiết kế quy hoạch để phục vụ kế hoạch đầu tư xây dựng

iii Kết luận

Trên đây là những kiến nghị nhằm đóng góp vào việc quá trình hình thành các khu dân cư tập trung và quy hoạch mạng lưới giao thông nhằm phát triển bền vững giao thông và

ổn định hoạt động xã hội, hy vọng góp phần vào công cuộc phát triển giao thông nông thôn

và kinh tế nông thôn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và ở các vùng nông thôn nước ta

Tài liệu tham khảo

[1] Phạm Văn Vạng Vấn đề quy hoạch giao thông

nông thôn và quy hoạch cụm dân cư nông thôn - Tạp chí GTVT 3/2003

[2] Nguyễn Quang Thái Một số vấn đề phát triển

nông nghiệp nông thôn trong điều kiện hội nhập [3] Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển giao thông vận tải Việt nam đến năm 2020 Ă

Ngày đăng: 06/08/2014, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w